Một trong những biện pháp giúp học sinh làm được điều đó là có hiểu biết sâu sắc về các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, mà quan trọng nhất là mối quan hệ nhân quả.. Anghen khẳng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM THỊ THANH HƯỜNG VẬN DỤNG QUAN HỆ NHÂN QUẢ ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC QUY LUẬT TRONG DẠY HỌC
PHẦN TIẾN HÓA – SINH HỌC 12 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM THỊ THANH HƯỜNG VẬN DỤNG QUAN HỆ NHÂN QUẢ ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC QUY LUẬT TRONG DẠY HỌC
PHẦN TIẾN HÓA – SINH HỌC 12 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đức Thành
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu trình bày trong luận vă là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà nội, 13 tháng 6 năm 2017 Tác giả
Phạm Thị Thanh Hường
Trang 4LỜI CẢM ƠN Luận văn được hoàn thành tại Bộ môn Phương pháp dạy học Sinh học, Khoa Sinh học, trường ĐH Sư phạm Hà Nội Trong quá trình nghiên cứu tôi đã nhận được những sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập thể và cá nhân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày giáo hướng dẫn khoa học: PGS
TS Nguyễn Đức Thành đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể bộ môn Bộ môn Phương pháp dạy học Sinh học, Khoa Sinh học, phòng Sau đâị học, Ban giám hiệu trường ĐH Sư phạm
Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thày cô giáo, các em học sinh
ở các trường THPT tham gia vào quá trình khảo sát và thực nghiệm sư phạm, các giáo viên đã gửi ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, 13 tháng 6 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Thanh Hường
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC SƠ ĐỒ xi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
1.4 Giả thuyết khoa học 3
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.6 Giới hạn nghiên cứu 4
1.7 Phương pháp nghiên cứu 4
1.8 Đóng góp mới của luận văn 5
1.9 Cấu trúc luận văn 5
PHẦN 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 6
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.1.1 Về tư duy biện chứng 6
1.1.1.2 Về quan hệ nhân quả 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.1.2.1 Về tư duy biện chứng 8
1.1.2.2 Về quan hệ nhân quả 9
Trang 61.2.1 Mối quan hệ trong thực tại khách quan 11
1.2.1.1 Quan niệm về mối quan hệ 11
1.2.1.2 Tính chất của mối quan hệ 12
1.2.1.3 Các loại mối quan hệ 13
1.2.2 Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả 15
1.2.2.1 Khái niệm nguyên nhân 15
1.2.2.2 Khái niệm kết quả 16
1.2.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả 17
1.2.2.4 Tính chất của quan hệ nhân quả 21
1.2.3 Khái niệm về quy luật 22
1.2.3.1 Định nghĩa 22
1.2.3.2 Đặc trưng cơ bản của quy luật 24
1.2.4 Tự khám phá kiến thức 25
1.2.4.1 Thuyết hoạt động 25
1.2.4.1 Thuyết nhận thức……… 27
1.2.4.3 Thuyết kiến tạo 28
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 29
1.3.1 Mục đích khảo sát 29
1.3.2 Đối tượng khảo sát 29
1.3.3 Phương pháp tiến hành khảo sát 29
1.3.4 Nội dung khảo sát 29
1.3.5 Kết quả khảo sát 29
Kết luận chương 1 34
Chương 2 Xác định và sử dụng quan hệ nhân quả để hình thành và phát triển kiến thức quy luật trong dạy học phần Tiến hóa – SH12 THPT 35
2.1 Phân tích logic nội dung phần Tiến hóa – SH12 – THPT 35
2.1.1 Các chủ đề trong nội dung phần tiến hóa 35
Trang 72.1.2 Logic phát triển của nội dung phần tiến hóa 35
2.2 Quan hệ nhân quả trong phần tiến hóa 46
2.2.1 Quan hệ nhân quả trong sự hình thành đặc điểm thích nghi 46
2.2.2 Quan hệ nhân quả trong sự hình thành quần thể thích nghi 47
2.2.3 Quan hệ nhân quả trong quá trình hình thành loài mới 48
2.2.4 Hệ thống quy luật tiến hóa trong SH12 – THPT 48
2.2.4.1 Các quy luật tiến hóa về tổ chức và chức phận của cơ thể 48
2.2.4.1 Các quy luật tiến hóa của sinh giới 50
2.2.4.2 Quy luật phát sinh, phát triển sự sống trên Trái Đất 53
2.3 Con đường rèn luyện HS tự khám phá hệ thống quy luật tiến hóa trong SH 12 – THPT 54
2.3.1 Các con đường có thể sử dụng trong dạy học kiến thức tiến hóa SH 12 54
2.3.2 Con đường đi từ nguyên nhân đến kết quả trong dạy học kiến thức tiến hóa SH 12 55
2.4 Quy trình xác định quan hệ nhân quả trong dạy học tiến hóa 55
2.4.1 Nguyên tắc xác định quan hệ nhân quả trong dạy học tiến hóa 55
2.4.2 Quy trình xác định quan hệ nhân quả trong dạy học tiến hóa 55
2.4.3 Giải thích quy trình 56
2.4.4 Ví dụ minh họa 57
2.5 Quy trình sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học tiến hóa 58
2.5.1 Nguyên tắc sử dụng 58
2.5.2 Quy trình sử dụng 58
2.5.3 Giải thích quy trình sử dụng 59
2.5.4 Ví dụ minh họa 60 2.6 Tổ chức các hoạt động học tập để hình thành và phát triển hệ thống quy
Trang 82.8 Thiết kế bài giảng có thể sử dụng quan hệ nhân quả để hình thành và
phát triển kiến thức quy luật tiến hóa (phụ lục 3) 65
Kết luận chương 2 66
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích thực nghiệm 67
3.2 Nội dung thực nghiệm 67
3.2.1 Một số chủ đề dạy thực nghiệm 67
3.2.2 Nội dung đánh giá 67
3.3 Phương pháp thực nghiệm 69
3.3.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 69
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 69
3.3.3 Phương pháp xử lí số liệu thu được trong thực nghiệm 69
3.3.4 Thời gian thực nghiệm 69
3.4 Kết quả thực nghiệm 69
3.4.1 Kết quả học tập 69
3.4.1.1 Phân tích đánh giá định lượng 69
3.4.1.2 Phân tích đánh giá định tính 77
3.4.2 Khả năng tự khám phá kiến thức 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.2 Kết quả tìm hiểu thực trạng GV sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học Tiến hóa 31 Bảng 1.3 Nhận định của 383 HS về mức độ khó của kiến thức Tiến hóa 32 Bảng 1.4 Khả năng tự phát hiện kiến thức Tiến hóa của 383 học sinh 33 Bảng 2.1 Số lượng các loài sinh vật đã được mô tả và ước tính về số lượng thực tế của một số bậc phân loại (đơn vị: nghìn loài) (theo Michael J.Jeffries, 1997) 42 Bảng 3.1 Tiêu chí đánh giá khả năng tự khám phá hệ thống kiến thức quy luật tiến hóa 67 Bảng 3.2 Tần suất điểm đạt được của 3 lần kiểm tra 69 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả qua 3 lần kiểm tra 73 Bảng 3.4 Kết quả kiểm định sự sai khác về điểm trung bình cộng giữa các bài
Bảng 3.5: Kết quả kiểm định sự sai khác về điểm trung bình cộng giữa các
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá khả năng tự khám phá kiến thức theo các tiêu chí thông qua các bài KT 78
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ chế hình thành loài mới 41
Sơ đồ 2.2 Các vấn đề chính của phần Tiến hóa 44
Sơ đồ 2.3 Quá trình phát sinh, phát triển sự sống trên Trái Đất 45
Sơ đồ 2.4 Quan hệ nhân quả trong quá trình hình thành đặc điểm thích nghi.
46
Sơ đồ 2.5 Quan hệ nhân quả trong quá trình hình thành quần thể thích nghi.
47
Sơ đồ 2.6 Quy trình xác định quan hệ nhân quả trong dạy học tiến hóa 57
Sơ đồ 2.7 Quy trình sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học tiến hóa 59
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tần suất điểm của lớp ĐC và TN ở lần KT1 70
Biểu đồ 3.2 Tần suất điểm của lớp ĐC và TN ở lần KT2 71
Biểu đồ 3.3 Tần suất điểm của lớp ĐC và TN ở lần KT3 71
Biểu đồ 3.4 Điểm trung bình cộng lớp ĐC và TN qua các bài kiểm tra 74
Biểu đồ 3.5 Khả năng khám phá kiến thức của lớp ĐC 80
Biểu đồ 3.6 Khả năng khám phá kiến thức của lớp TN 80
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1.1 Do yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay
Đảng và nhà nước ta luôn xác định: Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Điều này được thể hiện trong các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh đổi mới tòan diện và triệt để.Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 từ Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo
đã định hướng: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [6]
Luật Giáo dục (năm 2005) của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở điều 5, mục 2 ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [33] Cùng với đó, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, kiến thức nhân loại tăng nhanh như vũ bão, trong khi kiến thức dạy học trong nhà trường thì có giới hạn, vì vậy các nhà giáo dục phải quan tâm rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS, nghĩa là tổ chức, đưa HS vào hoạt động trí lực, người học được tham gia “khám phá lại” kiến thức của loài người đã tích lũy được chứ không phải ghi nhớ một cách máy móc, rập khuôn những quy luật có sẵn [1]
Để nắm vững nội dung tiến hóa nói chung và quy luật tiến hóa nói riêng phải phát triển tư duy cho học sinh bằng xác định quan hệ nhân quả , nghĩa là từ kết quả biểu hiện phải xác định được nguyên nhân nào gây ra
Trang 141.1.2 Vai trò của mối quan hệ nhân quả trong dạy học
Có thể thấy, mục tiêu của việc đổi mới PPDH là dạy cách học, cách nghĩ để người học tự cập nhật kiến thức, kĩ năng, qua đó phát triển năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở tất cả các cấp học Trong quá trình đó, phải lấy học sinh làm trung tâm, là người lĩnh hội khối lượng tri thức khổng lồ của nhân loại, học sinh cũng chính là những người sẽ phát hiện ra những chân lý Một trong những biện pháp giúp học sinh làm được điều đó là có hiểu biết sâu sắc về các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng, mà quan trọng nhất là mối quan hệ nhân quả Việc tìm ra các mối liên hệ của kiến thức trong đó có các mối quan hệ nhân quả sẽ giúp học sinh hiểu rõ bản chất của kiến thức, giúp các em hiểu được rõ bản chất của vấn đề, khắc phục được tình trạng học vẹt Đó chính là cơ sở quan trọng
để học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống và công việc sau này [15]
1.1.3 Đặc điểm của kiến thức tiến hóa
Cũng như kiến thức quy luật của khoa học nói chung, quy luật tiến hóa có hai thành phần cơ bản đó là: thứ nhất: xu thế như thế biểu hiện thế nào; thứ hai: nguyên nhân dẫn đến kết quả như vậy Do đó phải xác định được quan hệ nguyên nhân và kết quả, để hiểu rõ bản chất của xu thế tiến lên của sinh vật
Tiến hóa là tích hợp của các khoa học trong sinh học, là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt chương trình giáo dục phổ thông” từ lớp 6 đến lớp 12 Về cơ bản SH từ lớp 6 đến lớp 11 là những bằng chứng của tiến hóa, còn việc phân tích nhân tố, cơ chế tiến hóa được nêu ra trong nội dung chương trình lớp 12 Kiến thức phần tiến hóa đặc trưng bởi tính lý thuyết và khái quát cao Để lĩnh hội kiến thức phần này, đặc biệt là rút ra các quy luật chung trong nội dung kiến thức đòi hỏi HS phải có sự nỗ lực cao về hoạt động trí tuệ, nhìn nhận được tính logic và quan hệ nhân quả trong mỗi vấn đề
Tuy nhiên, thực trạng dạy học SH hiện nay nói chung và dạy học phần tiến hóa SH 12 nói riêng ở các trường THPT còn quá chú trọng vào ghi nhớ nội dung kiến thức của bài học mà chưa chú ý đến việc dạy cho HS cách tư duy, cũng như
Trang 15nguyên nhân của vấn đề để các em có thể tự cập nhật kiến thức Do vậy nhiệm vụ đặt ra là phải tăng cường phương pháp dạy học phần Tiến hóa theo hướng xác định mối quan hệ nhân – quả, để học sinh tự khám phá kiến thức đặc biệt các quy luật tiến hóa Biết cách hoc, áp dụng để có khả năng học tập các môn học, các lĩnh vực khác
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Vận dụng quan hệ nhân quả để hình thành và phát triển kiến thức quy luật trong dạy học phần tiến hóa – Sinh học 12 THPT”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định mối quan hệ nhân quả trong phần tiến hóa, từ đó lựa chọn con đường hướng dẫn học sinh tự khám phá kiến thức
1.3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cuus
Con đường rèn luyện HS tự khám phá hệ thống kiến thức tiến hóa trong SH12 – THPT bằng sử dụng quan hệ nhân quả
1.3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần tiến hóa SH12 – THPT
1.4 Giả thuyết khoa học
Nếu từ logic của nội dung phần tiến hóa, xác định được mối quan hệ nhân quả sẽ tìm được con đường rèn luyện HS tự khám phá kiến thức quy luật, đồng thời nắm kiến thức tiến hóa một cách có hệ thống
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
1.5.1 Xác định cơ sở lý luận của đề tài
1.5.2 Xác định thực trạng dạy học phần tiến hóa SH 12 hiện nay
1.5.3 Phân tích cấu trúc nội dung phần tiến hóa SH 12 để làm cơ sở xác định nguyên nhân của sự biểu hiện các xu thế vận động và phát triển tất yếu của sinh giới
1.5.4 Xác định kiến thức là nguyên nhân, kiến thức là kết quả của các quy luật tiến
Trang 161.5.5 Xác định con đường hướng dẫn HS tự khám phá kiến thức quy luật tiến hóa 1.5.6 Xây dựng quy trình sử dụng quan hệ nhân quả để phát triển kiến thức quy luật trong dạy học phần tiến hóa – Sinh học 12 THPT
1.5.7 Thiết kế tiêu chí đánh giá khả năng tự khám phá kiến thức quy luật tiến hóa –
SH 12 THPT
1.5.8 Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết khoa học của đề tài
1.6 Giới hạn nghiên cứu
Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu quan hệ nhân quả trong chương 1: Bằng chứng và cơ chế tiến hóa
1.7 Phương pháp nghiên cứu
1.7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay
- Nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học, đề tài nghiên cứu đề cập đến
sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học
1.7.2 Phương pháp chuyên gia
Trao đổi, xin ý kiến của các chuyên gia về dạy quy luật tiến hóa bằng quan hệ nhân quả, con đường hướng dẫn HS tự khám phá hệ thống kiến thức tiến hóa
1.7.3 Phương pháp điều tra cơ bản
- Sử dụng phiếu điều tra để xác định:
+ Nhận thức của GV về quan hệ nhân quả và sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học kiến thức quy luật cho HS hiện nay ở các trường THPT
+ Mức độ sử dụng quan hệ nhân quả trong dạy học phần tiến hóa trong SH12 - THPT
- Điều tra nhận thức và mức độ sử dụng tư duy nhân quả của học sinh lớp 12 THPT trong môn SH
1.7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
đã đề ra
Trang 171.7.5 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được trong thực nghiệm sư phạm
1.8 Đóng góp mới của luận văn
- Xác định được logic sự vận động, phát triển của nội dung phần tiến hóa – Sinh học 12 THPT
- Đề xuất con đường có hiệu quả để hướng dẫn HS tự khám phá kiến thức
- Đề xuất quy trình sử dụng quan hệ nhân quả để phát triển kiến thức quy luật trong dạy học phần tiến hóa – Sinh học 12 THPT
1.9 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần
- Phần I Mở đầu
- Phần II Nội dung nghiên cứu
Gồm 3 chương:
+ Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Chương 2 Xác định và sử dụng quan hệ nhân quả để hình thành và phát triển kiến thức quy luật trong dạy học phần Tiến hóa - SH 12 THPT
+ Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
- Phần III Kết luận và khuyến nghị
Trang 18PHẦN 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, vấn đề tư duy, tư duy logic và mối quan hệ nhân quả trong tư duy logic đã và đang được nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học, triết học quan tâm
1.1.1.1 Về tư duy biện chứng
Tư duy biện chứng là một hệ thống các nguyên tắc có quan hệ với nhau điều phối hoạt động của chủ thể tư duy trong việc nhận thức và cải tạo thực tiễn thế giới Về nguồn gốc, tư duy biện chứng được xây dựng từ những nội dung
cơ bản của phép biện chứng tư duy, trước hết là từ nội dung của các nguyên lý, quy luật cơ bản
Các nhà khoa học duy vật biện chứng đều cho rằng thế giới là vật chất V.I Lênin khẳng định vật chất không có ý nghĩa gì khác hơn là “thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức con người phản ánh” V.I Lênin định nghĩa vật chất như sau: “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác Về vấn đề vật chất và vận động Ph Ăngghen cho rằng vận động “là thuộc tính cố hữu của vật chất”, “là phương thức tồn tại của vật chất” [8]
Quan điểm biện chứng không chỉ nhìn thấy sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ qua lại giữa chúng, không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái vận động, biến đổi của sự vật Ph Ăng -ghen cho rằng, tư duy biện chứng là sự vật hiện tượng tư duy mềm dẻo, linh hoạt Tư duy biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết, bên cạnh cái “hoặc là … hoặc là…” còn có cái “vừa là… vừa là…”
Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự vật hiện tượng không tồn tại độc lập, đơn lẻ mà luôn nằm trong mối liên hệ, tương tác với nhau Không chỉ có sự tương tác giữa các sự vật, hiện tượng, mà giữa các thành phần cấu trúc nên mỗi sự vật,
Trang 19hiện tượng cũng có mối liên hệ mật thiết với nhau Các nhà triết học biện chứng duy vật coi “thế giới như một chỉnh thể thống nhất Các sự vật, hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới đó vừa cách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau”
Quán triệt quan điểm duy vật biện chứng vào việc phân tích toàn diện mối quan hệ của sự vật giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn bản chất của sự vật, làm
cơ sở cho việc xác định con đường, nhận thức chân lý một cách đúng đắn Nguyên
lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật gắn liền với nguyên lý về mối quan hệ phổ biến Nhiệm vụ chính của phép biện chứng duy vật chính là nghiên cứu toàn diện sự vận động, phát triển khách quan của thế giới, tìm ra bản chất và những quy luật phổ biến của quá trình phát triển của nó Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng mọi sự vật hiện tượng đều vận động, biến đổi, chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác [43, tr 51]
1.1.1.2 Về quan hệ nhân quả
Anghen khẳng định: “Nguyên nhân và kết quả là những biểu tượng có ý nghĩa
là nguyên nhân và kết quả khi nào được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt, nhưng khi ta xét trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn
bộ thế giới, thì nguyên nhân hội tụ lại và quyện vào nhau trong biểu tượng về sự tác động qua lại phổ biến trong đó nguyên nhân và kết quả luôn đổi chỗ cho nhau: cái ở đây hay bây giờ là nguyên nhân, thì ở chỗ khác hay lúc khác lại trở thành kết quả và ngược lại” [4]
Ăng-ghen viết: Khoa học của tự nhiên xác nhận câu nói của Hegel cho rằng
sự tương tác là nguyên nhân thật sự của các sự vật Không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan hệ nhân quả (ví dụ: sau mùa Đông là mùa Xuân, ta không thể nói mùa Đông là nguyên nhân của mùa Xuân Nguyên nhân của mùa Đông cũng như của mùa Xuân là do sự vận chuyển của quả đất chung quanh mặt trời, nhưng không phải đêm là nguyên nhân của ngày, mùa xuân
là nguyên nhân của mùa hè v.v ) Cái phân biệt quan hệ nhân quả về mặt thời gian
Trang 20mối liên hệ nhân quả trong tự nhiên, con người càng nghiên cứu được càng nhiều càng tốt Nhờ biết được những kết quả do các tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng trong tự nhiên, con người ta có thể lợi dụng được những nguồn năng lượng lớn để phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người [9, tr 15 -16]
Trong lĩnh vực phật giáo, hòa thượng Thích Thiện Hoa đặt ra những câu hỏi lớn: "Ta từ đâu đến đây? Ta đến đây để làm gì? Đến đây rồi ta sẽ chấm dứt cuộc hành trình sau hơi thở cuối cùng ở đây, hay còn tiếp tục đi nữa? Đi đâu? Đi hay về? Đi theo một con đường thẳng hay đường cong? Đi xuống hay đi lên?" “Nhân
là nguyên nhân, quả là kết quả Nhân là cái hạt, quả là cái trái do hạt ấy phát sinh Nhân là năng lực phát động, quả là sự thành hình của năng lực phát động ấy Nhân quả là một định luật tất nhiên, có tương quan mật thiết với nhau và chi phối tất cả mọi sự mọi vật” “biết ấy trở thành vô ích Cho nên chúng ta đã hiểu rõ luật nhân quả thì phải cố gắng thật hành cho được bài học ấy trong mọi trường hợp Nếu chúng ta biết đem luật nhân quả làm một phương châm hành động và suy luận, thì chúng ta sẽ thu lượm được rất nhiều lợi ích”.[16] Hay tác phẩm An Open Heart Practicing Compassion in Everyday Lifea của Dailai Lama đã phân tích sâu sắc mối quan hệ nhân quả trong hành vi đạo đức của con người trong xã hội [11]
N N Branxki có viết: “Thực chất của việc hình thành các mối quan hệ nhân quả là tìm ra nguyên nhân của một sự vật, hiện tượng Việc vạch ra nguyên nhân hình thành đối với các hiện tượng, đối tượng tự nhên và kinh tế - xã hội là một trong những mặt quan trọng nhất trong dạy học của giáo viên Vấn đề là mối liên hệ của các hiện tượng là vấn đề quan trọng nhất” (dẫn theo [13])
Có thể thấy vấn đề tư duy logic, tư duy biện chứng, mối quan hệ nhân quả trong bản chất vấn đề đã được nhiều tác giả quan tâm đề cập và nghiên cứu
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong nước, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về tư duy logic và mối quan hệ nhân quả cũng như sử dụng chúng trong dạy học
1.1.2.1 Về tư duy biện chứng
Trên cơ sở phân tích, so sánh sự đối lập phép biện chứng của Heghen để
Trang 21làm sáng tỏ tính khách quan, khoa học cho sự ra đời và phát triển của phép biện chứng duy vật Nhiều công trình đã tập trung phân tích bản chất, đặc trưng của tư duy biện chứng so với các hình thức tư duy khác trong lịch sử; đồng thời, khẳng định bản chất khoa học, cách mạng của tư duy biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới khách quan Một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Các tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải trong cuốn “Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học - công nghệ” [30]; Các tác giả Nguyễn Trọng Chuần và Đỗ Minh Hợp trong bài “Ý nghĩa của phép biện chứng Heghen” [10] hay trong “Vấn
đề tư duy trong triết ọc Heghen”; của ĐoànThế Hùng trong công trình nghiên cứu:
“Tìm hiểu sự hình thành tư duy biện chứng macxit” [21] Bùi Thanh Quất, Bùi Trí Tuệ, Nguyễn Ngọc Hà trong: “Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của logic biện chứng” [32] hay của Trần Đình Thỏa trong “Một số vấn đề tư duy biện chứng macxit” [38]
Trong bộ môn phương pháp dạy học các môn khoa học cũng có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: “Phương pháp dạy học các mối quan hệ nhân quả trong sách giáo khoa Địa lý 8 theo hướng dạy học tích cực” của Phạm Thị Thanh trên tạp chí khoa học số 4, năm 2009 [36]; “Phát triển tư duy biện chứng của học sinh trong dạy học ở trường trung học phổ thông” của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hưng [23]; hay theo Nguyễn Công An “năng lực tư duy biện chứng là sức mạnh không thể thiếu đợc của mỗi cong người trong nhận thức vầ hoạt động thực tiễn” [2]
1.1.2.2 Về quan hệ nhân quả
Theo Lê Thiếu Tráng trong “Sử dụng mối quan hệ nhân quả trong giảng dạy để phát triển năng lực tư duy toán học cho học sinh THPT” [41] và Nguyễn Thị Thu Huyền trong “Quy trình rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học phần Tiến hóa – sinh học 12 THPT: Nếu nghiên cứu sâu sắc cặp phạm trù này, khai thác được trong quá trình giảng dạy thì đó là một cách rất hiệu quả để phát triển năng lực học tập của học sinh [22]
Trang 22Trong lĩnh vực kinh tế, quản trị kinh doanh cũng có những tác giả đề cập
đề mối quan hệ nhân quả như Huỳnh Thanh Siêng trong: “Mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam” [35]
Như vậy cả trên thế giới và trong nước, mối quan hệ biện chứng nói chung
và quan hệ nhân quả nói riêng đã và đang là vấn đề được quan tâm Trong dạy học
ở trường phổ thông, đặc biệt là trong dạy học địa lý và toán học, mối qua hệ này
có giá trị to lớn trong đổi mới phương pháp dạy học [40]
Trong SGK sinh học các cấp, khi xác định kiến thức bản chất của các hiện tượng Sinh học, đặc biệt trong các nội dung giải thích nguyên nhân của sự biểu hiện các hiện tượng đã rất quan tâm đến mối quan hệ nhân quả, nghĩa là ssax quán triệt quan điểm “nhân – quả”
Về vận dụng quan hệ nhân quả trong dạy học Sinh học, thường được các nhà Sinh học diễn đạt dưới dạng các yếu tố và cơ chế tác động của các yếu tố sản sinh ra một sự vật hay một hiện tượng nào đó Do đó, nhiều nội dung có nguyên nhân gây ra, tạo thành kết quả, nhưng hiểu nó cũng còn có những mức độ khác nhau
Tiến sĩ Hà Thị Thành giảng dạy tại khoa Triết học, Học viện Báo chí và tuyên truyền, năm 2010 đã nghiên cứu và xuất bản tài liệu “Một số vấn đề triết học trong Sinh học” Với những lý luận cơ bản về triết học duy vật biện chứng và những phân tích về cấu trúc của tổ chức sống, về hoạt động sống, đã làm sáng tỏ các luận điểm về cấu trúc vật chất của thế giới sống, giữa các thành phần cấu trúc của thế giới sống, giữa các mặt khác nhau trong mỗi cấu trúc có mối liên hệ chặt chẽ Trong đó có mối quan hệ nhân quả, do có quan hệ, có tương tác nên thế giới sống luôn phát triển theo các quy luật cơ bản của triết học duy vật biện chứng
Trung Thị Thúy trong “Sử dụng mối quan hệ nhân quả trong dạy học chương II: tính quy luật của hiện tượng di truyền – Sinh học 12, trung học phổ thông” đã đề xuất quy trình xác định nguyên nhân và kết quả nhằm định hướng cách tìm kết quả, cách tìm nguyên nhân bằng logic mỗi dung từ nguyên nhân dẫn
Trang 23đến kết quả hoặc từ kết quả dẫn đến nguyên nhân Theo tác giả, giáo viên phải là người nằm vững mối quan hệ nhân quả, đăc biệt xác định được nguyên nhân của hiện tượng để tìm con đường có hiệu quả giúp học sinh tự khám phá kiến thức [39]
Việc quán triệt quan điểm triết học duy vật biện chứng để nghiên cứu Sinh học là điều vô cùng cần thiết, trong đó xác định được nguyên nhân sản sinh ra các hiện ra các hiện tượng Sinh học nói chung, đặc biệt xác định được nguyên nhân sản sinh ra sự hình thành đặc điểm thích nghi, sự hình thành loài mới, chiều hướng tiến hóa của sinh giới trong tự nhiên, chắc chắn sẽ nâng cao được chất lượng dạy học Sinh học nói chung và phần Tiến hóa nói riêng
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Mối quan hệ trong thực tại khách quan
1.2.1.1 Quan niệm về mối quan hệ
Thế giới này là vật chất, được cấu tao từ những thành phần khác nhau, tổ chức theo các cấp độ tổ chức khác nhau và giữa các thành phần của mỗi cấp độ cũng tương tác với nhau Chính sự tương tác ấy tạo nên sự vận động và biểu hiện
ra hiện tượng Ví dụ: Trong tự nhiên giữa giữa sinh vật và môi trườg có quan hệ tương tác với nhau nên kết quả là hình thành đặc điểm thích nghi ngày càng hợp
lý
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì: quan hệ là sự gắn liền về mặt nào
đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi thì có thể tác động đến sự vật kia [31]
Trong phép biện chứng duy vật, mối quan hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ
sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thực tại Mọi sự vật hiện tượng trong thực tại khách quan luôn có quan hệ với nhau, chúng không tồn tại biệt lập Trong thực tại mối quan hệ mang tính khách quan, tính phổ biến
Trang 241.2.1.2 Tính chất của mối quan hệ
Mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thực tại có những tính chất sau: Tính khách quan:
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có khả năng nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình [26]
Ví dụ: Sự phụ thuộc của cơ thể sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi thì cơ thể sinh vật cũng thay đổi để thích ứng với môi trường Mối quan hệ đó không phải do ai sáng tạo ra mà là bản chất tự vận động thích nghi của sinh vật, sinh vật luôn có xu hướng thích nghi với môi trường của nó, đó là chiều hướng tiến hóa của sinh vật
Tính phổ biến:
Bất cứ đối tượng nào cũng liên hệ với các đối tượng khác, không có đối tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Mối liên hệ cũng có ở tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức đặc biệt tùy thuộc vào những điều kiện nhất định Nhưng mọi hình thưc cũng đều chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến, chung nhất Ngoài ra, tính phổ biến của các mối liên hệ của đối tượng, còn gồm hai tầng nghĩa nữa Một là, các yếu tố, các bộ phận khác nhau bên trong một đối tượng cũng đều luôn tác động qua lại, tức là chúng có kết cấu nội tại Hai là, thế giới trong tính toàn bộ của nó là một chỉnh thể thống nhất của các mối liên hệ tương tác lẫn nhau Lê-nin nhấn mạnh “Những quan hệ của mỗi sự vật (hiện tượng…) không những là muôn vẻ, mà còn là phổ biến, toàn diện Mỗi
sự vật (hiện tượng, quá trình…) đều liên hệ với mỗi sự vật khác” [25, tr 202 - 203]
Ví dụ: Mọi cá thể trong một quần thể chim cánh cụt luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau trong tổ chức bầy đàn Chúng quần tụ lại để hỗ trợ nhau trong việc kiếm mồi, chống kẻ thù, bảo vệ nhau trước môi trường khắc nghiệt
Trang 25Tính đa dạng:
Vì có nhiều đối tượng cùng tồn tại, vận động, phát triển do chúng luôn tương tác với nhau, mỗi đối tượng có nhiều mối quan hệ Theo giáo trình triết học Mác- Lênin thì quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng bao gồm: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài; Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu; Mối liên hệ chung và mối liên hệ riêng; Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp…
Mối liên hệ giữa các sự vật đa dạng như trên là so tính đa dạng trong tồn tại, vận động và phát triển của chính các sự vật trong thực tại khách quan quy định Các cặp mối quan hệ có quan hệ biện chứng với nhau, sự phân chia từng cặp đó chỉ tương đối , vì nó chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại quan hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của nó, hoặc do kết quả vận động và phát triển của chính các đối tượng
Ví dụ: Dù là sinh vật trên cạn hay dưới nước thì chúng đều có quan hệ với nước, tuy nhiên, mối quan hệ của cá với nước khác của chim và thú
1.2.1.3 Các loại mối quan hệ
Dựa vào tính chất, phạm vi, trình độ, vai trò của các mối quan hệ mà chúng được phân chia thành:
- Thứ nhất, mối quan hệ bên trong - mối quan hệ bên ngoài: Mối quan hệ bên trong biểu hiện mỗi quan hệ giữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng Mối quan
hệ bên ngoài là quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Ví dụ: Xét trên một cánh đồng, mối quan hệ giữa các cá thể chuột đồng với nhau trong một quần thể là mối quan hệ bên trong Mối quan hệ giữa các quần thể chuột đồng với nhau và với các quần thể loài khác (lúa, chim, rắn…) là mối quan
hệ bên ngoài
- Thứ hai, mối quan hệ bản chất và không bản chất: Mối quan hệ bản chất là mối quan hệ có tính chất quyết định sự vận động và phát triển của sự vật – hiện tượng Mối quan hệ không bản chất là mối quan hệ phụ thuộc thứ yếu, đôi lúc nó
Trang 26Ví dụ: Để cà chua chín nhanh, người ta xếp các quả cà chua chín xen kẽ quả xanh trong một thùng xốp Mối quan hệ giữa các quả cà chua với nhau là mối quan hệ không bản chất, còn mối quan hệ giữa quả xanh với khí etylen thoát ra từ quả chín là mối quan hệ bản chất
- Thứ ba, mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp: Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ gần gũi, tác động trực tiếp làm chuyển hóa, thay đổi các sự vật, hiện tượng Mối quan hệ này dễ nhận biết và là mối quan hệ chủ yếu Mối quan hệ gián tiếp phải thông qua điều kiện trung gian hoặc mối quan hệ trung gian Song tùy thuộc vào vai trò, vị trí của các thành phần trong mối quan hệ đó mà có thể phân
ra thành:
+ Mối quan hệ tương hỗ: Hai hoặc nhiều thành phần có tác dụng qua lại với nhau Ví dụ: Mối liên hệ giữa quá trình quang hợp và hô hấp
+ Mối quan hệ nhân quả: Có thành phần là nguyên nhân sinh ra kết quả
- Thứ tư, mối quan hệ chung và riêng: Ngoài mối quan hệ chung có ở tất cả các sự vật, hiện tượng đang xét Mỗi sự vật, hiện tượng đơn lẻ có những mối quan
hệ riêng đặc trưng cho chúng Ví dụ, sống trong quần xã, các sinh vật tồn tại mối quan hệ giữa sinh vật – môi trường và sinh vật – sinh vật Đó là mối quan hệ chung có ở tất cả các quần thể trong quần xã Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sinh vật – sinh vật cũng rất riêng cho từng quần thể Có thể là quan hệ hỗ trợ, có thể là quan hệ cạnh tranh, trong quan hệ hỗ trợ hay cạnh tranh cũng tồn tại các phương thức quan hệ khác nhau: cộng sinh, hội sinh, ăn thịt, ức chế cảm nhiễm…
- Thứ năm, quan hệ tất nhiên và ngẫu nhiên: tất nhiên tức phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định, ngẫu nhiên - một phạm trù chỉ cái không do mối liên
hệ bản chất, bên trong kết cấu vật chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định và có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuất hiện như thế này, hoặc có thể xuất hiện khác đi
Trang 27- Thứ sáu, mối quan hệ nguyên nhân – kết quả: nguyên nhân là sự tương tác giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra những biến đổi nhất định Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau Ví dụ, sự tương tác giữa mỗi mạch đơn của gen với enzim tương ứng, cùng với các nucleotit tự do trong môi trường theo nguyên tắc bổ sung, sản sinh ra một mạch mới bổ sung với mạch khuôn của gen, từ đó hình thành nên 2 phân tử DNA con giống nhau và giống mẹ
1.2.2 Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả
1.2.2.1 Khái niệm nguyên nhân
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng nguyên nhân và kết quả là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lenin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Trong đó, nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó [20, tr 15,16]
Nguyễn Thị Hồng Vân (2005) [42] cho rằng bóng đèn phát sáng thì không phải dòng điện là nguyên nhân làm cho đèn sáng mà chính là sự tương tác của dòng điện với dây tóc bóng đèn mới thực sự là nguyên nhân làm cho bóng đèn phát sáng Theo tác giả, sự vật hiện tượng không bao giờ là chính bản thân nguyên nhân, chỉ có sự tác động của các sự vật, hiện tượng mới là nguyên nhân Bản thân cái nhân chứa trong hạt không phải nguyên nhân của cái mầm, mà những quá trình sinh học và hóa học mới là nguyên nhân của sự nảy mầm Thông thường, ta hay hiểu có một hiện tượng A mà tác động của nó gây nên, làm biến đổi, hay kéo theo sau nó hiện tượng khác (chẳng hạn hiện tượng B ) thì A được gọi là nguyên nhân, còn B được gọi là kết quả Song trên thực tế, nguyên nhân thực sự của B không phải bản thân hiện tượng A, mà chính là sự tác động qua lại của A với các hiện tượng C,D,E nào đó mới chính là cái dẫn đến sự xuất hiện hiện tượng B
Như vậy, nguyên nhân bao giờ cũng là sự tương tác giữa các măt trong một sự vât hoặc giữa các sự vật khác nhau gây ra những biến đổi nhất định
Trang 281.2.2.2 Khái niệm kết quả
Theo quan điểm duy vật biện chứng, kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra, qua đó phản ánh mối quan hệ hình thành của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan [14]
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân cho rằng kết quả vốn là sự xuất hiện của một sự vạt, hiện tượng nào đó Sự xuất hiện đó chỉ được xem là kết quả nếu xem xét nó được sinh ra từ những nhân tố nào Các nguyên nhân là sự tác động thì kết quả là sự vật, hiện tượng Trong ví dụ sự nảy mầm của hạt, hạt nảy mầm chính là kết quả của sự tương tác các quá trình sinh học, hóa học bên trong với sự tác động của các nhân tố môi trường
Suy cho cùng, mỗi sự tác động đều đưa lại một hay nhiều kết quả nào đó, những mọi tác động của bản thân nó đều chưa được xem xét như nguyên nhân Nếu không có hết quả thì cũng không gọi sự tác động đó là nguyên nhân [45, tr.561]
Như vậy, kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau
Phân tích một ví dụ để làm rõ, giống lúa nước mang kiểu gen quy định thân cao, giúp cây có thể vươn lên trên mặt nước khi ruộng bị ngập úng Nguyên nhân gây ra khả năng vươn cao của cây lúa là do kiểu gen quy định, còn cây lúa cao cụ thể ở mức nào là do môi trường nước quy định Hiện tượng lúa ngoi quan sát được
là kết quả của nguyên nhân - sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường
Theo B.Ratxen: Định luật nhân quả… là bất kỳ định luật nào có thể cho chúng ta khả năng dựa trên một biến cố để đưa ra một kết luận nào đó về một biến
cố khác (hay nhiều biến cố khác) [34, tr 362]
Trong lĩnh vự Phật giáo, hòa thượng Thích Thiện Hoa nói rằng “Nhân là cái hạt, quả là cái trái của hạt ấy phát sinh Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy”
Trang 29Khi nói đến Nhân, Phật giáo cho đây là yếu tố chính, có trước, sản sinh ra cái khác Nhân ở đây là cái làm khởi lên, tạo ra cái khác Tuy nhiên Phật giáo nhấn mạnh nhân phải được hiểu là tổng nhân, hợp nhân sự hài hòa của các nhân hợp thành một nhân có khả năng sản sinh ra kết quả và nếu có thiếu sót bất kỳ cái nào trong vài nhân hợp thành một nhân thì sẽ không có kết quả, nhóm các nhân sẽ không thể sản sinh kết quả nếu chúng độc lập với nhau hay thiếu một vài cái trong
số chúng Cho nên qua sự tùy thuộc lẫn nhau, bình đẳng và cùng nhau chúng sản sinh ra kết quả [24] Ta hiểu đó là sự tương tác giữa các yếu tố của “nhân”
Cùng với nhân và duyên, Phật giáo cũng phân tích về quả và sự tạo quả Tùy vào tác động của yếu tố duyên vào nhân mà quả cũng có thể rất đa dạng, phong phú Hầu hết các trường hợp khi quả ra đời nó thường ở cùng một cấp độ với nhân ví dụ con gà thì chỉ đẻ ra trứng gà mà không thể có chuyện đẻ ra trứng vịt Hay trứng gà chỉ nở ra con gà mà không nở ra con vịt Tuy nhiên trên thực tế
từ nhân đến quả còn có các yếu tố duyên xen vào nên tuy quả cùng cấp độ với nhân nhưng vẫn khác nhân Hay nói cách khác, kết quả có được như thế nào phụ thuộc vào sự tương tác giữa nhiều yếu tố
Như vậy, nguyên nhân bao giờ cũng là sự tương tác giữa các mặt trong một
sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra những biến đổi nhất định
Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện Điều kiện là những yếu tố giúp nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng bản thân điều kiện không sinh ra kết quả Nguyên cớ là cái không có mối liên hệ bản chất với kết quả
1.2.2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân – kết quả
+ Nguyên nhân xuất hiện trước và sinh ra kết quả
Từ khái niệm nguyên nhân cho thấy, nguyên nhân là yếu tố sản sinh ra kết quả Không có nguyên nhân tức là không có sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật khác nhau thì không thể có kết quả Chính
cơ sở sự tác động rồi mới có kết quả nên nguyên nhân luôn có trước về mặt thời gian, kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện Nguyên nhân có
Trang 30trước kết quả dù là rất ít về mặt thời gian nhất thiết phải có trong bất kỳ mối quan
hệ nhân quả nào.[37]
Tuy nhiên không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng
là quan hệ nhân quả (ví dụ: sau mùa Đông là mùa Xuân, ta không thể nói mùa Đông là nguyên nhân của mùa Xuân Nguyên nhân của mùa Đông cũng như của mùa Xuân là do sự vận chuyển của quả đất chung quanh mặt trời, nhưng không phải đêm là nguyên nhân của ngày, mùa xuân là nguyên nhân của mùa hè v.v ) Cái phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệ kế tiếp về mặt thời gian là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh ra nhau [14]
Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh
ra Mặt khác, một nguyên nhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể sinh
ra những kết quả khác nhau và nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiều trong một sự vật thì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quả xuất hiện nhanh hơn Ngược lại nếu những nguyên nhân tác động đồng thời theo các hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau Điều đó sẽ ngăn cản sự xuất hiện của kết quả
Như vậy, mối quan hệ nhân quả trước hết phải là nguyên nhân sinh ra kết quả
Ăng-ghen viết: Khoa học của tự nhiên xác nhận câu nói của Hegel cho rằng
sự tương tác là nguyên nhân cuối cùng (causa finalis) thật sự của các sự vật [8,
Trang 31Ví dụ: trên một quần thể sâu róm có màu xanh lục luôn xuất hiện đột biến theo hướng khác nhau làm sâu róm có màu xám Đó là nguyên nhân, nhưng trong mỗi điều kiện khác nhau thì nguyên nhân trên gây ra những kết quả khác nhau Cụ thể, nếu quần thể đó sống trên môi trường có màu xanh lục thì những cá thể mang đột biến biểu hiện những màu khác xanh lục sẽ dễ bị chim ăn sâu phát hiện và ăn thịt, những đột biến đó sẽ bị đào thải Tuy nhiên, nếu môi trường sống của chúng
có màu xám thì đột biến đó là đột biến ưu thế, giúp các cá thể đó tồn tại được trong môi trường tốt hơn Qua các thế hệ, gen đó được nhân lên rộng rãi trong quần thể
- Nhiều nguyên nhân tạo ra một kết quả Ví dụ: hiện tượng kháng thuốc DDT của quần thể rận Hiện tượng này là kết quả của sự tương tác giữa 2 nguyên nhân, một là trong quần thể xuất hiện đột biến kháng thuốc, hai là DDT được phun chưa đúng thời điểm, liều lượng
+ Hoán đổi
Khác với quan điểm siêu hình về nguyên nhân và kết quả, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng nguyên nhân và kết quả không phải là bất biến mà chúng chuyển hóa cho nhau Cái trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệ khác là kết quả và ngược lại
Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng bản thân nguyên nhân khi sinh ra kết quả lại đã là kết quả ở một mối quan hệ nhân – quả trước đó Ngược lại, kết quả với tư cách là kết quả sinh ra từ một nguyên nhân nhưng bản thân nó không dừng lại Nó lại tiếp tục tác động, và sự tác động của nó lại gây ra những kết quả khác Nói một cách khác, có thể tóm lại trong chuỗi nhân – quả: A sinh ra B, B sinh ra C, C sinh ra
D … thì mỗi cái đều là nguyên nhân ở trong một mối quan hệ này, nhưng đồng thời lại là kết quả ở một mối quan hệ khác
Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau, điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân, nhưng trong
mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại Ăng - ghen nhận xét rằng: “Nguyên
Trang 32được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt nhất định Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau Chuỗi nhân quả là vô cùng, không có bắt đầu và không có kết thúc Một hiện tượng nào đấy được coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể” [7, tr.107] Ông cũng khẳng định: “Nguyên nhân và kết quả là những biểu tượng có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi nào được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt, nhưng khi ta xét trường hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì nguyên nhân hội tụ lại và quyện vào nhau trong biểu tượng về sự tác động qua lại phổ biến trong đó nguyên nhân và kết quả luôn đổi chỗ cho nhau: cái ở đây hay bây giờ là nguyên nhân, thì ở chỗ khác hay lúc khác lại trở thành kết quả và ngược lại” [8, tr.22]
+ Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không hoàn toàn thụ động, nó vẫn có khả năng tác động trở lại nguyên nhân
Trong những quan hệ xác định, kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng
đó có thể diễn ra theo hai hướng:
Thứ nhất: Hướng tích cực, tức là thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân
Thứ hai: Hướng tiêu cực, tức cản trở sự hoạt động của nguyên nhân [4, tr.36]
Ví dụ xét sự dao động số lượng thỏ và cáo trong một khu rừng, số lượng thỏ tăng là nguyên nhân của việc gia tăng số lượng cáo, do cáo kiếm được nguồn thức
ăn dồi dào Tuy nhiên, việc số lượng cáo tăng cao cũng tác động trở lại tới quần thể thỏ, là nguyên nhân của việc giảm số lượng thỏ do chúng có nhiều kẻ thù ăn thịt Trong trường hợp này, số lượng thỏ và số lượng cáo ảnh hưởng qua lại tới nhau
Trang 331.2.2.4 Tính chất của quan hệ nhân quả
Phép biện chứng duy vật của triết học Mac-Lênin khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách quan, tính phổ biến, tính tất yếu
Tính khách quan:
Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận tính nhân quả khách quan trong tự nhiên và
xã hội họ miêu tả tự nhiên và xã hội như là sự chồng chất lộn xộn các hiện tượng
và sự kiện không gắn với nhau bằng mối liên hệ nhân quả
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” Lê-nin bóc trần chủ nghĩa duy tâm về việc phủ nhận tính nhân quả Lê-nin đòi hỏi phân ranh giới rành mạch giữa hai đường lối trái ngược nhau trong vấn đề tính nhân quả Ông cũng đòi hỏi phải phân biệt sự giải thích vấn đề tính nhân quả về mặt lý luận nhận thức nói chung với trình độ chính xác và khoa học để miêu tả các mối liên hệ nhân quả
Mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người Dù con người biết hay không biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nên biến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động và những biến đổi, tức là mối liên
hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình
Tính phổ biến:
Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi Không nên đồng nhất vấn
đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả với vấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực
Thế giới thống nhất ở bản chất vật chất, những sự vật và hiện tượng muôn màu của hiện thực chỉ là những vè khác nhau của vật chất đang vận động, chỉ là những bộ phận, những yếu tố của một khối thống nhất Vì vậy trong mỗi một khâu
Trang 34nó trong một hiện tượng khác Không có hiện tượng nào lại không có nguyên nhân Mối liên hệ nhân quả bao trùm tất cả mọi hiện tượng của hiện thực không trừ một hiện tượng nào
Tính tất yếu:
Cùng một nguyên nhân nhất định, trong những điều kiện giống nhau sẽ gây
ra kết quả như nhau Tuy nhiên trong thực tế không thể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: Nguyên nhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì kết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu
1.2.3 Khái niệm về quy luật
1.2.3.1 Định nghĩa
Đã từng có nhiều định nghĩa khác nhau về quy luật:
Theo Các-mác, quy luật là mối liên hệ bên trong và tất nhiên giữa hai hiện tượng [9, tr.233)
Theo Ăng-ghen “Hình thức của tính phổ biến trong tự nhiên, đó là quy luật” Ông cho rằng, quy luật là cái gì đó phổ biến, thể hiện những gì tất nhiên, bản chất, bất biến của các hiện tượng trong một lĩnh vực xác định [5, tr.186]
V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh rằng quy luật là một phạm trù triết học, khái quát những nét chung vốn có trong các quy luật của từng hình thức vận động của vật chất và phạm trù triết học này là sự trừu tượng hóa khoa học các định luật chung
Vấn đề quy luật trong khoa học đã được R.Carnap trình bày tương đối đầy
đủ trong tác phẩm “Cơ sở triết học của vật lý học – nhập môn triết học khoa học” (Philosophical foundations ò phisics – a introductions of science) Trong chương đầu tiên – “Ý nghĩa của quy luật: giải thích và tiên đoán”, Carnap đề cập đến một đặc điểm mà ông cho là quan trọng của quy luật là “tính đều đặn”, “tính lặp đi lặp lại” (regular) Nói về vai trò của quy luật, ông đặt câu hỏi: Các quy luật có lợi ích gì? Chúng phục vụ cho mục đích nào trong khoa học và trong đời sống? Và, ông
Trang 35trả lời: Quy luật được sử dụng để giải thích cái đã biết và tiên đoán cái chưa biết [46]
Theo quan điểm duy vật biến chứng, các sự vật, hiện tượng, quá trình trong
tự nhiên nói chung, trong giới tự nhiên hữu cơ nói riêng không đứng yên mà vận động Chúng không vận động hỗn độn cô lập với nhau mà phát triển theo chiều hướng nhất định, trong những mối liên hệ xác định, có tính quy luật
Bất cứ một hay một nhóm sự vật, hiện tượng nào trong thực tại khách quan bao giờ cũng bao hàm một loạt rất phức tạp những mối liên hệ bản chất hoặc không bản chất, bên trong hoặc bên ngoài, bền vững hoặc tạm thời, ngẫu nhiên hoặc tất nhiên, đơn nhất hoặc phổ biến Quy luật (tính quy luật) chỉ phản ánh những mối liên hệ bản chất bên trong và do đó bền vững, tất nhiên và phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau, hoặc giữa các mặt khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng, quá trình hoặc giữa trạng thái trước và sau của một
sự vật, hiện tượng, quá trình, tức là xu hướng phát triển của nó Trong các mối quan hệ này, quan trọng nhất mà mối quan hệ giữa nguyên nhân với kết quả, giúp
ta nhận thức được tính quy luật tất yếu của sự vật, hiện tượng, quá trình và làm chủ được chúng, dự đoán được điều sắp xảy ra Tuy nhiên, không phải các mối liên hệ nhân – quả đều là quy luật
Những hiện tượng có nguyên nhân xác định nhưng chỉ xảy ra ở một vài lần nào đó thì không được coi là quy luật Chỉ những mối liên hệ nói chung, liên hệ nhân quả nói riêng, lặp đi lặp lại nhiều lần, có tính bền vững, ổn định, phổ biến mới được xem là có tính quy luật
Cần lưu ý rằng khái niệm “tính quy luật” phản ánh tính vốn có trong thực tại, con người chưa nhận thức được Còn “quy luật” là kết quả mà con người nhận thức được tính quy luật trong thực tại khách quan
Nhận thức được tính quy luật của hiện tượng khách quan qua con đường quan sát Quy luật; qua con đường thực nghiệm Định luật
Như vậy, quy luật là kết quả của việc nhận biết tính quy luật trong thực tại
Trang 36Định luật là kết quả của việc nhận biết tính quy luật trong thực tại khách quan bằng con đường thực nghiệm
Chẳng hạn trong sinh học, phát hiện của Lamac rằng cơ quan nào được sử dụng nhiều thì sẽ phát triển, cơ quan nào ít sử dụng thì ngày càng tiêu giảm, đó là kết quả của sự quy nạp các quan sát rút ra mối liên hệ giữa cường độ hoạt động và hình thái cấu tạo của cơ quan Phát hiện đó được gọi là quy luật Đối với Menđen,
để xét sự di truyền các cặp tính trạng ông lại sử dụng phương pháp thực nghiệm
và xử lý kết quả bằng thống kê toán học Phát hiện đó được gọi là định luật Menden Như vậy, đinh luật và quy luật đều phản ánh tính quy luật vốn có trong thực tại khách quan nhưng bằng những con đường nhận biết khác nhau
1.2.3.2 Đặc trưng cơ bản của quy luật
Lê-nin đã nêu lên một số đặc trưng của quy luật: [25, tr.202, 203 ]
+ ”Quy luật là một quan hệ bản chất” do Hê-ghen nhấn mạnh hay “ Quy luật là mối quan hệ của những bản chất hay giữa những bản chất”
+ “Quy luật là cái gì vững bền (cái được bảo tồn) trong hiện tượng) + “Quy luật phản ánh yên tĩnh của những hiện tượng”
+ “Quy luật là cái đồng nhất trong hiện tượng”
Trong “Bút ký triết học”, Lê-nin chỉ rõ: “Quy luật là cái gì bền vững (cái được bảo tồn) trong hiện tượng” và “Quy luật = phản ánh yên tĩnh của những hiện tượng” [25, tr.160] Hơn thế, khi khẳng định những mối liên hệ hữu cơ giữa quy luật và bản chất, ông còn chỉ rõ hơn “quy luật là những hiện tượng có tính bản chất” và “quy luật là phản ánh của cái bản chất trong sự vận động của vũ trụ” [25, tr.161]
Về tính khách quan của quy luật Lê-nin đã viết: “Quan điểm duy vật là sự thừa nhận tính thực tại khách quan của thế giới bên ngoài và các quy luật của thế giới tự nhiên bên ngoài Còn thế giới đó cũng như những quy luật của nó thì con người hoàn toàn có thể nhận thức được, nhưng không bao giờ có thể nhận thức được triệt để” [25, tr.163]
Trang 37Trong chương “Ý nghĩa của quy luật: giải thích và tiên đoán” trong “Cơ sở triết học của vật lý học – nhập môn triết học khoa học, Carnap đề cập đến một đặc điểm mà ông cho là quan trọng của quy luật “tính đều đặn”, “tính lặp đi lặp lại” (regular)
Đặc trưng cơ bản nhất của quy luật là tính tất yếu và tính bản chất [29] Do
đó, Anđrêep trong tác phẩm “Phép biện chứng duy vật với tư cách là một hệ thống khoa học” đã có lý khi định nghĩa “quy luật là mối quan hệ tất yếu và bản chất” [3, tr.185]
Từ sự phân tích trên, có thể thấy rằng đặc trưng cơ bản của quy luật đó là những mối quan hệ bản chất, tất yếu, bền vững, ổn định, lặp đi lặp lại trong các sự vật, hiện tượng
1.2.4 Tự khám phá kiến thức
Tự khám phá kiến thức là cách chiếm lĩnh nền văn hóa xã hội của loài người mà mục tiêu dạy học phải hướng tới: Quan điểm người học phải tự khám phá kiến thức có nguồn gốc như thế nào? Ta hãy điểm qua một số lý thuyết học tập hiện nay
1.2.4.1 Thuyết hoạt động
Theo A.N.Leontiev [27, tr 95]: Hoạt động được chiểu là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa của chủ thể
Hoạt động có những đặc điểm sau:
- Hoạt động bao gờ cũng là hoạt động có đối tượng, ví dụ hoạt động học tập có đối tượng là tri thức, kỹ năng và cách phát hiện ra kiến thức, kỹ năng cần lĩnh hội
- Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ thể của hoạt động học Đặc điểm quan trọng của chủ thể là tính tự giác, tích cực
Trang 38- Hoạt động vận hành theo các nguyên tắc gián tiếp Trong học tập thì tiếng nói, chữ viết, hình ảnh, biểu tượng, tri thức đã học được đều là công cụ về mặt tâm lý để tổ chức, điều kiển tinh thần chủ thể học
- Hoạt động bao giờ cũng có mục đích nhất định Trong học tập thì tri thức, kỹ năng và cách đạt được kiến thức, kỹ năng là mục đích của học tập
Bản chất của hoạt động học:
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lình hội những tri thức, kỹ năng và cách thức lĩnh hội tri thức,
kỹ năng Bản chất của hoạt động học là:
- Chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, cách học thông qua sự tái tạo của cá nhân
- Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình
- Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm đạt được mục đích học
- Theo lý thuyết nhận thức, quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc
và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lý và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử
- Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới
Trang 39- Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm
- Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng Vì vậy muốn có sự thay đổi đối với một người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của con người đó
- Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng kế hoạch và thực hiện Trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá và tự hưng phấn, không cần kích thích từ bên ngoài
Theo thuyết nhận thức, học tập có những đăc điểm sau:
- Mục đích của dạy học là tạo ra những khả năng để người học hiểu biết thế giới thực (kiến thức khách quan) Vì vậy, để đạt được các mục tiêu học tập, không chỉ kết quả học tâp mà quá trình học tâp và quá trình tư duy là điều quan trọng
- Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy, HS cần được tạo cơ hội hành động
Trang 40Tuy nhiên việc vận dụng thuyết nhận thức cũng có những giới hạn: việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề, dạy học khám phá đòi hỏi nhiều thời gian và đòi hỏi cao ở sự chuẩn bị cũng như năng lực của GV Ngoài ra, cấu trúc quá trình tư duy không quan sát trực tiếp được nên những mô hình dạy học nhằm tối ưu hóa quá trình nhận thức cũng chỉ mang tính giả thuyết
1.2.4.3 Thuyết kiến tạo
Thuyết kiến tạo khẳng định học tập là tự tạo tri thức, khi học taaoj mỗi người hình thành thế giới quan riêng của mình
Những quan điểm chính của thuyết kiến tạo:
- Không có tri thức khách quan tuyệt đối tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình,
vì thế tri thức mang tính chủ quan
- Với việc nhấn mạnh vai trò của chủ thể nhận thức trong việc giải thích
và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hướng cụ thể
- Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để giuos người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình,
đã được chủ thể điều chỉnh
- Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức
Theo thuyết kiến tạo, học tập có những đặc điểm sau:
- Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học và nội dung học tập
- Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn
đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể
- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của người học, và chỉ từ những kinh nghiêm và kiến thức mới của bản thân