76 Bảng 3.5 Các cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa .... 67 Biểu đồ 2: Các cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Anh Phước
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan thực hiện đề tài này hoàn toàn độc lập, theo đúng hướng dẫn của Nhà trường và Giảng viên hướng dẫn
Tôi cam đoan số liệu trong kết quả nghiên cứu là trung thực, chính xác và được thực hiện tại địa điểm nghiên cứu
Học viên
Hà Diệu Linh
Trang 3Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Anh Phước đã tận tình chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Trường Đại học Khánh Hòa đã giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình và người thân đã ủng hộ, động viên, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Dù đã có nhiều cố gắng trong học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các quý thầy, cô giáo, bạn bè góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Hà Diệu Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN 10
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Những nghiên cứu về giao tiếp 10
1.1.2 Những nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội 14
1.2 Các khái niệm cơ bản 17
1.2.1 Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội 17
1.2.2 Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên 34
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 48
2.2 Tổ chức nghiên cứu 50
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu lí luận 50
2.2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 51
2.2.3 Đề xuất biện pháp và tổ chức thử nghiệm 52
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 53
2.3.1 Các nguyên tắc phương pháp luận 53
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 55
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHÁNH HÒA 66
3.1 Kết quả thực trạng 66
3.1.1 Nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 66
Trang 53.1.2 Cách sử dụng các phương tiện giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường
Đại học Khánh Hòa 70
3.1.3 Cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 79
3.1.4 Ảnh hưởng của việc giao tiếp trên mạng xã hội đến bản thân và đối tượng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 82
3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 86
3.2 Kết quả thử nghiệm 91
3.2.1 Sự thay đổi về nhận thức của sinh viên về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội 92
3.2.1 Sự thay đổi về thái độ của sinh viên về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 109
Trang 6MỤC LỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
1 MỤC LỤC BẢNG
Bảng 3.1 Nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa66 Bảng 3.2 Cách sử dụng các phương tiện giao tiếp với bạn bè trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 70 Bảng 3.3 Việc sử dụng các phương tiện giao tiếp với người lớn tuổi trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 73 Bảng 3.4 Việc sử dụng các phương tiện giao tiếp trên mạng xã hội với người lạ của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 76 Bảng 3.5 Các cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 79 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của việc giao tiếp trên mạng xã hội đến bản thân của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 82 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của việc giao tiếp trên mạng xã hội đến đối tượng giao tiếp của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 85 Bảng 3.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 87 Bảng 3.9 Các giá trị sinh viên nhận được về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội 92 Bảng 3.10 Thái độ sẵn sàng thay đổi hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên 94 Bảng 3.11 Các dự định thay đổi hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên 96
2 MỤC LỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7Biểu đồ 1: Nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 67 Biểu đồ 2: Các cách thức thể hiện trong giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 80 Biểu đồ 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa 88 Biểu đồ 4 Các giá trị sinh viên nhận được về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội 93 Biểu đồ 5 Thái độ sẵn sàng thay đổi hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên 95
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hình thành và phát triển con người, giao tiếp là một nhu cầu cơ bản, không thể thiếu Giao tiếp, cùng với lao động và ngôn ngữ, giúp chuyển biến lối sống bầy đàn của loài vượn cổ sang cuộc sống của con người, hình thành nên xã hội loài người Giao tiếp gắn liền với mỗi cá nhân từ khi lọt lòng đến khi kết thúc cuộc đời Giao tiếp giúp các cá nhân thiết lập nên mối quan hệ xã hội – yếu tố quan trọng giúp củng cố và phát triển xã hội loài người nói chung và từng thành viên trong xã hội nói riêng Thông qua giao tiếp, cá nhân học hỏi được những hành vi xã hội thích hợp, hiểu được vai trò và ý nghĩa của những hành vi đó trong điều kiện xã hội mà họ đang sống, đảm bảo cho sự hợp tác, cùng chung sống của các cá nhân trong xã hội Nhờ có giao tiếp, cá nhân được thể hiện bản thân trước cộng đồng, từ đó, tạo động lực để cá nhân phát triển các tiềm năng và tự hoàn thiện bản thân
Theo sự phát triển của xã hội, các hình thức và phương tiện giao tiếp cũng được
mở rộng, phát triển, trong đó, phải kể đến hình thức giao tiếp trên mạng xã hội Giao tiếp trên mạng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các cá nhân với nhau bất kể không gian, thời gian Nhờ đó, con người có thể trao đổi những suy nghĩ, tình cảm, thái độ, quan điểm sống, sở thích, nhu cầu,… mà không cần tiếp xúc trực tiếp Giao tiếp trên mạng xã hội là công cụ giúp các cá nhân tiếp thu, học hỏi thêm những tri thức mới bất cứ lúc nào mình muốn Đồng thời, nhờ giao tiếp trên mạng xã hội, mỗi người có thể tiến hành mua bán, giao dịch mà không phải đến tận cửa hàng Như vậy, giao tiếp trên mạng xã hội càng ngày càng thiết yếu và là hình thức giao tiếp tiện lợi đối với con người, đặc biệt là giới trẻ
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng đề cập rất nhiều đến các biểu hiện giao tiếp trên mạng xã hội của giới trẻ Đó là những biểu hiện xuống cấp, một bộ phận bạn trẻ có cách ứng xử đi ngược lại với giá trị văn
Trang 9hóa dân tộc và các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực xã hội Đó là các hiện tượng nói tục chửi thề, sử dụng các ngôn ngữ mang tính chất khiêu dâm, hiện tượng anh hùng bàn phím, hiện tượng bạo lực giao tiếp, hiện tượng sai lệch thông tin, xuyên tạc sự thật, làm tổn hại thanh danh và nhân phẩm của người khác… Những hành vi giao tiếp ấy đem lại những hệ lụy tiêu cực: Làm thui chột những giá trị tốt đẹp vốn luôn được đề cao, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của cả một thế hệ và làm xấu đi hình ảnh con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế Những hành vi giao tiếp ấy khiến xã hội phải nhức nhối và cần phải có các biện pháp làm thay đổi chúng
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp này Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa và thử nghiệm một biện pháp
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: 100 sinh viên năm nhất và 100 sinh viên năm hai trường Đại học Khánh Hòa
- Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện hành vi giao tiếp của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa
4 Giả thuyết khoa học
Đa số sinh viên trường Đại học Khánh Hòa có hành vi giao tiếp tích cực trên mạng xã hội Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận sinh viên có biểu hiện hành vi giao tiếp chưa đúng mực trên mạng xã hội do bị chi phối bởi một số yếu tố khách quan và chủ quan Nếu có các biện pháp tác động phù hợp trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân của các hành vi giao tiếp chưa đúng mực của sinh viên sẽ cải thiện hành
Trang 105 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên 5.2 Khảo sát thực trạng hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa và các yếu tố ảnh hưởng
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa và thử nghiệm
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu: Biểu hiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên thông qua nội dung giao tiếp; phương tiện giao tiếp và các cách thức thể hiện trong giao tiếp
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
7.2.5 Phương pháp thử nghiệm
7.3 Phương pháp xử lý số liệu điều tra bằng SPSS
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm ba chương sau đây
Chương 1: Cơ sở lí luận về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học
Khánh Hòa và thử nghiệm
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về giao tiếp
*Nghiên cứu về giao tiếp ở nước ngoài
Vấn đề về giao tiếp đã được nghiên cứu từ rất sớm trên thế giới Thời cổ đại, các nhà triết học như Socrate (470 – 339 TCN), Platon (428 – 347 TCN) đã đề cập đến vấn
đề giao tiếp, coi sự đối thoại là sự giao tiếp trí tuệ của những con người biết suy nghĩ,
là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người (14)
Bước vào thời kỳ Phục Hưng, giao tiếp được coi như là một phương thức ứng
xử có văn hóa của con người và được các nhà nghệ thuật coi là đối tượng nghiên cứu Trong đó, tiêu biểu là họa sĩ thiên tài người Ý Leonardo do Vinci (1452 - 1512) đã miêu tả sự giao tiếp mẹ - con thông qua các bức tranh nổi tiếng của mình (45)
Thế kỷ XIX, K Mark (1818 - 1833) đã có những nghiên cứu sâu sắc về giao tiếp trong “Bản thảo Kinh tế - Triết học”, thể hiện ở những quan điểm “Giao tiếp với những người khác đã trở thanh khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những phương thức chiếm hữu sinh hoạt của con người” hay “Thông qua giao tiếp với người khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi người tự soi mình” hoặc “Con người chỉ trở thành con người khi có những quan hệ hiện thực với người khác, có quan hệ trực tiếp với những người khác” (24)
Trang 12Bước sang thế kỷ XX, giao tiếp đã được các nhà khoa học quan tâm với tư cách
là một khoa học và được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực: triết học, xã hội học, đặc biệt
là tâm lý học với các nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống
Nhà phân tâm học S.Freud (1856 - 1939) đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa giao tiếp và giấc mơ và khẳng định cơ chế đồng nhất hóa đảm bảo mối liên hệ qua lại giữa các chủ thể trong nhóm xã hội, từ đó tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu tình cảm của người khác (31)
Tâm lý học Gestalt quan tâm đến hiện tượng giao tiếp như một cấu trúc trọn vẹn Họ phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố rộng hơn, các quan hệ xã hội Khi nghiên cứu các yếu tố giao tiếp, nhà tâm lý học Pháp Bateson đã phân biệt thành hai hệ thống giao tiếp là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung Theo ông, mọi giao tiếp đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy, nó thể hiện tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ và tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau (31)
Ngành Tâm lý học của Liên Xô (cũ) cũng nghiên cứu vấn đề giao tiếp nhưng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau, các hướng nghiên cứu này được tác giả Huỳnh Văn Sơn tóm tắt trong cuốn “Giáo trình tâm lí học giao tiếp” như sau (33):
Hướng thứ 1: Nghiên cứu lý luận chung về giao tiếp như bản chất, cấu trúc, cơ chế giao tiếp, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động Hướng nghiên cứu này thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như “Về bản chất giao tiếp người” (1973) của Xacopnhin,
“Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.L.Kolominxki,
“Tâm lý học giao tiếp” (1978) của A.A.Leonchiev, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.Platonov, “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học” của B.P.Lomov Hướng nghiên cứu này tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau:
Trang 13- Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp có thể là một dạng hoạt động hoặc có thể là một phương thức, điều kiện của hoạt động Đại diện cho quan điểm theo xu hướng này là A.A.Leonchiev
- Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động và giao tiếp là những phạm trù tương đối độc lập trong quá trình thống nhất của đời sống con người Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể - khách thể, phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể - chủ thể
Hướng thứ 2: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp trong đó giao tiếp sư phạm là một loại giao tiếp nghề nghiệp được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến một vài tác giả có những nghiên cứu về giao tiếp sư phạm như A.A Leonchiev với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.V.Petropxki với “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” và một số tác giả khác tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong giao tiếp trường học
Những quan điểm trên mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều khẳng định vai trò quyết định của giao tiếp trong sự phát triển của loài người nói chung và trong sự phát triển nhân cách của từng cá nhân nói riêng
*Nghiên cứu về giao tiếp ở trong nước
Các công trình nghiên cứu về giao tiếp ở nước ta khá đa dạng, phong phú và chia làm nhiều hướng khác nhau
Hướng đầu tiên nghiên cứu vấn đề giao tiếp với các khía cạnh khác nhau về bản chất của giao tiếp, vai trò, vị trí của giao tiếp trong sự hình thành nhân cách.Có thể đề cập đến một số tác giả như Bùi Văn Huệ “Bàn về phạm trù giao tiếp” (1981); Nguyễn Sinh Huy, Trần trọng Thủy với “Nhập môn khoa học giao tiếp” (2006)
Trang 14Hướng thứ hai đề cập đến giao tiếp trong nhà trường với khái niệm giao tiếp, chức năng, vai trò của giao tiếp, phong cách giao tiếp, hệ thống phân loại giao tiếp,…
Và các nguyên tắc, quy trình ứng xử trong giao tiếp sư phạm, cung cấp cái nhìn hệ thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn trong giao tiếp sư phạm như “Giao tiếp và ứng
xử sư phạm” (1992) của tác giả Ngô Công Hoàn, “Giao tiếp sư phạm” (1997) của tác giả Hoàng Anh, “Đặc điểm giao tiếp sư phạm” (1985) của tác giả Trần Trọng Thủy
Hướng thứ ba tập trung vào nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp trong nhiều lĩnh vực khác nhau như Trần Trọng Thủy với bài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp” (1998) đã đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp như kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới quen họ, kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến Tác giả Nguyễn Văn Đính đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp mà người hướng dẫn viên cần có khi tiếp xúc với khách du lịch trong “Giáo trình tâm lý và nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch” (1997) như kỹ năng định hướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển giao tiếp (8)
Một số công trình nghiên cứu thực tiễn:
- Bùi Thị Nguyên Hảo (2013) “Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên mầm non với trẻ ở thị xã Dĩ An” đã nghiên cứu về thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về sự cần thiết của kỹ năng giao tiếp sư phạm, đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của các giáo viên mầm non trong hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ, tìm hiểu các khó khăn của họ, lí giải nguyên nhân và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp sư phạm của các giáo viên này (15)
- Nguyễn Ngọc Trinh (2013) “Thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của giáo viên với trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh”
đã đưa ra các tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng giao tiếp sư phạm của các giáo viên đối với trẻ 4 – 5 tuổi Dựa vào đó, tác giả tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng kỹ
Trang 15năng giao tiếp của các giáo viên tại một số trường mầm non trên địa bàn thành phố (39)
- Nguyễn Huy Toàn (2011) với “Kỹ năng giao tiếp của học viên Trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân II” đã khái quát một số vấn đề cơ bản về lý luận giao tiếp, kỹ năng, kỹ năng giao tiếp Từ đó, nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của học viên trường Trung cấp Cảnh sát nhân dân II trong hoạt động học tập gồm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng diễn đạt Đồng thời, đề ra các biện pháp và tổ chức thực nghiệm nhằm đảm bảo tính khả thi của các biện pháp ấy (37)
1.1.2 Những nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
*Ở nước ngoài
Newcomb và Svehla đã nghiên cứu Thuyết hành vi giao tiếp ABX Theo họ, hành vi giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ phần truyền đến phần nhận Hành vi giao tiếp xảy ra trong tình huống tác động trực tiếp của các cá nhân; hành vi giao tiếp là hành vi có chủ định; hành vi giao tiếp nhằm mục đích hướng đến sự lĩnh hội; các thành viên của nhóm trong tâm trạng liên kết với nhau (22)
Tác giả Erhard Thiel trong cuốn “Hành vi giao tiếp” đã cho rằng: con người có nhiều cách thể hiện mình Dù muốn hay không, những suy nghĩ, tình cảm hay khát vọng, ý muốn của chúng ta đều thể hiện qua từng động tác của đôi bàn tay, đôi chân, của đôi mắt, cái nhìn Những hành động đó cho chúng ta biết về những con người mà chúng ta tiếp xúc nhiều hơn ngàn lần những câu nói (8)
Trong cuốn “Hành vi giao tiếp của người Nga”, hai tác giả J.Prokhorov và I.Cternin đưa ra các dạng thức biểu hiện hành vi giao tiếp của người Nga như: giao tiếp
Trang 16nội ngôn ngữ, giao tiếp giao ngôn ngữ, giao tiếp phi ngôn ngữ và các loại trắc nghiệm khảo cứu hành vi lời nói của người Nga trong giao tiếp (36)
Edward T Hall, nhà nhân văn học đã nhấn mạnh khái niệm hành vi không gian giao tiếp Đó là cách thức sử dụng không gian trong giao tiếp giữa các cá nhân Nghiên cứu này được tác giả kỳ vọng ứng dụng không chỉ vào trong giao tiếp giữa các cá nhân
mà còn ứng dụng trong việc thiết kế, xây dựng, quy hoạch các tòa nhà (46)
Vào năm 1955 Adam Kendon, Albert Scheflen và Ray Birdwhistell đã nghiên cứu về hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ thông qua phương pháp phân tích bối cảnh Từ
đó, mở đường cho những nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn ngữ như nghiên cứu về mối quan hệ giữa giao tiếp bằng mắt và khoảng cách khi đối thoại của Argyle và Dean, nghiên cứu về những hành vi phi ngôn ngữ trong các tình huống đàm phán của Nierenberg và Calero, nghiên cứu về phương thức sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ thu hút những người khác của Fast… (46)
Bên cạnh đó, cũng có những nghiên cứu về mô hình hành vi giao tiếp như mô hình của Weiner, mô hình chức năng của Jacobson, mô hình của Bird Whistell, Perdonici, Shanon, Weaver,… Những nghiên cứu này chỉ ra cách thức hoạt động và các thành tố của hành vi giao tiếp Mặc dù các tác giả xây dựng các mô hình khác nhau, tuy nhiên đều chỉ ra trong đó các thành tố chung như bộ phát, bộ thu, bản thông điệp Càng về sau, các mô hình có thêm nhiều yếu tố hơn như môi trường truyền thông, kênh,… (6)
*Ở trong nước
Các nghiên cứu về hành vi giao tiếp của nước ta chủ yếu đi sâu vào hành vi giao tiếp có văn hóa hay văn hóa giao tiếp Có thể kể một số các công trình nghiên cứu như:
Trang 17Tác giả Hồ Sỹ Hùng (2014) với bài viết “Thực trạng giáo dục hành vi giao tiếp
có văn hóa cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi” đã tìm hiểu về hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ thông qua các nhóm hành vi là hành vi giao tiếp ứng xử lịch sự, lễ phép, hành vi tham gia vào hội thoại và giao tiếp có văn hóa, hành vi biểu đạt nhu cầu với người khác, hành vi chia sẻ sự cảm thông, giúp đỡ người khác và hành vi tôn trọng trong giao tiếp Từ đó, đề ra các nhóm biện pháp nhằm nâng cao hành vi ở trẻ gồm nhóm biện pháp giáo dục tình cảm, tổ chức môi trường hoạt động, luyện tập và đánh giá (21)
Tác giả Hoàng Thị Phương (2002) với luận án “Một số biện pháp giáo dục hành
vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi” đã nghiên cứu thực trạng các hành vi giao tiếp có văn hóa của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua các biểu hiện như biểu hiện tôn trọng lẫn nhau, biểu hiện thiện chí trong giao tiếp, biểu hiện quan tâm đến người khác, hiểu hiện nhân hậu, biểu hiện trung thực và các kỹ năng là kỹ năng cư xử lịch sự, kỹ năng cư xử khéo léo và kỹ năng nhận biết, thể hiện tình cảm trong giao tiếp Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện hành vi là giáo dục tình cảm, tổ chức luyện tập và giáo dục ý thức
và thực nghiệm thăm dò, diện hẹp và diện rộng (31)
Tác giả Trịnh Thị Xinh (2010) với luận án “Biểu hiện về hành vi giao tiếp có văn hóa của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về hành vi giao tiếp có văn hóa, các biểu hiện hành vi giao tiếp có văn hóa của sinh viên với bạn bè, thầy cô và ở nơi công cộng và mức độ tự đánh giá của sinh viên về các hành vi của mình Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện hành vi cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội và tiến hành xây dựng các bài tập thử nghiệm tác động cho sinh viên (45)
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn với bài viết “Quan niệm về hành vi giao tiếp có văn hóa của tuổi trẻ” đã phân tích khái niệm về văn hóa, hành vi văn hóa và văn hóa giao tiếp, từ đó, xây dựng khái niệm hành vi giao tiếp có văn hóa, cấu trúc của hành vi giao tiếp có văn hóa và các biểu hiện hành vi giao tiếp có văn hóa của tuổi trẻ (43)
Trang 18Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi giao tiếp có văn hóa, văn hóa giao tiếp Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về hành vi giao tiếp trên mạng
xã hội Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Khánh Hòa”
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
1.2.1.1 Hành vi
Khái niệm hành vi được J Watson (1878 – 1958) xây dựng trên nền móng thực chứng luận và chỉ dựa trên những biểu hiện có thể quan sát được từ bên ngoài Theo J Watson, mỗi người được xác định bởi một tập hợp những hành vi của người
đó Hành vi được xem như là tổng hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài theo công thức S – R (Kích thích – Phản ứng) Điều này có nghĩa là bất kỳ hành vi nào của con người và động vật đều diễn ra theo cơ chế: có kích thích thì có phản ứng chứ không liên quan gì đến ý thức, đến những yêu cầu và chuẩn mực xã hội Như vậy, theo J Watson, hành vi của con người không khác gì hành vi của con vật và chỉ có khả năng phản ứng thụ động, hoàn toàn lệ thuộc vào kích thích tác động lên con người, mọi yếu tố tâm lý, ý thức đều bị triệt tiêu và hoàn toàn không có vai trò gì giữa kích thích và phản ứng (27)
Theo Từ điển Tâm lý học do J Corsini chủ biên, hành vi là “những hành động phản ứng, những tương tác đáp lại kích thích bên trong và bên ngoài, bao gồm những
cử chỉ quan sát được một cách khách quan, những cử chỉ nội tâm và những quá trình thuộc về vô thức” (27) Hành vi có hai phạm trù là hành vi biểu hiện ra bên ngoài và hành vi diễn ra bên trong Hành vi bộc lộ ra bên ngoài là những hành động mà người khác có thể quan sát trực tiếp được Hành vi diễn ra bên trong đầu là những gì chúng ta làm mà người khác không thể quan sát trực tiếp được nhưng có thể nhận biết thông qua
Trang 19suy luận Chủ nghĩa hành vi cổ điển chỉ quan tâm đến những hành vi bộc lộ ra bên ngoài, bỏ qua những gì diễn ra trong đầu thuộc bình diện nhận thức Tuy nhiên, đến chủ nghĩa hành vi hiện đại, cả hai phạm trù này đều được quan tâm
J Piaget (1896 - 1960) – nhà tâm lý học người Thụy Sĩ lại nhấn mạnh tính tích cực của hành vi con người và cho rằng hành vi còn là sự tìm kiếm hoàn cảnh hay đối tượng còn thiếu hay chưa tồn tại Hành vi được hiểu là tính tích cực có định hướng (27)
Trong Tâm lý học Hoạt động, hành vi của con người được xem như hoạt động, tuy ít nhiều mang yếu tố bẩm sinh, nhưng chủ yếu chịu sự chi phối từ phía xã hội thông qua ngôn ngữ và hệ thống các tín hiệu ý nghĩa khác
Theo L.X Vugotxki (1896 - 1934), “Hành vi của con người văn minh hiện đại không những là sản phẩm của tiến hóa lịch sử, không những là kết quả phát triển trong thời thơ ấu, mà còn là sản phẩm phát triển của lịch sử” Đồng thời, L.X Vugotxki chỉ
ra rằng ranh giới giữa hành vi người và động vật nằm ở chỗ chúng có các cấu trúc hoàn toàn khác nhau Ở động vật, các dạng hành vi chủ yếu được hợp thành bởi hai nhóm phản ứng Đó là nhóm phản ứng bẩm sinh (vô điều kiện) và nhóm tự tạo (có điều kiện)
Ở con người, cấu trúc hành vi bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm kép Kinh nghiệm lịch sử là kinh nghiệm được các thế hệ trước truyền lại cho các thế hệ sau, nhưng không theo con đường di truyền sinh vật mà theo con đường
di truyền xã hội Kinh nghiệm xã hội được hiểu là những tri thức nhận được từ người khác cùng sống, cùng hoạt động truyền lại cho nhau Đây là một trong những thành phần rất quan trọng trong hành vi của con người – thành phần xã hội của hành vi con người Kinh nghiệm kép là kinh nghiêm được hình thành trong hoạt động lao động thực tiễn của con người Có nghĩa là khi con người tham gia vào hoạt động lao động thực tiễn, lặp lại lao động ở chân tay và biến đổi vật liệu theo một biểu tượng đã hình
Trang 20đều xuất phát từ quá trình lao động, từ quá trình truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ người này tới người khác và từ việc mỗi người tự lĩnh hội các kinh nghiệm Quá trình này không thể thực hiện được nếu không có tâm lý và ý thức giữ chức năng định hướng và tích cực hóa.Vì vậy L.X Vugotxki đã khẳng định “ý thức hóa ra là một cấu trúc rất phức tạp của hành vi, nếu nói riêng thì là cấu trúc rất phức tạp của quá trình phân đôi của hành vi Hành vi được hiểu ngầm là hoạt động của con người Và cả ý thức với tư cách là một bộ phận cấu thành của hành vi, ý thức được coi
là một thực tại khách quan có chức năng điều chỉnh đối với hành vi, và cùng hành vi, ý thức là một thành phần của hoạt động” (17)
A.N Leonchiev (1903 - 1979) khẳng định hành vi không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật, mà hành vi phải được hiểu là hoạt động (28)
Theo Từ điển Tâm lý học do A.V Petropxki và M.G Iarosepxki chủ biên, hành vi là “sự tác động qua lại giữa cơ thể sống, thông qua hoạt tính bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) Thuật ngữ hành vi được sử dụng để chỉ hành vi của các cá thể riêng lẻ, các cá nhân cũng như của nhóm loài (hành vi của một loài sinh vật hay của nhóm xã hội)” (27)
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, hành vi là “những biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động gắn liền với động cơ và mục đích” (16)
Trong cuốn Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, hành vi là “sự tương tác với môi trường trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý), tính tích cực có định hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài” (12)
Như vậy, từ những quan điểm ở trên, chúng tôi cho rằng hành vi có những nội dung sau:
Trang 21- Hành vi con người là biểu hiện bên ngoài của hoạt động, được điều chỉnh bởi các cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể Điều này đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển
- Hành vi con người lúc nào cũng chịu sự quy định xã hội và đặc trưng bởi tính mục đích, tính ý nghĩa, tính lựa chọn và tính sáng tạo
- Hành vi con người nảy sinh khi có nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu ấy
1.2.1.2 Giao tiếp
Nhà tâm lý học xã hội người Anh M.Argule lại mô tả giao tiếp như quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau Giao tiếp thông tin được biểu hiện bằng lời hay bằng phi ngôn ngữ từ nhiều người đến một người giống như việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và chuyển dịch không gian (33)
David K.Berlo định nghĩa: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc
và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Giao tiếp của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người và công cộng Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh” (33)
Trong cuốn “Tâm lí học giao tiếp”, tác giả Nguyễn Văn Đồng (14) đã đề cập đến các khái niệm giao tiếp của các tác giả trên thế giới dưới các cách tiếp cận khác nhau:
Đề cập giao tiếp ở góc độ tiếp cận nhận thức, L.X.Vưgotxki cho rằng giao tiếp
là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc K.K.Platonov cho rằng: “Giao tiếp là
Trang 22Xem xét giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người hay giữa nhân cách này với cách khác trong mối quan hệ liên nhân cách, B.Ph.Lomov cho rằng: “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể”
Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể” Theo Ia.L.Kolôminxki thì “giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”
Ở góc độ tiếp cận về chức năng giao tiếp, theo B.Parưgin thì: “Giao tiếp là quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi xúc cảm lẫn nhau”
Ở góc độ xem xét giao tiếp là một dạng hoạt động, định nghĩa của A.N.Leonchiev đã chỉ ra: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan
hệ tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ”
Tiếp cận ở khía cạnh hệ thống, Georgen Thiner cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin, qua đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tới trạng thái của hệ nhận thông tin”
Định nghĩa về giao tiếp, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người - người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau” (16)
Tác giả Trần Trọng Thủy thì quan niệm: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong đó các cảm
Trang 23xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ” (42)
Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược tương tác thống nhất tri giác và tìm hiểu người khác” hay “Giao tiếp là sự tác động tương hỗ của các chủ thể phát sinh từ nhu cầu hoạt động chung được thực hiện bằng những công cụ quen thuộc và hướng đến những thay đổi có ý nghĩa trong trạng thái, hành vi và cấu trúc ý - cá nhân của đối tác” (12)
Trong đề tài này, chúng tôi theo quan điểm về giao tiếp của tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Giao tiếp là mối quan hệ giữa người và người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành cá quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” (43)
1.2.1.3 Hành vi giao tiếp
Thuyết Hành vi cho rằng mọi hành vi giao tiếp - ứng xử của cá nhân trong xã hội là quá trình tiếp nhận kích thích ngoại giới và phản ứng đáp lại kích thích của cơ thể Thuyết Hành vi quan tâm nhiều hơn tới phương diện ứng xử, tác nhân kích thích của môi trường quy định tính chất, đặc điểm của hành vi giao tiếp - ứng xử Hành vi giao tiếp - ứng xử là một chuỗi phản ứng trước hay sau những thay đổi của môi trường, điều kiện bên ngoài (24)
Newcomb và Svehla cho rằng hành vi giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ phần truyền đến phần nhận Hành vi giao tiếp xảy ra trong tình huống tác động trực
Trang 24tiếp của các cá nhân, là hành vi có chủ định, nhằm mục đích hướng đến sự lĩnh hội (20)
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lâm trong cuốn “Khoa học giao tiếp”, hành vi giao tiếp là một chuỗi hành động được thúc đẩy bởi mục đích muốn thỏa mãn một nhu cầu nào đó liên quan đến khả năng của chủ thể giao tiếp Nếu việc thỏa mãn nhu cầu bị cản trở, chủ thể giao tiếp có thể lập lại hành vi, hoặc thay đổi mục đích, hoặc vỡ mộng, hoặc lãnh đạm với cuộc sống nếu hành vi duy trì lâu dài (23)
Tác giả Huỳnh Văn Sơn trong cuốn “Nhập môn tâm lý học giao tiếp” đã nhìn nhận về hành vi giao tiếp như một quá trình truyền thông mang tính chất tâm lý phong phú và phức tạp (33)
Tác giả Trịnh Thị Xinh trong đề tài “Biểu hiện về hành vi giao tiếp có văn hóa của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” cho rằng hành vi giao tiếp là những biểu hiện cụ thể bên ngoài của hoạt động những được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lí bên trong của chủ thể, của nhân cách Các hành vi giao tiếp được cá nhân thể hiện trong giao tiếp thông qua ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, nói, viết… của mình với người khác và xã hội (45)
Tác giả Hoàng Thị Phương trong luận án tiến sĩ giáo dục học “Biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 – 6 tuổi” (31) đã xác định nội hàm của khái niệm “hành vi giao tiếp” như sau:
- Hành vi giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa các chủ thể, biểu hiện ở ba mặt: thông tin, bày tỏ thái độ, cảm xúc và tác động lẫn nhau
- Mối liên hệ giữa các chủ thể trong hành vi giao tiếp là mối liên hệ có ý thức giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội loài người
Trang 25- Các chủ thể thực hiện hành vi giao tiếp có mục đích phối hợp hành động đảm bảo sự thống nhất cho hoạt động chung, tạo ra sự biến đổi của họ
Dựa vào những quan điểm của các tác giả này và các khái niệm về hành vi và về giao tiếp ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm hành vi giao tiếp như sau:
- Hành vi giao tiếp là những biểu hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp của chủ thể với xung quanh Thông qua đó, phản ánh đặc điểm, tính chất, các mối quan hệ trong giao tiếp (mối quan hệ bạn bè, mối quan hệ làm ăn, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, ) cũng như các quá trình tâm lý, đặc điểm tâm lý trong giao tiếp của chủ thể (thái độ, xúc cảm, nhận thức, mong muốn,…)
- Hành vi giao tiếp được thực hiện một cách có ý thức của chủ thể Tức là chủ thể biết rõ được mục đích giao tiếp của mình là gì, mình đang giao tiếp với đối tượng nào, ở đâu, về nội dung gì và mình cần phải có những cách thức biểu hiện về mặt hành
vi như thế nào Tính ý thức của chủ thể còn thể hiện ở sự kiểm soát, điều tiết các hành
vi giao tiếp của bản thân sao cho phù hợp trong những hoàn cảnh, môi trường giao tiếp xác định
- Hành vi giao tiếp gắn liền với các nhu cầu, động cơ của chủ thể giao tiếp Hay nói cách khác, đề tài mà chủ thể giao tiếp lựa chọn phụ thuộc vào hứng thú, sở thích hoặc mong muốn cá nhân của họ Nó điều khiển việc chủ thể lựa chọn và triển khai các nội dung giao tiếp, sử dụng các phương tiện giao tiếp cũng như các cách thức thể hiện sao cho phù hợp với chính những hứng thú, sở thích, mong muốn của chủ thể giao tiếp Các nhu cầu, động cơ, mong muốn này có thể thúc đẩy hành vi giao tiếp của chủ thể một cách tự phát hoặc tự giác, tùy thuộc vào mức độ tự ý thức của chủ thể
- Hành vi giao tiếp chịu sự quy định bởi xã hội Tức là việc chủ thể điều khiển, điều chỉnh các hành vi giao tiếp chịu sự phụ thuộc vào các quy ước, các yếu tố về văn
Trang 26giao tiếp, vào đối tượng giao tiếp của chủ thể, vào vị thế và vai trò xã hội của chủ thể
và vào hoàn cảnh giao tiếp xác định,…
- Hành vi giao tiếp là một hệ thống toàn vẹn bao gồm mục đích hành vi giao tiếp, nội dung, chủ thể và đối tượng tiến hành, các phương tiện thực hiện hành vi giao tiếp, các cách thức thể hiện và các hình thức hành vi giao tiếp Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phối, cũng như chịu sự chi phối, điều khiển lẫn nhau và cùng diễn ra trong một môi trường xác định, đồng thời chịu sự chi phối của môi trường
Năm 2006, sự ra đời của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho hệ thống mạng xã hội trực tuyến với nền tảng lập trình "Facebook Platform" cho phép thành viên tạo ra những công cụ mới cho cá nhân mình cũng như các thành viên khác dùng Facebook nhanh chóng gặt hái được thành công vượt bậc và trở thành một trong những mạng xã hội lớn nhất thế giới
Xoay quanh khái niệm mạng xã hội cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau
Trang 27Tác giả Trần Minh Đức (2012) cho rằng mạng xã hội là một hệ thống gồm các đỉnh gắn với nhau thành một mạng gồm các liên kết (hoặc các cung).Theo đó, mạng xã hội là một hệ thống phức hợp được tạo thành bởi sự tương tác, kết nối giữa các yếu tố khác nhau (25)
Tác giả Nguyễn Thị Lê Uyên, Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, coi mạng xã hội là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội Các thực thể đó có thể là cá nhân hoặc nhóm xã hội Hướng tiếp cận này nhấn mạnh yếu tố con người và tương tác xã hội giữa con người với nhau (25)
Các tác giả Trần Hữu Luyến, Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái (2015) phân biệt mạng xã hội và dịch vụ mạng xã hội Mạng xã hội được cấu tạo từ hai bộ phận cơ bản nhất là con người và những mối liên hệ giữa con người với con người Còn dịch vụ mạng xã hội là dịch vụ xây dựng và phản ánh mối quan hệ người – người (mạng xã hội) trên nền tảng chung về sở thích, môi trường hay lĩnh vực hoạt động Từ
đó, người sử dụng có thể chia sẻ các nội dung do mình tạo ra để thiết lập nên cộng đồng của chính mình (25)
Wikipedia Việt Nam đưa ra khái niệm dịch vụ mạng xã hội Đó là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng Dịch vụ mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh
Trang 28Theo khoản 22, điều 3, trong Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ, mạng
xã hội là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác” (48)
Như vậy, từ các quan điểm trên, chúng tôi đưa ra khái niệm mạng xã hội như sau:
- Mạng xã hội là một hệ thống phức hợp bao gồm các yếu tố thành phần và sự liên kết, tương tác qua lại giữa các yếu tố ấy Có thể coi mạng xã hội là một tập hợp, trong đó chứa đựng các tập hợp con được liên kết với nhau theo một logic nhất định, tạo thành một mạng lưới đa dạng, phức tạp
- Các yếu tố thành phần là các cá nhân và các nhóm, các tổ chức xã hội Các cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội này trải rộng trên một phạm vi nhất định, mang tính linh hoạt và không có giới hạn Các cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội tạo nên các liên kết về mặt xã hội Các liên kết này có thể là trực tiếp cũng có thể là gián tiếp thông qua nhiều liên kết khác
- Các liên kết, tương tác qua lại mô phỏng các quan hệ thực trong xã hội Tuy nhiên, chúng có thể không diễn ra trong đời sống thực Vì các cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội linh hoạt và không có giới hạn nên các liên kết này cũng linh hoạt và không có giới hạn Bên cạnh đó, tính bền vững của các liên kết cũng phụ thuộc vào các
cá nhân, nhóm và tổ chức xã hội
- Mạng xã hội được diễn ra trên các trang mạng xã hội Hay nói cách khác, các trang Facebook, Twitter, Zing,… là những nơi mà những sự tương tác, liên kết giữa các cá nhân, nhóm và tập thể được diễn ra, tạo thành mạng xã hội
Trang 29* Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
Dựa trên các khái niệm về hành vi giao tiếp và về mạng xã hội ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về hành vi giao tiếp trên mạng xã hội như sau:
Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội là các biểu hiện hành vi trong giao tiếp diễn
ra trên các môi trường mạng xã hội Trong đó, các môi trường này hiện hữu thông qua các trang mạng xã hội ảo như facebook, twitter, zalo, liverjournal, zing me,… Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội diễn ra giữa các cá nhân hoặc các tổ chức, nhóm xã hội Trong đó, các tương tác hành vi và các mối liên hệ mô phỏng theo các quan hệ thực ngoài xã hội Tuy nhiên, các tương tác ấy có thể không diễn ra ngoài đời thực
* Đặc điểm của hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
Dựa trên các đặc điểm của mạng xã hội và của giao tiếp, hành vi giao tiếp trên mạng xã hội có các đặc điểm sau:
- Tính ảo
Tính ảo thể hiện ở chỗ môi trường tiến hành các hoạt động giao tiếp của sinh viên là môi trường trên các trang mạng xã hội Đó là một môi trường giả lập dựa trên môi trường giao tiếp ở ngoài đời thực Môi trường này được xây dựng lên giúp các cá nhân có thể thoải mái tương tác, thể hiện con người thật của mình mà không lo bị người khác đánh giá bằng cách lập tên, hình ảnh và các thông tin giả Chính vì thế, các thông tin của cá nhân và nhóm, cộng đồng trong môi trường này có thể không chính xác Điều đó dẫn đến sự rủi ro nhất định khi giao tiếp trong môi trường này nếu không
có sự thận trọng
Bên cạnh đó, tính ảo còn thể hiện ở chỗ các đối tượng giao tiếp trên mạng xã hội
có thể có mối quan hệ với nhau trên mạng xã hội nhưng lại không có mối quan hệ gì
Trang 30- Tính liên kết cộng đồng
Tính liên kết cộng đồng thể hiện ở chỗ các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội có thể được thực hiện giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm, giữa các cá nhân trong một nhóm hay giữa các nhóm với nhau mà không bị hạn chế về không gian giao tiếp Cùng một lúc, ở những vùng địa lý khác nhau, các cá nhân có thể thực hiện các hành vi giao tiếp để tiến hành quá trình giao tiếp với nhau
Bên cạnh đó, một cá nhân, nhóm hay tổ chức không chỉ có một mối liên kết mà còn có nhiều mối liên kết với những cá nhân, nhóm hay tổ chức khác
- Tính linh hoạt
Tính linh hoạt còn thể hiện ở sự cải biến, sáng tạo các cách thức sử dụng phương tiện hành vi Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội không chỉ được biểu lộ qua ngôn ngữ, cử chỉ, nét mặt, trang phục… như giao tiếp thông thường mà còn được bộc
lộ thông qua hệ thống các ký hiệu, biểu tượng, hình ảnh… Cùng một nội dung giao tiếp nhưng có thể có các cách sử dụng phương tiện hành vi giao tiếp khác nhau tùy thuộc vào sự lựa chọn của chủ thể giao tiếp
Cuối cùng, tính linh hoạt của hành vi giao tiếp trên mạng xã hội được thể hiện ở thời gian giao tiếp Không như giao tiếp thông thường sẽ kết thúc khi không còn chủ thể giao tiếp Giao tiếp trên mạng xã hội vẫn có thể kéo dài khi chủ thể không có ở đó Các cuộc giao tiếp trên mạng xã hội đều được lưu lại và do đó, chủ thể giao tiếp vẫn có thể quay lại chủ đề giao tiếp cũ nếu họ muốn
- Tính đa phương tiện
Tính đa phương tiện được thể hiện ở chỗ các chủ thể giao tiếp có thể thực hiện các hành vi giao tiếp nhờ các dịch vụ khác nhau như gọi video qua camera, nói chuyện bằng âm thanh bằng phần mềm voice chat hay đơn giản là chat trên các phần mềm
Trang 31messenger Nhờ đó, các phương tiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội cũng đa dạng y hệt như hành vi giao tiếp trực tiếp và các chủ thể giao tiếp có thể tiếp xúc rõ hơn đối tượng giao tiếp của mình
- Tính lựa chọn
Tính lựa chọn được thể hiện ở chỗ các chủ thể giao tiếp trên mạng xã hội có thể lựa chọn địa điểm ảo, lựa chọn cho phép đối tượng nào tham gia vào cuộc giao tiếp của mình để đảm bảo tính riêng tư của cuộc giao tiếp Hoặc là chủ thể giao tiếp có thể lựa chọn cách thức công khai các cuộc nói chuyện của mình và cho phép tất cả mọi người cùng tham gia vào Tính lựa chọn cùng với tính đa phương tiện giúp cho hành vi giao tiếp trên mạng diễn ra như hành vi giao tiếp thực ngoài xã hội
- Tính hệ thống
Tính hệ thống được thể hiện ở chỗ hành vi giao tiếp trên mạng xã hội là một hệ thống toàn vẹn bao gồm mục đích của hành vi, nội dung tiến hành, đối tượng tiếp xúc, các hình thức hành vi, các phương tiện và các cách thức thể hiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội Các yếu tố này có mối tương tác gắn bó, chi phối lẫn nhau và chịu ảnh hưởng bởi mục đích, nhu cầu của chủ thể và bởi môi trường mạng xã hội
* Cấu trúc của hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội bao gồm các thành tố sau:
- Mục đích
Mục đích là mô hình kết quả mà con người suy nghĩ dưới dạng một sản phẩm độc đáo và đặc trưng của tư duy Mục đích ấy chính là kết quả mang ý nghĩa tinh thần hay ý nghĩa trên bình diện tâm lý - tình cảm hoặc vật chất Mục đích của hành vi giao tiếp trên mạng xã hội có thể là thiết lập mối quan hệ, giải tỏa các cảm xúc tiêu cực hay
Trang 32chia sẻ các cảm xúc tích cực, thể hiện hình ảnh bản thân,… Mục đích của hành vi giao tiếp trên mạng xã hội chi phối việc lựa chọn nội dung, các hình thức, phương tiện thể hiện hành vi trên mạng xã hội của chủ thể Mục đích giao tiếp trên mạng xã hội có thể tác động một cách tự phát hoặc tự giác tùy thuộc vào sự ý thức của chủ thể
- Nội dung
Nội dung chính là cái biểu hiện cụ thể ra của mục đích Tùy theo mục đích mà
có các nội dung tương ứng Đó có thể là bàn về công việc, hay bàn về một ai đó, một vấn đề nào đó trong xã hội, hay đó đơn giản chỉ là nói về trạng thái hiện tại của bản thân Các nội dung này không nhất thiết phải tách biệt ra riêng trong từng cuộc trò chuyện trên mạng xã hội mà có thể được nói chung vào với nhau không theo bất kỳ trật
tự logic nào tùy thuộc vào chủ thể giao tiếp
- Hình thức hành vi
Hình thức hành vi chỉ ra rằng chủ thể giao tiếp lựa chọn dạng hành vi giao tiếp nào trên mạng Đó có thể là chat qua lại trên các phần mềm tin nhắn hay gửi email Đó cũng có thể là một cuộc nói chuyện cho phép sử dụng lời nói trên các phần mềm âm thanh Đó cũng có thể là cuộc giao tiếp y hệt như ngoài đời mà hai bên có thể nhìn thấy
và nghe lẫn nhau hay các lớp học trực tuyến trên mạng Các hình thức hành vi được chủ thể lựa chọn tùy thuộc vào mục đích, đối tượng và tính chất của cuộc giao tiếp
- Chủ thể
Chủ thể là người thực hiện các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội Các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội ấy được chủ thể tiến hành một cách có ý thức và phụ thuộc vào nhu cầu, động cơ của chủ thể Chủ thể thực hiện hành vi giao tiếp trên mạng xã hội
có thể là cá nhân hoặc các nhóm, tổ chức xã hội Trong quá trình giao tiếp trên mạng
Trang 33xã hội, hai bên đầu giao tiếp đều là chủ thể Vai trò chủ thể - đối tượng được thay đổi luân phiên
- Đối tượng
Đối tượng là người tiếp nhận tín hiệu giao tiếp bởi các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội Khi các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội được diễn ra tức là chủ thể của hành vi ấy đang gửi một thông điệp đã được mã hóa đến cho đối tượng Sau khi nhận được tín hiệu ấy, đối tượng sẽ giải mã nó theo kinh nghiệm của bản thân Khi đối tượng gửi một thông điệp khác trả lời thì lúc đó, đối tượng lại thành chủ thể Và chủ thể kia lại trở thành đối tượng Trong quá trình giao tiếp trên mạng xã hội, chủ thể và đối tượng giao tiếp có thể tiến hành giao tiếp trực tiếp thông qua video call, hoặc có thể tiến hành giao tiếp gián tiếp thông qua voice chat, chat
- Phương tiện
Phương tiện là các công cụ giúp chủ thể thực hiện hành vi giao tiếp trên mạng
xã hội Nó có vai trò trung gian giữa chủ thể và đối tượng, đảm bảo tính hiệu quả và chính xác cho hành vi giao tiếp trên mạng xã hội Các phương tiện giao tiếp trên mạng
xã hội bao gồm ngôn ngữ nói hoặc viết, các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, trang phục, hình ảnh, kí hiệu, biểu tượng,…Các phương tiện này được lựa chọn bởi mục đích, hứng thú,
sở thích của chủ thể giao tiếp
- Cách thức thể hiện
Cách thức thể hiện là cách thức mà chủ thể biểu đạt các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội Trong một cuộc đối thoại trên mạng xã hội, chủ thể có thể lựa chọn các cách thức như tường thuật, phóng đại lên những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình hay các thông tin về người hoặc sự kiện nào đó, “nói giảm nói tránh” khi chủ thể không mong muốn đề cập đến điều gì đó, sử dụng các ngôn ngữ và kí hiệu gây thù hằn, gây
Trang 34kích động ai đó hoặc đám động,… Tùy thuộc vào mục đích, nội dung và đối tượng giao tiếp mà chủ thể có thể lựa chọn các cách thức thể hiện các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội khác nhau Ngoài ra, yếu tố cảm xúc cũng chi phối rất lớn đến việc lựa chọn các cách thức thể hiện này
- Môi trường
Cũng như hành vi giao tiếp thông thường chịu ảnh hưởng bởi môi trường xã hội thì hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của chủ thể chịu ảnh hưởng bởi môi trường, hoàn cảnh mạng xã hội diễn ra lúc đấy Ở các môi trường, hoàn cảnh mạng xã hội khác nhau, chủ thể sẽ lựa chọn các phương tiện và các cách thức thể hiện khác nhau sao cho phù hợp Đồng thời chủ thể cũng tiến hành điều chỉnh mục đích và nội dung giao tiếp tùy theo từng tình huống cụ thể
Môi trường giao tiếp trên mạng xã hội có thể là công khai hoặc bí mật, tùy thuộc vào sự lựa chọn của chủ thể giao tiếp
Cấu trúc này được thể hiện qua mô hình sau:
Trang 35Như vậy, hành vi giao tiếp trên mạng xã hội là một hệ thống vẹn toàn bao gồm tám thành tố là mục đích, nội dung, chủ thể, đối tượng, hình thức hành vi, phương tiện, cách thức thể hiện và môi trường và sự tương tác, chi phối qua lại giữa chúng Trong
đó, môi trường là thành tố bao trùm lên và chi phối các thành tố còn lại Việc nghiên cứu cấu trúc của hành vi giao tiếp trên mạng xã hội cho thấy sự vận hành một cách có
hệ thống, logic trong hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của chủ thể và sự tương tác với môi trường và với các hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của các chủ thể khác
1.2.2 Hành vi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên
1.2.2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên
* Khái niệm về sinh viên
Trang 36Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La tinh - student, có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình người tìm kiếm, khai thác tri thức
Sinh viên là đại biểu cho nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần cho xã hội.Nhóm xã hội này có mục đích hoạt động được tổ chức theo một chương trình nhất định để chuẩn bị cho việc thực hiện vai trò xã hội và nghề nghiệp trong tương lai
Sinh viên, nằm ở giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên, có sự chín muồi về mặt sinh lý, đang quá độ về mặt nhân cách và đang trưởng thành về mặt xã hội – chuẩn bị
có một nghề nghiệp ổn định và bắt đầu bước vào một phạm vi hoạt động lao động
Sinh viên là công dân thực thụ của một đất nước với đầy đủ quyền hạn và nghĩa
vụ trước pháp luật.Với ý nghĩa trên thì xã hội coi sinh viên là một thành viên chính thức, một người trưởng thành Tuy nhiên, do đang ngồi trên ghế nhà trường, nên sinh viên chưa hoàn toàn là người tự lập về mọi mặt so với những thanh niên cùng độ tuổi không học đại học, phải tham gia lao động kiếm sống sớm Vì vậy, tính chất trưởng thành của thanh niên sinh viên có những nét đặc trưng riêng: thanh niên sinh viên trưởng thành về mặt xã hội muộn nhất
Theo Wikipedia tiếng Việt, sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ.Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là
họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học (49)
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, sinh viên là những người học ở bậc đại học (8)
Trang 37Theo VI Lênin, sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất của giới trí thức, tầng lớp
có trình độ tiên tiến nhất trong giới thanh niên, song còn thiếu kinh nghiệm sống cần được bổ sung, học hỏi từ các thế hệ trước (3)
Nhà tâm lí học Liên Xô B.G Ananhiev khẳng định rằng tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển nhất về tính chất đạo đức và thẩm mĩ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách đặc biệt và vai trò của họ thay đổi.Trong thời kỳ này, sinh viên có sự biến động mạnh mẽ về động cơ giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp Họ xác định cho mình con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thẻ hiện mình trong cuộc sống (3)
* Một số đặc điểm tâm lí cơ bản lứa tuổi sinh viên
- Niềm tin, xu hướng nghề nghiệp, các phẩm chất nhân cách nghề và các năng lực cần thiết được củng cố và phát triển
- Kỳ vọng đối với nghề nghiệp được phát triển
- Các quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình nhận thức được nghề nghiệp hoá
- Tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, tính độc lập được nâng cao, cá tính
và lập trường sống của các thành viên được bộc lộ rõ rệt
- Mong ước đối với nghề nghiệp tương lai được phát triển
- Sự trưởng thành về mặt xã hội, các phẩm chất nghề nghiệp và sự ổn định chung về nhân cách được phát triển
- Khả năng tự giáo dục của sinh viên được nâng cao
- Tính độc lập và tinh thần sẵn sàng hoạt động nghề nghiệp tương lai được củng cố
Trang 38- Tự ý thức, tự đánh giá phát triển mạnh mẽ, sâu sắc, củng cố quá trình tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân
- Định hướng giá trị và các kế hoạch đường đời được phác thảo rõ ràng và cụ thể
- Đời sống tình cảm phát triển sâu sắc và bền vững, là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ
1.2.2.2 Các nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên
Sinh viên là một trong những lứa tuổi có số lượng thành viên trên mạng xã hội đông đảo nhất Theo nghiên cứu về sử dụng mạng xã hội của sinh viên Việt Nam của tác giả Bùi Thị Hồng Thái và Trần Thị Minh Đức, mức độ sử dụng mạng xã hội trong trong tổng số 4.247 sinh viên được khảo sát, có đến 4.205 sinh viên (chiếm 99%) có sử dụng mạng xã hội Bài nghiên cứu cũng chỉ ra nhu cầu lên mạng xã hội của sinh viên rất cao, trong đó, chủ yếu là nhu cầu tương tác, nhu cầu giải trí và nhu cầu chia sẻ
Vì thế, các nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên cũng rất đa dạng
và phong phú Có thể đề cập đến một số nội dung giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên như sau:
- Giải trí: Các vấn đề về giải trí là một trong những nội dung giao tiếp mà sinh viên hay xoay quanh Từ việc biết được một thông tin trên mạng hay trong thực tế, sinh viên có nhu cầu được chia sẻ để tạo sự thỏa mãn, hài lòng cho bản thân Các thông tin
về giải trí diễn ra mỗi ngày là một nguồn thông tin vô cùng lớn để chia sẻ mà không ảnh hưởng nhiều đến đời sống riêng tư của sinh viên
- Công việc, học tập: Các cuộc giao tiếp về học tập, công việc được diễn ra càng ngày càng nhiều trên mạng xã hội bởi sự tiện ích của nó Sinh viên có thể cùng
Trang 39trao đổi với bạn bè, học hỏi lẫn nhau các kinh nghiệm, tri thức, các kỹ năng mà không
bị hạn chế bởi không gian, giúp tiết kiệm thời gian, sức lực, nhiều khi là tiền bạc
- Các mối quan hệ cá nhân: Các mối quan hệ cá nhân là một trong những đề tài nóng trong giao tiếp trên mạng xã hội của cá nhân Các mối quan hệ cá nhân thường rất phức tạp, nhưng nó càng phức tạp thì nó lại càng thu hút sự chú ý của sinh viên Những câu chuyện về các mối quan hệ cá nhân nhiều khi là để giải trí hoặc để giải tỏa cảm xúc của bản thân, tạo sự đồng tình và có đôi lúc là kêu gọi sự giúp đỡ từ những người xung quanh Các mối quan hệ này có thể là của bản thân sinh viên hoặc của những người khác, bao gồm mối quan hệ với gia đình, người yêu, thầy cô, bạn bè, những người xung quanh…
- Chính trị - xã hội: Sinh viên là lứa tuổi đã bắt đầu quan tâm đến những vấn đề chính trị - xã hội của đất nước Chính vì thế, các đề tài chính trị - xã hội cũng thường được họ đề cập đến, qua đó, bày tỏ các quan điểm, thái độ của bản thân và có thể là phân tích các vấn đề để có thể nắm rõ hơn tình hình chính trị - xã hội hiện nay ở trong nước và trên thế giới Từ đó, sinh viên có những thái độ và hành vi phù hợp thể hiện lòng yêu nước và sự quan tâm sâu sắc của bản thân đến đất nước
- Mua bán: Cùng với sự phát triển của mạng xã hội thì các hình thức dịch vụ, kinh doanh trên mạng cũng phát triển mạnh mẽ Các hình thức này giúp sinh viên có thể lựa chọn hành hóa mình cần mà không cần phải đến tận nơi để Điều này giúp tiết kiệm thời gian và giúp sinh viên có thể mua hàng ở bất kỳ nơi nào mà sinh viên thích Các loại hình kinh doanh được sinh viên yêu thích đó là thời trang, mỹ phẩm, game và một số đồ dùng sinh hoạt hàng ngày khác,…
- Các hoạt động cộng đồng: Các nội dung giao tiếp vì cộng đồng là một nội dung hay thể hiện tính tích cực xã hội và ý thức vì xã hội của sinh viên Các nội dung này rất đa dạng và phong phú, có thể là kêu gọi hay chia sẻ vì những người có hoàn
Trang 40cảnh khó khăn, những trẻ mồ côi, những người bị thiên tai, bệnh tật hay vì động vật bị
bỏ rơi, vì môi trường xanh,… Bên cạnh đó, sinh viên có thể kết hợp một nhóm, cộng đồng để tổ chức các hoạt động trên mạng xã hội hoặc cũng có thể là tự bản thân chia
sẻ, kêu gọi thông qua một vài bài viết của cá nhân
1.2.2.3 Các phương tiện giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên
Nhờ sự phát triển của các dịch vụ trên mạng xã hội mà các phương tiện giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên rất đa dạng, phóng phú, không kém gì so với giao tiếp trực tiếp.Các phương tiện giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên bao gồm:
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản của con người Hệ thống ngôn ngữ bao gồm hai loại là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói được sử dụng trên mạng xã hội nhờ camera, bộ phận ghi âm và phần mềm cho phép kết nối hình ảnh và âm thanh Nhờ đó, sinh viên có thể tiến hành các cuộc gọi trên mạng như nói chuyện trên điện thoại Ngôn ngữ nói khi giao tiếp trên mạng xã hội của sinh viên giống hệt như giao tiếp trực tiếp trong đời sống thực ngoài xã hội Bên cạnh ngôn ngữ nói là ngôn ngữ viết Đây là ngôn ngữ được sử dụng rất thông dụng trên mạng xã hội Việc sử dụng các ngôn ngữ viết của sinh viên về cơ bản cũng giống ngôn ngữ viết ngoài đời thực nhưng có sự thay đổi rất nhiều, được thể hiện ở việc viết tắt, thêm bớt các ký hiệu, biến tấu âm hay thậm chí là sáng tạo ra ngôn ngữ viết mới
- Cử chỉ, điệu bộ, nét mặt: Nhờ dịch vụ kết nối hình ảnh trực tuyến, các cá nhân có thể nhìn thấy được các cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của nhau Điều này đã góp phần giúp cho việc giao tiếp trên mạng xã hội không khác gì so với giao tiếp trực tiếp, tạo sự linh động và chân thật trong giao tiếp trên mạng xã hội
- Hình ảnh: Hình ảnh là một trong những yếu tố được thêm vào trong giao tiếp trên mạng xã hội mà giao tiếp thông thường không có Những hình ảnh đem lại sự sinh động, thu hút sự quan tâm của các thành viên trong giao tiếp trên mạng xã hội Các