Mục tiêu nghiên cứu Thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT nhằm nâng cao hiệu quả lĩnh hội kiến thức đồng phát huy tính tích cực, chủ động của h
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Trần Khánh Ngọc
đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô trong bộ môn lí luận và phương pháp dạy học Sinh học, khoa Sinh học, phòng sau đại học, Ban giám hiệu trường Đại học
Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để em nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Nga
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nga
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 1
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 2
8 Những đóng góp mới của đề tài 3
9 Cấu trúc của luận văn 3
PHẦNNỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ 4
PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10 THPT 4
1.1 Cơ sở lí luận 4
1.1.1 Tổng quan về nghiên cứu 4
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 4
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 5
1.1.2 Khái quát về dạy học theo chủ đề 6
1.1.2.1 Thế nào là dạy học theo chủ đề 6
1.1.2.2 Ưu thế của dạy học chủ đề so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay 7
1.1.2.3 Tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay 9
1.1.2.4 Các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong dạy học theo chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Thực trạng việc dạy học theo chủ đề trong dạy học Sinh học 14
1.2.1.1 Về phía giáo viên 15
1.2.1.2 Về phía học sinh 16
Trang 51.2.2 Phân tích nguyên nhân của thực trạng 17
1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan 17
1.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan 17
Kết luận chương 1 19
Chương 2: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ 20
PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10 THPT 20
2.1 Sự phù hợp của việc dạy học theo chủ đề trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT 20
2.2 Phân tích nội dung phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT 20
2.3 Quy trình xây dựng các chủ đề 22
2.3.1 Quy trình chung 22
2.3.2 Vận dụng quy trình xây dựng chủ đề trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT 38
2.3.2.1 Vận dụng quy trình xây dựng chủ đề trong dạy học chương II phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT 38
2.3.2.2 Kết quả xây dựng chủ đề trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT 46
2.4 Quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề 55
Kết luận chương 2 58
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.2 Nội dung thực nghiệm 59
3.3 Các bước tiến hành thực nghiệm 59
3.3.1 Chọn trường, lớp thực nghiệm 59
3.3.2 Bố trí thực nghiệm 59
3.3.3 Cách đánh giá kết quả thực nghiệm 59
3.4 Kết quả đạt được 60
3.4.1 Phân tích định lượng 60
3.4.1.2 Mức độ chủ động tham gia học tập của học sinh 60
3.4.1.2 Hiệu quả lĩnh hội tri thức của HS 61
Trang 63.4.2 Phân tích định tính 65
Kết luận chương 3 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 1
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học đang là yêu cầu cấp bách trong hệ thống giáo dục
và trong nhà trường hiện nay Trước tình hình đó, ở nhiều nước trên thế giới, các phương pháp dạy học mới theo hướng phát huy tính tích cực của người học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, dạy học lấy người học làm trung tâm đang được áp dụng rộng rãi nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Mục tiêu phát triển giáo dục ở nước ta là đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập
Trên thế giới, theo đánh giá của UNESCO, việc đổi mới nội dung chương trình
và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học ở nhiều quốc gia đang có xu hướng tích hợp theo chủ đề học tập và cách tiếp cận dạy học theo chủ đề cùng với sự tích hợp công nghệ vào dạy học đang được quan tâm, chú trọng một cách đặc biệt
Ở nước ta, đã có những chiến dịch về đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình cũng như phương pháp giảng dạy xong vẫn xong gặp phải nhiều khó khăn, chưa mang tính đồng bộ và hiệu quả chưa cao
Khi tìm hiểu cấu trúc, nội dung kiến thức, thực trạng dạy và học phần hai Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT tôi nhận thấy khi dạy kiến thức phần này, cả GV và
HS đều gặp khó khăn về nội dung kiến thức, về logic hình thành cũng như phương pháp tiếp cận nên hiệu quả lĩnh hội kiến thức và chất lượng học tập chưa cao
Trước xu thế đó cùng với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học phần kiến thức này, tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu là “Thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT nhằm nâng cao hiệu quả lĩnh hội kiến thức đồng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh trong học tập
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Quá trình dạy học Sinh học 10 THPT
- Quy trình xây dựng các chủ đề thuộc phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
- Quy trình tổ chức dạy học theo các chủ đề đã thiết kế
Trang 84 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT một cách hợp lí thì sẽ nâng cao được hiệu quả lĩnh hội kiến thức đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học theo chủ đề
- Điều tra thực trạng dạy học Sinh học tại trường phổ thông
- Phân tích cấu trúc nội dung và thành phần kiến thức phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
- Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
- Thực nghiệm sư phạm, vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào các chủ đề dạy học
6 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017
- Địa điểm nghiên cứu: Tại trường THPT số 4 Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai
7 Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu sách, báo, ti vi, internet, những tài liệu về các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
7.3 Phương pháp chuyên gia
- Phỏng vấn những giáo viên dạy Sinh học 10 và các em học sinh lớp 10 tại trường THPT số 4 Văn Bàn để đánh giá thực trạng giảng dạy và mức độ hứng thú của học sinh với bài học
- Hỏi ý kiến chuyên gia về các bài giảng được thiết kế theo chủ đề và tổ chức dạy học theo định hướng tích cực hóa người học
7.4 Phương pháp thực nghiệm
- Sau khi xây dựng xong các chủ đề thuộc phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT tôi tiến hành dạy thực nghiệm tại lớp 10 để kiểm tra tính khả thi của đề tài thông qua các bài kiểm tra sau khi kết thúc một chủ đề
Trang 97.5 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phần mềm SPSS20 nhằm xử lí, đánh giá kết quả điều tra thực nghiệm Sư phạm
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề trong dạy học Sinh học ở trường THPT
- Thiết kế quy trình xây dựng các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
- Tổ chức dạy học các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh
- Xây dựng một số giáo án dạy học theo chủ đề để làm tư liệu tham khảo cho giáo viên THPT
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thiết kế và tổ chức dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT Chương 3: Thực nghiệm Sư phạm
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
Trang 10PHẦNNỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT
KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10 THPT 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Tổng quan về nghiên cứu
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong thế kỉ XX, nhiều nhà giáo dục Đông, Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực học tập, chủ động, sáng tạo của người học, như: Kharlamop, nhà giáo dục Xô Viết, trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?”
đã viết trong phần lời nói đầu: “Một trong những vấn đề căn bản mà nhà trường Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết là việc phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học” Ông đã đưa ra yêu cầu của quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh: “Học tập là một quá trình nhận thức tích cực của học sinh, học sinh muốn nắm vững kiến thức một cách sâu sắc phải thực hiện đầy đủ một chu trình trí tuệ, bao gồm những hoạt động tri giác tài liệu nghiên cứu (trực tiếp và gián tiếp); thông hiểu; ghi nhớ (ghi nhận ban đầu, ghi nhớ, củng cố thường xuyên và ôn tập tiếp theo); luyện kĩ năng, kĩ xảo bằng những bài luyện tập
và cuối cùng là những hoạt động khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức nhằm xác lập mối quan hệ trong từng đề tài, giữa các đề tài và các môn học [12]
Theo B P Ễipôp trong cuốn “Những cơ sở lí luận của dạy học” (1997) đã nêu ra các nguyên tắc của dạy học, trong đó nhấn mạnh đến tính hệ thống và tính vững chắc của việc lĩnh hội kiến thức, trong đó dạy học theo chủ đề có tác dụng lớn trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức và làm sâu sắc hơn nhận thức của học sinh vì “đặt các tri thức đã nghiên cứu từ trước trong mối liên hệ với những tri thức mới ngày càng phức tạp hơn, học sinh sẽ thấy được trong các tri thức cũ một nội dung, những sắc thái mà trước đây học sinh chưa nắm được” [5]
Theo N G Đairi (1973) đã nhấn mạnh công tác chuẩn bị của người thầy mà trước hết là chuẩn bị về mặt nội dung Người thầy xác định những chủ đề nào học sinh chỉ học trong một quá trình cụ thể, những chủ đề nào học sinh sẽ học lại trong các quá trình khác Với những bài học cùng đề cập đến những vấn đề giống nhau thì cần chú ý đến mối liên hệ giữa các bài học này và cần có một đề cương chung để hệ thống kiến thức và tìm ra bản chất của vấn đề Tác giả cũng cho rằng hình thức lên lớp theo chủ đề là một trong những cách hình thành tư duy độc lập cho học sinh [22]
Các tác giả trên đều cho thấy những khía cạnh khác nhau của dạy học theo chủ
đề Dù ở khía cạnh nào thì các tác giả đều cho rằng dạy học theo chủ đề nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
Trang 111.1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, tại nghị quyết IV của ban chấp hành trung ương khóa VII đã chỉ rõ: Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, … áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt
và làm việc hiệu quả
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt;
có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc
Thực hiện các công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 5 năm 2013 của Bộ Trưởng BGDĐT hướng dẫn các tổ, nhóm chuyên môn và giáo viên xây dựng các kế hoạch dạy học, kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo các “chủ đề dạy học” Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 8 tháng
10 năm 2014 của Bộ Trưởng BGDĐT hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về xây dựng các kế hoạch và đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phù hợp với các chủ đề dạy học
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao hiệu quả giáo dục hiện nay, có nhiều cuốn sách các nhà nghiên cứu đã đề cập đến dạy học theo chủ đề
và ý nghĩa to lớn của dạy học theo chủ đề
Theo Ngô Minh Oanh (2002) đã xây dựng được các chủ đề phù hợp dựa trên sự tích hợp kiến thức lịc sử Thế giới và Việt Nam góp phần giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc [26]
Theo Hoàng Thanh Tú (2012) đã chỉ ra việc căn cứ vào trình độ học sinh, loại bài ôn tập trong chương trình, mục tiêu cần đạt để lựa chọn, cấu trúc nội dung ôn tập cho phù hợp với hình thức tổ chức và phương pháp tiến hành Dạy học theo chủ
đề không chỉ tạo tư duy logic cho học sinh, tăng khả năng hiểu bài mà còn giúp quá
Trang 12trình ôn tập hiệu quả hơn Trên cơ sở đó, học sinh được ôn tập, củng cố, tổng hợp kiến thức ở mức độ cao và biết vận dụng sáng tạo trong học tập [33]
Theo Nghiêm Đình Vỳ (2015) trong một bài báo cáo tham luận của mình đã đưa
ra ý kiến về việc áp dụng dạy học theo chủ đề là một trong những hướng đi phù hợp
và đúng đắn với thực tế giáo dục ở nước ta hiện nay Đó là xu thế phát triển chung
mà nhiều nước trên thế giới đã và đang thực hiện với nhiều thành tựu to lớn
Nghiên cứu về dạy học theo chủ đề còn được đề cập nhiều trong các luận văn, các bài tham luận của học viên và sinh viên các trường Đại học
Tác giả Trần Thị Ngọc Linh với công trình nghiên cứu “Rèn luyện năng lực học tập cho học sinh bằng dạy học theo chủ đề trong dạy học chương cảm ứng, Sinh học
11 THPT” đã đề cập đến quy trình xây dựng chủ đề nhằm rèn luyện năng lực học tập cho học sinh, xong tác giả chưa vận dụng nhiều các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào việc dạy học theo chủ đề Trong luận văn này tác giả đã xây dựng được 03 chủ đề dạy học trong chương Cảm ứng – Sinh học 11 đó là, chủ đề cảm ứng ở thực vật, Sinh lý thần kinh của động vật, Tập tính ở động vật
Tác giả Trần Văn Hữu với công trình nghiên cứu “Dạy học theo chủ đề và sự vận dụng nó vào giảng dạy phần kiến thức “Các định luật bảo toàn” Vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Trong luận văn này, tác giả đã làm sáng tỏ cơ
sở lí luận của phương pháp dạy học theo chủ đề, xây dựng được tiến trình dạy học theo chủ đề và soạn thảo được bài giảng điện tử theo phương pháp dạy học theo chủ
đề đối với chương “chất khí” – Vật lí 10 THPT Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích làm sáng tỏ các bước trong quy trình dạy học theo chủ đề
Nhìn chung các tác giả đều chỉ ra những ưu điểm nổi bật và triển vọng của dạy học theo chủ đề khi áp dụng trong các nhà trường
1.1.2 Khái quát về dạy học theo chủ đề
1.1.2.1 Thế nào là dạy học theo chủ đề
Chủ đề dạy học có thể xem như là một nội dung học tập/đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn và có cấu trúc logic về một nội dung kiến thức nào đó trong chương trình phổ thông nhằm trang bị cho học sinh một số kiến thức, kĩ năng, năng lực nhất định trong quá trình học tập Chủ đề dạy học có thể là một chương hoặc có thể được kết hợp từ các bài khác nhau của một số chương Thời lượng của mỗi chủ đề do giáo viên quyết định nhưng phù hợp với khung thời lượng chung của kì học điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi cho dạy học định hướng năng lực
Dạy học theo chủ đề(Themes based learning) là hình thức hình thức dạy học dựa vào việc thiết kế chủ đề dạy học và tổ chức dạy học chủ đề đó Giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, không chỉ truyền thụ kiến thức mà tập trung vào việc hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập Dạy học theo chủ đề tăng cường sự tích hợp kiến thức, làm
Trang 13cho các kiến thức có mối liên hệ mạng lưới đa chiều, tích hợp nội dung kiến thức các ứng dụng kĩ thuật và thực tiễn đời sống làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn người học hơn, rèn luyện đồng thời được cả năng lực chung và năng lực chuyên biệt
Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiến thức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn
Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học truyền thống (với đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạt động lớp học mà giáo viên giữ vai trò trung tâm) bằng việc chú trọng những nội dung học tập
có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, với trung tâm tập trung vào học
sinh và nội dung tích hợp với những vấn đề, những thực hành gắn liền với thực tiễn
Với mô hình này, học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề xác thực, có hệ thống và liên quan đến nhiều kiến thức khác nhau Các em thu thập thông tin từ nhiều nguồn kiến thức
Việc học của học sinh thực sự có giá trị vì nó kết nối với thực tế và rèn luyện được nhiêu kĩ năng hoạt động và kĩ năng sống Học sinh cũng được tạo điều kiện minh họa kiến thức mình vừa nhận được và đánh giá mình học được bao nhiêu và giao tiếp tốt như thế nào Với cách tiếp cận này, vai trò của giáo viên chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo thay vì quản lý trực tiếp học sinh làm việc
Dạy học theo chủ đề ở bậc trung học là sự cố gắng tăng cường tích hợp kiến
thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào nội dung những ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có
ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn Một cách hoa mỹ, đó là việc “thổi hơi thở” của cuộc sống
vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng “cuộc sống thật” trong các bài học
Chủ đề được dạy học có thể là chủ đề nội môn hoặc liên môn
Chủ đề nội môn: bao gồm nội dung kiến thức của một chương hoặc một chủ đề tích hợp theo chiều dọc (kiến thức của một số bài khác nhau trong cùng môn học) Chủ đề liên môn: chủ đề tích hợp ngang (tích hợp kiến thức của nhiều môn) Với nội dung của đề tài này, chúng tôi tiến hành xây dựng chủ đề nội môn
1.1.2.2 Ưu thế của dạy học chủ đề so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay
Mọi sự so sánh giữa bất kì mô hình hay phương pháp dạy nào cũng trở nên khập khiễng bởi mỗi một mô hình hay phương pháp đều có những ưu thế hoặc những hạn chế riêng có
Tuy nhiên, nếu đặt ra vấn đề cho ngành giáo dục hiện nay là: Làm thế nào để nội
Trang 14dung kiến thức trở nên hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống? Làm thế nào để việc học tập phải nhắm đến mục đích là rèn kĩ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt là các vấn
đề đa dạng của thực tiễn? Có phải cứ phải dạy kiến thức theo từng bài thì học sinh mới hiểu và vận dụng được kiến thức? Làm thế nào để nội dung chương trình dạy luôn được cập nhật trước sự bùng nổ vũ bão của thông tin để các kiến thức của việc
học và dạy học thực sự là thế giới mới cho những người học?
Việc trả lời các câu hỏi trên đồng nghĩa với việc xác định mục tiêu giáo dục, mô hình dạy học trong thời đại mới Đồng thời, cũng sẽ chỉ ra cho ta thấy những lợi thế nhất định của từng mô hình khi áp dụng vào giảng dạy
Rõ ràng, nếu căn cứ vào việc tìm câu trả lời cho những câu hỏi này thì dạy học theo chủ đề khi so sánh với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay, sẽ có những ưu điểm sau:
Dạy học theo cách tiếp cận
truyền thống hiện nay
Dạy học theo chủ đề
Tiến trình giải quyết vấn đề tuân theo
chiến lược giải quyết vấn đề trong khoa
học vật lý: logic, chặt chẽ, khoa học do
giáo viên (SGK) áp đặt (GV là trung
tâm)
Các nhiệm vụ học tập được giao, học sinh quyết định chiến lươc học tập với
sự chủ động hỗ trợ, hợp tác của giáo viên (HS là trung tâm)
Nếu thành công có thể góp phần đạt tới
mức nhiều mục tiêu của môn học hiện
nay: chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua
hoạt động, bồi dưỡng các phương thưc
tư duy khoa học và các phương pháp
Dạy theo từng bài riêng lẻ với một thời
lượng cố định
Dạy theo một chủ đề thống nhất được tổ chức lại theo hướng tích hợp từ một phần trong chương trình học
Thời lượng chủ đề do giáo viên sắp xếp sao cho thống nhất với khung thời lượng của kì học
Kiến thức thu được rời rạc, hoặc chỉ có
mối liên hệ tuyến tính (một chiều theo
thiết kế chương trình học)
Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau
Trình độ nhận thức sau quá trình học tập
thường theo trình tự và thường dừng lại
Trình độ nhận thức có thể đạt được ở mức độ cao: Phân tích, tổng hợp, đánh
Trang 15ở trình độ biết, hiểu và vận dụng (giải
bài tập)
giá
Kiến thức còn xa rời thực tiễn mà người
học đang sống do sự chậm cập nhật của
nội dung sách giáo khoa
Kiến thức gần gũi với thức tiễn mà học sinh đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề
Kiến thức thu được sau khi học thường
là hạn hẹp trong chương trình, nội dung
học
Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ
đề thường vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử
lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của học sinh
Không thể hướng tới nhiều mục tiêu
nhân văn quan trọng như: rèn luyện các
kĩ năng sống và làm việc: giao tiếp, hợp
tác, quản lý, điều hành, ra quyết định
Có thể hướng tới, bồi dưỡng các kĩ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác
1.1.2.3 Tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay
Cần khẳng định rằng, mục tiêu giáo dục hiện nay của chúng ta đã bắt đầu chuyển hướng sang chú trọng tới định hướng phát triển năng lực học sinh Theo đó, chúng
ta kì vọng vào quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá chú trọng tăng cường tính vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của người học và nhờ vào quá trình đó các năng lực được hình thành
Sự gò bó của phân phối chương trình, hạn chế sự sáng tạo của GV, GV ít có điều kiện vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực cho HS Mặt khác, các công văn 3535, 791, 5555 quán triệt và chỉ đạo, Bộ GD&ĐT chỉ quản
lí khung chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng đồng thời trao quyền cho GV được thiết kế kế hoạch dạy học phù hợp với điều kiện địa phương và đối tượng HS Như vậy, thời lượng mỗi chủ đề do GV tự quyết định sao cho phù hợp với khung thời lượng chung của kì học Do đó, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa, các nội dung được phân chia thành những đơn vị kiến thức khá cụ thể theo từng bài học và được sắp xếp tuần tự, phù hợp với tiến trình lĩnh hội kiến thức cho người học; cách thiết kế này rất phù hợp cho dạy học trên lớp cũng như quản lí việc dạy học và phân phối chương trình như hiện nay Tuy nhiên, chính sự phân chia này cũng có một số hạn chế nhất định trong quá trình dạy học như: do cách phân chia kiến thức cụ thể làm cho các đơn vị kiến thức trong bài mang tính độc lập tương đối với nhau, kiến thức học sinh thu nhận được sẽ rời rạc, dẫn đến việc lưu giữ kiến thức không bền vững và việc vận dụng kiến thức vào thực
Trang 16tiễn khó khăn Tiếp cận dạy học theo chủ đề thông qua việc thiết kế một chủ đề dạy học bao quát, chứa một nội dung kiến thức tương đối trọn vẹn cần trang bị cho học sinh, các kiến thức này có liên quan với nhau, tiếp cận ở các góc độ khác nhau Giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh thông qua việc giải quyết các vấn
đề, từ đó học sinh chủ động xây dựng hệ thống kiến thức chặt chẽ và gắn với thực tiễn cuộc sống
Tuy nhiên, trong thực tế, diện mạo đời sống xã hội không hiện diện đầy đủ ở bất
cứ bài nào trong chương trình học Nói cách khác, không thể gom hết toàn bộ xã hội sinh động vào nội dung chương trình của bất kì một môn học nào như một dạng kim chỉ nam xuyên suốt, kinh điển, giáo điều
Thực tế trên cho thấy, khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự
nhiên và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp hoặc liên quan đến nhiều môn học Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp đa
chiều, liên môn Do đó, hệ quả là buộc chúng ta phải xây dựng các chủ đề để tiến hành dạy học Tất nhiên, việc xây dựng các chủ đề trong dạy học cũng không tham vọng sẽ giải quyết việc đưa toàn bộ thực tiễn vào chương trình, thậm chí mô hình này cũng chưa thể tạo ra một phương pháp giáo dục hoàn toàn mới, nhưng quan trọng hơn hết chính là nó mở đường cho giáo viên và học sinh tiếp cận với kiến thức theo một hướng khác Không phải là sự thụ động mà là chủ động của học sinh Không phải là sự tiếp nhận kiến thức sau khi học mà có thể là ngay khi làm nhiệm
vụ học Nó cũng không chỉ dừng ở mục tiêu “đầu vào” về kiến thức mà nó còn hướng tới định hướng “đầu ra” (tức khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết thực tiễn[4]) nhờ vào việc xác định các năng lực cần phát triển song song với những mục tiêu về chuẩn nội dung kiến thức, kĩ năng trong chương trình học
Ngoài ra, một thực tế khác cũng đáng quan tâm: hiện nay, ít nhiều trong chương trình học (bao gồm cả trong một bộ môn theo bậc hoặc các môn khác nhau theo một
bậc) cũng có nhiều đơn vị kiến thức có tínhgiao thoa, liên hệ tương đối gần hoặc trùng lặp
1.1.2.4 Các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong dạy học theo chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
Vì không bị bó buộc nội dung và thời gian theo từng tiết học, dạy học theo chủ
đề cho phép GV sử dụng rất nhiều các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để phát triển năng lực cho HS
Phương pháp dạy học: Là bình diện trung gian, đó là các phương pháp dạy học
cụ thể, các mô hình hành động Đó là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể Một số phương pháp dạy học như:
Trang 17Thuyết trình Đóng vai
Kĩ thuật dạy học: Là khái niệm nhỏ nhất, ở bình diện vi mô, là cách thức hành động của giáo viên và người học trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều chỉnh quá trình dạy học Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập Các kĩ thuật dạy học vô cùng phong phú về số lượng Bên cạnh những kĩ thuật dạy học thông thường (đặt câu hỏi, nhận xét, trả lời, …), ngày nay người ta còn đặc biệt chú trọng các kĩ thuật dạy học tích cực Một số kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực như:
Các kĩ thuật dạy học tích cực là những kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc khuyến khích sự tham gia của người học vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và cộng tác làm việc của người học
Có thể kể đến một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như: dạy học dự án,
kĩ thuật mảnh ghép, lược đồ tư duy, …
* Dạy học dự án:
Là kiểu tổ chức hoạt động dạy học, trong đó học sinh chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng thông qua việc tạo ra một sản phẩm cụ thể
Tùy theo mức độ yêu cầu về quy mô, tính sáng tạo của sản phẩm mà tạo ra một
cơ hội rộng hay hẹp cho học sinh trong việc xây dựng kiến thức, đặc biệt là các kiến thức liên môn và phát triển các kĩ năng của học sinh
Qua dạy học dự án, học sinh còn được rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp trong tương lai, góp phần quan trọng để hình thành mục tiêu
Trang 18về hình thành năng lực
Khái niệm:
Dạy học dự án là một phương pháp dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực tiễn Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều khiển, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Kết quả dự án là những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu
Quy trình tổ chức dạy học theo dự án:
Trong dạy học theo dự án, học sinh phải thực hiện các nội dung, các hoạt động theo các bước sau:
Bước 1: Xây dựng nhóm học tập Học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên sẽ tổ
chức hình thành các nhóm học tập của mình theo cách thức phù hợp với dự án và tâm lí học sinh
Bước 2: Xác định kế hoạch thực hiện dự án Mỗi nhóm tự xác định mục tiêu và kế
hoạch thực hiện của nhóm Thiết kế bảng kế hoạch với các nội dung cần thực hiện
để hoàn thành dự án, càng chi tiết cụ thể càng tốt
Các nội dung xây dựng thực hiện dự án thường có thể là:
- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến dự án
- Điều tra, khảo sát thực trạng để thu thập thông tin liên quan
- Thảo luận nhóm, thực hiện các nhiệm vụ để tạo sản phẩm
- Viết báo cáo
- Báo cáo và đánh giá
Bước 3: Phân công nhiệm vụ Từ bảng kế hoạch, nhóm trưởng và các thành viên
thảo luận về việc phân công nhiệm vụ, các sản phẩm cần hoàn thành cùng thời lượng và thời gian hoàn thành
Bước 4: Thực hiện kế hoạch thực hiện dự án Theo kế hoạch và phân công nhiệm
vụ, các thành viên thực hiện nhiệm vụ và xây dựng sản phẩm Sản phẩm có thể là
Trang 19vật chất, có thể là bài báo cáo, bài thuyết trình trình chiếu, …
Bước 5: Viết báo cáo và báo cáo kết quả
Bước 6: Đánh giá kết quả thực hiện dự án
Ưu điểm của dạy học dự án:
Thông qua việc thực hiện dự án học tập, học sinh sẽ hình thành và phát triển được nhiều năng lực như năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực công nghệ và truyền thông, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, …
* Kĩ thuật mảnh ghép:
Khái niệm:
Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp Quy trình thực hiện:
Kĩ thuật này được thực hiện qua hai vòng gồm các nhóm chuyên gia (vòng 1) và nhóm hợp tác (vòng 2) như hình dưới đây:
* Lược đồ tư duy:
Khái niệm:
Lược đồ tư duy (bản đồ tư duy) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Lược đồ tư duy có thể viết trên giấy, trên bảng trong, trên bảng chính hay thực hiện trên máy tính
Cách làm:
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
- Từ chủ đề trung tâm, vẽ ra các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa
Nhánh và chữ viết trên đó được viết và vẽ cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng những thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường
- Tiếp tục như vậy ở các nhánh phụ tiếp theo
Trang 20Ứng dụng của lược đồ tư duy:
Lược đồ tư duy được ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
Quy tắc của động não:
- Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên;
- Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày;
- Khuyến khích số lượng các ý tưởng;
- Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng
Các bước tiến hành:
- Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;
- Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến không đánh giá, nhận xét nhằm huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
- Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
- Đánh giá:
+ Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ;
+ Đánh giá những ý kiến đã lựa chọn;
+ Rút ra kết luận hành động
Ứng dụng:
- Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề;
- Tìm các phương án giải quyết vấn đề;
- Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng việc dạy học theo chủ đề trong dạy học Sinh học
Để phục vụ cho đề tài tôi đã tìm hiểu thực trạng dạy học môn Sinh học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong năm học 2016 – 2017 Tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi với giáo viên bộ môn, điểu tra, khảo sát về tình hình dạy học Sinh học theo chủ đề bằng phiếu điều tra
Trang 211.2.1.1 Về phía giáo viên
Kết quả khảo sát về tình hình sử dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học cấp THPT của 40 GV thuộc 4 trường THPT trên địa bàn tỉnh Lào Cai và các thầy cô ở các tỉnh khác nhau cùng tham dự khóa học cao học K25 – Lí luận và phương pháp dạy học Sinh học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Về việc tiếp cận dạy học theo chủ đề thì tất cả các giáo viên đều được tập huấn
và đã vận dụng trong giảng dạy
Bảng 1.1 Kết quả điều tra về vai trò của dạy học theo chủ đề trong dạy học cấp THPT
cho học sinh không?
3 Theo thầy (cô) việc thiết kế các chủ đề trong dạy học
Sinh học có vai trò như thế nào?
của học sinh ở mức độ nào?
Trang 22Dựa vào tên chương, phần trong sách giáo khoa 40 100
Dựa vào nội dung kiến thức của chương, phần, mức độ
nhận thức của học sinh và điều kiện nhà trường
Đa số thầy cô cho rằng, việc thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề có vai trò rất quan trọng (65%) Tuy nhiên, mốt số ít GV còn xem viêc dạy học theo chủ đề theo hình thức (5%) và chưa tích cực hóa được người học (12,5%)
1.2.1.2 Về phía học sinh
Thông qua công tác dự giờ, trao đổi với GV và HS, tôi tiến hành phiếu điều tra đối với 200 HS khối 10 ở trường THPT số 4 Văn Bàn, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về vai trò của dạy học theo chủ đề trong dạy học cấp THPT
3 Theo em, dạy học theo chủ đề phát huy được khả
năng nhận thức của em ở mức độ nào?
Trang 23Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy:
Chủ đề ở mỗi chương, mỗi phần có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy học (77,5%) Đa số các em đều cho rằng, dạy học theo chủ đề có thể phát huy nhận thức của HS ở nhiều mức độ khác nhau như: tái hiện (75%), ghi nhớ (75%), hiểu (81,5%), vận dụng (70%), phân tích (71%)
Phần lớn các em rất hứng thú với việc dạy học theo chủ đề và dạy học theo chủ đề rất phù hợp để hướng dẫn HS tự học ở nhà (65%)
Tuy nhiên, một số HS còn chưa hiểu thế nào là dạy học theo chủ đề, hay một số
HS không hứng thú với chủ đề GV đưa ra (7,5%)
1.2.2 Phân tích nguyên nhân của thực trạng
1.2.2.1 Nguyên nhân khách quan
Xây dựng các hoạt động học tập theo chủ đề là một trong những cách thức mới đối với hầu hết giáo viên và học sinh Giáo viên ở nhiều nơi chưa được tập huấn về dạy học theo chủ đề nên chưa hiểu rõ về vai trò, bản chất cũng như quy trình xây dựng, thiết kế và tổ chức các hoạt động theo chủ đề
Hầu hết các trường vẫn duy trì mô hình dạy học theo đúng phân phối chương trình, giáo viên lên lớp đúng số tiết, đúng bài theo quy định Thời gian 1 tiết không
đủ để tổ chức các hoạt động học tập theo chủ đề dẫn đến nếu có sử dụng các phương pháp học tập tích cực thì cũng mang tính hình thức, kém hiệu quả
Điều kiện cơ sở vật chất nhà trường cũng là một trong các nguyên nhân khiến dạy học theo chủ đề khó thực hiện đồng bộ và thường xuyên
1.2.2.2 Nguyên nhân chủ quan
* Về phía giáo viên:
- Do giáo viên chưa nắm được vai trò, bản chất cũng như quy trình thiết kế và tổ
Trang 24- Khả năng vận dụng của học sinh còn hạn chế
- Học sinh đã quen với phương pháp dạy học truyền thống trong một thời gian dài nên khi tiếp cận với các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới học sinh còn lung túng, chất lượng lĩnh hội và ứng dụng kiến thức chưa cao
Trang 25Kết luận chương 1
Qua việc nghiên cứu tổng quan, chúng tôi đưa ra được những nét nổi bật của dạy học theo chủ đề cũng như ưu điểm của dạy học theo chủ đề so với dạy học truyền thống Đồng thời tôi đã tiến hành phân tích cấu trúc nội dung phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Đây là những định hướng quan trọng trong việc tiếp tục nghiên cứu, thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề cho học sinh trong phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
Ngoài ra, chúng tôi tiến hành điều tra việc tiếp cận chủ đề dạy học của giáo viên
và học sinh Kết quả cho thấy, đa số giáo viên đã tiếp cận và nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của việc dạy học theo chủ đề nhằm góp phần nâng cao năng lực cho học sinh Nhưng việc dạy học theo chủ đề chưa được diễn ra thường xuyên và hiệu quả Vậy, nghiên cứu và triển khai đề tài “Thiết kế và tổ chức các chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT” là có ý nghĩa và vận dụng được ở các trường THPT
Trang 26Chương 2: THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ
PHẦN SINH HỌC TẾ BÀO – SINH HỌC 10 THPT 2.1 Sự phù hợp của việc dạy học theo chủ đề trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
Kiến thức trong phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT là một trong những kiến thức cơ bản, làm nền tảng, cốt lõi xuyên suốt cả chương trình học THPT Tuy nhiên, bố cục chương trình theo từng bài làm cho học sinh ghi nhớ rời rạc, máy móc, chưa có tính hệ thống và logic Ngoài ra, phân phối chương trình còn cứng nhắc, ví dụ: nội dung ngắn cũng dạy một tiết, nội dung dài cũng dạy một tiết; Một
số nội dung có logic không hợp lí
Tâm lí học sinh THPT là muốn tìm tòi, khám phá và chủ động, sáng tạo trong việc tiếp cận và lĩnh hội tri thức, học sinh có khả năng tư duy logic cao, khả năng quan sát có mục đích, khả năng ghi nhớ và ghi nhớ có chủ động nhưng vẫn cần có
sự định hướng của giáo viên Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên có thể bố cục lại nội dung theo từng chủ đề phù hợp đồng thời tổ chức dạy học có sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và hướng dẫn học sinh thông qua những câu hỏi định hướng từ đó nâng cao được hiệu quả lĩnh hội tri thức và tích cực hóa được người học đồng thời nâng cao năng lực của người học
Từ những đặc điểm về kiến thức và tâm lí học sinh cho thấy việc thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT là rất cần thiết
2.2 Phân tích nội dung phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT
Phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT có cấu trúc gồm 4 chương, được trình bày trong bảng 2.1
Chương III: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào 5
Trang 27Bài 14: Enzim và vai trò của enzim trong chuyển hóa vật chất 1
Bài 20: Thực hành: Quan sát các kì nguyên phân trên tiêu bản rễ
hành
1
Chương I: Thành phần hóa học của tế bào
Trong chương này, các phân tử cấu tạo nên tế bào được giới thiệu từ cấp đơn giản nhất (các nguyên tố) đến các hợp chất hữu cơ phức tạp với những chức năng rất quan trọng đối với sự sống
Các cấp tổ chức sống trong tế bào có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệ thống sống thống nhất và rất hoàn hảo Trước hết, giới thiệu các nguyên tố hóa học trong cơ thể sống, qua đó phân tích sự thống nhất giữa chất sống và chất không sống có trong tự nhiên Tiếp đó, đề cập đến cấu trúc và vai trò của các đại phân tử hữu cơ trong tế bào như cacbohidrat, lipit, protein, axitnucleic Các đại phân tử này tuy có đặc điểm cấu tạo và chức năng riêng nhưng cả 4 đại phân tử đều gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên một thể thống nhất về cấu trúc và chức năng làm cho các tế bào và các phần tử trong cơ thể sống hoạt động nhịp nhàng với hiệu suất cao và thích nghi với môi trường Vì vậy, việc thiết kế một chủ đề học tập ở chương này là phù hợp để tạo ra sự logic giữa các đơn vị kiến thức
Chương II: Cấu trúc của tế bào
Về cấu tạo tế bào và bào quan, học sinh đã được tìm hiểu ở Trung học cơ sở Tuy nhiên, ở lớp 10, học sinh được học thêm một số bào quan và đi sâu hơn về cấu trúc và chức năng của các bào quan
Trong chương này, các bào quan của tế bào nhân thực được bố cục dàn trải, chưa
có tính hệ thống Vì vậy, khi thiết tế và tổ chức dạy học chủ đề “Tế bào nhân thực” một cách hợp lí sẽ giúp HS không bị ghi nhớ máy móc và tìm hiểu được sự liên quan giữa các bào quan
Chương III: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào
Chương trình giới thiệu về năng lượng, các dạng năng lượng và nhu cầu năng lượng của tế bào Tiếp đến là quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào Trong quá trình chuyển hóa, các phản ứng hóa học trong tế bào cần có chất xúc tác sinh học là enzim Enzim có bản chất là protein, có tính đặc hiệu và chuyên hóa
Trang 28cao Tiếp theo là hai quá trình cơ bản đó là hô hấp và quang hợp
Trong chương này, các nội dung tương đối độc lập xong nó có mối quan hệ với nhau Vì vậy, việc thiết kế chủ đề học tập là phù hợp để không bị ghi nhớ máy móc
và nâng cao được hiệu quả lĩnh hội tri thức
Chương IV: Phân bào
Những kiến thức về phân bào học sinh đã được biết đến từ lớp 9 Trong chương trình này, sách giáo khoa giới thiệu chu kì tế bào gồm kì trung gian và quá trình nguyên phân Kì trung gian chiếm phần lớn chu kì tế bào,là kì mà tế bào tổng hợp các chất cần cho sự sinh trưởng
Nguyên phân là hình thức phân chia tế bào ở sinh vật nhân thực, bao gồm 4 kì, kết quả là từ 1 tế bào mẹ tạo ra 2 tế bào con có vật chất di truyền như nhau (giống tế bào mẹ) Nguyên phân giúp cho cơ thể sinh vật nhân thực thực hiện được các quá trình sinh trưởng, sinh sản và tái sinh (các mô và các bộ phận bị tổn thương)
Về giảm phân, gồm hai lần phân bào, nhưng chỉ có một lần nhân đôi nhiễm sắc thể Kết quả của giảm phân là từ 1 tế bào mẹ cho ra 4 tế bào con có số lượng nhiễm sắc thể giảm đi một nửa
Nguyên phân, giảm phân và thụ tinh là cơ chế duy trì bộ nhiễm sắc thể ổn định qua các thế hệ của các loài sinh sản hữu tính
Như vậy, trong phần Sinh học tế bào sẽ lần lượt nghiên cứu cấu trúc và chức năng của từng cấp tổ chức từ phân tử, bào quan, tế bào Nhận thấy, đặc điểm của bào quan cũng có ở tế bào, nhưng đặc điểm của tế bào chưa hẳn đã có ở bào quan Đặc điểm của cấp phân tử có ở bào quan nhưng đặc điểm của bào quan chưa hẳn đã
có ở cấp phân tử Cũng như vậy, đặc điểm của tế bào cũng có ở cơ thể đơn bào, ngược lại những đặc điểm có ở cơ thể đơn bào chưa hẳn đã có ở tế bào Điều này định hướng cho việc học tập: cấp tổ chức này có những đặc điểm cơ bản gì về cấu trúc và chức năng, đồng thời chỉ ra được những đặc tính nổi trội chỉ có ở tổ chức cấp trên mà tổ chức cấp dưới không có Để thấy được thế giới sống là thể thống nhất và mỗi cấp tổ chức sống cơ bản có tính độc lập tương đối
Chính vì vậy, để làm rõ được vấn đề này và có cái nhìn tổng quát thì việc xây dựng các chủ đề dạy học trong phần Sinh học tế bào là cần thiết và phù hợp
2.3 Quy trình xây dựng các chủ đề
2.3.1 Quy trình chung
Dạy học theo chủ đề là dạy hệ thống kiến thức của một chủ đề mang tính tổng quát, có thể liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau Việc dạy học theo chủ đề sẽ được bước đầu định hình bằng một hệ thống câu hỏi định hướng dựa trên nội dung và mục tiêu kiến thức của chủ đề học tập
Từ hệ thống câu hỏi định hướng, giáo viên tổ chức, phân công các hoạt động học tập cho học sinh để giải quyết nhiệm vụ của hệ thống câu hỏi Thông qua đó, học
Trang 29sinh sẽ chủ động xây dựng hệ thống kiến thức chặt chẽ
Trong phương pháp học tập này, học sinh sẽ tận dụng tối đa những kinh nghiệm, hiểu biết và những kiến thức tự tìm hiểu được để trình bày, trao đổi với các thành viên trong nhóm, trong lớp Học sinh luôn phải tìm hiểu, phân tích, xử lí thông tin Thông qua đó hình thành cho học sinh các năng lực như: năng lực tự học, năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề; các kĩ năng quan sát, thuyết trình, giao tiếp, … để học sinh phát huy được khả năng của bản thân
Căn cứ vào nội dung kiến thức và phương pháp tiếp cận và truyền đạt, ta có thể chia dạy học theo chủ đề thành các giai đoạn khác nhau
Bước 4: Thiết kế các hoạt động học tập
Bước 5: Thiết kế ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá
chủ đề Giải thích quy trình:
Bước 1: Phân tích nội dung chương trình để xác định các chủ đề
Bước đầu tiên cần phân tích nội dung của chương trình để xác định các chủ đề trọn vẹn, từ các chủ đề lớn có thể phân chia thành các chủ đề nhỏ hơn phù hợp cho việc dạy học trên lớp
Ví dụ: Nội dung phần Sinh học tế bào – Sinh học 10, THPT cung cấp cho học sinh các kiến thức về cấu trúc và chức năng của từng cấp độ tổ chức từ phân tử, bào quan, tế bào Trên cơ sở hiểu rõ các kiến thức đó, học sinh có thể ăn uống khoa học, rèn luyện thân thể khỏe mạnh để học tập và lao động có hiệu quả Phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 chia thành 4 chương, chương I, chương II đề cập đến cấu trúc và chức năng của các cấp độ tổ chức từ thấp đến cao, chương III là quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào, chương IV đề cập đến quá trình phân bào Cách thiết kế chương trình phần Sinh học tế bào như trên thuận lợi cho việc dạy học theo chủ đề, mỗi chương có thể thiết kế thành một chủ đề dạy học Như vậy, tương ứng với các chương có thể xây dựng 4 chủ đề dạy học như sau: chủ đề
“Thành phần hóa học của tế bào”, chủ đề “Tế bào nhân thực”, chủ đề “Chuyển hóa
Trang 30vật chất và năng lượng trong tế bào”, chủ đề “Phân bào” Với mỗi chủ đề có thể xây dựng các câu hỏi khái quát: Cấu tạo của phân tử/bào quan/tế bào/quá trình? Chức năng của phân tử/bào quan/tế bào/quá trình? Làm thế nào để bảo vệ cơ thể khỏe mạnh?
Bước 3: Xác định tên một chủ đề cụ thể và mạch nội dung kiến thức của chủ đề
Tên chủ đề đại diện cho nội dung kiến thức đã được xác định ở bước trên Tên chủ đề có thể giữ nguyên tên chương hoặc tên phần kiến thức (Ví dụ: Phần Sinh học
tế bào - Sinh học 10 THPT có các chương: thành phần hóa học của tế bào, cấu trúc của tế bào, chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào, phân bào) hoặc nếu muốn nhấn mạnh sự vận dụng kiến thức của chủ đề vào nội dung nào đó thì tên của chủ đề có thể là Tế bào nhân thực, Enzim, … Hoặc cũng có thể đặt tên chủ đề khác dựa vào nội dung kiến thức đã xác định trong chủ đề
Để xác định mạch nội dung kiến thức của chủ đề, giáo viên cần nghiên cứu sách giáo khoa và từ các bài học kết hợp với các câu hỏi khái quát, căn cứ chuẩn kiến thức để xác định những nội dung người học cần được học trong mỗi chủ đề Mạch nội dung kiến thức thường sẽ có hai nhóm vấn đề chính là nhóm kiến thức cơ sở khoa học và nhóm kiến thức vận dụng kiến thức cơ sở đó vào trong thực tiễn cuộc sống
Để xác định mạch kiến thức của chủ đề, giáo viên phải xác định được các bài liên quan đến chủ đề, xác định logic cấu trúc kiến thức (mạch nội dung) của chủ đề
Có thể giữ nguyên mạch cấu trúc kiến thức theo trật tự các bài trong sách giáo khoa hoặc có thể tạo thành mạch cấu trúc mới theo ý đồ giảng dạy của giáo viên (đảo thứ
tự các bài, nội dung trong chủ đề)
Ví dụ:
Mô tả chủ đề
Bài 3 Các nguyên tố hóa học và nước
Bài 4 Cacbohiđrat và lipit
Bài 5 Prôtêin
Bài 6 Axit nucleic
Chủ đề này gồm các bài trong chương I, thuộc Phần Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT, có nội dung trình bày về cấu trúc, vai trò của các thành phần hóa học trong tế bào Trong SGK trình bày thành các bài riêng biệt, nếu dạy từng bài theo
mô tuýp cấu trúc, vai trò thì học sinh sẽ nhàm chán, không tích cực trong học tập Ngoài ra, các bài này tương đối độc lập với nhau nên để học sinh chủ động và tích cực hơn trong học tập tôi lựa chọn kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học
Mạch kiến thức của chủ đề:
1 Các nguyên tố hóa học và nước
- Các loại nguyên tố chính cấu tạo nên tế bào và vai trò của chúng đối với tế
Trang 31- Các loại lipit, chức năng của lipit (tích hợp các biện pháp bảo vệ sức khỏe)
3 Cấu trúc và chức năng của protein (tích hợp các biện pháp bảo vệ sức khỏe)
4 Axit nucleic
- Cấu trúc và chức năng của ADN
- Cấu trúc và chức năng của các loại ARN
Thời lượng:
- Số tiết học trên lớp: 4 tiết và thời gian HS học ở nhà
Bước 3: Xác định mục tiêu của chủ đề
Mục tiêu của chủ đề: Về kiến thức cần bám chặt vào các câu hỏi khái quát, tra
cứu chuẩn kiến thức kĩ năng của các bài trong chủ đề, sắp xếp các mục tiêu trong chuẩn theo mạch kiến thức của chủ đề, chỉnh sửa, bổ sung các mục tiêu cho phù hợp
với học sinh; Về kĩ năng cần nhấn mạnh các nhóm kĩ năng như kĩ năng tư duy, kĩ năng học tập và kĩ năng khoa học
Mục tiêu của mỗi chủ đề được chia làm 4 cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao; mục tiêu được diễn đạt bằng các động từ hành động tương ứng với mỗi cấp độ, ví dụ:
Các mức độ
nhận thức
Các động từ tương ứng
phân biệt, lấy ví dụ, …
đưa vào thực tế, …
rút ra kết luận, … Mục tiêu của bảng ma trận mục tiêu định hướng cho việc tổ chức các hoạt động học tập trong chủ đề và xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá cho chủ đề Dạy học theo chủ đề rất có ưu thế trong việc hình thành và phát triển năng lực người học Vì vậy, ở mỗi chủ đề cần xác định các năng lực hướng tới, các năng lực chung như năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông; các năng lực đặc thù bộ môn Sinh học như năng lực thực nghiệm, năng lực nghiên cứu khoa học
Trang 32Ví dụ: Chủ đề: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO
Các câu hỏi khái quát cho chủ đề:
- Kể tên các thành phần hóa học chính của tế bào?
- Cấu trúc và chức năng của các thành phần đó như thế nào?
- Làm thế nào để có một cơ thể khỏe mạnh?
Bảng mô tả các mức độ mục tiêu của chủ đề:
cần hướng tới
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
thấp
Vận dụng cao
ND1: Các nguyên tố hóa học và nước
phân tích, so sánh
- Năng lực giải quyết vấn
đề
- Năng lực hợp tác
- Chứng minh được sự phù hợp giữa cấu trúc và chức năng của phân
tử nước
- Giải thích
được tại sao thiếu iốt lại gây bệnh bướu cổ
được tính chất phân cực của nước
- Giải thích
tượng nước đá nổi trên nước thường
được các giải pháp bảo vệ nguồn nước
hoạch tuyên truyền bảo vệ
và các loại tài nguyên thiên nhiên
một số hiện tượng:
- Tại sao khi
tiểu đường
- Tại sao động vật không dự trữ năng lượng dưới dạng tinh
- Tìm hiểu được một số
- Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực hợp tác
cacbohidrat
- Chứng minh được vai trò của các loại cacbohidrat và lipit trong cơ thể sinh vật
Trang 33- Tại sao về mùa khô, hanh
ăn khác nhau
- Giải thích đƣợc tại sao cùng ăn một loại thức ăn mà thịt trâu và thịt
đề, năng lực hợp tác
protein
4 loại nucleotit nhƣng các sinh vật khác nhau
đƣợc mô hình cấu trúc đơn giản của axit
phân tích, so sánh
Trang 34lại có đặc điểm
và kích thước khác nhau
- Giải thích
tượng sửa sai của AND
nucleic
được các giải pháp
- Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực hợp tác
Bước 4: Thiết kế các hoạt động học tập
Dạy học theo chủ đề nhấn mạnh phát triển năng lực tự học của học sinh Vì vậy, giáo viên cần thiết kế các hoạt động theo hướng hướng dẫn học sinh tự tìm ra kiến thức thông qua các hoạt động như quan sát tranh hình, mẫu vật, làm thí nghiệm, giải
- Hoạt động hình thành kiến thức: Học sinh được trải nghiệm và hợp tác để học kiến thức mới của chủ đề, đồng thời phát triển các kĩ năng (HS được quan sát, thảo luận, thực hành, .) Có thể dạy từng nội dung cụ thể phân tách theo tiết như sách giáo khoa, hoặc dạy gộp nội dung (dự án, mảnh ghép, …);
- Hoạt động luyện tập và vận dụng: Học sinh luyện tập các kiến thức và kĩ năng đã học thông qua các bài tập và vận dụng những kiến thức vừa học được ở bước 2 để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong thực tiễn;
- Hoạt động tìm tòi và mở rộng: Học sinh tiếp tục tìm hiểu và mở rộng kiến thức ngoài những kiến thức thu được
Ví dụ:
Khởi động:
- HS ngồi theo nhóm, theo dõi video về một số hiện trạng hiện nay: ô nhiễm nguồn
nước, bệnh tiểu đường, bệnh béo phì, bệnh huyết áp cao, bệnh sốt rét, bệnh Đao
- Yêu cầu HS thảo luận và trả lời câu hỏi: dựa vào những hiểu biết của em hãy kể
tên và nêu nguyên nhân của những vấn đề đó?
- HS và GV liệt kê một số nguyên nhân, tìm mối quan hệ để dẫn dắt vào chủ đề
Hình thành kiến thức:
- Sử dụng kĩ thuật mảnh ghép, phòng tranh
Trang 35- GV: Chia nhóm, giao nhiệm vụ cho HS
- GV: Yêu cầu mỗi nhóm chuyên gia tìm hiểu về một nội dung (tiết 1)
- HS: Thành viên nhóm chuyên gia trao đổi nội dung tìm hiểu được với thành viên nhóm ghép (tiết 2)
- Nhóm chuyên gia, nhóm ghép thảo luận các nội dung dưới sự định hướng của GV thông qua những câu hỏi đã giao về nhà chuẩn bị
Câu hỏi HS phải hoàn thành trong thời gian ở nhà và tiết 1, tiết 2:
* Hoạt động I: Các nguyên tố hóa học và nước
- Tạo tình huống có vấn đề: yêu cầu HS kể tên các nguyên tố tham gia vào thành
phần cấu tạo của một cái ô tô và một con người
- Phát hiện mâu thuẫn và giải quyết vấn đề: Cùng được cấu tạo từ các nguyên tố C,
H, O, N tại sao ô tô (hợp chất vô cơ) không có đặc đặc trưng của cơ thể sống (con
người)?
- GV: yêu cầu HS nghiên cứu sgk, thảo luận nhóm để trả lời các câu hỏi sau:
+ Kể tên các nguyên tố hóa học trong tế bào?
+ Tại sao các nguyên tố C, H, O, N lại chiếm tỉ lệ lớn Các nguyên tố khác có cần thiết hay không?
+ Thế nào là nguyên tố đa lượng, vi lượng, vai trò của chúng?
+ Tại sao các nguyên tố vi lượng chiếm tỉ lệ nhỏ nhưng lại có vai trò quan
+ Tại sao nước đá lại nổi trên nước thường?
+ Khi nước bay hơi, phải cần năng lượng Cho biết năng lượng đó dùng để làm gì?
- HS nghiên cứu, thảo luận để giải đáp thắc mắc lúc đầu và trả lời những câu hỏi mở rộng
- GV chốt lại ý kiến giải đáp về tình huống ban đầu: xét ở mức độ nguyên tố thì giới
vô sinh và giới hữu sinh có sự thống nhất, nhưng sự khác biệt là tỉ lệ các nguyên tố
và cách thức kết hợp các nguyên tố Ở giới hữu sinh, sự kết hợp các nguyên tố tạo
ra các cấu trúc ở mức độ khác nhau, mỗi mức độ có cấu trúc, vai trò và đặc tính nhất định, từ đó có các đặc trưng sống mà giới vô sinh không có
- GV yêu cầu HS làm dự án nhỏ về vai trò của nước đối với sự sống
Vận dụng dạy học dự án: Tìm hiểu về vai trò của nước
Trang 36Nội dung Hoạt động của
giáo viên
Hoạt động của học sinh
Bước 1: Lập kế hoạch
vấn đề về nguồn nước
Nhận biết chủ đề của dự án
Xây dựng các tiểu
chủ đề/ ý tưởng
- Tổ chức cho học sinh phát triển ý tưởng, hình thành các tiểu chủ đề
- Thống nhất lựa chọn các tiểu chủ
đề
- Chia sẻ các ý tưởng
- Thống nhất các chủ đề
Lập kế hoạch thực
hiện dự án
- Yêu cầu HS nêu các nhiệm vụ cần thực hiện của dự
án
- GV gợi ý bằng các câu hỏi:
và môi trường
- Từ đó gợi ý các nhiệm vụ cần thực hiện
- Dựa vào các chủ đề nhỏ và gợi
ý của GV, HS nêu các nhiệm vụ phải thực hiện
- Thảo luận và lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ
nhiệm vụ, người thực hiện, thời gian, cách thức tiến hành, sản phẩm,…
+ Thu thập, xử lí thông tin
+ Điều tra, khảo sát thực tế
+ Thảo luận, trao đổi thông tin + Hoàn thiện sản phẩm
+ Viết báo cáo + Lập kế hoạch tuyên truyền
Trang 37Bước 2: Thực hiện dự án và xây dựng sản phẩm (hoạt động vào thời gian ngoài giờ lên lớp)
nhiệm vụ
- Phân tích kết quả
- Viết báo cáo
- Hoàn thiện sản phẩm
Bước 3: Báo cáo kết quả, nêu ý tưởng về kế hoạch tuyên truyền
nhóm báo cáo kết quả và phản hồi
- Tiến hành nhận xét, đánh giá
- Các nhóm báo cáo kết quả
- Các nhóm tham gia nhận xét, bổ sung
- HS dựa trên kết quả báo cáo ghi nhớ những nội dung trọng tâm Nhìn lại quá trình
tưởng
- Triển khai kế hoạch và kết quả tuyên truyền
* Hoạt động II: Cacbohidrat và lipit
- GV yêu cầu HS kể tên các loại cacbohidrat và nêu cấu trúc hóa học, chức năng của
Trang 38* Hoạt động III: Protein
- GV yêu cầu HS làm mô hình về cấu trúc của protein và trình bày được cấu trúc bậc 1, 2, 3, 4 của protein
- HS trình bày được chức năng của protein, vận dụng giải thích được một số hiện tượng như:
+ Vì sao trong bữa ăn hàng ngày chúng ta lại cần ăn protein từ nhiều nguồn thực phẩm khác nhau?
+ Thịt bò, thịt gà, thịt lợn, tóc, sừng trâu, tơ tằm, tơ nhện đều được cấu tạo từ protein nhưng chúng rất khác nhau về nhiều đặc tính Sự khác nhau này là do đâu? + Hiện tượng nào xảy ra đối với protein được gọi là hiện tượng biến tính?
* Hoạt động IV: Axit nucleic
- GV yêu cầu HS mô tả được cấu trúc của AND, ARN thông qua mô hình có sẵn hoặc hình vẽ
- Yêu cầu HS nêu được chức năng của AND và ARN
- GV yêu cầu HS phân biệt được AND và ARN
- GV nhấn mạnh về nguyên tắc bổ sung và nguyên tắc bán bảo toàn để HS làm được một số bài tập về cơ sở vật chất và cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử mức đơn giản
- GV lưu ý nhấn mạnh ở vi rút, thông tin di truyền không được lưu giữ trên AND
mà trên ARN để giải thích một số hiện tượng thực tế như:
Tình huống: Nam bị ốm, đi khám bác sĩ kết luận sốt virut, Nam ra hiệu thuốc mua
thuốc kháng sinh về uống Nam uống thuốc kháng sinh có hiệu quả không? Vì sao?
Em hãy cho Nam lời khuyên
Tiết 3, 4:
- Các nhóm lần lượt trình bày sản phẩm và báo cáo kết quả
- Ở mỗi nội dung GV và HS làm rõ và nhấn mạnh nội dung trọng tâm và mở rộng vấn đề
Bước 5: Thiết kế các câu hỏi kiểm tra, đánh giá chủ đề
Các câu hỏi kiểm tra, đánh giá chủ đề cần nhấn mạnh đánh giá theo hướng hình thành và phát triển năng lực người học Vì vậy, trước khi thiết kế câu hỏi đánh giá, giáo viên cần thiết kế ma trận yêu cầu cần đạt cho mỗi chủ đề với các mức độ khác nhau, có thể tập trung và 4 mức: biết, hiểu, vận dụng và vận dụng cao
Khi thiết kế xong bảng ma trận về các yêu cầu cần đạt sẽ tiếp tục thiết kế các câu
Trang 39hỏi, bài tập Lưu ý, thiết kế các câu hỏi, bài tập không chỉ đánh giá kiến thức mà điều quan trọng hơn là đánh giá năng lực người học Vì vậy, nội dung câu hỏi, bài tập cũng có những điểm khác biệt
Một nội dung ở một mức độ tư duy như nhau, có thể thiết kế nhiều câu hỏi và bài tập Vì vậy, sẽ tạo ra một ngân hàng câu hỏi cho chủ đề
Ví dụ:Tìm hiểu về khái niệm enzim, có thể thiết kế các dạng câu hỏi như sau:
Câu 1: Em hãy trình bày khái niệm enzim?
Câu 2: Đặc tính nào không phải của enzim?
A Hoạt tính mạnh
B Tính chuyên hóa cao
C Dễ mẫn cảm và bị phân hủy trong điều kiện bất lợi
Câu 3: Em hãy điền vào chỗ trống để hoàn thành khái niệm enzim?
Enzim là chất xúc tác sinh học, hoạt động trong điều kiện bình thường của cơ thể Enzim làm … tốc độ phản ứng và … biến đổi sau phản ứng
Ngân hàng câu hỏi kiểm tra, đánh giá:
ND 1: Cấu trúc, đặc tính và vai trò của nước đối với tế bào
Câu 1: Các nguyên tố hóa học đóng vai trò quan trọng trong việc cấu tạo nên sự đa
dạng của các đại phân tử hữu cơ là:
A Fe, Mn, C, H B C, H, O, N C C, H, K, N D Na, K, O, N
Câu 2: Nước được xem là dung môi tốt do …
A dẫn điện tốt B nhiệt bay hơi cao
C có tính phân cực D nhiệt dung đặc trưng cao
Câu 3: Liên kết giữa O và H trong phân tử nước là liên kết …
A Van – đe – van B ion C cộng hóa trị D hidro
Câu 4: Em hãy lựa chọn nội dung đúng/sai cho phù hợp:
Câu 6: Người ta có thể nhận biết tinh bột và glycogen bằng cách nào?
Câu 7: Em hãy trình bày những vai trò của nước đối với sự sống?
ND 2: Cấu trúc hóa học, chức năng của cacbohiđrat
Câu 1: Cacbohidrat được cấu tạo từ những nguyên tố nào?
Trang 40A 1, 2 glicozit B 1, 4 α-glicozit C hidro D 1, 4 β-glicozit
Câu 5: Đường mantozo được tạo từ hai phân tử glucozo liên kết nhau bởi liên kết:
A 1, 2 glicozit B 1, 4 α-glicozit C este D 1, 4 β-glicozit
Câu 6: Em hãy điền vào dấu (…) sao cho phù hợp:
thẳng
Mạch nhánh
Cacbohidrat là hợp chất hữu cơ chỉ chứa 3 loại nguyên tố là … và được cấu tạo theo nguyên tắc … Một trong các đơn phân chủ yếu cấu tạo nên các loại cacbohidrat là đường đơn 6 cacbon Đó là glucozo, fructozo, …
Tùy theo số lượng đơn phân trong phân tử mà người ta chia cacbohidrat thành các loại đường đơn, đường đôi và đường đa Đường đôi gồm … phân tử đường đơn liên kết lại với nhau (saccarozo, lactozo) Đường đa gồm … phân tử đường đơn liên kết lại với nhau (glycogen, tinh bột, xenlulozo, kitin)
Xenlulozo gồm các đơn phân là glucozo liên kết với nhau bằng liên kết … theo dạng mạch … Còn glycogen cũng gồm các đơn phân là glucozo liên kết với nhau bằng liên kết … theo dạng mạch …
Câu 7: Em hãy nối nội dung ở cột A với cột B cho phù hợp:
cacbohidrat là …
a) đường đa: tinh bột, glicogne, xenlulozo, kitin