Trên cơ sở kế thừa những kết quả và khuyến nghị từ dự án “Nâng cao năng lực cho các nhóm nông dân trong sử dụng, phát triển và bảo tồn đa dạng nguồn giống gen cây lúa” giai đoạn 20052007 tại tỉnh Bắc Kạn, Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD) đã phối hợp với Sở NNPTNT Bắc Kạn, trực tiếp là Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tỉnh tiếp tục hỗ trợ nông dân Bắc Kạn nâng cao năng lực chọn lọc, phục tráng và sản xuất các giống lúa địa phương, thông qua dự án “Củng cố và phát triển hệ thống giống lúa của nông dân”
Trang 1BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ
THÁNG 6, 2011
Trang 2Bảng chữ viết tắt
SRI Hệ thống canh tác lúa cải tiến
TOR Bản tham chiếu giao việc
SRD Trung tâm phát triển nông thôn bền vữngNN&
PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Mục lục
Trang 3phục tráng và sản xuất các giống lúa địa phương, thông qua dự án “Củng cố và phát
triển hệ thống giống lúa của nông dân”.
Dự án được thực hiện từ tháng 4/2008 đến tháng 3/2011 trên 8 huyện thị của tỉnh Bắc Kạn với mục tiêu là nâng cao năng lực về sản xuất giống lúa và sản xuất lúa gạo một cách bền vững cho nhiều nông dân đặc biệt người nghèo và phụ nữ để cải thiện thu nhập hộ gia đình và hướng đến nền sản xuất nông nghiệp bền vững Ngoài ra, dự án còn hướng đến mục tiêu vận động các cấp chính quyền và các bên đối tác của tỉnh thừa nhận vai trò của người nông dân trong sản xuất lúa giống lúa đến phát triển các chính sách,
cơ chế hỗ trợ người nông dân chủ động nguồn giống lúa thuần, giảm dần việc sử dụng lúa lai cũng như giảm dần sự phụ thuộc của người nông dân vào nguồn giống bên ngoài
Trên cơ sở những mục tiêu đề ra, sau 3 năm triển khai dự án, Trung tâm SRD phối hợp với Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Bắc Kạn tổ chức đánh giá cuối cùng dự
án, trong đó tập trung phân tích các tác động của dự án đến năng lực của người dân về phục tráng, nhân và so sánh giống, cũng như năng lực của người dân trong hợp tác, trao đổi giống nhằm đa dạng các giống lúa phù hợp với điều kiện của địa phương Đồng thời đưa ra những khuyến nghị ở các cấp khác nhau về nhân rộng các kết quả của dự án trong thời gian tới tại tỉnh Bắc Kạn, cũng như các bài học kinh nghiệm mà SRD cần rút
ra khi áp dụng tại vùng dự án khác của mình Hoạt động đánh giá bên ngoài đối với dự
án này thể hiện tính nghiêm túc và chuyên nghiệp của cơ quan hỗ trợ kỹ thuật cho dự án – Trung tâm phát triển nông thôn bền vững (SRD)
Nhóm đánh giá gồm 3 người: Hoàng Văn Phụ - Đại học Thái Nguyên (chuyên gia về nông nghiệp), Hán Văn Khoát (chuyên gia về vận động chính sách) và Phạm Kim Ngọc – Trung tâm giới và gia đình (chuyên gia về bình đẳng giới) Trong đợt công tác, nhóm đánh giá đã nhận được sự hỗ trợ nhiệt tình của cán bộ SRD và các đối tác địa phương của dự án gồm lãnh đạo UBND tỉnh; lãnh đạo và chuyên viên Sở NN&PTNT, Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật, Trung tâm khuyến nông tỉnh, Công ty cổ phần giống cây trồng Bắc Kạn; lãnh đạo UBND, Phòng NN&PTNT và cán bộ trạm BVTV thuộc 2 huyện Chợ Mới và Bạch Thông; lãnh đạo xã và nông dân các xã Nông hạ (huyện Chợ Mới), xã Tú trĩ (huyện Bạch Thông), Trung tâm học tập cộng đồng xã Xuất hóa và nhóm nông dân sản giống xã Huyền Tụng (Thị xã Bắc Cạn)
2 Mục tiêu đánh giá
Trang 41) Dựa vào các mục tiêu của dự án, đánh giá kết quả, mức độ thành công và những hạn chế của dự án trong việc nâng cao năng lực của nông dân về bảo tồn, sử dụng và phát triển sản xuất giống lúa thuần tại địa phương (bao gồm nhóm nghiên cứu tại TTHTCĐ, nhóm sản xuất lúa giống và các hộ dân)
2) Đánh giá tác động về thay đổi nhận thức, về tập quán canh tác và những thay đổi khác liên quan đến bình đẳng giới, kiến thức kỹ năng xã hội cũng như đến phát triển sinh kế cải thiện thu nhập trong sản xuất giống và lúa gạo tại cộng đồng đối với những người hưởng lợi của dự án, đặc biệt là nông dân nghèo và phụ nữ 3) Đánh giá tác động về những thay đổi trong việc nhìn nhận vai trò của nông dân trong sản xuất lúa từ phía đối tác, chính quyền và các bên liên quan; những tác động trong xây dựng và thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống giống lúa nông hộ của địa phương từ cấp cở sở đến cấp tỉnh
4) Đánh giá hiệu quả và tính bền vững hệ thống giống lúa của nông dân được thiết lập thông qua các lớp FFS và Trung tâm học tập cộng đồng cũng như sự tham gia của các hộ dân trong vùng dự án, đặc biệt vai trò của người phụ nữ
5) Đưa ra các khuyến nghị đối với những định hướng tương lai cho hệ thống sản xuất giống lúa thuần tại Bắc Kạn Đặc biệt những khuyến nghị về những chiến lược, các chính sách và hoạt động hỗ trợ cho các bên liên quan cho hệ thống giống lúa của nông dân trong tương lai để duy trì và nhân rộng các kết quả của
dự án Đồng thời đưa ra khuyến nghị để SRD có thể cải thiện phương pháp tiếp cận cũng như những hỗ trợ can thiệp phù hợp hơn với người dân, đặc biệt những người nông dân nghèo, thiệt thòi khi áp dụng ở vùng dự án khác
3 Phương pháp đánh gía
3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp phục vụ cho đợt đánh giá đã được thu thập gồm các báo cáo liên quan đến dự án của SRD, Chi cục BVTV tỉnh Bắc Kạn, báo cáo phát triển kinh tế xã hội của các huyện, xã trong vùng dự án; các công văn nghị quyết liên quan của HĐND và UBND tỉnh, các tài liệu, tờ rơi, tờ treo, sổ sách ghi chép của các lớp FFS (xem phần tài liệu tham khảo)
3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Nhóm đánh giá đã xây dựng định hướng tham vấn và tổ chức đi thực địa, quan sát cánh đồng lúa vùng dự án, phỏng vấn trực tiếp một số hộ nông dân, thảo luận với nông dân các nhóm FFS, nhóm sản xuất giống, phỏng vấn cán bộ tỉnh, huyện, xã
3.3 Tổ chức hội thảo tham vấn, phản hồi, lấy ý kiến chung
Nhóm đánh giá phối hợp với Chi cục Trồng trọt và BVTV tỉnh tổ chức Hội thảo tham vấn, lấy ý kiến phản hồi các nhận định của đoàn đánh giá Thành phần hội thảo gồm lánh đạo Sở NN&PTNT, các ban ngành liên quan của tỉnh, huyện, xã, nhóm nông dân tham gia dự án (danh sách người tham gia hội thảo xem phục lục 3)
3.4 Địa điểm, thời gian đánh giá (Xem Phụ lục 1)
Trang 5Địa điểm: Thị xã Bắc Kạn (xã Huyền Tụng và Xuất hóa), huyện Chợ Mới (xã
Nông Hạ) và huyện Bạch Thông (xã Tú Trĩ)
Thời gian: từ 23/5 đến 10/6/2011
Trang 6Phần B:
CÁC PHÁT HIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ
1 Kết quả đạt được của dự án
Trải qua 3 năm thực hiện (2008-2011), Dự án “Củng cố và phát triển hệ thống
giống lúa của nông dân” đã thu được nhiều kết quả Tại vùng dự án:
- Năng xuất lúa tăng 20-30% và tăng thu nhập 15-25% qua đó nâng cao đời sống nhân dân, trong đó có 38 % là nông dân nghèo
- Môi trường địa phương được cải thiện rõ rệt bằng chứng là nông dân đã áp dụng
hệ thống canh tác lúa cải tiến, thuốc BVTV sử dụng giảm trên 50% (từ 4 lần phun xuống chỉ còn 1-2 lần phun/vụ)
- Trên 1.200 nông dân trong 40 lớp FFS (trong đó có 77% phụ nữ, 38 % hộ nghèo) được nâng cao kiến thức về PGR qua 40 lớp FFS; 7.300 lượt người tham gia tại
126 hội thảo đầu bờ; 192 người trong và ngoài tỉnh tham gia hội chợ lúa gạo với đời sống và sinh kế cộng đồng; 80 người tham gia tại 2 cuộc chia sẻ kinh nghiệm
về PGR; 60 người tham gia tại 3 chuyến xây dựng mạng lưới hạt giống; 175 lượt người tham gia trong 5 khoá nâng cao kiến thức về PGR; hơn 120 người tại 3 hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về PGR Với số lượng lớn nông dân như trên được cung cấp kiến thức và nâng cao năng lực về kỹ năng bảo tồn nguồn gen, chọn lọc, so sánh, phục tráng, kỹ thuật sản xuất lúa, và kỹ năng làm việc theo nhóm sẽ tác động lớn làm thay đổi nhận thức về vai trò của người dân trong phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững
- Tổ chức 2 khoá tập huấn về lập kế hoạch và kỹ năng kinh doanh cho 65 người; 3 khoá nâng cao kỹ năng quản lý cho 120 nông dân nòng cốt và kỹ thuật viên; tổ chức 1 chuyến thăm quan học tập kinh nghiệm ở Campuchia cho 13 cán bộ và nông dân; 1 chuyến thăm quan học tập ở Điện Biên cho 30 cán bộ và nông dân;
tổ chức 33 cuộc kiểm tra chéo và chia sẻ kinh nghiệm với 165 người tham gia;
175 cuộc kiểm tra, giám sát được thực hiện bởi 398 người tham gia Thông qua các hoạt động này đã nâng cao năng lực cho một lực lượng lớn cán bộ và nông dân, giúp cho việc tạo nguồn nhân lực có kinh nghiệm phục vụ cho mạng lưới khuyến nông và phát triển nông thôn của tỉnh
- Đã tổ chức được 40 lớp FFS về giống lúa, qua đó hình thành 40 câu lạc bộ PGR,
2 nhóm nòng cốt tại Trung tâm học tập cộng đồng được hình thành với tổng số ?
hộ và một nhóm nông dân sản xuất giống lúa được thành lập với 18 hộ tham gia (sản xuất trên 2 ha được 14,8 tấn giống bán cho công ty giống, thu nhập tăng 30-
40 %) Đây là cơ sở hình thành các tập thể tự nguyện của nông dân, tạo điều kiện tiến tới thành lập hợp tác xã hay công ty cổ phần kiểu mới, qua đó người dân có
cơ hội hợp tác với nhau để nâng cao sức cạnh tranh của nông dân trong thời kỳ hội nhập
- Có tới 178 nghiên cứu đồng ruộng; 244 lượt giống được so sánh khảo nghiệm;
45 lượt giống lúa được phục tráng; 43 lượt giống được nhân giống cung cấp cho
Trang 7các lớp học và 2 giống lúa do nông dân chọn lọc đã được Sở NN&PNT công nhận và đưa vào cơ cầu giống lúa của tỉnh;; 55 tấn thóc được sản xuất và trên 18 tấn giống lúa được trao đổi Kết quả này cho thấy năng lực nghiên cứu của người dân được tăng lên và nguồn giống lúa địa phương đã được người dân quan tâm
và bảo tồn và phát triển
- Dự án đã đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền như đưa tin trong 16 số báo địa phương, làm 9 VCD và phát sóng 20 lần trên truyền hình địa phương, in ấn 1.500 tài liệu kỹ thuật chọn lọc và sản xuất lúa giống nông hộ và 1.500 tờ tranh treo tường về kỹ thuật phục tráng giống lúa để cấp phát cho người dân Các hoạt động này đã góp phần quảng bá thành quả dự án, tuyên truyền nâng cao nhận thức và vận động ủng hộ hệ thống giông lúa nông hộ ở Bắc Kạn
(Xem Phụ lục 2: Bảng so sánh các chỉ tiêu đo lường giữa kế hoạch và kết quả đạt được)
2 Phân tích, đánh giá và các tác động của dự án
2.1 Về thiết kế dự án
Hầu hết các ý kiến đề xuất trong báo cáo đánh giá giai đoạn 1 của dự án đã được
đưa vào trong các hoạt động của dự án
Dự án “Củng cố và phát triển hệ thống giống lúa nông dân tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008-2011” được kế thừa và tiếp tục của Dự án “Nâng cao năng lực cho các nhóm nông dân nhằm phát triển bền vững các giống lúa cộng đồng” giai đoạn 2005-2007 Khi
dự án kết thúc, căn cứ vào kết quả đạt được của dự án, nhóm đánh giá dự án đã đưa ra khuyến nghị: (1) Hỗ trợ một số nhóm nông dân trong sản xuất giống lúa; (2) Củng cố và
mở rộng hệ thống sản xuất giống của nông dân; và (3) Hỗ trợ và xúc tiến việc cấp chứng nhận giống lúa của nông dân Các khuyến nghị trên đã được nhóm thiết kế đưa vào các hoạt động chính của dự án Điều đó chứng tỏ tính kế thừa và bền vững của các hoạt động trên
Dự án đã xây dựng các mục tiêu, các kết quả mong đợi và các hoạt động trên cơ sở
có sự tham gia của người dân và các tổ chức địa phương
Quá trình xây dựng và thiết kế dự án đã được thực hiện theo cách tiếp cận từ dưới lên “bottom-up” do đó đã thúc đẩy được sự tham gia đóng góp của người dân, các
tổ chức cộng đồng và của đối tác về để đảm bảo mục tiêu và các hoạt động của dự án phù hợp và bền vững
Mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong thời kỳ hội nhập của đất nước
Xây dựng, phát triẻn Nông nghiêp, Nông dân và Nông thôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tới một nông thôn đổi mới, một nền nông nghiệp phát triển bền vững và những người nông dân có khả năng làm chủ trong xây dựng xã hội và phát triển kinh tế Các hoạt động của dự án đã hướng tới mục tiêu đó Đồng thời, trong tiến trình hội nhập quốc tế nhất là khi Việt Nam là thành viên WTO, Nhà nước sẽ cắt giảm dần các nguồn hỗ trợ trực tiếp cho nông dân (chính sách trợ giá, trợ cước cho lúa giống)
Trang 8sẽ không còn, dự án sẽ giúp người nông dân chủ động được khâu sản xuất giống họ sẽ chủ động và tăng năng lực cạnh tranh.
2.2Đánh giá mục tiêu, kết quả, mức độ thành công và hạn chế của dự án trong việc nâng cao năng lực nông dân về bảo tồn, sử dụng, và phát triển sản suất giống lúa địa phương
Các kết quả và thành công
Trên cơ sở thông tin có được qua nghiên cứu thông tin thứ cấp, quan sát thực địa, phỏng vấn và thảo luận với người dân và tham vấn các cấp chính quyền và các bên đối tác, nhóm đánh giá có nhận định rằng với sự cố gắng nỗ lực của SRD và Chi cục BVTV
Bắc Kạn, cộng với sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân tham gia, Dự án “Củng cố và
phát triển hệ thống giống lúa của nông dân” đã đạt được mục tiêu và kết quả mong đợi
Đó là song song với hệ thống giống lúa Nhà nước, hệ thống giống lúa của nông dân bước đầu được hình thành và phát triển tại Bắc Kạn Có tới trên 1.200 nông dân đã
được nâng cao năng lực về PGR tại 40 lớp học FFS Họ đã được trang bị kiến thức về bảo tồn nguồn gen, so sánh chọn lọc, phục tráng, và kỹ thuật thâm canh lúa nói chung (SRI) và sản xuất giống lúa nói riêng Từ đó năng lực của nông dân được nâng cao, họ
đã không chỉ tự sản xuất giống lúa cho họ mà còn chủ động cung cấp giống lúa tốt cho cộng đồng Điều này được thể hiện ở chỗ trên 90 % các hộ tham gia dự án đã sử dụng giống lúa thuần mà chính họ chọn lọc và sản xuất ra Đồng thời xu thế tự sản xuất, trao đổi giống (có tỉ lệ chênh lệch – trước đây chưa bao giờ có tiền lệ này), và cao hơn nữa
là sản xuất kinh doanh giống đang được hình thành trong cộng đồng nông thôn trải rộng trên khắp 8 huyện của tỉnh Bắc Kạn
Phát triển hệ thống giống lúa của nông dân là cách tiếp cận theo hướng nông nghiệp bền vững Các mục tiêu và các hoạt động của dự án là phù hợp với chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn, và nông dân (“tam nông”) và công nghiệp hóa nông thôn của chính phủ Việt Nam Đó là một khi có hệ thống giống nông hộ, người dân có thể chủ động giống lúa phù hợp với đặc điểm đất đai và tiểu khí hậu của địa phương mình, giảm thiểu rủi ro, trình độ canh tác lúa của người dân được nâng lên sẽ sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên sẵn có của họ, bảo vệ môi trường sinh thái ủng hộ cho nền nông nghiệp phát triển bền vững; đó là một xã hội nông thôn phát triển với quan hệ xã hội vững chắc trên cơ sở tăng cường sự tham gia của người dân, các nhóm cộng đồng được củng cố, bình đẳng giới được phát huy; đó là đời sống nông dân được cải thiện, năng lực của nông dân được nâng lên, và qua đó tác động làm thay đổi nhận thức của các cấp chính quyền về vai trò của nông dân có thể tham gia sâu hơn không chỉ trong sản xuất mà cả nghiên cứu khoa học cũng như ra quyết định sản xuất và quản lý xã hội nông thôn
Hệ thống giống lúa nông hộ sẽ thúc đẩy tiến trình “công nghiệp hóa nông thôn”
và “liên kết 4 Nhà” ở một tỉnh miền núi Nhóm nông dân được các nhà khoa học chuyển giao công nghệ chọn lọc, phục tráng và nhân giống lúa Họ tiếp thu được phương pháp thâm canh lúa cải tiến (SRI) và sản phẩm của họ làm ra đã được các nhà kinh doanh giống tìm đến để tiêu thụ Đồng thời tỉnh có chính sách khuyến khích trao đổi giống với tỉ lệ chênh lệch 1 giống =1,5 thóc thịt Đó chính là sự gắn kết 4 nhà: Nhà
Trang 9nông – Nhà Khoa học - Nhà kinh doanh – Nhà quản lý Mức độ, qui mô của các liên kết này mặc dù chưa nhiều, nhưng mô hình do dự án xây dựng đã phản ánh được cách làm
mà Nhà nước đang rất quan tâm, bởi lẽ nó yêu cầu người dân chuyển đổi từ sản xuất ‘tự cung tự cấp’ sang sản xuất theo hướng công nghiệp và hàng hóa, tăng cường làm việc tập thể và sản xuất quy mô lớn, tạo điều kiện cho sự liên kết chặt chẽ giữa nông dân, doanh nghiệp, khoa học và quản lý
Dự án đã xây dựng cách tiếp cận thông qua các nhóm nông hộ Đây là một phương thức tiếp cận hiệu quả không chỉ về mặt kinh tế hay kỹ thuật đơn thuần mà chính là thông qua cách tiếp cận này đã giúp cho các cộng đồng hình thành nên tổ chức của nông dân, tạo nên sự gắn kết và thúc đẩy sự tham gia của nhiều người trong một tổ chức Các nhóm nông hộ này, dù tham gia trong hoạt động nào: Nhóm TTHTCĐ, nhóm sản xuất giống hay nhóm FFS, họ đều có trách nhiệm tham gia vào hoạt động tập thể, trở thành động lực thúc đẩy cho cả cộng đồng Sự gắn kết các thành viên trong nhóm tạo cho họ cơ hội chia sẻ, cộng đồng cùng tham gia và cùng chịu trách nhiệm về tổ chức của họ Đây chính là tiền thân của các câu lạc bộ, của Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới của hình thức hợp tác trong sản xuất mà Đảng và Nhà nước đang khuyến khích xây dựng
Các hoạt động của dự án đã thu hút được sự tham gia tích cực của đối tác, được người dân và các cấp chính quyền ủng hộ Năng lực của người dân, của các tổ chức cộng đồng và của cán bộ tham gia dự án ở địa phương được nâng lên rõ rệt Với sự trợ giúp của dự án 40 lớp FFS đã hình thành 40 câu lạc bộ PGR, trong đó có 2 nhóm nằm trong 2 trung tâm học tập cộng đồng, và một nhóm nông dân sản xuất giống lúa (Huyền Tụng) được thiết lập đã hình thành một mạng lưới rộng lớn và đủ mạnh về PGR, làm cơ
sở cho việc vận động chính sách cho hệ thống giống lúa nông dân
Dự án đã thực hiện thành công chiến lược và tiến trình có sự tham gia của người dân, các tổ chức cộng đồng vào các hoạt động của dự án Đặc biệt là dự án đã sử dụng cách tiếp cận cây lúa để thu hút sự tham gia và nâng cao nhận thức cho người nghèo và phụ nữ Những người nông dân tham gia trong các nhóm dự án thường xuyên cùng học hỏi, cùng chia sẻ với nhau về các kiến thức, kinh nghiệm trong sản xuất và đời sống, họ hiểu nhau hơn và gắn bó với nhau hơn Các kết quả mà họ tạo ra là các giống lúa có độ thuần cao, có năng xuất và chất lượng tốt, họ không chỉ trao đổi ở trong nhóm mà còn trao đổi với moi thành viên khác trong cộng đồng, thậm chi không tính đến chênh lệch giữa thóc thịt và thóc giống, hành động này của họ đã tăng thêm sự gắn kết tình làng nghĩa xóm, sự chia sẻ và đùm bọc trong cộng đồng
Kết quả của dự án là cơ sở để các cấp lãnh đạo chính quyền địa phương đưa ra các quyết định, các chủ trương, chính sách phát triển sản xuất Dự án không chỉ làm thay đổi nhận thức, tư duy về sản xuất cây lúa của người tham gia trực tiếp mà còn có tác động tới phần lớn các nông dân khác ở trong vùng, góp phần vào giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho người dân Người dân nắm bắt được qui trình phục tráng, so sánh giống và chọn lựa giống lúa thích hợp với điều kiện tự nhiên và trình độ thâm canh, chủ động trong việc sản xuất giống lúa, không còn bị phụ thuộc vào bên ngoài, giảm được chi phí, tăng thu nhập cho gia đình và cộng đồng Các kết quả của dự án về sản xuất giống lúa tại chỗ và áp dụng các biện pháp thâm canh là cơ sở để giúp cho lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương đưa ra các quyết định, các chủ trương và chính
Trang 10sách phát triển cây lúa nói riêng, phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói chung trên địa bàn.
Dự án có tính bền vững cao vì các hoạt động của dự án được xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của người dân, từ mong muốn của cộng đồng và từ chủ trương phát triển nông nghiệp, nông thôn của các cấp chính quyền địa phương
Dự án đã tạo nên môi trường sản xuất lành mạnh, tạo sự chia sẻ, gắn kết trong cộng đồng Sản xuất theo phương thức SRI chính là tạo ra môi trường phù hợp cho cây lúa, giữ cho đất được mầu mỡ, tiết kiệm nước và đặc biệt là giảm hẳn sự độc hại của thuốc BVTV và thuốc trừ cỏ Đó chính là môi trường lành mạnh trong sản xuất, không chỉ là môi trường cho cây lúa mà còn là môi trường sống cho con người
Hầu hết các tiêu chí đặt ra đều đạt hoặc vượt Các hoạt động của dự án đã đảm bảo tiến độ về thời gian và ngân sách hoạt động
Công tác tuyên truyền vận động chính sách chưa được quan tâm thỏa đáng, do đó các cấp chính quyền từ xã, đến huyện và tỉnh chưa biết nhiều về dự án, kết quả là giảm tác động đến việc thay đổi nhận thức trong họ về vai trò của nông dân trong việc hình thành mạng lưới giống nông hộ
Sự kết nối, hợp tác tham gia dự án giữa các đối tác địa phương như các các đơn
vị của Sở NN&PTNT và các phòng chức năng của huyện chưa được quan tâm chặt chẽ,
đã tạo nên sự lỏng lẻo trong cơ chế điều hành dự án và phối hợp lồng ghép nguồn lực cũng như tiếng nói chung để ủng hộ cho hệ thống giống lúa nông hộ
2.3 Đánh giá về thay đổi nhận thức về tập quán canh tác liên quan đến bình đẳng giới, phát triển sinh kế trong sản suất lúa của cộng đồng nông dân nghèo, nữ
Người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của việc lựa chọn, phục tráng và
nhân giống các giống lúa phù hợp với điều kiện của họ
Những năm trước khi có dự án, một bộ phận nông dân được chính phủ hỗ trợ tiền mua thóc giống (lúa lai Trung Quốc), diện tích gieo trồng lúa lai chiếm trên 40%
Do điều kiện đồng ruộng của Bắc Kạn hầu hết là khe, thung lũng ven đồi bị cớm nắng, trình độ thâm canh hạn chế, điều kiện để đầu tư có hạn nên không khai thác được tiềm năng của lúa lai, năng xuất bình quân chung cả tỉnh chỉ đạt 45 tạ/ha Các giống lúa địa phương chiếm tỷ lệ cao hơn nhưng do tập quán tự để giống của người dân, không chọn lọc, thay đổi hàng năm nên hầu hết các giống đều ở tình trạng thoái hóa, kém phẩm chất