1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CÓ SỰ THAM GIA Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính sách đất đai ở địa phương

50 306 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 755,9 KB
File đính kèm baocaosrddatdai.rar (717 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Xem xét những thuận lợi, khó khăn của chính quyền địa phương và người dân trong việc triển khai pháp luật và chính sách đất đai, chấp hành các nội dung pháp luật và chính sách đất đai trong thực tiễn đời sống sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. • Xác định những bất cập của các chính sách này, tác động của nó đến đời sống và sản xuất của người dân. • Xác định các cơ hội cũng như điều kiện để người dân có thể tham gia một cách chủ động hơn vào quá trình sử dụng và quản lý đất đai, nhằm đưa ra các kiến nghị cho dự án, chính quyền địa phương giảm bớt được bất cập trong việc thực thi chính sách.

Trang 1

Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính

sách đất đai ở địa phương

Trang 2

3 Đỗ Thị Hà An Cán bộ dự án - Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững

4 Dương Anh Tú Viện CS&CL Phát triển NNNT

5 Trần Văn Lợi Cán bộ dự án – Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững

7 Nguyễn Thị Loan Dự án Plum, Phú thọ

8 Nguyễn Hồng Văn Dự án Plum, Phú thọ

Chữ viết tắt trong báo cáo.

SRD Trung tâm phát triển nông thôn bền vững

Một số từ khóa trong báo cáo

1 Huyện Phù Ninh, Tỉnh Phú Thọ

2 Các xã: Trạm Thản; Bảo Thanh và Vĩnh Phú, huyện Phù Ninh

3 Quản lí nhà nước về đất đai

4 Chính sách đất đai

Trang 3

Mục đích của nghiên cứu này là:

• Xem xét những thuận lợi, khó khăn của chính quyền địa phương và người dân trong việc triển khai pháp luật và chính sách đất đai, chấp hành các nội dung pháp luật và chính sách đất đai trong thực tiễn đời sống sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

• Xác định những bất cập của các chính sách này, tác động của nó đến đời sống và sản xuất của người dân

• Xác định các cơ hội cũng như điều kiện để người dân có thể tham gia một cách chủ động hơn vào quá trình sử dụng và quản lý đất đai, nhằm đưa ra các kiến nghị cho dự

án, chính quyền địa phương giảm bớt được bất cập trong việc thực thi chính sách

II Kết quả mong đợi:

• Phân tích nội dung văn bản (chính sách, quy phạm) hướng dẫn về việc quản lý và sử dụng đất tại địa phương và tính chất hợp và chưa phù hợp của các văn bản quy phạm này đối với chínhquyền địa phương khi triển khai các hướng dẫn này? Lí do tại sao?

• Nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn của người dân và chính quyền địa phương khi triển khai và thực thi các chính sách, hướng dẫn về quản lí và sử dụng đất và kế hoạch quy hoạch sử dụng đất

• Nghiên cứu tác động của các chính sách, quy định, hướng dẫn đó đến hiệu quả của việc quản lý và sử dụng đất

• Đề xuất các khuyến nghị cho dự án và chính quyền địa phương để nâng cao hiệu quả tác động tích cực của các chính sách, quy định đó đối với đời sống và sản xuất của người dân địa phương

III Phương pháp nghiên cứu

3.1 Tổ chức thảo luận, phỏng vấn cán bộ, người dân

a) Phỏng vấn/hội thảo nhóm:

Để bảo đảm nguyên tắc nghiên cứu có sự tham gia, Nhóm nghiên cứu đã tổ chức các buổi thảo luận, tham vấn từ dưới lên trên, cụ thể:

Trang 4

o Xác định các khó khăn trong quản lí đất đai ở các thôn/khu.

o Những tác động của quản lí đất đai đến sản xuất và đời sống

o Các biện pháp tháo gỡ và những kiến nghị của người dân trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở địa phương và cải tiến công tác quản lí đất đai

- Tại mỗi xã, sau khi đã thảo luận với 2 khu, Nhóm nghiên cứu dành một buổi thảo luận với chính quyền (đại diện UBND và HĐND) và các ban ngành ở xã như nông nghiệp, Hội nông dân về các nội dung:

o Thực trạng công tác QLNN về đất đai ở xã, những thuận lợi khó khăn

o Những vấn đề của người dân xung quanh vấn đề quản lí đất đai ở địa phương

o Nhưng giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí đất đai ở xã

b) Phỏng vấn hộ nông dân

Ngoài những hội thảo/PRA với đại diện người dân, Chính quyền và các Đoàn thể ở địa phương, Nhóm nghiên cứu còn tổ chức cuộc điều tra ở 114 hộ nông dân ở 3 xã, trung bình gần

40 hộ/xã, theo bảng hỏi bán cấu trúc (xem phụ lục 1)

Mục đích của cuộc điều tra này là tìm hiểu hiện trạng quản lí đất đai và vấn đề thực hiện quyền đất đai ở các hộ nông dân, những thuận lợi và khó khăn của nông hộ và tác động của quản lí nhà nước về đất đai đến tình hình quản lí sử dụng đất đai ở hộ nông dân Điều tra cũng đề cập đến những ý kiến đánh giá của người dân về công tác quản lí đất đai ở địa phương.Qua đó thấy được những vấn đề nảy sinh và yêu cầu cải cách công tác quản lí đất đai ở địa phương.Việc lựa chọn các hộ để phỏng vấn được thực hiện theo nguyên tắc chọn hộ ngẫu nhiên ở mỗi khu/xóm dưa trên danh sách do địa phương cung cấp Con số hộ điều tra trung bình 40 hộ/xã bảo đảm cho việc tính toán các chỉ số trung bình khá chính xác

c) Hội thảo lấy ý kiến ở cấp huyện

Ngoài ra, kết thúc đợt khảo sát ở các xã, Nhóm nghiên cứu đã tổ chức một hội thảo tham vấn ở huyện Mục đích của hội thảo nhằm lấy ý kiến phản hồi của các ban ngành ở huyện xung quanh các phát hiện của Nhóm nghiên cứu Hội thảo do UNND huyện đứng ra chủ trì với sự tham gia của đại diện Phòng Tài nguyên, Phòng Nông nghiệp, Trạm khuyến nông huyện, đại

Trang 5

diện các xã Trạm Thản, Bảo Thanh và Vĩnh Phú và một số nông dân ở các xã này Hội thảo còn

có sự tham gia của Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Liên hiệp hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh

Lịch trình khảo sát ở các địa phương được thể hiện phụ lục 2

3.2 Chọn xã để khảo sát

Huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ có tổng cộng 19 xã, phường Tuy nhiên do thời gian và nguồn lực Nhóm nghiên cứu đã chỉ chọn 3 xã để khảo sát, đây là các xã nằm trong địa bàn tác động của dự án PLUM và đại diện cho 3 vùng sinh thái đặc trưng của huyện Phù Ninh là:

1) Xã Trạm Thản, gò đồi, phát triển lâm nghiệp2) Xã Bảo Thanh, đại diện cho vùng giữa của huyện, độc canh cây lúa

3) Xã Vĩnh Phú, đại diện cho vùng ven sông, phát triển sản xuất lúa và màuĐặc điểm chung của các xã được thể hiện ở Phụ luc 3

Trang 6

Phần B Kết quả nghiên cứu

I Quản lí đất đai và Quản lí nhà nước về đất đai ở địa phương

Quản lí đất đai là khái niệm rộng và được định nghĩa tùy thuộc vào đối tượng là chủ thể quản lí như Nhà nước, Cộng đồng hay cá nhân hộ nông dân, tùy thuộc vào quan điểm về chức năng của đối tượng quản lí là đất đai Nhìn chung đất đai có những chức năng cơ bản như:

• Là tư liệu sản xuất: Tham gia quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội

• Là tài nguyên, nhưng là tài nguyên có hạn và không tái tạo Tài nguyên đất, giống như nước, khi đã sử dựng vào mục đích này thì mục đích kia sẽ không thực hiện được

• Là tài sản: Đất đai có thể là bất động sản có giá trị, tham gia vào thị trường vốn

• Là không gian sinh tồn: Ai cũng phải sống trên đất Các sinh vật trong đó có loài người tạo dựng cho mình không gian sống xung quanh phù hợp và hài hòa với việc xây dựng nhà cửa, CSHT, cây xanh…

Như vậy quản lí đất đai, đồng nghĩa với việc quản lí một tư liệu sản xuất, một tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, một tài sản hay một không gian sống (của cá nhân, cộng đồng hay quốc gia)… Tùy theo hoàn cảnh hay ý thức hệ, đất đai có thể cùng lúc đảm nhận tất cả hay chỉ một vài các chức năng trên đây Nhiệm vụ của quản lí đất đai không chỉ là duy trì về mặt số lượng

mà còn bảo đảm tốt hơn về mặt chất lượng của đối tượng quản lí là đất đai Ở khía cạnh chất lượng, tùy thuộc vào chức năng của đất đai mà yêu cầu bảo đảm chất lượng cũng khác nhau

và vì thế mục tiêu quản lí cũng khác nhau Nếu xem đất đai như tư liệu sản xuất thì chất lượng của đất đai đòi hỏi phải hợp với mục đích canh tác Còn khi đất đai với tư cách là tài nguyên, không gian sinh tồn, cần phải đấu tranh chống mọi sự hủy hoại, gây ô nhiễm cho đối tượng này

Mục tiêu và nhiệm vụ của quản lí nhà nước về đất đai là nhằm bảo đảm phát huy hiệu quả sử dụng nguồn lực đất đai Quản lý nhà nước về đất đai là nhu cầu khách quan, là công cụ bảo vệ

và điều tiết các lợi ích gắn liền với đất đai, và quan trọng nhất là bảo vệ chế độ sở hữu về đất đai

Trang 7

4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;

6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất;

7 Thống kê, kiểm kê đất đai;

8 Quản lý tài chính về đất đai;

9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;

10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;

11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi

phạm pháp luật về đất đai;

12 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản

lý và sử dụng đất đai;

13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Tuy nhiên ở cấp xã, với tư cách là cấp quản lí nhà nước thấp nhất, vai trò và nhiệm vụ QLSDĐĐ chỉ liên quan chủ yếu đến 8/13 nội dung sau đây:

1 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

2 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;

3 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất;

4 Thống kê, kiểm kê đất đai;

Trang 8

5 Quản lý tài chính về đất đai;

6 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;

7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi

phạm pháp luật về đất đai;

8 Tham gia giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong

việc quản lý và sử dụng đất đai;

UBND xã là cấp hành chính cuối cùng của cấp quản lí nhà nước thực thi vai trò QLNN nói chung và QLNN về đất đai nói riêng ở địa phương Việc hoàn tất các nhiệm vụ của cơ quan quản lí nhà nước là đương nhiên đối với cấp xã Tuy nhiên, cấp xã cũng là cấp đại diện cho các cộng đồng dân cư nông thôn cụ thể Vì thế việc chuyển tải nguyện vọng và tiếng nói của cộng đồng lên các cấp quản lí ở trên là yêu cầu quan trọng đối với nhiệm vụ QLNN về đất đai của cấp này Việc xem xét đến yêu cầu, khả năng và điều kiện cho phép cấp xã thực hiện tính đại diện của cộng đồng trong hệ thống QLNN về đất đai là rất cần thiết

II Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Phù ninh và các xã khảo sát

II.1 Hiện trạng sử dụng đất đai ở huyện Phù Ninh

a) Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Phù Ninh

Diện tích tự nhiên của huyện Phù hiện nay là 15,648 ha Tính đến hết năm 2010, diện tích đất nông nghiệp của Huyện là 7794 ha, bằng 46,6% diện tích tự nhiên Là tỉnh trung du nhưng diện tích đất lâm nghiệp chỉ là là 3271 ha, bằng 19,5% diện tích tự nhiên Diện tích nuôi trồng thủy sản hầu như không đáng kể, cả huyện có chưa đầy 287 ha, bằng 1,72% tổng diện tích tự nhiên

Bảng 1: Hiện trạng và biến động đất đai trong vòng 10 năm qua ở huyện Phù Ninh

Tăng (+) giảm (-) so với năm 2000 Diện tích

(ha)

Cơ cấu (%) Diện tích

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Tăng giảm (%) DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN 16,719.27 100.00 15,648.01 93.59 -1,071.26 -6.41

1 ĐẤT NÔNG NGHIỆP 12,091.11 72.32 11,355.55 67.92 -735.56 -6.08 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 8,373.68 50.08 7794.05 46.62 -579.63 -6.92

1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 5542.39 33.15 4754.32 28.44 -788.07 -14.221.1.1.1 Đất trồng lúa 3794.13 22.69 3165.87 18.94 -628.26 -16.561.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm còn 1748.26 10.46 1588.45 9.5 -159.81 -9.14

Trang 9

1.2 Đất lâm nghiệp 3588.02 21.46 3270.96 19.56 -317.06 -8.84

1.2.1 Đất rừng sản xuất 3461.99 20.71 3170.02 18.96 -291.97 -8.431.2.1.2 Đất có rừng trồng sản xuất 3114.43 18.63 3147.52 18.83 33.09 1.061.2.1.4 Đất trồng rừng sản xuất 347.56 2.08 22.5 0.13 -325.06 -93.531.2.2 Đất rừng phòng hộ 126.03 0.75 76.9 0.46 -49.13 -38.981.2.2.1 Đất có rừng tự nhiên phòng hộ 26.03 0.16 25.9 0.15 -0.13 -0.501.2.2.2 Đất có rừng trồng phòng hộ 0 0 51 0.31 51.00

3 ĐẤT CHƯA SỬ DỤNG 1053 6.3 552.67 3.31 -500.33 -47.51 3.1 Đất bằng chưa sử dụng 188.62 1.13 105.35 0.63 -83.27 -44.15 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 855.38 5.12 447.32 2.68 -408.06 -47.71 3.3 Núi đá không có rừng cây 9 0.05 0 0 -9.00 -100.00

Về đất phi nông nghiệp, cả huyện năm 2010 có 3740 ha, chiếm khoảng 22,4% Trong đó quá nửa, 12,9% là đất chuyên dùng (hạ tầng về đường xá, cầu cống, đất xây dựng công cộng…) Đất ở bao gồm cả đất ở đô thị và đất ở nông thôn chiếm tỷ lệ khá nhỏ chưa đầy 4% tổng diện tích tự nhiên, mặc dù đây là huyện nông thôn vùng trung du Quỹ đất chưa sử dụng cũng không còn nhiều, khoảng trên 500 ha và chủ yếu là đất đồi trọc, rất khó có thể khai thác đưa vào sử dụng

b) Những biến động về đất đai trong vòng 10 năm qua ở Phù Ninh.

Trên biểu đồ so sánh biến động đất đai sau 10 năm ở huyện Phù Ninh cho thấy: nhóm đất canh tác nông nghiệp và lâm nghiệp có xu thế giảm Sau gần 10 năm, diện tích đất nông nghiệp của toàn huyện đã giảm từ 8373 ha năm 2000 xuống còn 7794 ha, giảm trên 579 ha Đất lâm nghiệp cũng giảm từ 3588 ha xuống còn 3270 ha, giảm 317 ha

Trang 10

Đồ thị 1: So sánh diện tích các loại đất ở Phù Ninh thời kỳ 2000 và 2010.

Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện

Đồ thị 2: So sánh diện tích đất lúa ở Phù Ninh thời kỳ 2000 và 2010.

Trang 11

Trong vòng 10 năm qua, thống kê đất đai cho thấy diện tích cây lâu năm Huyện Phù Ninh có xu thế tăng lên (đạt trên 3000 ha, tăng 208 ha, mỗi năm trung bình tăng khoảng 20 ha trong vòng

10 năm) Cây trồng lâu năm ở đây chủ yếu là chè và cây ăn quả Huyện Phù Ninh đã quy hoach một số xã ở phía bắc huyện để phát triển chè và cây ăn quả Tuy nhiên, các cây ăn quả

ở đây chưa có cây gì đặc biệt và tạo ra được vùng sản xuất hàng hóa lớn Đối với cây chè hiện đang được thử nghiệm thay giống và thâm canh, nhưng quy mô chưa lớn Đa phần chè ở Phù Ninh vẫn sử dụng giống chè Trung du, năng suất thấp Diện tích cây lâu năm tăng chủ yếu có nguyên nhân từ việc chuyển đổi một số diện tích rừng sản xuất sang trồng chè và cây ăn quả ở các xã phía bắc của huyện

Trong vòng 10 năm, đất phi nông nghiệp của huyện Phù Ninh tăng xấp xỉ 164,0 ha Sự mở rộng đất phi nông nghiệp chủ yếu là dùng vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, công trình công cộng (cả huyện tăng 233 ha) Khi mở rộng đất xây dựng cơ sở hạ tầng này một số diện tích đất sông suối, đồi núi chưa sử dụng đã giảm xuống gần 500,0 ha Điều này có lợi là đất đai như vậy đã được tận dụng triệt để hơn để phục vụ mục đích phát triển của con người nhưng nó cũng có sự bất lợi là nhiều sông suối, dòng chảy vì thế mà bị san lấp, sa bồi, cảnh quan bị phá vỡ ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân

Trang 12

II.2 Diện tích các loại đất do hộ quản lí.

Bảng dưới đây là diện tích trung bình các loại đât mà một hộ ở các xã nghiên cứu đang quản lí

Bảng 2: Diện tích trung bình các loại đất do hộ đang quản lí (Đơn vị tính m2)

Đối với đất khu dân cư: Có thể thấy, diện tích đất ở trung bình của các hộ hiện nay đều không

vượt mức luật đất đai cho phép, trung bình chỉ có 335 m2 trong khi định mức quy định của Chính phủ đối với đất ở nông thôn là 400 m2/hộ, nhưng bên cạnh đó các hộ lại còn diện tích đất vườn liên kề trong khu dân cư khá lớn nhất là ở 2 xã Bảo Thanh và Trạm Thản

Đối với người dân, đất vườn liền kề đất ở do ông cha để lại họ quan niệm như đất thổ cư Tuy nhiên trong luật đất đâi quy định, nếu diện tích đất ở và vườn vượt con số 400 m2 thì phần dư

ra phải được coi đó là đất canh tác

Đối với đất canh tác lúa: Trong 3 xã điều tra, Bảo Thanh là xã có bình quân diện tích đất lúa/hộ

cao hơn các xã khác lên đến xấp xỉ 1500 m2/hộ, tiếp theo là Trạm Thản 1317 m2 và ít nhất là Vĩnh Phú 1060 m2 Với diện tích bình quân khá thấp này, việc canh tác lúa cơ bản chi đáp ứng nhu cầu lương thực của hộ mà khó có thể dư dật thóc để bán Phần đất nuôi trồng thủy sản nếu tính bình quân trên hộ thì mỗi hộ có chưa đầy 100m2 Phần đông các hộ ở cả 3 xã đều không có ao và mặt nước nuôi trồng thủy sản, nhưng cá biệt cũng có một số hộ có diện tích nuôi khá lớn lên đến hàng chục ha như ở Bảo Thanh và Vĩnh Phú Đây là những hộ đấu thầu các mặt nước hồ ao của tập thể để nuôi cá

Đối với đất lâm nghiệp: Diện tích bình quân trên hộ ở Trạm thản là cao nhất, với hơn 2000

m2/hộ Ở Trạm thản, rừng chủ yếu là rừng trồng bạch đàn Có một số diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang trồng cây ăn quả hay chè Bảo thanh và Vĩnh Phú là các xã có một diện tích nhỏ các đồi thấp trồng bạch đàn hoặc các cây khác như sắn,đậu nhưng diện tích không nhiều

Đất khác: Ngoài các đất trên, bình quân các hộ ở địa phương còn có từ 500 đến 700 m2 đất

khác (ở cả 3 xã), đó là các đất khai hoang trên đồi hoạc dưới ruộng chưa được cấp giấy chứng nhận, đất bãi bồi ven sông tận dụng để trồng cấy

II.3 Đặc điểm sử dụng của các loại đất chính

Đất canh tác lúa manh mún

Trang 13

Đất lúa: Là vùng trung du, miền núi địa hình đất đai thay đổi liên tục, tình hình phân bổ đất đai ở

Phù Ninh nói chung và các xã khảo sát nói riêng khá manh mún Mỗi xã, mỗi thôn đều có đất lúa nhưng diện tích không lớn, bình quân chỉ trên dưới 300m2/khẩu nhưng bao gồm nhiều loại: đất 2 lúa (phổ biến nhất), đất 1 vụ lúa, cũng có đất 1 vụ lúa + 1 vụ màu Các mảnh ruộng nhỏ lẻ phân tán nhưng rất khó để động viên các hộ “dồn điền đổi thửa” như cách làm ở các địa phương khác trong vùng ĐBSH nhằm tập trung đất, tăng quy mô sản xuất trên mỗi mảnh, thửa Theo kết quả đều tra của chúng tôi ở 3 xã là Trạm Thản, Bảo Thanh và Vĩnh Phú, bình quân mỗi hộ có trung bình 1255 m2 đất lúa chia làm 4 đến 5 mảnh, cá biệt có 8 hoặc 9 mảnh/hộ Như vậy trung bình mỗi mảnh ruộng ở đây chỉ khoảng 340 m2/mảnh đất lúa (xem bảng dưới).Trong 3 xã nghiên cứu, Trạm Thản là xã vùng cao, nhưng do ở đây đã thực hiện dồn điển đổi thửa 1 lần nên mức độ manh mún có thấp hơn, xấp xỉ 3 mảnh đất lúa /hộ Nhưng với 2 xã còn lại là Bảo Thanh và Vĩnh Phúc số mảnh/hộ trung bình vẫn là 5

Bảng 3: Manh mún đất trồng lúa ở các xã nghiên cứu

giao/hộ (m2)*

Bình quân số lượng mảnh/hộ

Diện tích trung bình/mảnh đất lúa (m2)

Đất lâm nghiệp: Trường hợp đất lâm nghiệp có khác hơn Không phải tất cả các hộ dân ở địa

phương đều có đất lâm nghiệp Nhưng phần lớn những hộ có đất lâm nghiệp chỉ có 1 mảnh, nhiều lắm là 2 hoặc 3 Nguyên nhân là vì trước đây khi chia đất lâm nghiệp, người ta đã không

áp dụng nguyên tắc bình quân “có gần, có xa, có xấu có tốt” như đất lúa

Suy thoái đất và tình trạng đất canh tác bị xô, bồi càng ngày càng nhiều

Năng suất thấp ở Phù Ninh chỉ bằng 94.7% trung bình toàn tỉnh (48,3 tạ/ha so với 51,0 tạ/ha)

và bằng 82,1% trung bình cả nước (48,3 tạ/ha so với 51,0 tạ/ha) có một phần là do chất lượng đất đai và điều kiện canh tác ở địa phương đang có biểu hiện suy thoái và khó khăn hơn

Các kết quả thảo luận ở các khu (thôn) cho thấy, có một phần diện tích đất canh tác bị xô bồi gây khó khăn cho canh tác Nguyên nhân đất canh tác bị xô bồi chủ yếu là do (theo kết quả thảo luận với người dân ở các khu):

- Tình trạng mưa lũ diễn ra ngày càng phức tạp, tập trung hơn

- Hệ thống thủy nông, thủy lợi và cơ sở hạ tầng nông nghiệp xuống cấp

Trang 14

Hộp 1: Điều kiện canh tác và đất đai thoái hóa theo phản ánh của người dân ở các xã nghiên cứu

Tại khu 1 xã Trạm Thản, người dân tham gia PRA đánh giá rằng diện tích đất xô bồi hằng năm tăng trung bình 2%-3%/năm Tại khu 6 xã Bảo Thanh, thông tin người dân cho biết: Cách đây đã hàng chục năm, kênh mương tưới, tiêu không được nạo vét, trong khi ruộng đất của khu này lại ở cuối mương, vì vậy ngập úng diên ra nhiều nhiều, diện tích ngập úng thường rơi vào diện tích vụ chiêm (5.1 ha) Về tưới, 100% diện tích của khu 6 chỉ có thể sử dụng nước trời Thời gian vừa qua do làm đường 32D nên hơn 1 ha đất 2 lúa của khu trở thành lòng chảo, không thoát nước nên bây giờ chỉ cấy được một vụ

Còn người dân ở xã Vĩnh Phú lãi cho biết: Tình trạng canh tác khó khăn do ruộng manh mún, tưới tiêu không đảm bảo, hệ thống mương bê tông không được cải tạo nên hễ mưa thì úng,

hễ nắng hạn Đa số những người được phỏng vấn đều cho rằng thủy lợi là quan trọng nhất,

dù có đầu tư giống tốt hơn, phân bón nhiều hơn mà tình trạng tưới tiêu như hiện nay thì không thể nào có thể nâng cao được nền bón thâm canh và năng suất lúa của địa phương lên được

Hiệu quả sử dụng đất và năng suất cây trồng thấp

Trong khi bình quân chung về năng suất lúa của cả nước là 58,8 tạ/ha, của tỉnh Phú thọ là 51,0 tạ/ha, thì năng suất lúa ở Phù Ninh trung bình mới chỉ đạt 48,3 tạ/ha (số liệu 2011, nguồn thống

kê các cấp ở Phú Thọ) Qua điều tra ở 3 xã vừa qua, tổng doanh thu1 bình quân trên 1 sào đất lúa/năm đạt cao nhất là ở Trạm Thản cũng chỉ là 4960 ngàn đồng/năm, Bảo thanh là 3277 ngàn còn Vĩnh Phúc thấp nhất là 2807 ngàn đồng (xem bảng 4)

Bảng 4: Tổng doanh thu và doanh thu trồng trọt của hộ ở 3 xã điều tra.

Trang 15

và 13% (xem đồ thị 4) Với doanh thu và tỷ lệ doanh thu của ngành trồng trọt trong tổng doanh

thu của hộ thấp sẽ không khuyến khích các hộ nông dân quản lí tốt diện tích đất mà họ

đang có

Hiệu quả sử dụng đất và năng suất cây trồng ở Phù Ninh nói chung và các xã khảo sát nói riêng chưa cao Điều này xuất phát từ nguyên nhân khách quan là do đất đai ở đây đa phần là đất bồi tụ (đối với đất ruộng), địa hình cao thấp phức tạp, hệ thống tưới tiêu và cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp còn chưa đảm bảo Đối với đất đồi và các loại đất khác cũng bị rửa trôi hoặc sói mòn đáng kể do không có thảm thực vật bảo vệ hoặc quy trình canh tác chưa phù hợp

Cạnh tranh lao động giữa nông nghiệp và các ngành nghề khác

Những nghiên cứu tại 6 khu của 3 xã khảo sát cho thấy vấn đề là càng ngày lực lượng lao động trẻ khỏe càng rời xa nông nghiệp Đa số trong nông thôn, lực lượng lao động chính hiện nay là người già, phụ nữ Nguyên nhân căn bản là do:

- Năng suất lao động nông nghiệp thấp hơn so với các khu vực dịch vụ và công nghiệp

- Bình quân diện tích đất đai/hộ lại quá hạn hẹp, không đủ công ăn việc làm

Trang 16

- Lao động trẻ thích bay nhảy, công việc lao động phi nông nghiệp hơn là nông nghiệp.

- Thu nhập từ lao động nông nghiệp ngày càng giảm, trong khi nhiều các hoạt động phi nông nghiệp cho thu nhập bằng tiền nhanh

Đối với vấn đề quản lí đất đai ở cấp nông hộ: Tình trạng cạnh tranh lao động này liên quan mật

thiết với vấn đề quản lí đất đai ở địa phương nói chung trên một số khía cạnh, cụ thể là:

• Những lao động khỏe mạnh, có hiểu biết và có khả năng tiếp thu tốt kỹ thuật canh tác có

xu hướng rời bỏ nông nghiệp Ở lại nhà; đất đai trao lại cho các lao động có trình độ kỹ thuật và khả năng quản lí nông hộ, đất đai thấp hơn

• Giá lao động ở nông thôn chịu ảnh hưởng của đô thị hóa đã được đẩy lên cao trong vòng mươi năm trở lại đây, làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp2

Đối với vấn đề quản lí nhà nước về đất đai ở địa phương: Tình trạng cạnh tranh lao động cũng

tạo ra những khó khăn, cụ thể là:

• Các lao động đi làm việc ngoài địa phương, không trực tiếp sản xuất nông nghiệp nữa nhưng vẫn đứng tên giữ đất nông nghiệp, họ có thể cho mượn, cho thuê nhưng rất ít người bán, nhượng đất đai và làm thủ tục đầy đủ để thông qua chính quyền vì thế mà chính quyền cơ sở càng gặp khó quản lí đất đai Đây cũng là nguyên nhân khiến tình trạng manh mún khó có thể được khắc phục

• Đối với đất thổ cư, ở một số vùng ven đô thị hay khu công nghiệp trở nên đắt đỏ và càng bị chia mảnh manh mún thêm do dân số đông mua đất và định cư ở các địa phương này

III Tình hình thực hiện quản lí đất đai ở các địa phương khảo sát

III.1 Thực hiện công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

a) Có quy hoạch sử dụng đất nhưng vai trò của cấp xã rất thụ động và tài liệu quy hoạch dường như không hiện hữu ở địa phương.

Trong pháp luật đất đai Viêt nam quy định quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch bắt buộc và ở cấp xã thực hiện theo thời kỳ 10 năm sẽ điều chỉnh lại một lần Trên quy hoạch này cấp xã sẽ

2 Giá lao động nông nghiệp tăng liên tục từ 20 ngàn đồng/ngày công gặt lúa trước năm 2000 lên 50,0

ngàn đồng khoảng năm 2007 và hiện nay là 100,0 đến 130,0 ngàn đồng/công Tương tự giá làm đất tăng

từ 70.000 đồng/sào năm 2008 lên 135.000 đồng/sào hiện nay

Trang 17

- Quy hoạch sử dụng đất cấp xã do xã chủ trì nhưng thường lại được thực hiện bởi các

cơ quan chuyên môn cấp trên, huyện, tỉnh (do cấp xã không có khả năng về chuyên môn để thực hiện) Sau khi đã được huyện phê duyệt mới bàn giao lại cho xã Thông thường 10 năm, thậm chí lâu hơn mới thực hiện lại nên các cán bộ cấp xã ở các khóa sau không nắm được

- Cũng có trường hợp việc thực hiên quy hoạch kéo dài hàng năm hoặc thậm chí nhiều năm Cấp xã đã thực hiện xong trình lên huyện phê duyệt nhưng do quy hoạch mới của huyện chưa được tỉnh phê duyệt nên việc phê duyệt quy hoạch của xã tạm thời phải chờ đợi (tuân thủ nguyên tắc kế thừa từ trên xuống)

- Cũng có khi huyện, tỉnh điều chỉnh quy hoạch mới liên quan đến một số dự án đang chờ phê duyệt thực hiện (ví dụ ở Trạm thản là dự án xây dựng Trụ sở Ngân hàng NN&PTNT

và Trụ sở của Trạm công an) nên quy hoạch của xã sẽ phải điều chỉnh

Có thể còn rất nhiều nguyên nhân khác như tài liệu hư hỏng, thất lạc Nhưng thực tế này đặt ra

câu hỏi: Chính những cán bộ cấp cơ sở thực thi việc quản lí nhà nước đất đai cũng không tiếp cận thường xuyên tài liệu này thì liệu người dân sẽ khó khăn đến nhường nào nếu muốn biết được các thông tin về quy hoạch sử dụng đất này?

b) Cơ sở của các quy hoạch sử dụng đất chưa thể hiện mong mỏi của người dân.

Mặc cho những quy định có tính bắt buộc trong quy trình thực quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn về sự tham vấn ý kiến của người dân địa phương, các phương án quy hoạch vẫn được các chuyên gia thiết lập trên cơ sở:

- Nặng về đánh giá về chất lượng đất lí hóa tính của đất (nhất là đối với đất nông nghiệp)

để bố trí cơ cơ cấu cây trồng mà xem nhẹ các yếu tố khác như thị trường, vấn đề hạ tầng cơ sở, hay thậm chí là chất lượng đất nhưng dưới góc độ kinh tế xã hội đối với người dân3

3 Người ta thường sử dụng phương pháp đánh giá độ thích hợp trong quy hoạch bố trí hệ thống cây trồng (Phương pháp do viện QHTKNN đề xuất), đố là tập hợp hàng mấy chục chỉ tiêu khác nhau về tính

Trang 18

có nghĩa là ở nông thôn vùng trung du nên khuyến khích các loại nhà ống, các lô đất thổ

cư chỉ vẻn vẹn từ 50 đến 100 m2 Điều này sẽ làm mất đi cảnh quan nông thôn và biến mất không gian sinh tồn truyền thống của người dân, cái có thể mang lại phúc lợi xã hội môi trường tốt đối với họ

c) Vấn đề thực hiện quy hoạch và hướng dẫn người dân tham gia thực hiện quy hoạch.

Có thể nói cụ thể rằng, các quy hoạch sử dụng đất nếu có hiện nay thường chỉ để các cấp ngành căn cứ vào đó để xây dụng các chính sách liên quan đến sử dụng đất Nói cách khác, người dân đối tượng đáng lẽ ra phải là người hưởng lợi chính từ các quy hoạch này lại rất ít được biết và tham gia vào việc thực hiện triển khai các quy hoạch trên thực tế Người dân và

cả cán bộ ở xã cũng không biết và không có thông tin về các phương án quy hoạch vì thế họ không biết nên lựa chọn cách sử dụng đất đai nào là đúng? Quy hoạch thì cứ làm, người dân vẫn sử dụng theo cách họ nghĩ Nếu có sự mâu thuẫn thì sự đã rồi, địa phương lại phải tìm cách khắc phục gây nên những tốn kém không cần thiết cho xã hội

Ở góc độ khác, các cán bộ xã có những mong muốn có những tài liệu khoa học hướng dẫn sử dụng đất một cách đơn giản và hiệu quả, kiểu như các bản đồ nông hóa thổ những trước đây, cái cho phép họ hình dung tốt hơn về chất lượng đất đai của địa phương và có thể khuyến cáo

và tư vấn cho người dân sử dụng theo Nhưng hiện nay các tài liệu này không có ở địa phương, cấp xã4

III.2 Khả năng tham gia hạn chế của người dân trong quá trình thực hiện quy hoạch

a) Sự tham gia của người dân vào công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Tìm hiểu về khả năng tham gia của người dân vào quy hoach sử dụng đất ở địa phương (xã) cho thấy điều này cũng rất hạn chế Có thể miêu tả quá trình tham gia đó như sau:

Bảng 5: Sự tham gia của cộng đồng nông thôn vào quy hoạch sử dụng đất.

đồng*

chất lí hóa của đất, về chế độ nước, năng suất cây trồng gần đây Các chỉ tiêu này được gán với những thang điểm nhất định Một phương án bố trí cơ cấu cây trồng được chọn là phương án có tổng số điểm cao nhất

4 Thông tin thì tỉnh Phú thọ bỏ ra cả chục tỷ đồng để xây dựng bản đồ nông hó thổ nhưỡng nhưng ở tỷ lệ nhỏ và không sao cấp cho các xã được

Trang 19

1) Tham gia tự nguyện trong suốt quá trình quy hoạch sử dụng đất và giao đất

• Dự họp đầy đủ trong những cuộc họp thôn/bản

để hiểu rõ về nguồn tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng; khả năng tiếp cận và kiểm soát, quản

lý nguồn tài nguyên này; về quyền lợi, nghĩa vụ nhận đất …

Có thể có những cuộc họp thôn bản nhưng là để thông báo phương án quy hoạch và lấy ý kiến

bổ sung chứ không có nội dung đánh giá tài nguyên

• Cung cấp những thông tin về dân tộc, dân số và lao động trong khu, thôn và về mức sống của họ, những khó khăn, thuận lợi; nhu cầu, nguyện vọng trong việc quản lý tài nguyên của cộng đồng

Công đồng không trực tiếp tham gia mà chỉ thông qua cán bộ xã, thôn

• Tham gia cùng cán bộ điều tra xác định hiện trạng sử dụng đất; quỹ đất hiện đang quản lý và

sử dụng; cùng nhau ghi nhận tác động của việc

sử dụng đất theo quy hoạch trước đó

Cán bộ quy hoạch chỉ lấy thông tin qua các cán bộ xã, thôn

• Cùng cán bộ thảo luận việc bố trí sử dụng đất (quy hoạch sử dụng đất) như thế nào? đâu là đất trồng cây lương thực, trồng CAQ, cây công nghiệp, bãi chăn thả, nghĩa địa… Cùng nhau xác định các loại cây trồng phù hợp trên đất của thôn, bản

Không Cán bộ quy hoạch chỉ thông qua quy hoạch khi có các đề

án để lấy ý kiến bổ sung Trong nhiều trường hợp các cũng lấy ý kiến ở cấp thôn, bản

2) Tham gia vào các hoạt động của quá trình quy hoạch và giao đất:

• Họp phổ biến về hoạt động quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất

Không có vì công việc này chỉ làm

ở cấp xã Ngay cán bộ cấp thôn cũng không được biết

• Tham gia vào việc xác định chủ sử dụng đất đai,

vị trí và ranh giới cùng với cán bộ địa chính huyện và tỉnh

Không có Chỉ xảy ra khi mảnh đất

Trang 20

Không có.

*) Kết quả ghi theo sự mô tả của cả người dân và cán bộ ở địa phương

Tóm lại, những bản quy hoạch sử dụng đất ở cấp xã hiện được thực hiện khá chủ quan Không chỉ có người dân mà cả các cán bộ xã, thôn đều thừa nhận rằng những hoạt động lấy ý kiến cộng đồng khi thực hiện các bản quy hoạch này mang tính “hình thức”, làm một cách hình thức, chiếu lệ cho có

Trên thực tế thì Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) trước đây đã ban hành Quy trình xây dựng quy hoạch đất các cấp tỉnh, huyện và xã Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2005 của Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (xem phụ lục 4) Vì thế, có thể các cán bộ làm quy hoạch cho rằng họ đã làm đúng theo quy trình hướng dẫn

về xây dựng quy hoạch sử dụng đất Nhưng theo nhận xét của chúng tôi, quy trình hướng dẫn này có mấy nhược điểm lớn sau đây:

• Các hệ thống tiêu chí hướng dẫn quy hoạch quá phức tạp, nhiều tiêu chí không phù hợp với cấp xã, ví dụ trong bước 3, yêu cầu đánh giá tiềm năng đất đai tại mục 3) của phần

III) yêu cầu phải đánh giá tiềm năng của các loại đất phi nông nghiệp bao gồm cả đất khu hành chính, khu công nghệ cao, khu kinh tế…Những khái niệm này vốn phức tạp,

khó hiểu ngay với cả những người có chuyên môn về quản lí đất đai, còn đối với cán bộ cấp xã hay người dân thì quả thật đây là khái niệm vô cùng xa lạ Đây chính là điều khiến cho cấp xã khó có thể tham gia vào thực hiện quy hoạch sử dụng đất của chính địa phương mình

• Trong tài liệu có quy định việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo phương án quy hoạch sử dụng đất chi tiết theo Điều 18 của Nghị định số 181/2004/NĐ-

CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai Theo đó, dự thảo quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến từng tổ dân phố, thôn, xóm, buôn, ấp, làng, bản, phum, sóc và các điểm dân cư khác; đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ Ban Nhân Dân

xã và lấy ý kiến của các ban ngành , đoàn thể ở địa phương Tuy nhiên, ở các thực hiện quy hoạch lại không có quy định cụ thể bắt buộc đối với việc tham vấn người dân hay cộng đồng Ngay cả khi quy định ở mỗi bước phải tổ chức hội thảo, nhưng hội thảo thế nào và ai tham gia thì không có quy định Vì thế các buổi đóng góp vào dự thảo phương

án quy hoạch trở nên “hình thức”, “chiếu lệ”

Trang 21

ở cấp huyện tạo thuận lợi cho công tác quản lí đất đai ở các cấp thì nội dung quy hoạch

ở cấp xã lại không có sự tương thích và hỗ trợ tốt cho công tác quản lí đất đai ở cấp nông hộ

Bảng 6: Mục đích và nội dung quản lí đất đai ở nông hộ

1 Không chỉ là hiệu quả sản xuất mà còn bảo đảm nhu cầu rất đa dạng của nông hộ (ví

dụ bảo đảm lương thực tối thiểu cho hộ hay nhu cầu tránh rủi ro thiên tai, bảo vệ tài sản, tài nguyên đất đai của hộ)

2 Không chỉ là bảo vệ được nguồn lực đất đai mà còn bảo đảm chất lượng nông sản và

bảo vệ sức khỏe cho con người và gia súc sống sinh hoạt và canh tác trên đất

3 Không chỉ quan tâm đến sự phân bổ hợp lí nguồn lực cho các tác nhân khác nhau, ở

cấp nông hộ quy mô mảnh ruộng và quy mô đất đai/lao động nhằm khai tác hiệu quả nguồn nhân lực của hộ

4 Nếu các cấp khác nhau từ xã trở lên có cách thức ứng xử trong quản lí đất đai là việc

coi đất đai là nguồn lực và tư liệu sản xuất thì nông hộ coi đất đai vừa là tư liệu sản xuất vừa là tài sản và không gian sinh tồn của họ

Một vài điểm khác biệt trong quản lí đất đai ở cấp nông hộ so với các cấp hành chính khác cho phép chúng ta giải thích tại sao đa phần những người dân được phỏng vấn thừa nhận sự manh mún đất đai là một cản trở khó khăn đối với sản xuất ở các xã khảo sát, nhưng lại không có ý kiến nào đồng tình ủng hộ phương thức dồn điền đổi thửa áp dụng ở đây Một người dân ở Khu

6 Bảo thanh nói: “Dồn điền đổi thửa cơ bản là tốt, nhưng tốt ở chỗ này nhưng chưa chắc đã tốt

ở chỗ kia Ở quê chúng tôi, ruộng đất manh mún nhưng có chỗ thi 2 vụ, chỗ một vụ Dồn vào ai lấy chỗ 2 vụ, ai lấy chỗ 1 vụ đây? Chúng tôi đã từng dồn thửa nhưng không thành công lắm, dồn đổi nữa thì không nên”

b) Điều chỉnh quy hoạch và tính pháp lí của các bản quy hoạch sử dụng đất cấp cơ sở.

Một khó khăn nữa ở địa phương trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất đó là tính chất không ổn định của quy hoạch Các bản quy hoạch sau khi xác lập vì nhiều lí do thường bị thay đổi hay bổ sung liên tục bất chấp những phản ứng của cộng đồng

Hộp 2: Thay đổi và điều chỉnh quy hoạch làm thiệt hại tài sản của dân.

Trang 22

hộ bị thu hồi đất ở đây đã không thể mua lại được mảnh đất cho mình.

Nguồn: Kết quả thảo luận với người dân ở Khu 6, Bảo Thanh

Ngoài ra còn rất nhiều các dự án quy hoạch bổ sung hoặc thay đổi quy hoạch như dự án xây dựng Công viên Vĩnh hằng (ở Bảo Thanh), dự án xây dựng trụ sở Trạm công an (ở Trạm Thản) chính quyền đã làm mà không nhận được sự ửng hộ của người dân

c) Kế hoạch điều chỉnh hàng năm chỉ mang tính chất sửa chữa hiệu chỉnh những hoạt động phát sinh trong năm và không thực hiện trên thực địa

Tương tự như nội dung quy hoạch, nội dung xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm cũng được làm theo một quy trình và quy định cụ thể do Bộ TNMR hướng dẫn Tuy nhiên qua khảo sát ở địa phương chúng tôi thấy 2 điểm khó khăn của hoạt động này ở cơ sở:

• Thứ nhất, việc thiết lập kế hoạch hàng năm mặc dù được thông qua Hội đồng Nhân dân

xã nhưng về cơ bản có tính chất hiệu chỉnh kết quả thực hiện của năm trước với một vài

dự kiến của năm thực hiện Việc này ít liên quan đến quy hoạch sử dụng đất (vì nó không tồn tại rõ ràng)

• Công tác này chủ yếu thực hiện trên các mẫu bảng biểu thống kê đất đai mà ít hoặc không có sự hiệu chỉnh trên bản đồ địa chính và thực địa Vì thế qua nhiều năm, cùng với sự biến động đất đai các mốc giới bản đồ địa chính đã thay đổi toàn bộ Hồ sơ địa chính đặc biệt là bản đồ giải thửa không còn phù hợp nữa

d) Những bất cập và hệ quả của vấn đề quy hoạch sử dụng đất:

Trang 23

Một số hệ quả:

• Bản quy hoạch sử dụng đất cấp xã thường ít khả thi

• Xây dựng tốn kém về mặt kinh phí (mặc dù nhà nước có định mức xây dựng quy hoạch)

• Tương thích tốt hơn với các quy hoạch cấp trên nhưng không hỗ trợ được nhiều cho quản lí đất đai ở nông hộ

• Hồ sơ địa chính trở nên không đồng bộ gây khó khăn cho công tác quản lí đất đai ở địa phương

Cần phải lưu ý rằng những bất cập của công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch và kế hoạch

sử dụng đất ảnh hưởng không nhỏ đến các vấn đề quản lí nhà nước về đất đai ở địa phương

và quản lí đất đai ở nông hộ bởi tài liệu quy hoạch sử dụng đất là tài liệu pháp lí quan trọng đầu tiên làm căn cứ cho các công tác quản lí đất đai về sau

III.3 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

a) Vai trò chung của cấp xã.

Theo quy định của Pháp luật đất đai, cấp xã là cấp không có quyền quyết định phê duyệt cấp đất, cho thuê đất, thu hồi hay chuyển mục đich sử dụng Tuy nhiên cấp xã lại là cấp tham gia vào hầu hết các hoạt động này Vai trò của cấp xã thể hiện rất rõ ở những điểm như:

- Chuẩn bị tài liệu, hồ sơ đất đai liên quan đến các hoạt động này

- Tham gia xác nhận, chứng nhận hồ sơ

- Tham gia các công tác thu hồi, bàn giao ở thực địa

- Tham gia vào công tác giám sát, theo dõi sau dự án

Chúng tôi mô phỏng vai trò của cấp xã trong tiến trình giao đất cho dự án như sau:

Trang 24

Bảng 7: Vai trò tham gia của cấp xã trong quá trình giao đất.

1 Giới thiệu chủ trương: Bước này thường

do cấp tỉnh thực hiện đơn xin cấp đất của DN

Tham gia nghe phổ biến về chủ trương: Tỉnh phổ biến DN xã và huyện tham gia

2 Giới thiệu địa điểm: Địa điểm dự kiến sẽ

do các cơ quan chức năng ở tỉnh dự kiến

Sở xây dựng, sở tài nguyên phối hợp với chính quyền huyện, xã tổ chức giới thiệu địa điểm ở thực địa

Xã (đại diện UBND xã, địa chính…) tham gia giới thiệu địa điểm ngoài thực địa (mốc giới khu đất, tài sản trên đất)

3 Tạm giao địa điểm: các ban ngành cấp tỉnh chuẩn bị biên bản

Xã tham gia kí biên bản tạm giao địa điểm đầu tư

4 Xây dựng hồ sơ dự án, bao gồm: 1) Hiệu chỉnh lại dự án sản xuất và 2) Phương án đền bù đất

5 Đền bù và giải phóng mặt bằng Trung gian tổ chức họp dân để DN và

dân thực hiện phương án đền bù

Hỗ trợ xác nhận đền bù cho hộ bị thu hồi đất

Đôi khi là tổ chức nhân công, nhân sự để thực hiện

thực các hợp đồng thuê đất, chuyển quyền sử dụng… khi đối tượng sử dụng đất có nhu cầu

Giám sát mục đích sử dụng đất

Xin lưu ý là ở mỗi tỉnh đều có ban hành quy trình, thủ tục giao đất, cho thuê đất khá cụ thể ở

các cấp tỉnh (thực hiện giao đất cho các tổ chức, cơ quan, đơn vị) và huyện (thực hiện giao đất

Trang 25

cho các cá nhân) Nhưng trong các quy định về hành chính công, ngoài trách nhiệm chứng

thực các giấy tờ hồ sơ đất đai thì hầu như không có các quy định cụ thể nào liên quan đến sự

tham gia và trách nhiệm của UBND xã ở các bước từ 1 đến 6

Như vậy có thể nói, vai trò của cấp xã khá thụ động và chủ yếu là tham gia hoàn chỉnh hồ sơ, chức thực xác thực hành chính Dưới đây là một số thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lí nhà nước đối với nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

a) Với đất thổ cư, đất giãn dân và đất đấu thầu đất ở mới:

Đối với đất ở: Những thống kê từ phiếu điều tra ở 3 xã cho thấy có từ 85% đến 100% các hộ ở

các địa phương đã được cấp sổ đỏ Một số hộ chưa được cấp chủ yếu là hộ mới tách hoặc đất

ở đang mượn tạm tập thể… Có thể thấy hầu như không có phát sinh vấn đề trong công tác quản lí đất ở

Đối với đất giãn dân và đấu thấu đất ở: Theo quy định của pháp luật đất đai do dân số gia tăng

nên hằng năm các địa phương có thể làm hồ sơ cấp đất “giãn dân” Trong điều kiện nếu địa phương (xã, thôn) tìm ra được các diện tích để cấp mới đất ở thì các gia đình đông con cái ra ở riêng tách hộ, ưu tiên các gia đình chính sách, sẽ được xem xét cấp đất ở bổ sung Tuy nhiên hiện nay, theo phản ánh của người dân (khu 1, Trạm thản) các dự án cấp đất giãn dân lại được thực hiện theo cơ chế đấu thấu Chính quyền quy hoạch một khu đất ở mới sau đó tổ chức đấu thấu bán đất có xem xét ưu tiên đến các gia đình chính sách5 Ai trả giá cao sẽ mua được đất ở này Chính vì thế người dân ở Phù Ninh không quan tâm đến chính sách này với 3 lí do:

- Cấp đất giãn dân sẽ ảnh hưởng đến quỹ đất sản xuất nông nghiệp vốn đã rất hạn hẹp

- Cơ chế đấu thầu khiến họ không thể mua được đất, chỉ người có tiền mới tiếp cận được đất này

- Người dân thấy ngay sự bất cập khi thu hồi đền bù 62 ngàn đồng/m2, đến khi đấu thầu giá đất ở lên trên 300 ngàn đồng/m2 Cao gấp 5 lần trước đó

Về phía Chính quyền xã các dự án đấu giá đất cũng tạo ra những khó khăn, nhất là kinh phí sử dụng để bù đắp phần chênh lệch giữa diện tích thu hồi và diện tích đấu thầu Khu chuẩn bị khu đất đáu thầu, Chính quyền bao giờ cũng phải thu hồi diện tích lớn hơn nhiều so với điện tích sau này đấu thầu để làm quy hoạch cơ sở hạ tầng cho cả khu Nhưng khi đấu thầu phần diện tích bán thầu thường chỉ bằng 70-80% diện tích thu hồi Xã sẽ phải trả phần kinh phí đền bù để thu hồi phần đất làm hạ tầng cơ sở trên Theo quy định, tiền đấu thầu đất sau khi thu được sẽ

5 Trong nhiều trường hợp, nếu giá đấu thầu bằng nhau hoạch chênh lệch không lớn thì các hộ gia đình chính sách sẽ thắng thầu

Ngày đăng: 14/06/2017, 14:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hiện trạng và biến động đất đai trong vòng 10 năm qua ở huyện Phù Ninh - QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CÓ SỰ THAM GIA Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính sách đất đai ở địa phương
Bảng 1 Hiện trạng và biến động đất đai trong vòng 10 năm qua ở huyện Phù Ninh (Trang 8)
Đồ thị 1: So sánh diện tích các loại đất ở Phù Ninh thời kỳ 2000 và 2010. - QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CÓ SỰ THAM GIA Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính sách đất đai ở địa phương
th ị 1: So sánh diện tích các loại đất ở Phù Ninh thời kỳ 2000 và 2010 (Trang 10)
Bảng dưới đây là diện tích trung bình các loại đât mà một hộ ở các xã nghiên cứu đang quản lí - QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CÓ SỰ THAM GIA Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính sách đất đai ở địa phương
Bảng d ưới đây là diện tích trung bình các loại đât mà một hộ ở các xã nghiên cứu đang quản lí (Trang 12)
Bảng 7: Vai trò tham gia của cấp xã trong quá trình giao đất. - QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CÓ SỰ THAM GIA Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính sách đất đai ở địa phương
Bảng 7 Vai trò tham gia của cấp xã trong quá trình giao đất (Trang 24)
Bảng 8: Hiểu biêt của người dân về các quyền đất đai - QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI CÓ SỰ THAM GIA Vai trò của Chính quyền trong quản lí nhà nước và thực thi chính sách đất đai ở địa phương
Bảng 8 Hiểu biêt của người dân về các quyền đất đai (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w