1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CẢI THIỆN SINH KẾ VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CHO CỘNG ĐỒNG NGHÈO HUYỆN PẮC NẶM, TỈNH BẮC CẠN

105 256 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 735,78 KB
File đính kèm danhgiacuoiky.rar (698 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá kết quả và tác động của Dự án đạt được so với kế hoạch và mục tiêu đề ra theo khung logic và các khuyến nghị của Đánh giá giữa kỳ đã được SRD BQL dự án chấp nhận. Điểm mạnh, điểm chưa đạt được của dự án (phân tích nguyên nhân và giải pháp cụ thể để đảm bảo tính bền vững của dự án sau khi dự án kết thúc). Đưa ra những khuyến nghị để Đối tác, Ban quản lý dự án có thể tiếp tục quản lý các thành quả đạt được của dự án, để hỗ trợ tốt hơn cho người dân địa phương. Đồng thời đưa ra những khuyến nghị để SRD có thể cải thiện các can thiệp cũng như các phương pháp phù hợp hơn với người dân, đặc biệt người nghèo, từ đó SRD có thể áp dụng ở những vùng dự án khác.

Trang 1

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ DỰ ÁN VM015

CẢI THIỆN SINH KẾ VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG CHO CỘNG ĐỒNG NGHÈO

HUYỆN PẮC NẶM, TỈNH BẮC CẠN

Những người thực hiện:

1 TS Phạm Bảo Dương: phụ trách lĩnh vực thể chế, chính sách và sinh

kế nông hộ - Trưởng nhóm

2 Ths Dương Bá Hiền: phụ trách lĩnh vực thủy lợi, cơ sở hạ tầng và

nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn

3 CN Phan Thị Lạc: phụ trách lĩnh vực giới, phát triển cộng đồng

Trang 2

Hà Nội, tháng 4 năm 2011

Trang 3

Hợp phần 5: Tăng cường năng lực quản trị địa phương thông qua các tổ chức cộng

đồng (CBO).

16

II Hợp phần V: Thúc đẩy hình thành và vận hành các nhóm nông dân/tổ chức cộng

đồng để cải thiện tương trợ, tinh thần đòan kết và sự tham gia của người dân trong

Trang 4

DANH MỤC HỘP

Hộp: Tập huấn dân chủ cơ sở - Tiếng nói của người dân đã được tôn trọng

Hộp: Vai trò đầu đàn của Trưởng thôn/Trưởng Ban phát triển thôn bản- một nông dân nòng cốt.Hộp: Tài liệu tập huấn lập kế hoạch sản xuất của nông hộ

Hộp: Người dân nghèo An Thắng đã biết hạch toán kinh tế hộ gia đình

Hộp: Các lớp tập huấn đã có những tác động tích cực nâng cao sinh kế

Hộp: Ý kiến của bà con thôn bản về sự thay đổi trong nhận thức và hành động về bình đẳng giớiHộp: Nội dung về bình đẳng giới được lồng ghép trong các hoạt động

Hộp: Dự án đã góp phần tăng cường tình đoàn kết, tương trợ nhau trong thôn bản

Hộp: Nhận thức, kỹ năng của người dân và cán bộ các cấp được tăng cường

Bảng: Ma trận Điểm mạnh, hạn chế và đề xuất triển khai để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của Dự án

Trang 5

NỘI DUNG BÁO CÁO

Phần A: MỞ ĐẦU

Pác Nặm là 1 trong 60 huyện nghèo nhất trong cả nước Nằm cách xa trung tâm tỉnh Bắc Kạn hơn

90 km về phía Bắc, đường giao thông đi lại khó khăn chủ yếu là dốc núi Toàn huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 47.539 ha, nhưng chỉ có 9,3% đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa cả năm là 1.882 ha, đất lâm nghiệp 19.509,26 ha Huyện có 5.204 hộ, gồm 7 dân tộc: Tày, Mông, Dao, Nùng, Sán Chỉ, Kinh, Hoa cùng sinh sống

An Thắng và Cổ Linh là 2 xã nghèo của huyện Pác Nặm, diện tích đất trồng trọt trung bình trên đầu người thấp, khoảng 200m2/người và đất trồng trọt phân bố rải rác, hầu hết nằm ở những vùng thấp dưới chân núi Nguồn thu nhập chính của người dân chủ yếu dựa vào chăn nuôi và trồng trọt Đa số người dân ở đây đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong sản xuất như thiếu đất nông nghiệp,

kỹ thuật canh tác lạc hậu, trình độ học vấn thấp, một số người dân không có khả năng đọc và viết tiếng Kinh, khó khăn về sự tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt, hố xí hợp vệ sinh …

Kế thừa nhiều năm kinh nghiệm phát triển của CIDSE, Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) đã triển khai hàng loạt các dự án phát triển ở các địa phương nghèo, trong đó có Pác Nặm Tiếp theo thành công của các dự án đã thực hiện, căn cứ vào điều kiện thực tế ở An Thắng và Cổ Linh là 2 xã nghèo chưa có điều kiện tiếp cận với dự án phát triển, với sự tài trợ của Caritas – Úc, SRD đã triển khai thực hiện Dự án “Cải thiện sinh kế và vệ sinh môi trường cho cộng đồng nghèo” giai đoạn 2008 – 2011 với các Mục tiêu cụ thể như: (1) Cải thiện khả năng lập kế hoạch, triển khai

và giám sát có sự tham gia thông qua nâng cao nhận thức và năng lực cho cán bộ địa phương và người dân thôn bản trong quá trình phát triển kinh tế xã hội; (2) Tăng thu nhập và sinh kế nông hộ thông qua giới thiệu và phát triển các kỹ năng chuyên môn và kỹ thuật phù hợp cho người dân thôn bản; (3) Cải thiện điều kiện sống cơ bản cho nông dân nghèo tại các thôn bản thông qua nâng cấp hạ tầng cơ sở và điều kiện vệ sinh môi trường; (4) Cải thiện vai trò và vị thế của người phụ nữ thông qua lồng ghép bình đẳng giới trong phát triển cộng đồng; (5) Thúc đẩy việc hình thành và vận hành các nhóm nông dân / tổ chức cộng đồng để cải thiện sự tương trợ, tinh thần đoàn kết và sự tham gia của người dân trong quá trình ra quyết định ở cấp cộng đồng; và (6) Phổ biến các bài học thành công và vận động chính sách cho người nghèo

Đến tháng 12/2010, hầu hết các hoạt động của dự án đã được hoàn thành Trong cuộc họp Ban chỉ đạo cuối tháng 12/2010, Báo cáo tổng kết của dự án cũng đã chỉ ra Dự án đã đạt được những mục tiêu đề ra, một số hoạt động của năm 2011 chỉ còn tập trung vào củng cố các nhóm sở thích Trong bối cảnh đó cùng với rất nhiều các chương trình dự án khác của nhà nước (30A) và tổ chức IFAD sẽ được triển khai rộng rãi trên hai xã và các thôn của dự án, SRD quyết định kết thúc vào tháng 03 thay vì tháng 06 năm 2011

Theo kế hoạch Trung tâm SRD phối hợp với Ban quản lý dự án tiến hành đánh giá cuối kỳ Dự án.Đoàn tư vấn đánh giá do TS Phạm Bảo Dương1 làm Trưởng đoàn cùng 2 thành viên – Ths Dương

Bá Hiền và CN Phan Thị Lạc với sự hỗ trợ của SRD, BQL Dự án huyện và các xã và cộng đồng người dân đã thực hiện công tác đánh giá trong tháng 4 năm 2011 Đánh giá cuối cùng tập trung vào

Trang 6

đánh giá các kết quả đạt được, trên cơ sở các mục tiêu tổng thể của dự án cũng như các khuyến nghị của đánh giá giữa kỳ đã được dự án giải quyết như thế nào để đạt được mục đích của dự án

Đánh giá kết quả và tác động của Dự án đạt được so với kế hoạch và mục tiêu đề ra theo khung logic và các khuyến nghị của Đánh giá giữa kỳ đã được SRD & BQL dự án chấp nhận

Điểm mạnh, điểm chưa đạt được của dự án (phân tích nguyên nhân và giải pháp cụ thể để đảm bảo tính bền vững của dự án sau khi dự án kết thúc)

Đưa ra những khuyến nghị để Đối tác, Ban quản lý dự án có thể tiếp tục quản lý các thành quả đạt được của dự án, để hỗ trợ tốt hơn cho người dân địa phương Đồng thời đưa ra những khuyến nghị

để SRD có thể cải thiện các can thiệp cũng như các phương pháp phù hợp hơn với người dân, đặc

biệt người nghèo, từ đó SRD có thể áp dụng ở những vùng dự án khác

 Đề xuất dự án VM015, các Báo cáo thực hiện và tổng kết Dự án

 Tất cả các tài liệu liên quan khác của đối tác và SRD được thể hiện trong khung logic như: Biên bản các cuộc hop; Chương trình, tài liệu và phương pháp tập huấn; Báo cáo quý, năm: Các báo cáo quý/năm của Ban quản lý thôn, Ban quản lý DA các cấp; Kế hoạch hoạt động sản xuất của các nhóm nông dân, của thôn theo quý; Kiểm tra, giám sát, đánh giá DA, giới,

Các tài liệu cần thu thập này do Trung tâm SRD và các Ban quản lý, các cán bộ các thôn, xã và huyện nơi có dự án cung cấp để phục vụ cho quá trình đánh giá Ngoài các báo cáo trên, đoàn Đánh giá cũng tiến hành thu thập các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo của huyện, của các xã, niên giám thống kê,

3.2 Đánh giá tại hiện trường: Phỏng vấn các nhóm đối tượng (cán bộ huyện/ xã, Hội người

dùng nước, Tổ giám sát thi công, nhóm nông dân…), thảo luận nhóm, thăm công trình, phỏng vấn

hộ nông dân, những người hưởng lợi từ Dự án… Kiểm tra chéo cũng được sử dụng nhằm tăng độ tin cậy của thông tin Một thông tin có thể được thu thập từ nhiều nguồn, phỏng vấn nhiều nhóm đối tượng, sử dụng nhiều phương pháp thu thập khác nhau Nội dung Bộ công cụ dùng cho quá trình tham vấn hiện trường được thể hiện ở Phụ lục 5

Từ ngày 5 đến 9/4/2011, sau quá trình chuẩn bị ở Văn phòng tại Hà Nội, Đoàn tư vấn đã xuống làm việc tại hiện trường huyện Pác Nặm, đến làm việc tại 2 xã (Cổ Linh và An Thắng, mỗi

xã thăm và làm việc tại 1 thôn) Trong quá trình đánh giá, Đoàn tư vấn nhận được sự phối hợp chặt

Trang 7

chẽ của cán bộ chương trình SRD, điều phối viên dự án và Ban quản lý dự án các cấp huyện – xã Đặc biệt, cán bộ của Hội phụ nữ và BQL dự án huyện đã cùng tham gia đầy đủ vào quá trình làm việc tại huyện, xã Ngày 8/4/2011, kết thúc quá trình tham vấn hiện trường, Đoàn Tư vấn đã trình bày kết quả đánh giá bước đầu tại Hội nghị phản hồi tổ chức tại UBND Huyện

Kết quả đánh giá cuối kỳ cho thấy, nhìn chung Dự án VM 015 được triển khai đúng tiến độ đã đề ra (xem thêm Phụ lục 2 để có cái nhìn toàn cảnh về kết quả thực hiện Dự án sau 3 năm) Các hoạt động của dự án đã có tác động nhất định cả về kinh tế, xã hội và môi trường Đặc biệt, năng lực của cán bộ và người dân được nâng cao cũng là một tác động rất quan trọng của Dự án

Tính bền vững của Dự án được thể hiện trên các khía cạnh: thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ và người dân nghèo vùng dự án và lan tỏa sang các địa phương lân cận, nâng cao năng lực, kỹ năng của cán bộ các cấp và người dân, với những công trình hạ tầng được bàn giao lại cho địa phương và người dân quản lý, sử dụng cũng như phát triển bền vững địa phương thông qua các tổ chức cộng đồng Trên cơ sở tổng hợp, đúc rút các điểm mạnh, hạn chế và một số đề xuất quan trọng cần tiếp tục triển khai để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của Dự án, Báo cáo đánh giá cuối kỳ cũng chỉ

rõ 8 bài học kinh nghiệm rút ra từ Dự án VM015 Trên cơ sở đó Đoàn tư vấn cũng mạnh dạn đề xuất một số khuyến nghị trước mắt cần thực hiện như: Tiến hành đóng các thủ tục của dự án đúng tiến độ; tiếp tục triển khai hoạt động phát triển cộng đồng; tổ chức hội thảo tổng kết dự án; xây dựng và thực hiện quy chế vận hành các công trình hạ tầng ở nông thôn đặc biệt là công trình nước sạch; tổng kết và tài liệu hóa bài học kinh nghiệm triển khai thực hiện Dự án; trao đổi bài học kinh nghiệm với dự án khác tương tự mà SRD đang thực hiện

Trang 8

Phần B: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ

I KẾT QUẢ & TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN (theo các mục tiêu và các hoạt động chính của dự án)

1 Hợp phần 1: Nâng cao năng lực

Hợp phần này hướng đến các mục tiêu: (1) Phổ biến pháp lệnh dân chủ cở sở để người dân thực

hiện quyền tham gia và giám sát các hoạt động cộng đồng và (2) Nâng cao năng lực quản lý, giám sát, thúc đẩy, điều hành của cán bộ địa phương và nông dân chủ chốt

Kết quả đánh giá cho thấy:

Dự án đã hoàn thành 02/02 lớp tập huấn cho tập huấn viên về dân chủ cơ sở tại Văn phòng dự án huyện Pác Nặm, với tổng số 39 học viên là cán bộ BQL dự án các xã và huyện tham gia Khóa tập huấn đem lại những nội dung cơ bản về dân chủ cơ sở cho các học viên và quan trọng hơn nữa là họ

đó có thể trao đổi lại vấn đề dân chủ này cho bà con trong thôn bản Ngoài ra, khóa học này cũng là

cơ sở để dự án tiếp tục triển khai hoạt động trao đổi dân chủ cở sở tại các thôn bản Sau đó đã triển khai thực hiện 8/10 buổi nói chuyện về dân chủ cơ sở tại 4 thôn thực hiện dự án Đối tượng tham dự

là tất cả các hộ dân trong thôn hưởng lợi dự án Người nói chuyện, hướng dẫn là tập huấn viên của huyện cùng với các học viên đã được tham gia tập huấn tại huyện Nhìn chung sau khi được tham gia các buổi nói chuyện người dân đã cơ bản nắm được những điều mình được biết, được bàn và được quyết định:

14 điều người dân được thông báo; 5 điều người dân được bàn và được quyết định; 9 việc dân được bàn, tham gia ý kiến nhưng chính quyền xã quyết định; 11 việc dân giám sát và kiểm tra và đã vận dụng khá linh hoạt trong cuộc sống

Hộp: Tập huấn dân chủ cơ sở - Tiếng nói của người dân đã được tôn trọng

Tinh thần dân chủ của người dân đã được bước đầu phát huy tích cực Việc xây dựng chuồng trại của người dân theo thiết kế ban đầu với nguồn lực nhất định Tuy nhiên, người dân ở Cổ Linh đã góp ý về cách thức xây dựng chuồng trại (nền xi măng, khung chuồng gỗ, mái bro, có rãnh chứa phân,…) và người dân cùng đóng góp xây dựng chuồng trại Dự án hỗ trợ làm nền xi măng dưới sàn gỗ, hố chứa phân (1.120.000 đồng, người dân bỏ ra thêm từ 9,6 triệu)

Thảo luận nhóm cán bộ xã Cổ Linh – Pác Nậm, Bắc Kan

Dự án cũng đã thực hiện xong 2/2 lớp tập huấn về lập kế hoạch giám sát đánh giá có sự tham gia tại huyện với học viên là các thành viên Ban quản lý dự án xã, Ban phát triển cộng đồng thôn, các hộ dân tiêu biểu trong thôn

Thông qua các khóa tập huấn về dân chủ cơ sở, về lập kế hoạch giám sát đánh giá có sự tham gia cũng như các hoạt động tham quan, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm ở trong và ngoài nước mà năng lực quản lý, giám sát, thúc đẩy, điều hành của cán bộ địa phương và nông dân chủ chốt đã được cải thiện, nâng cao một bước đáng kể Kết quả thảo luận nhóm, trao đổi với các cán bộ Ban quản lý Dự

án các cấp và nông dân nòng cốt cho thấy rõ tác động tích cực của hoạt động nâng cao năng lực này Điển hình như ở cấp huyện, Đoàn tư vấn đã có thời gian làm việc chặt chẽ với anh Chu Văn Trương, điều phối viên của Dự án Là cán bộ trẻ, sau quá trình tham gia đầy đủ các hoạt động của

Dự án, năng lực của anh Trương đã được nâng cao đáng kể, đã hình thành kỹ năng quản lý, vận hành dự án khá tốt từ việc lập kế hoạch, triển khai các hoạt động cũng như kỹ năng theo dõi, kiểm

Trang 9

tra-giám sát, viết báo cáo Kết thúc dự án VM015, anh Trương đã được Huyện giao nhiệm vụ làm điều phối viên dự án 3PAD, một dự án lớn do Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế tài trợ Hoặc ở cấp cơ sở, Đoàn tư vấn đã có dịp làm việc với chị Lưu – Phó Chủ tịch kiêm Phó trưởng Ban Quản

lý Dự án xã An Thắng, anh Trọng (cán bộ), anh Thành (Chủ tịch UBND kiêm Trưởng ban quản lý

dự án xã Cổ Linh), hoặc ở cấp thôn bản như anh Duẩn (Trưởng ban phát triển thôn bản thôn Tiến

Bộ - An Thắng) hoặc ông Hàm (Trưởng ban phát triển thôn Bản Sáng – Cổ Linh) Các cán bộ cấp

cơ sở này với độ tuổi, kinh nghiệm làm việc khác nhau, tuy nhiên, tác động rõ nét nhất ghi nhận được là họ đã trưởng thành, nâng cao năng lực, nhận thức sau khi tham dự các khóa tập huấn và triển khai các hoạt động của Dự án; đã, đang và sẽ tiếp tục đảm nhận vai trò quan trọng ở địa phương cũng như ở các Dự án xóa đói giảm nghèo khác đang và sẽ thực hiện Có thể nói, nâng cao năng lực, nhận thức về quản lý dự án, về dân chủ cơ sở của cộng đồng là hoạt động thiết thực, có ý nghĩa đặc biệt tích cực mà Dự án VM015 đã đem lại

Hộp: Năng lực và vai trò của Trưởng thôn/Trưởng Ban phát triển thôn bản- một nông dân nòng cốt

Trưởng thôn Bản Sáng – Cổ Linh: ông Triệu Sỹ Hàm (ảnh), dân tộc Tày năm nay 63 tuổi, đã học hết lớp 7, làm Trưởng thôn Bản Sáng được 20 năm nay Là người triển khai thực hiện Dự án VM015 từ ban đầu, ông Hàm đã đề xuất thành lập Ban phát triển thôn (gồm 5 thành viên: Bí thư chi bộ, công an viên, 2 tổ chi hội phụ nữ, và ông Hàm) Sau khi nghiên cứu kế hoạch tổng thể của Dự án, ông Hàm đã bàn họp xóm cụ thể hóa kế hoạch cho phù hợp với các điều kiện của thôn, giám sát xây dựng các công trình, xây dựng các quy chế, xử lý các vi phạm, hòa giải trong thôn Ông cũng tích cực tham gia các khóa tập huấn, tăng cường năng lực của Dự án tổ chức Là người nhiệt tình, tâm huyết với công việc của thôn, dưới sự chỉ đạo và trực tiếp triển khai thực hiện của ông Hàm, đến nay các công việc của VM015 triển khai ở thôn khá suôn sẻ, đem lại hiệu quả, tác động tích cực

Năng lực, kỹ năng được trang bị cùng với tâm huyết của người đứng đầu Ban phát triển thôn Bản Sáng là một trong những nhân tố quan trọng có tính quyết định đến sự thành công của Dự án

2. Hợp phần 2: Phát triển sinh kế nông hộ

Hợp phần này hướng đến các mục tiêu: (1) Nông dân có kỹ năng quản lý, lập kế hoạch và hạch toán kinh tế trong sản xuất nông hộ và (2) Các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi phù hợp được phổ

biến và áp dụng tạo thêm nguồn thu nhập cho các hộ nghèo

Kết quả đánh giá cho thấy:

* Đối với hoạt động Tập huấn về lập kế hoạch sản xuất nông hộ, lập sổ sách ghi chép và hoạch toán thu chi trong chăn nuôi trồng trọt, Dự án đã tiến hành tổ chức 2 khóa tập huấn tại huyện với 48 lượt người tham gia, các học viên là cán bộ khuyến nông xã, các hộ dân đến từ 4 thôn thực hiện dự án

Trang 10

Các nội dung chính của khóa tập huấn bao gồm:

Lập kế hoạch để làm gì? Các bước tiến hành khi

lập kế hoạch? Các tiêu chí khi lập kế hoạch Các

khái niệm như nguồn lực, chi phí, doanh thu, thị

trường…đã được học viên giảng giải, thảo luận

với học viên khá chi tiết, dễ hiểu Giảng viên nêu

ra vấn sau đó cùng thảo luận với các học viên Lớp

tập huấn cũng chia thành 4 tổ cùng thực hiện làm

bài tập về lập kế hoạch, hoạch toán cụ thể cho một

hộ gia đình Giáo trình được thiết kế bao gồm 8

trang, ngắn gọn, rõ ràng với nhiều sơ đồ hình ảnh

minh họa Cuối giáo trình có bản kế hoạch mẫu để

nông hộ tham khảo và vận dụng

Sau khóa tập huấn các học viên tham gia cơ

bản nắm được: Lập kế hoạch để làm gì, các bước

tiến hành khi lập kế hoạch, cách hoạch toán thu chi

trong sản xuất kinh tế hộ gia đình để từ đó áp dụng

đối với gia đình mình và thông tin cho các hộ khác

trong cộng đồng thôn Kết quả thảo luận nhóm ở 2

thôn của 2 xã cho thấy người dân đã hiểu và vận

dụng các khái niệm căn bản về hạch toán lãi/lỗ, chi

phí, lập kế hoạch sản xuất của gia đình và có

những ví dụ minh họa rất sôi động

LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG HỘ

Để sản xuất đạt được hiệu quả kinh tế (lợi nhuận) cao các hộ gia đình cần có kế hoạch sản xuất phù hợp với

nguồn lực của từng gia đình và điều kiện tự nhiên của

từng địa phương

Các vấn đề cần quan tâm khi lập KH sản xuất:

Sản phẩm định sản xuất là gì ? Tại sao lại chọn mô hình sản xuất đó?

Thị trường tiêu thụ ở đâu? Có ổn định không ? Khách hàng chủ yếu là ai ?

Giá bán như thế nào?

Ước tính CHI và THU

Dự báo hiệu quả kinh tế Gia đình có đủ điều kiện để làm được không ?

Những rủi ro có thể xẩy ra và dự kiến cách đề phòng,

khắc phục

MẪU KẾ HOẠCH SẢN XUẤT NÔNG HỘ

(Dùng cho các hộ SX - Trồng trọt – Chăn nuôi)

- Họ tên:

- Địa chỉ:

- Mô hình sản xuất:

- Số lượng sản phẩm dự kiến:

(Trích tài liệu tập huấn Lập kế hoạch Dự án VM015)

Hoạt động này nhìn chung được triển khai khá thành công Bằng những phương pháp kiểm tra,

đánh giá nhanh nông hộ (hỏi và lấy ví dụ về chi phí, tổng thu, lợi nhuận, thu nhập, của một vài sản phẩm cụ thể như lợn, lúa, ), kết quả thảo luận nhóm với hộ nông dân cho thấy nông dân đã hình thành và biết vận dụng kỹ năng quản lý, lập kế hoạch và hạch toán kinh tế trong sản xuất nông hộ Điều này có tác dụng quan trọng trong việc giúp người dân chủ động tính toán, hạch toán kinh tế để làm ăn có hiệu quả và vươn lên thoát nghèo

Dự án cũng tổ chức lớp tập huấn cho các thành viên Ban quản lý vốn vay luân chuyển của xã, thôn tại Văn phòng BQL huyện Có 14 thành viên tham gia trong đó có 7 nữ và 7 nam tham gia Tuy nhiên hoạt động về vốn vay luân chuyển đã không triển khai do nhiều nguyên nhân khách quan so với thời điểm thiết kế của dự án Với thực tế hiện nay số dư nợ của người dân hưởng lợi dự án với ngân hàng là còn rất cao, đồng thời hiện nay các chương trình dự án khác (như chương trình giảm nghèo 30ª của Chính phủ, Chương trình giảm nghèo của IFAD sắp triển khai thực hiện) cũng đang tiến hành triển khai cho vay vốn, do đó để đảm bảo không chồng chéo Ban chỉ đạo dự án VM015 huyện đã thống nhất với Trung tâm SRD không triển khai hoạt động này

Trang 11

Hộp: Người dân nghèo An Thắng đã biết hạch toán kinh tế hộ gia đình

Dự án đã tổ chức lớp hạch toán kinh tế hộ gia đình Cán bộ Ban quản lý dự án xã và Ban phát triển các thôn được triệu tập về huyện tập huấn Sau khóa tập huấn, cán bộ xã, thôn kết hợp tổ chức tập huấn lại cho bà con thôn bản; đã tổ chức 3 buổi tập huấn cho người dân có cả lý thuyết, thực hành, bài tập làm

cả hồ sơ vay vốn luân chuyển, áp dụng vào thực tiễn luôn Thiết kế dự án ban đầu có hoạt động cho vay vốn luân chuyển Trong đợt tập huấn, cán bộ đặt ra ví dụ nếu được vay vốn 5 triệu từ quỹ quay vòng thì bà con làm gì? Hạch toán như thế nào? Chi phí bao nhiêu? Thu được bao nhiêu sau khi vay vốn? Mặc dù hoạt động vay vốn luân chuyển không được triển khai nhưng bà con đã hiểu được kiến thức hạch toán sản xuất kinh doanh

Ý kiến chị Ma Thị Lưu – xã An Thắng, huyện Pắc Nậm, tỉnh Bắc Kạn.

* Để thực hiện mục tiêu phổ biến các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi phù hợp cho người dân và

được họ áp dụng tạo thêm nguồn thu nhập cho các hộ nghèo, Dự án đã thực hiện hàng loạt các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi tại cơ sở Đến nay, đã thực hiện được 28/30 lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi tại 4 thôn dự án, với đối tượng là tất cả người dân trong thôn hưởng lợi dự

án Phương pháp tập huấn theo cách thức “cầm tay chỉ việc” sẽ giúp người dân nhận thức được vấn

đề và dễ dàng tiếp nhận hơn khi tham gia khóa tập huấn Đồng thời cũng đã hoàn thành 2/2 khóa đào tạo thú y viên thôn bản cho cán bộ thú y xã, các thành viên tham gia quản lý tủ thuốc thú y tại thôn và thiết lập được 02/04 tủ thuốc thú y tại 02 xã, hiện nay các tủ thuốc vẫn duy trì hoạt động và đã tự chủ động trong hoạt động cung cấp các dịch vụ thú y cho người dân trong thôn, xã Phân tích Biên bản các khóa tập huấn cũng như các tài liệu dành cho tập huấn cho thấy các lớp tập huấn sinh kế nông hộ đã được thiết kế khá bài bản, có sự kết hợp chặt chẽ giữa SRD, Ban quản lý Dự án các cấp, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện, Các ảnh hiện trường cho thấy người học đã tham gia khá tích cực vào các hoạt động của các khóa tập huấn, đặc biệt đối với các hoạt động thực hành Sự bài bản trong khâu thiết kế, với nội dung phong phú,

cách thức truyền tải sinh động là nhân tố vô cùng quan trọng lôi cuốn người nghèo tham gia tích cực các

khóa tập huấn và áp dụng vào thực tiễn sản xuất của hộ

Hộp: Các lớp tập huấn đã có những tác động tích cực nâng cao sinh kế

Dự án VM015 đã triển khai rất nhiều các lớp tập huấn về trồng trọt, chăn nuôi, kinh tế nông hộ cho bà con nông dân trong thôn/bản Bà con nông dân trong thôn bản tham gia rất nhiệt tình, đông đủ Sau khóa tập huấn, bà con nông dân đã tích cực áp dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật được tập huấn vào sản xuất nông nghiệp Trước đây, bà con chủ yếu gieo trồng các giống ngô thuần, giờ đây, 100%

bà con nông dân trong thôn đã chuyển sang trồng các giống lai có năng suất cao hơn Trước đây, bà con nghĩ rằng gieo trồng nhiều hạt ngô/ khóm sẽ cho năng suất, sản lượng cao hơn (thường gieo ngô vãi, đến 4-5 hạt/khóm, gieo vãi lung tung) nhưng giờ đây bà con đã hiểu không phải cứ gieo nhiều hạt/khóm sẽ thu được nhiều sản lượng ngô hơn vì nếu gieo quá nhiều hạt trong khóm có nhiều cây lớn lên nhưng không cho thu hoạch Vậy nên giờ đây, bà con chỉ gieo 1-2 hạt ngô lai/khóm mà năng suất vẫn cao Ước tính năng suất ngô sau khi áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới tăng lên 20% so với trước đây

Thảo luận nhóm ở Xã An Thắng và Cổ Linh huyện Pắc Nậm, tỉnh Bắc Kạn.

Trao đổi với cán bộ Ban quản lý Dự án các xã, thảo luận với cộng đồng người dân cho thấy đã có nhiều khóa tập huấn, chuyển giao kỹ thuật tiến bộ nông nghiệp đã được thực hiện tại 2 xã vùng Dự án và đem lại hiệu

Trang 12

dân ngay sau khi được tập huấn có thể áp dụng triển khai thực hiện mô hình và mô hình triển khai sẽ là điểm mẫu để người dân các thôn khác tham quan, học hỏi, vận dụng làm theo, tăng cường tác động lan tỏa của Dự án.

Bên cạnh các hoạt động tập huấn, đã tổ chức các hoạt động thăm quan học tập kinh nghiệm (Thực hiện 02

cuộc thăm quan chéo giữa các Ban quản lý dự án 2 xã, các nhóm nông dân của các thôn; Tổ chức cho các thành viên Ban quản lý dự án huyện xã, người dân 4 thôn thăm quan học tập các

mô hình tốt tại huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình và Phối hợp tổ chức thành công thăm quan mô hình sinh kế thành công tại Campuchia cho các thành viên Ban quản lý, đại diện hộ dân) Nghiên cứu tư liệu cho thấy các hoạt động tham quan học tập kinh nghiệm trong và ngoài nước do Dự

án tổ chức đã tạo điều kiện tốt để cán bộ và nhân dân 2 xã, cán bộ Huyện trao đổi, học hỏi lẫn nhau cách thức triển khai dự án, học hỏi các mô hình làm hay, làm tốt của nhau, rút kinh nghiệm đối với những tồn tại…tăng cường tình đoàn kết, gắn bó giữa người dân và cán bộ cấp

cơ sở Hoạt động tham quan tỉnh bạn (Hòa Bình) cũng như tham quan học hỏi ở Campuchia đã giúp các cán bộ cấp cơ sở và người dân có cơ hội để lần đầu tiên tham quan học hỏi các mô hình phát triển kinh tế, đời sống văn hóa ở nước ngoài, giúp họ có những cảm nhận và thay đổi nhận thức lớn lao hơn đối với công tác phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, phát triển cộng đồng,…

3 Hợp phần 3: Hạ tầng cơ sở, vệ sinh môi trường

Hợp phần này hướng đến các mục tiêu: (1) Đường liên thôn, nhà văn hóa được nâng cấp; (2) Hệ thống dẫn nước sạch, nhà vệ sinh, chuồng trâu bò được xây dựng đảm bảo vệ sinh môi trường trong thôn bản

Kết quả đánh giá cho thấy:

Về khối lượng, kết quả: Đã cải tạo, nâng cấp 7.5 km/7.5km (đạt 100%), mặt đường rộng từ 1.0 m

lên 1.5 m tại 2 thôn Tiến Bộ và thôn Khuổi Làng thuộc xã An Thắng; xây mới 2 nhà văn hóa tại 2 thôn Khuổi Trà (xã Cổ Linh) và thôn Tiến Bộ (xã An Thắng) Cải tạo nâng cấp 2 nhà văn hóa tại 2 thôn Bản Sáng (xã Cổ Linh) và thôn Khuổi Làng (xã An Thắng); hỗ trợ bàn, ghế, loa đài, tủ sách, sách cho các thôn Ngoài ra dự án còn cấp thêm cho xã Cổ Linh mỗi thôn 2 loa cầm tay và ống dẫn nước cho thôn Khuổi Trà

Hệ thống dẫn nước sạch, nhà vệ sinh, chuồng trâu bò được xây dựng đảm bảo vệ sinh môi trường trong thôn Dự án đã xây dựng được 3/4 công trình nước sạch tại 3 thôn với 53 hộ dân và 3 điểm trường học được sử dụng nước sạch (Thôn Tiến Bộ 10 hộ và 01 điểm trường; Thôn Khuổi Làng 16

hộ và 2 điểm trường; Thôn Khuổi Trà 27 hộ) Tại thôn Bản Sáng đã có công trình nước sạch nên toàn bộ kinh phí xây dựng nước sạch tập trung cho thôn Khuổi Trà Đối với các hộ không được hưởng lợi trực tiếp từ công trình nước sạch dự án đã hỗ trợ cho 4 thôn mỗi thôn 25 thùng đựng nước loại 180 lít

Đối với nhà vệ sinh xây dựng được 87/100 nhà đạt 87% (trong đó Xã An Thắng đạt 46/50, Xã

Cổ Linh đạt 41/50) Do một số hộ thực hiện chưa đạt yêu cầu theo thiết kế của dự án nên đã không được nghiệm thu Phần kinh phí còn thừa chuyển sang làm chuồng trâu, bò

Về chuồng trâu, bò xây dựng được 59/50 chuồng đạt 118% (Xã An Thắng đạt 35/25, xã Cổ Linh đạt 24/25) Ngoài ra dự án cồn hỗ trợ cho mỗi hộ hưởng lợi 24 m2 bạt xanh để che chắn gió cho trâu, bò Dự án còn hỗ trợ cho mỗi xã 01 tủ thuốc thú y đặt tại ủy ban nhân xã

Trang 13

Đối với khâu thiết kế: Việc thiết kế các hạng mục là phù hợp với điều kiên địa hình, địa chất của

vùng núi và lượng kinh phí của dự án

- Về đường liên thôn với B=1.5 m là phù hợp với hiện tại, song trong tương lai khi mà sản xuất hàng hóa tăng yêu cầu về hiện đại hóa nông thôn thì nên mở rộng mặt đường để tiện cho việc vận chuyển hàng hóa là nhu câu cần được quan tâm

- Về công trình nước sạch: Vị trí các bể chứa nước và các đường ống dẫn nước là phù hợp tuy nhiên nguồn nước ở thôn Tiến Bộ rất hạn chế do đó các hộ hưởng lợi vẫn thiếu nước dùng trong mùa khô

- Về nhà vệ sinh, chuồng trâu, bò là phù hợp, song trong tương lai tiếp tục vận động các hộ khi mà kinh tế phát triển thì nên xây dựng nhà vệ sinh hiện đại để đảm bảo vấn đề môi trường

- Về nhà văn hóa: Tương đối phù hợp song các nhà văn hóa vẫn chưa có nhà vệ sinh nếu xây thêm nhà vệ sinh tại nhà văn hóa thì sẽ thuận tiện và tốt hơn cho bà con khi đến sinh hoạt

Về chất lượng công trình: Qua phỏng vấn các hộ hưởng lợi, Đoàn đánh giá nhận thấy người dân đã

được tham gia góp ý về hồ sơ thiết kế và tham gia giám sát cộng đồng nên chất lượng công trình tương đối đảm bảo Tuy nhiên đối với các hạng mục giao trực tiếp cho dân tự thi công thì cần rút kinh nghiệm phải hướng dẫn cách làm rất cụ thể và chi tiết, tránh trường hợp dân làm không đúng thiết kế hoặc chất lượng, không đảm bảo dẫn đến không nghiệm thu được Đây là bài học rút ra cho thực hiện các dự án khác

Đánh giá và nhận định về kết quả đầu ra đạt được: Tất cả các hộ hưởng lợi đều phát biểu rằng các

hạng mục được đầu tư đều rất thiết thực đối với họ và họ mong muốn dự án sẽ kéo dài thêm hoặc có một dự án khác tương tự để tất cả các hộ dân của 2 xã đều được đầu tư đầy đủ các hạng mục trên Điều đó chứng tỏ các hạng mục đã đầu tư là đúng và vừa phải với khuôn khổ của dự án

Tính hiệu quả của các hoạt động dự án liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường.

+ Các kết quả dự án liên quan đến hợp phần nước sạch và vệ sinh môi trường đã được thiết kế và thi công đúng tiến độ mà dự án đã đề ra

+ Chất lượng các kết quả dự án đã được người dân chấp nhận và tham gia hưởng ứng rất nhịệt tình, bằng chứng là họ rất nhiệt tình tham gia góp ý, cùng nhau giám sát trong quá trình thực hiện dự án Riêng hạng mục nhà vệ sinh và chuồng trâu, bò dự án hỗ trợ một phần kinh phí còn việc thi công dân tự lo, song có một số nhà vệ sinh không đạt chất lượng đã không được nghiệm thu dân cũng vui

vẻ chấp nhận vì bản thân họ đã biết tôn trọng chất lượng của công trình sau khi cán bộ dự án tiến hành công tác tập huấn và giải thích cho họ

+ Phương pháp thực hiện để đạt được kết quả của dự án nói chung là phù hợp với hoàn cảnh của địa phương đây là dự án ở vùng sâu vùng xa đặc biệt đa số dân hưởng lợi là đồng bào các dân tộc ít người xã Cổ Linh có 4 dân tộc ( H Mông, Tày, Nùng, Dao), xã An Thắng có 5 dân tộc (H Mông, Dao, Nùng, Mường và Tày) Tỷ lệ hộ nghèo cao như xã Cổ Linh 53.043%, xã An Thắng 70.04%

Do đó, SRD đã kết hợp chặt chẽ với Ban quản lý dự án huyện và xã thực hiện lồng ghép và tiến hành đồng thời các hợp phần với nhau nên người dân tiếp thu và nắm bắt các vấn đề liên quan đến

dự án nhanh đem lại hiệu quả cao Tuy nhiên ý kiến của ông Thành (Chủ tịch xã Cổ Linh) cho rằng cần rút kinh nghiệm là do kế hoạch thực hiện chủ yếu là đưa từ trên xuống nên tính phù hợp chưa cao, nhiều lúc chậm tiến độ do đó cần tăng cường hơn nữa trong việc phối kết hợp để xây dựng kế hoặch từ trên xuống và từ dưới lên

+ Đánh giá của chính quyền địa phương liên quan đến sự can thiệp của dự án: Chính quyền huyện Pác Nặm và 2 xã An Thắng và Cổ Linh đều đánh giá cao hiệu ích thiết thực của các hạng mục mà

Trang 14

thành nhận thức của người dân về mọi mặt được tăng cao, an sinh xã hội được đảm bảo, kinh tế được phát triển, môi trường cuộc sống bước đầu được cải thiện.

4 Hợp phần 4: Bình đẳng giới

Hợp phần này hướng đến các mục tiêu: (1) Các thúc đẩy viên về giới có đủ trình độ và kỹ năng áp dụng các công cụ giới ở cấp cộng đồng; (2) Nhận thức về bình đẳng giới của cán bộ địa phương và người dân được cải thiện thông qua các cuộc tập huấn, nói chuyện, hội thảo và (3) Kế hoạch giám sát và đánh giá giới được xây dựng kèm theo các chỉ số giới

Kết quả đánh giá cuối kỳ cho thấy:

* Dự án đã tổ chức lớp tập huấn đào tạo các tập huấn viên tại huyện cho 25 cán bộ địa phương và nông dân chủ chốt, có 10/25 (40%) là cán bộ phụ nữ Tiếp đó, tổ chức 19 buổi nói chuyện về giới cho người dân được hưởng lợi từ dự án với 672 người tham gia trong đó có 376 nam (55,95%) và

296 nữ (44,05%) Tháng 1/2011, tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về bình đẳng giới Tại đây các đại biểu đã tổng kết những hoạt động đã triển khai, đánh giá các kết quả đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục nhằm tăng cường hơn nữa vị thế của người phụ nữ trong cộng đồng xã hội

và gia đình Biên soạn tài liệu về bình đẳng giới, in 350 tờ rơi minh họa bằng các hình vẽ về bình đẳng giới phát cho các hộ gia đình ở thôn bản thuộc phạm vi tác động của dự án Các nội dung về giới được lồng ghép trong tất cả các hoạt động, tạo nên sự tác động dây chuyền tăng cường hiệu quả

và đảm bảo tính bền vững của các kết quả đạt được về bình đẳng giới

Để xây dựng năng lực cho các thúc đẩy viên có đủ trình độ và kĩ năng áp dụng công cụ giới ở cộng đồng, Dự án đã triển khai các hoạt động bài bản và khá công phu, theo quy trình logic như chuẩn bị nguồn nhân lực đó là cán bộ nòng cốt của xã và nông dân cốt cán của các thôn bản; xây dựng “Tài liệu hướng dẫn nói chuyện – trao đổi về giới”, triển khai các cuộc nói chuyện – trao đổi tại các thôn bản và tổ chức Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm, đưa ra các kết luận và khuyến nghị hỗ trợ cho việc tiếp tục phát triển bền vững các kết quả đã có

Tiếp cận với đội ngũ cán bộ cốt cán giới ở xã, chúng tôi nhận thấy ở họ lòng nhiệt tình, sự tự tin Họ nắm vững các nội dung, phân tích được hiện trạng về bình đẳng giới ở địa phương và sự cần thiết phải thay đổi, biết cách tuyên truyền vận động giới cho bà con thôn bản và lồng ghép nội dung giới trong các hoạt động

** Để nâng cao nhận thức và cải thiện tình hình thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ và người dân tại các thôn bản, dự án đã triển khai các hoạt động với 2 hình thức chủ yếu là tổ chức lớp tập huấn tại xã, tổ chức các cuộc nói chuyện - trao đổi về giới với bà con và biên soạn, in ấn, cấp phát tài liệu

về giới tới các hộ gia đình 100% số người tham gia tọa đàm cho biết họ đều đã được phát tài liệu bình đẳng giới Tài liệu được viết ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, được minh họa bằng các hình ảnh khá đẹp Bà con tiếp cận tài liệu bằng cách chuyền tay nhau để xem, để đọc, ai không đọc được thì có chồng/vợ hoặc con cái đọc cho nghe, giải thích nội dung các bức tranh cho nhau hiểu

Điều quan trọng là họ nhận thức được tác động về giới không thể chỉ ở hoạt động độc lập mà phải được lồng ghép trong hệ thống các hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi Các hoạt động phát triển thôn bản, dân chủ cơ sở, vệ sinh môi trường, tạo điều kiện để con em được đến trường… đều được gắn kết yếu tố giới

Trang 15

Nhận thức của đội ngũ cốt cán cũng được nâng cao dần thể hiện ở quan niệm đối tượng tác động trong việc thực hiện bình đẳng giới Trao đổi với cán bộ xã An Thắng, các chị tâm sự: Trước khi có

dự án VM015, Hội phụ nữ huyện cũng đã tổ chức một vài cuộc nói chuyện về bình đăng giới ở xã nhưng chưa lần nào nói chuyện với bà con thôn bản, và lúc đó chúng tôi có quan niệm chỉ nói chuyện về giới trong chị em phụ nữ mà không tổ chức trao đổi trong nam giới Dự án VM015 đã đưa nội dung tuyên truyền giáo dục giới tới tận thôn bản và đối tượng trao đổi là cả nam và nữ (số liệu trên cho thấy có tới 55,95% là nam tham gia các cuộc nói chuyện về giới) Các hoạt động đã đem lại kết quả tốt, nhận thức về BĐG trong cả nam và nữ được nâng cao Vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội đã có nhiều thay đổi Phụ nữ tham gia hội họp nhiều hơn, hay phát biểu hơn Chồng tham gia công việc gia đình nhiều hơn, tôn trọng vợ hơn, bạo lực gia đình giảm

Cán bộ huyện và xã đều đánh giá cao sự thay đổi trong nhận thức và hành động về bình đẳng giới:

• Ông Chu Văn Trương, cán bộ huyện Pắc Nặm nói: “Sự thay đổi khá rõ nét, không chỉ trong nhận thức mà đã thể hiện ở hành động cụ thể Tôi xin đơn cử một ví: Ông Lường Văn Chấn

ở thôn Bản Sáng, xã Cổ Linh nói với tôi rằng: trước đây mình có khi nào tham gia công việc chăn nuôi lợn đâu, tòan vợ mình làm Nay mình cũng cho lợn ăn, chăm sóc sức khỏe cho nó Mình thấy chăn nuôi lợn cũng vất vả lắm”

• Ông Nguyễn Văn Thành, chủ tịch UBND xã Cổ Linh cho biết: nhận thức về bình đẳng giới của bà con trong xã đã được cải thiện, điều này được thể hiện trong việc phụ nữ đã tự ý thức được vai trò của mình trong gia đình và cộng đồng Trước đây, chúng tôi tổ chức họp thôn

để thì đa phần là nam giới đi, nay phụ nữ đi rất nhiều, có nhiều cuộc họp phụ nữ chiếm 50% Chị em mạnh dạn hỏi khi chưa hiểu hoặc phát biểu ý kiến của mình Trong cơ cấu cán

bộ thì xã cũng đã có 01 trưởng thôn là phụ nữ Trưởng thôn do bà con bầu ra, điều đó chứng

tỏ bà con tin ở sự lãnh đạo của phụ nữ Thành phần trong ban phát triển thôn có 2/5 người (chiếm 40%) là phụ nữ tham gia

Hộp: Ý kiến của bà con thôn bản về sự thay đổi trong nhận thức và hành động về bình đẳng giới

Ảnh 2 Ông Lường văn Xuyến (người

đứng) và bà con thảo luận

Mình cảm ơn Dự án lắm.

Trang 16

cái Chồng phải giúp đỡ vợ làm các công việc sản xuất và chăn nuôi, lấy củi, lấy nước… Bây giờ mình cũng hiểu phụ nữ và đàn ông đều có quyền như nhau, phụ nữ cùng có quyền tham gia các công việc của thôn bản và mình tin là mình làm được Mình cũng hiểu là con trai hay con gái ta cũng quý như nhau, chúng nó mà học được thì ta cũng cho chúng đi học

Khi được hỏi về những thay đổi trong hành động về bình đẳng giới, bà con cho biết: Trước đây mình nghĩ mình là phụ nữ đi lấy chồng thì phải làm theo ý của chồng, phải làm nhiều công việc của gia đình, mà đàn ông hắn cũng nghĩ như vậy Bây giờ thì nhiều cái khác rồi, đàn ông họ cũng đi lấy nước, lấy củi, nuôi lợn, gà, chăm sóc con cái Có khoảng 60% các chị cho biết họ được nghỉ ngơi nhiều hơn (giờ nghỉ ngơi tăng lên khoảng 1-2h/ngày) Mình được đi họp bàn về xây dựng nhà vệ sinh, sửa đường, làm đường ống để lấy nước Trong cuộc họp, mình cũng phát biểu nhiều mà họ cũng nghe mình Mình được tôn trọng hơn

Tình trạng bạo hành giới giảm Ông Triệu Sỹ Hàm, trưởng thôn Bản Sáng cho biết ông đã làm trưởng thôn hơn 20 năm, năm nào cũng phải hòa giải việc chồng đánh, chửi mắng vợ Song năm vừa qua không có vụ nào Ví dụ: trong bản, có gia đình ông Lường Văn Lợi, hay say rượu rồi chửi mắng vợ Mọi năm mỗi năm ông phải hòa giải ít nhất là 2 lần, nhưng năm 2010 và mấy tháng nay không thấy ông Lợi chửi mắng vợ lần nào, ông mừng lắm

Trong gia đình, phụ nữ đã được bình đẳng trong quá trình tiếp cận, kiểm soát và ra quyết định các công việc của gia đình và trong các cuộc họp ở cộng đồng, những ý kiến phát biểu của chị em được tôn trọng và đưa vào nghị quyết của cuộc họp lấy biểu quyết như: Làm đường, làm chuồng trại, làm nhà vệ sinh, làm nước sạch vv…

*** Kế hoạch giám sát và đánh giá giới được xây dựng kèm theo các chỉ số giới Ban quản lý dự án các cấp đã bám sát văn kiện dự án để thực hiện các mục tiêu nói chung và mục tiêu về giới nói riêng; quan tâm đến việc lồng ghép vấn đề giới trong mọi hoạt động, xem đó là một trong các chỉ tiêu đo mức độ thành công của các hoạt động được dự án triển khai Các chỉ số đánh giá giới đã được thể hiện trong kế hoạch giám sát, đánh giá Trong quá trình thực hiện kế hoạch, các chỉ số này

đã được quan tâm khi tổ chức các lớp tập huấn và các buổi nói chuyện ở cộng đồng và đã được thể hiện trong các báo cáo các họat động của dự án

Hộp: Nội dung về bình đẳng giới được lồng ghép trong các hoạt động

Chúng tôi lồng ghép nội dung về bình đẳng giới trong mọi hoạt động, từ việc huy động bà con tham gia hội họp, trao đổi về kế hoạch phát triển thôn bản, đến việc huy động nguồn nhân lực xây dựng công trình vệ sinh, nước sạch, cải tạo đường sá, nhà văn hóa Khi đi triển khai công việc của Đảng ủy bao giờ tôi cũng rất lưu ý đến vấn đề bình đẳng giới Thông qua các hoạt động của dự án, nhận thức và hành động của bà con thay đổi nhiều Xã An Thắng trước đây có xẩy ra một số vụ chồng đánh vợ nhưng trong năm qua không có vụ nào Trước đây, các cuộc họp bàn về các vấn đề phát triển thôn bản thường chỉ có nam giới, thỉnh thoảng mới có phụ nữ đi Nay đã thay đổi, các lớp tập huấn mà dự án tổ chức về dân chủ cơ sở, về lập kế hoạch sản xuất, kĩ thuật trồng trọt, chăn nuôi nhằm nâng cao năng lực cho người dân trong cộng đồng đều có tỉ lệ nữ tham gia trên 50 – 60%

Bà Đặng Thị Sai, Bí thư Đảng ủy xã An Thắng

Trang 17

Tuy vậy, việc xây dựng kế hoạch giám sát và đánh giá giới kèm theo các chỉ số giới còn bộc lộ những hạn chế Trong báo cáo các hoạt động, yếu tố giới chỉ mới dừng ở việc thông báo các con số tham gia hoặc hưởng lợi (nam/nữ) mà chưa phân tích được chất lượng của các tác động đến đời sống của giới nữ cũng như vị thế của các giới trong gia đình, cộng đồng.

**** Nghiên cứu thực địa cho thấy ở địa phương đội ngũ cán bộ cốt cán về giới đã hình thành, đã

có tác dụng thúc đẩy các hoạt động về giới tại địa phương Tuy vậy còn hạn chế về năng lực tuyên truyền, giáo dục và sử dụng các công cụ giới trong quá trình giám sát đánh giá và chỉ đạo quản lí các hoạt động phát triển cộng đồng Bên cạnh đó, tâm lí trọng nam, khinh nữ vẫn còn rất nặng nề, đặc biệt là ở các thôn bản chị em có học vấn thấp, điều kiện giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài khó khăn (ví dụ ở thôn Khuổi Trà vẫn còn tình trạng ưu tiên cho con trai đi học nhiều hơn con gái) Một

bộ phận chị em, vẫn có tâm lí thu mình, e dè, ngại tiếp xúc

Đoàn tư vấn cho rằng để làm tốt nhiệm vụ thúc đẩy viên về giới của xã, đòi hỏi phải có tri thức về giới, am hiểu luật pháp liên quan đến giới, kĩ năng tuyên truyền giáo dục và kĩ năng áp dụng công

cụ giới, phân tích giới trong quá trình quản lí, chỉ đạo, giám sát, đánh giá, tổ chức triển khai phù hợp với đối tượng, điều kiện cụ thể tại địa phương Để đào tạo đội ngũ như vậy với thời gian 2 ngày

là quá ngắn, chưa đủ thời gian vật chất cần thiết và cũng như chưa chuyển tải đủ nội dung cần có Hơn thế, bất bình đẳng giới đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi người, với thời gian hoạt động còn ngắn, phạm vi tác động còn hẹp của dự án, những thay đổi về nhận thức cũng như hành động mặc

dù rất cơ bản nhưng chỉ mới là bước đầu Trình độ học vấn thấp, công cụ để tuyên truyền giáo dục còn thiếu thốn, quá thô sơ, xơ cứng, thiếu sinh động cũng là những nguyên nhân hạn chế tác động Trong nội dung tuyên truyền cũng chưa đề cập đến việc đối xử bình đẳng với trẻ em trai và trẻ em gái

5 Hợp phần 5: Tăng cường năng lực quản trị địa phương thông qua các tổ chức cộng đồng

(CBO).

Hợp phần này hướng đến các mục tiêu: (1) Các Trưởng nhóm, thành viên Ban quan quản lý

có đủ năng lực thúc đẩy và quản lý nhóm; (2) Vị thế và tiếng nói của người dân được cải thiện và

tôn trọng và (3) Tinh thần tương trợ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và cải thiện cuộc sống của người dân được củng cố và tăng cường

Kết quả đánh giá cuối kỳ cho thấy :

* Tại các thôn bản, Ban phát triển thôn được thành lập, thành viên của Ban do bà con trong thôn bầu

ra trên cơ sở tự nguyện và dân chủ công khai, chọn người có văn hóa, có năng lực tổ chức, quản lý

dự án đại diện cho cộng đồng Ban này có nhiệm vụ tổ chức bà con triển khai các hoạt động phát triển thôn bản, trong đó có các hạt động của dự án

Để trang bị kỹ năng cho các cán bộ cơ sở, các thành viên Ban phát triển ở cơ sở, khóa tập huấn về

kỹ năng quản lý và điều hành nhóm được thực hiện vào ngày 15/05/2009 tại Văn phòng dự án VM015

Trang 18

để xây dựng một nhóm tốt, cách quản lý nhóm, cách trình bày trong cuộc họp nhóm và thôn, đồng thời được tập huấn thêm về các kỹ năng huy động nguồn lực, thúc đẩy, … Theo báo cáo, Khóa tập huấn được các học viên tham gia nhiệt tình, vì thấy được sự quan trọng trong việc hoạt động theo nhóm, từ đó các học viên biết cách làm thế nào để xây dựng một nhóm tốt Khóa tập huấn về kĩ năng quản lí và điều hành nhóm cùng với các lớp tập huấn/các cuộc nói chuyện về dân chủ cơ sở, các lớp tập huấn về kĩ thuật trồng ngô, lúa, chăn nuôi gia súc… đã trang bị cho các thành viên Ban phát triển thôn và các trưởng nhóm năng lực thúc đẩy và quản lí nhóm.

BQL huyện, xã đã cùng họp với người dân để trao đổi về những sở thích của người dân Trên cơ sở nhu cầu và sở thích của từng cá nhân, người dân đã thảo luận và đi đến thiết lập các nhóm cùng sở thích tại các thôn/ bản Tại xã An Thắng, mỗi thôn thành lập 4 nhóm sở thích, gồm: Nhóm ngô, nhóm lúa, nhóm chăn nuôi lợn, nhóm chăn nuôi gà Mỗi nhóm bầu nhóm trưởng, nhóm phó Các nhóm đã bước đầu đi vào hoạt động, hỗ trợ tốt cho bà con trong phát triển kinh tế Ví dụ nhóm Lúa

ở thôn Tiến Bộ họp bàn nhau lựa chọn ngày cày ải cho phù hợp thời vụ Nhóm cử người thường xuyên thăm ruộng để kịp thời phát hiện sâu bệnh Nhóm Ngô thì tổ chức thảo luận so sánh năng suất và cách trồng ngô lai/ ngô thuần chủng…Ở xã Cổ Linh, các thôn cũng đã hình thành các nhóm

sở thích nhưng các nhóm chưa đi vào hoạt động

** Vị thế và tiếng nói của người dân được cải thiện và tôn trọng.

Vị thế và tiếng nói của người dân được tôn trọng hay không phải xuất phát từ hai phía Một là bản thân đội ngũ cán bộ xã, thôn giác ngộ, chủ động thực hiện dân chủ đối với nhân dân, tôn trọng các ý kiến của dân Ngược lại, người dân hiểu vị thế của mình và sử dụng nó như một công cụ đảm bảo quyền dân chủ, đóng góp tích cực cho sự phát triển của cộng đồng Tuy nhiên, để hiểu được vị thế của mình, hiểu được giá trị của tiếng nói của nhân dân, cả cán bộ và người dân cần phải có những hiểu biết cần thiết qua các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là qua các khóa tập huấn/nói chuyên, trao đổi Thông qua các lớp tập huấn/nói chuyện về dân chủ cơ sở tại huyện, xã và thôn bản, nhận thức của cán bộ và người dân được nâng cao Do vậy, cán bộ tôn trọng vị thế của người dân, biết lắng nghe những ý kiến đóng góp của bà con ; người dân cũng cởi mở, tự tin, mạnh dạn nêu các ý kiến của mình với Ban phát triển thôn, với cán bộ xã, huyện

Việc bà con được tự bầu ra Ban phát triển thôn, tự do lựa chọn lập nhóm sở thích và vận hành hoạt động các nhóm theo lịch riêng của từng nhóm nhằm giải quyết các vấn đề nẩy sinh, đáp ứng các yêu cầu sản xuất, là một minh chứng về sự cải thiện vị thế của người dân trong cộng đồng

*** Tinh thần tương trợ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và cải thiện cuộc sống của người

dân được củng cố và tăng cường

- Đoàn kết, bình đẳng, tương thân, tương ái vốn là truyền thống tốt đẹp trong thôn bản các dân tộc thiểu số trên đất nước Việt Nam nói chung và ở các xã thuộc huyện Pác Nặm nói riêng Mổ con lợn con cũng chia đều cho cả làng, có cơm gạo mới thì cả làng cùng ăn Song dự án đã góp phần quan trọng trong việc củng cố và tăng cường tinh thần đòan kết giúp đỡ nhau

- Dự án đã thiết lập các yếu tố góp phần tăng cường giao lưu, tạo nên những chất xúc tác, cầu nối cho sự đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau trong cuộc sống: nhà văn hóa thôn bản được sửa sang sạch

Trang 19

đẹp, có các thiết bị loa đài, quạt, bàn ghế… ; đường đi lại trong thôn bản được mở rộng ; các cuộc tập huấn /nói chuyện – trao đổi về cách thức sản xuất, về đoàn kết làm ăn, về bình đẳng giới; các nhóm cùng sở thích được thành lập…,

Hộp: Dự án đã góp phần tăng cường tình đoàn kết, tương trợ nhau trong thôn bản

Trước đây ta cũng đã giúp nhau, thương nhau rồi, nhưng nay họp với dự án, ta biết rõ hơn là phải giúp đỡ nhau nhiều hơn thì mới có cuộc sống tốt hơn, làm một mình thì thu hoạch được ít hơn Do đó, bây giờ ta giúp đỡ nhau nhiều hơn trong sản xuất và trong sinh hoạt Ví dụ: bày cho nhau cách sản xuất, khi có ai ốm đau thì đi thăm hỏi, giúp đỡ cả tiên, gạo khi nhà nào có việc

mà thiếu thì cho nhau vay Khi có người trong thôn bị sai về pháp luật thì bà con chỉ bảo cho cái sai, nhắc nhở để tiến bộ Không có sự tranh chấp mất đòan kết trong thôn bản.

Thảo luận nhóm ở thôn Bản Sáng , xã Cổ Linh, huyện Pắc Nậm, tỉnh Bắc Kạn.

*** Thành lập các nhóm sở thích để hỗ trợ nhau sản xuất, hỗ trợ nhau trong cuộc sống là một ý tưởng sáng tạo được áp dụng phù hợp với điều kiện nông thôn Việt Nam Dự án đã thực hiện được

về cơ bản những mục tiêu đề ra: thành lập Ban phát triển thôn, thiết lập được một số nhóm sở thích tại thôn và bước đầu đi vào vận hành; vị thế và tiếng nói của người dân được cải thiện và tôn trọng; Tinh thần tương trợ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và cải thiện cuộc sống của người dân được củng cố và tăng cường

Mỗi hợp phần trong dự án là một mắt xích trong hệ thống guồng quay của các hợp phần Kết quả của hợp phần này vừa là hệ quả hoạt động của các hợp phần khác, đồng thời cũng là tiền đề cho sự thành công của các hợp phần khác Kết quả của các hoạt động: xây dựng cơ chế dân chủ trong cộng đồng, cải thiện môi sinh, nâng cấp nhà văn hóa thôn, nâng cao nhận thức và thay đổi hành động về bình đẳng giới, nâng cao nhận thức và kĩ năng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất… đã tạo những điều kiện rất tốt, tạo nên những chất xúc tác cho việc thực hiện mục tiêu của hợp phần 5 Bên cạnh đó, cũng có thể thấy truyền thống tương thân, tương ái vốn hình thành từ lâu đời trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, Pác Nặm nói riêng

Mặc dù vậy, còn một vài tồn tại đáng lưu ý trong triển khai hợp phần này Đó là:

• Ở xã An Thắng, các nhóm sở thích đã đi vào hoạt động và bước đầu cho thấy hiệu quả, song

ở xã Cổ Linh các nhóm mới được thành lập và chưa hoạt động

• Các nhóm đã đi vào vận hành thì các hoạt động cũng mang tính chất tự phát nhiều hơn, nhằm giải quyết những vấn đề nẩy sinh nhất thời mà chưa có kế hoạch hoạt động theo thời gian, chưa có kiểm tra giám sát, đánh giá tiến độ…

• Các tồn tại này xuất phát từ 2 nguyên nhân chủ yếu Đó là (1) Việc xây dựng nhóm sở thích trong thôn bản là một mô hình mới, bà con thôn bản chưa có kinh nghiệm Ngay Ban quản lí

dự án xã cũng chưa có kinh nghiệm tổ chức, điều hành, hỗ trợ Bên cạnh đó (2) Các cán bộ huyện/ xã còn kiêm nhiệm nhiều công việc nên chưa kiểm tra, đôn đốc, giám sát thường xuyên

Trang 20

II MỘT SỐ TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA DỰ ÁN

1 Về Kinh tế

Thứ nhất: Thay đổi tư duy kinh tế sinh kế bền vững cho cả lãnh đạo và cộng đồng nghèo địa phương Nếu như trước đây tư duy kinh tế tự cấp, tự túc, sản xuất nông nghiệp quảng canh là nguyên nhân căn bản để phần lớn hộ dân ở đây còn nghèo đói thì giờ đây tư duy, nếp nghĩ của bà con đã được đổi mới căn bản Việc xây mới và cải tạo nhà văn hóa, trang bị loa đài, tủ sách là cơ sở

để nâng cao nhận thức cho cán bộ xã, thôn và người hưởng lợi về mọi mặt như nhận thức về việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, về bình đẳng giới, tính đoàn kết tương thân tương

ái trong cộng đồng Kết quả nghiên cứu thực địa cho thấy người dân nghèo đã nhận thức sâu sắc về hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nhằm nâng cao đời sống của các hộ dân Bên cạnh đó với các kiến thức về quản lý dự án của cả cán bộ xã-thôn và người dân được tăng cường là bài học rất có giá trị trong việc tham gia quản lý các dự án khác trong tương lai Bên cạnh đó, người dân đã bước đầu làm quen với phương thức sản xuất, canh tác và phát triển bền vững, không chỉ quan tâm phát triển kinh tế mà còn chú trọng đối với các vấn đề xã hội, môi trường trong sản xuất và đời sống

Thứ hai: Giao lưu thông thương hàng hóa được thuận lợi: Việc nâng cấp, cải tạo tuyến đường tại 2 thôn Khuổi Làng và Tiến bộ của xã An Thắng đã mang lại hiệu ích rất thiết thực cho các hộ hưởng lợi ở đây: người dân đi lại dễ dàng hơn, bây giờ có thể đi lại và vận chuyên hàng hóa ra vào thôn bằng xe máy còn trước dự án chỉ có thể đi bộ

Chi phí vận chuyển hàng hóa giảm từ 40%- 50% vì trước đây vận chuyển hàng hóa rất khó khăn chủ yếu là khênh, gùi hoặc gánh Chi phí đầu vào cho sản xuất giảm khoảng 20%, lợi nhuận thu được từ đầu ra tăng cao khoảng 30-50% vì trước dự án chủ yếu là trồng lúa và ngô thuần sau dự án trồng lúa và ngô lai

Thứ ba: Góp phần cải thiện thu nhập của nông hộ và phát triển kinh tế trong vùng: Với các kiến thức đã được tập huấn liên quan đến trồng trọt, chăn nuôi, phát triển sinh kế nông hộ đã góp phần tăng năng suất, sản lượng Kết quả thảo luận nhóm cho thấy với việc áp dụng các giống mới, đặc biệt là giống lai cộng với kỹ thuật canh tác tiến bộ được áp dụng sau tập huấn, năng suất ngô tăng bình quân trên 20% so với trước khi thực hiện dự án Các hỗ trợ của dự án cho chuồng trại, tủ thuốc thú y,…đã góp phần ổn định và phát triển đàn trâu, bò ở địa phương tăng cường sức kéo cho sản xuất nông nghiệp Mặc dù dự án hỗ trợ xây dựng chuồng trâu, bò cho khoảng 24% các hộ trong

4 thôn của 2 xã An Thắng và Cổ Linh, song hiện tại đa số các hộ trong xã đã có chuồng trâu, bò và được bảo vệ chống rét tốt Thực tế trong năm qua, không có trâu bò chết trong mùa đông giá rét là minh chứng rõ nét nhất cho những tác động kinh tế của Dự án mang lại

Bên cạnh đó, cũng còn có những tác động kinh tế khác như các công trình nước sạch của Dự án đã giúp ngưới dân giảm thời gian đi lấy nước giành thời gian này cho việc chăm sóc con cái và làm thêm việc khác tăng thu nhập cho kinh tế của gia đình Đồng thời môi trường sống tốt hơn gỉảm bệnh tật như: bệnh sốt xuất huyết, bệnh phụ khoa, bệnh đau mắt, đặc biệt là bệnh tiêu chảy (giảm 20%), do đó nâng cao sức sản xuất và tiết kiệm chi phí thuốc chữa bệnh

Trang 21

2 Về Xã hội

Tác động xã hội quan trọng nhất mà dự án mang lại là đã giúp cộng đồng người nghèo địa phương biết, hiểu và vận dụng các quy định về dân chủ cơ sở vào trong cuộc sống, nâng cao vị thế của người dân được tham gia các hoạt động của Dự án, và chính quyền địa pguwowngđịa phương, tiếng nói của họ được tôn trọng Nhận thức của người hưởng lợi về thể chế chính sách của Đảng và nhà nước đối với người nghèo và dân tộc thiểu số được nâng lên Người dân được tham gia vào việc xây dựng kế hoạch thôn bản, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện

Các hoạt động của dự án góp phần cải thiện tình hình thực hiện bình đẳng giới trong xã hội Tăng cường tính tự tin, niềm vui, tinh thần tham gia, thể hiện mình của chị em trong các hoạt động xã hội Các hoạt động chung của thôn bản đã thu hút được sự tham gia của chị em, động viên khích lệ và đánh giá đúng những đóng góp ý kiến của chị em

Các hoạt động trong hợp phần nước sạch và vệ sinh môi trường đã có những tác động hết sức mạnh

mẽ đến đời sống tinh thần và vật chất đối với người hưởng lợi đặc biệt là người nghèo và dân tộc thiểu số và có sức lan tỏa rõ rệt Do khuôn khổ của dự án số hộ hưởng lợi chỉ chiệm khoảng 30%, song người dân nhận thấy công trình góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường rất tồt nên các hộ chưa được hưởng lợi từ dự án đã tự bỏ tiền để tự xây dựng nhà vệ sinh cho riêng mình đặc biệt một số hộ kinh tế khá đã tự xây nhà vệ sinh hiện đại, tính đến thời điểm đoàn kiểm tra đến làm việc số hộ trong thôn có nhà vệ sinh đã tăng lên đến 60%- 70% Người dân đã nhận thấy vai trò của nước sạch đối với cuộc sống nên nhiều hộ dân chưa được hưởng lợi đều mong muốn sẽ được sử dụng nước sạch trong tương lai Khi có người bệnh đã kịp thời vận chuyển đến trạm xá nhanh hơn đảm bảo tính mạng cho người dân

Tác động xã hội quan trọng khác của Dự án là đã tăng cường hợp tác, phát triển cộng đồng Tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương trợ lẫn nhau trong thôn bản được nâng cao Các hộ đã giúp nhau trong sản xuất, khi có người ốm đau người dân đã biết thăm hỏi và chia sẻ khó khăn với nhau, góp phần đảm bảo an sinh xã hội nông thôn

3 Về Môi trường

Vấn đề môi trường đã được lồng ghép, quan tâm trong quá trình thiết kế cũng như thi công dự

án Các hạng mục đề ra trong dự án chủ yếu liên quan đến cải thiện môi trường, làm cho môi trường trong thôn, bản ngày càng được cải thiện Các quan sát trực quan cho thấy môi trường nông thôn bước đầu được cải thiện Cán bộ xã, thôn cần quan tâm duy trì nhân rộng để môi trường sống ngày càng tốt hơn

+ Các công trình và các hỗ trợ từ Dự án đã mang lại các tác động tích cực như: Nâng cao kiến thức

về môi trường của người dân Cụ thể họ tích cực tham gia và nhân rộng các vấn đề liên quan đến môi trường như tự làm thêm các nhà vệ sinh, chuồng trâu, bò, tham gia sử dụng và bảo vệ các công trình nước sạch Bên cạnh đó, còn làm thay đổi thói quen của người dân dùng nước sông suối sang dùng nước hợp vệ sinh và từ thói quen đi vệ sinh tự do sang việc đi vệ sinh tại nơi quy định góp phần đáng kể trong việc đảm bảo môi trường, giảm bệnh tật

+ Việc xây dựng hệ thống dẫn nước sạch, nhà vệ sinh, chuồng trâu bò đảm bảo vệ sinh môi trường trong thôn bản

Trang 22

Rõ ràng là sau thời gian triển khai thực hiện Dự án năng lực của cán bộ địa phương (bao gồm Năng lực quản lý tài chính, Năng lực quản lý hoạt động (lập, triển khai, giám sát, đánh giá hoạt động và Năng lực quản lý nhân sự…) đã được tăng cường đáng kể, giúp họ tự tin hơn trong quá trình tham gia hoạch định và thực thi các chính sách, chương trình, dự án phát triển ở địa phương Đây có thể coi là tác động rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở địa phương.

Các khóa tập huấn về dân chủ ở cơ sở của dự án và các tổ chức khác đã giúp cộng đồng người dân nhận thức và thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của người dân Họ đã biết những vấn đề liên quan đến dân biết, dân bàn, dân quyết định, dân triển khai, dân thực hiện, giám sát cũng như trách nhiệm của các cơ quan công quyền Mặc dù, trong các cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, người dân có thể quên (do thời gian tập huấn về dân chủ ở cơ sở đã khá lâu), tuy nhiên, đi sâu phân tích có thể nhận thấy vấn đề dân chủ ở cơ sở đã được cán bộ và người dân, đặc biệt là những người dân nghèo quan tâm và bước đầu tổ chức thực hiện khá tốt

III TÍNH BỀN VỮNG

1) NHẬN THỨC: Tác động có tính bền vững nhất mà Dự án VM015 cũng như các chương trình giảm nghèo khác để lại lâu bền là thay đổi và nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ cơ sở Người dân đã nhận thức được câu chuyện nghèo đói, dần hiểu được vì sao mình nghèo và sâu xa hơn, quan trọng hơn là họ dần đã hiểu được họ có thể thay đổi được tình hình, có thể vươn lên thoát nghèo Điều này khác hẳn với tư duy cam chịu, thậm chí mông muội - không biết là mình nghèo, không biết có cuộc sống, xã hội văn minh ở những nơi khác Như đã đề cập, Pác Nặm là huyện nghèo trong số 62 huyện nghèo nhất của cả nước, đồng bào ở đây chủ yếu là các dân tộc thiểu số như Mông, Tày, Dao,…với nhận thức và trình độ còn rất thấp Hơn nữa, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng của huyện và 2 xã vùng dự án (đặc biệt ở An Thắng) còn gặp rất nhiều khó khăn do Huyện mới được tái lập lại Bằng tất cả những nỗ lực của các can thiệp phát triển, trong đó có VM015, giờ đây nhận thức của người dân đã có sự thay đổi đáng trân trọng, đã biết vươn lên, chịu khó làm ăn, thay đổi tư duy, nếp nghĩ hạch toán kinh tế, đã biết quyền và nghĩa vụ công dân, các trụ cột then chốt về dân chủ ở cơ sở, đã biết và vận dụng các kỹ thuật canh tác tiến bộ trong thâm canh ngô, lúa, trong chăn nuôi lợn, làm và che chắn chuồng trại, vệ sinh môi trường, hợp tác, đoàn kết sản xuất…

Không chỉ thay đổi nhận thức của người nghèo mà các cán bộ của cộng đồng cơ sở cũng có những thay đổi nhận thức rõ nét Cán bộ cơ sở cũng đã biết tôn trọng dân theo các quy định của quy chế dân chủ ở cơ sở, xác định rõ hơn vai trò của chính quyền, của cộng đồng …Quá trình tham quan chéo, tham quan địa phương khác, quốc gia khác cũng giúp cho cán bộ và người dân tìm hiểu và học hỏi được nhiều kinh nghiệm quản lý cộng đồng, kinh nghiệm XĐGN và phát triển ở các nơi khác Những kiến thức, nhận thức người dân & cán bộ cơ sở thu lượm được còn ở lại mãi với cộng đồng và chắc chắn là tiền đề quan trọng để cải thiện sinh kế, phát triển cộng đồng

2) NĂNG LỰC: Cùng với việc thay đổi và nâng cao nhận thức về xã hội, về kinh tế, về môi trường cũng như về phát triển toàn diện và bền vững, thông qua các khóa tập huấn, tham quan học hỏi, và vận dụng thực hiện các công việc của Dự án, năng lực quản lý và hành động của cán bộ và cộng đồng được nâng cao rõ rệt Thông qua các khóa tập huấn và thực tế triển khai công việc, năng lực

Trang 23

quản lý và triển khai dự án, kỹ năng giao tiếp với cộng đồng, các kiến thức-kỹ năng liên quan đến hạch toán sản xuất kinh doanh, nhận thức về dân chủ ở cơ sở, bình đẳng giới, phát triển cộng đồng, các kỹ thuật tiến bộ mới được chuyển giao và áp dụng của cán bộ và người dân đã được nâng cao Cán bộ các cấp từ Ban quản lý dự án huyện đến các xã và các thôn và cộng đồng người nghèo địa phương đã tự tin, mạnh dạn và chủ động triển khai các công việc của Dự án cũng như các công tác khác Lực lượng cán bộ tham gia dự án là những cán bộ nguồn tốt và thực tế họ là những cán bộ then chốt đang và sẽ triển khai các dự án khác của Chính phủ (Chương trình 30a) hoặc Dự án giảm nghèo của IFAD đang được triển khai Điều rõ ràng là những tác động này có tính bền vững cao, còn lưu lại mãi với địa phương

Hộp: Nhận thức, kỹ năng của người dân và cán bộ các cấp được tăng cường

…Kết quả lớn nhất mà dự án đã đạt được đó là góp phần làm thay đổi đáng kể ý thức, nhận thức của người dân trong phát triển kinh tế hộ, tính cộng đồng được nâng lên Các hoạt động của dự án được người dân trực tiếp tham gia như xây dựng công trình nước sạch, nhà vệ sinh, chuồng trâu bò, làm đường, nhà văn hóa … Do đó phần nào làm thay đổi nhận thức của người dân, nâng cao tính sở hữu của họ về các công trình dự án hỗ trợ Năng lực quản lý, tổ chức của cán bộ các cấp khi tham gia vào dự án được nâng lên…

Trích ý kiến của Bà Kate Teys đại diện nhà tài trợ Caritas Australia trong chuyến thăm, kiểm tra

các hoạt động của dự án VM015 ngày 1-2/11/2009

Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề trong công tác vận hành và bảo dưỡng cần phải tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh :

- Tuyến đường cần phải được duy tu bảo dưỡng thường xuyên đặc biệt sau mỗi mùa mưa lũ, do vậy cần phải quy định trong thôn bản đóng góp ngày công hay kinh phí để sữa chữa

- Hệ thống loa đài cần phải xây dựng cho dân về quy trình lắp đặt, sử dụng và bảo quản, đồng thời phải cử cán bộ đi học có kiến thức chuyên môn về cơ điện để thao tác vận hành

- Hệ thống nước sạch: Phải xây dựng và hoàn thiện quy chế vận hành và bảo dưỡng công trình

có sự tham gia của các hộ hưởng lợi thực hiện quy chế : dân biết, dân bàn và dân kiểm tra Đặc biệt tại thôn Khuổi Trà xã Cổ Linh cần phải hoàn chỉnh ngay quy chế quản lý và vận hành nước sạch để đảm bảo quản lý công trình được tốt

+ Những đặc điểm sau đây làm cho kết quả đầu ra của dự án mang tính bền vững chưa cao:

Trang 24

- Lực lượng cán bộ hiểu biết về dự án còn mỏng, ban quản lý dự án thôn, xã chưa thực sự vào cuộc.

- Việc phổ biến kỹ thuật xây dựng cho người dân chưa được chú trọng, thiếu chi tiết

- Việc xây dựng quy chế vận hành và bảo dưỡng các hạng mục còn chậm và chưa hoàn chỉnh

- Việc tham gia đóng góp ý kiến của người dân vào hồ sơ thiết kế cũng như quá trình thi công còn hạn chế

- Phụ cấp cho cán bộ xã tham gia dự án còn thấp 80.000 đồng/ tháng/ người

+ Sự đóng góp của người dân để đảm bảo tính bền vững của dự án

- Bước đầu người dân đã có những đóng góp nhất định ý kiến chủ quan của mình vào quá trình thực hiện dự án do đó đã thực hiện được ý tưởng: Dân biết, dân bàn và dân kiểm tra

- Trong quá trình xây dựng tuyến đường người dân đã đóng góp ngày công, và tham gia các cuộc họp

- Người dân đã đóng góp 2.000 đồng/ tháng/ hộ hưởng lợi nước sạch để chi công cho ban quản lý vận hành và duy tu bảo dưỡng công trình nước sạch

+ Vai trò bình đẳng giới, đặc biệt nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường của phụ nử trong vùng dự án đã được nâng cao: Trước đây việc lấy nước chủ yếu là phụ nữ, mất nhiệu thời gian bây giờ cả nam và nữ đều lấy nước và người phụ nữ có nhiều thời gian để tham gia các hoạt động khác

4) CÁC NHÓM SỞ THÍCH LÀ TIỀN ĐỀ ĐỂ HÌNH THÀNH CÁC TỔ CHỨC CỘNG ĐỒNG: Trong khuôn khổ Dự án, các nhóm sở thích đã bước đầu manh nha hình thành Cơ cấu tổ chức nhóm bao gồm một nhóm trưởng, các thành viên, hỗ trợ các thành viên trong nhóm giải quyết các công việc, thống nhất các công việc chuyên môn của nhóm Ở An Thắng, một số nhóm đã có những buổi họp đầu tiên - tổng số sinh hoạt được 15 buổi Các nhóm đã có nơi để họp, giao lưu xích lại gần nhau hơn Nếu được hướng dẫn, định hướng và hỗ trợ, hoạt động của các nhóm sở thích này dần sẽ đi vào nề nếp và có thể trở thành các tổ chức cộng đồng mạnh, sau khi hoàn tất các điều kiện (như xây dựng quy chế, bầu cử,…) có thể tiến tới đề nghị UBND cấp xã chứng thực hoặc hơn nữa đăng ký thành lập hợp tác xã Dự án đã tổ chức được 1 lớp tập huấn về kỹ năng quản lý nhóm, tạo tiền đề xây dựng mô hình tổ chức mới ở nông thôn Thông qua đó, tinh thần đoàn kết trong thôn xóm được tăng cường, phát triển bền vững

IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM

A) Điểm mạnh, hạn chế và đề xuất triển khai để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của Dự án

Những điểm mạnh, hạn chế sau được đúc rút sau quá trình triển khai thực hiện và đánh giá Dự án:

Bảng Ma trận Điểm mạnh, hạn chế và đề xuất triển khai để đảm bảo tính hiệu quả và bền

vững của Dự án

 Thiết kế dự án với các can thiệp được chia ra

nhiều hợp phần và mỗi hợp phần được xây

dưng các chỉ tiêu cụ thể, tạo điều kiện thuận

 Số lượng người hưởng lợi ít

 Lực lượng cán bộ thực hiện còn mỏng; người hiểu biết về

 Kéo dài thời gian thực hiện Dự án

 Đào tạo cho người dân

Trang 25

lợi cho quá trình triển khai thực hiện.

 Cộng đồng người dân tham gia nhiệt tình

 Hoạt động cải thiện vệ sinh môi trường có sức

lan tỏa, mô hình nhà vệ sinh của Dự án đã

được nhân rộng ở 2 thôn của xã Cổ Linh;

 Nói chuyện về giới và dân chủ cơ sở đem lại

hiệu quả thiết thực và có tác động rõ nét

 Có sự giám sát của nhân dân đối với các công

trình cộng đồng

 Người dân thường xuyên được tiếp xúc và trao

đổi thông qua các cuộc họp thôn bản, tham gia

họp đầy đủ; tính tự tin của người dân được cải

thiện một cách rõ rệt

 Tinh thần đoàn kết, hợp tác trong cộng đồng

được nâng cao: Giữa hộ trung bình và nghèo

có sự giúp đỡ tương trợ lẫn nhau; có người

ốm, qua đời, người dân hỗ trợ và giúp đỡ lẫn

nhau vượt qua khó khăn, đóng góp ngày công

lao động, đoàn kết trong cộng đồng cao

việc thực hiện dự án còn hạn chế

 Ban quản lý dự án xã chưa thực sự vào cuộc và hiệu quả

do lực lượng mỏng

 Ban quản lý phát triển thôn chưa phát huy hết vai trò của mình

 Có khoảng cách giữa giảng viên và học viên do giảng viên không biết tiếng dân tộc và chưa hiểu hết được văn hoá của người dân bản địa

 Phụ cấp cho ban quản lý dự án

xã còn thấp; cán bộ xã tham gia nhiều hoạt động của dự án, việc chi trả không hợp lý so với khối lượng và trai trò của cán bộ xã tham gia dự án

địa phương làm cán bộ nguồn ngay tại địa phương (Ban phát triển thôn) Tập huấn TOT chọn người dân địa phương biết được ngôn ngữ và am hiểu văn hoá địa phương

 Đào tạo cán bộ địa phương

 Mở rộng ban quản lý

dự án xã, tăng cường thêm cán bộ có đủ năng lực

 Tăng tiền phụ cấp phù hợp với khối lượng công việc để gắn với trách nhiệm công việc

B) Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu

1) Bài học thứ nhất: Về thiết kế dự án

Quá trình thiết kế dự án cần được bắt đầu từ dưới lên, tham vấn cộng đồng chặt chẽ Trước khi thiết kế các hạng mục của dự án cần phải điều tra, khảo sát thực hiện rất cụ thể Nhất thiết phải có ý kiến tham vấn cộng đồng của người hưởng lợi và các cấp chính quyền từ thôn bản trở lên Đối với các công trình, hồ sơ thiết kế cần phải xin ý kiến đóng góp của người hưởng lợi, các cấp chính quyền, các cơ quan chuyên môn và phải được phổ biến công khai để tiện cho viêc tham gia giám sát cộng đồng

Trong khi thiết kế Dự án cần lưu ý đối với các hoạt động tập huấn nên gắn với các mô hình cụ thể, cho các nhóm sở thích, cầm tay chỉ việc để tăng tính trực quan, dễ hiểu, dễ làm theo

Trong quá trình thực hiện dự án nếu có hạng mục nào chưa hợp lý thì phải điều chỉnh kịp thời

để đảm bảo tiến độ

2) Bài học thứ hai: Về tổ chức thực hiện dự án

Để dự án đạt kết quả tốt thì trong suốt quá trình thực hiệ n các cán bộ quản lý dự án từ trung ương đến địa phương không nên thay đổi

Tăng cường quản lý từ trung ương tới địa phương, đặc biệt công tác giám sát kỹ thuật và công tác giám sát cộng đồng Cần phân công trách nhiệm cho từng cấp rõ ràng ngay từ đầu, khi xây dựng kế hoạch phải được thống nhất từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên Đối với các hạng mục giao cho

Trang 26

3) Bài học thứ ba: Quan tâm phát triển các tổ chức cộng đồng:

Đánh giá đúng vai trò, quan tâm thích đáng tới việc hình thành và phát triển các tổ chức cộng đồng

Lý thuyết và thực tế công cuộc phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo luôn nhất mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển các tổ chức cộng đồng, coi đó là điều kiện tiên quyết trong tiến trình PTNT, XĐGN bền vững Thực tiễn cho thấy các Nhóm sở thích của nông dân, quỹ quay vòng, các Ban phát triển thôn bản nếu được xây dựng từ cơ sở theo nguyện vọng của người dân sẽ làm rất tốt vai trò của mình, là tác nhân quan trọng để bổ sung, hỗ trợ cùng với Nhà nước và các đối tác khác trong quá trình phát triển

4) Bài học thứ tư: Xây dựng các công trình hạ tầng phải đi liền với việc xây dựng các quy chế quản lý vận hành Để công trình phát huy hiệu quả, đồng thời đảm bảo bền vững lâu dài thì việc xây dựng quy chế vận hành và bảo dưỡng là hết sức cần thiết Quy trình quản lý vận hành phải được xây dựng song song với việc xây dựng các hạng mục công trình Quy trình này phải được người dân tham gia bàn bạc cụ thể và phải được mọi người thống nhất và được chính quyền địa phương công nhận và trở thành pháp lệnh để làm căn cứ thực hiện Khi công trình thi công xong bàn giao cho người sử dụng thì quy chế vận hành và bảo dưỡng công trình cũng được bàn giao đồng thời

5) Bài học thứ năm: Tăng cường phát huy vai trò của cấp cơ sở Công tác thực hiện lập kế hoạch từ cấp dưới lên nếu được triển khai sâu sát hơn nữa thì cũng sẽ cho kết quả cao hơn Kế hoạch phần lớn do trên đưa xuống, chưa thực sự bắt nguồn từ người dân nên đôi khi còn chưa phù hợp, thực hiện kéo dài Nên chăng mạnh dạn trao quyền cho cộng đồng, phân cấp lập kế hoạch thẳng từ Ban quản lý dự án Huyện xuống tới tận các thôn bản, để cộng đồng người dân tự hình thành ý tưởng, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển thôn bản

6) Bài học thứ sáu: Thay đổi phương thức chuyển giao TBKT, kiến thức phát triển cho phù hợp với đặc điểm của người dân, đặc biệt là cộng đồng người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số Nên triệt để áp dụng phương thức cầm tay chỉ việc, xây dựng các mô hình để người dân tham quan, tận

mắt chứng kiến, phèi hîp víi tËp huÊn để củng cố kiến thức, nhân rộng mô hình Cách làm đó tỏ

ra rất hiệu quả đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí còn hạn chế và thường quen với những quan sát thực tế hơn là các bài học lý thuyết

Nên chăng, xây dựng mô hình chuẩn tại một thôn bản làm “trực quan” Tạo lập các nhóm sở thích

để hỗ trợ nhau trong sản xuất, trong cuộc sống là một mô hình áp dụng mới mẻ tại Việt Nam Bà con, xã và huyện cũng chưa có kinh nghiệm Vì vậy, để có sức thuyết phục và cũng tạo điều kiên thuận lợi cho việc thực hiện, nên xây dựng một hoặc một số mô hình mẫu tại thôn bản, đưa bà con đến tham quan học tập

7) Bài học thứ bảy: Tăng cường trách nhiệm, làm rõ vai trò của Ban phát triển cộng đồng, Ban quản lý dự án xã, với phụ cấp thích hợp

Cần có sự quan tâm thích đáng và ổn định đội ngũ cán bộ thực hiện dự án Đội ngũ cán bộ thực hiện

dự án có vai trò vô cùng quan trọng mang tính quyết định đến sự thành công/thất bại của dự án Trong thời gian triển khai các hoạt động của dự án, cần có chế độ đãi ngộ thích đáng và phù hợp (ví

dụ, cho đối tượng là trưởng các nhóm sở thích, thành viên Ban PTTB, cán bộ dự án cấp xã, huyện với các hình thức đãi ngộ như phụ cấp, đào tạo, nâng cao năng lực, tham quan học hỏi) để họ có động lực thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao

8) Bài học thứ tám: Tổ chức khảo sát cơ sở (baseline survey) để làm căn cứ đánh giá dự án

Trang 27

Tổ chức khảo sát cơ sở (baseline survey) để làm cơ sở ban đầu theo dõi, đánh giá Để đánh giá sát thực tác động của dự án hoặc có căn cứ xác thực để tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát và đánh giá từng phần, nên có tổ chức khảo sát cơ sở khi bắt đầu thực hiện dự án Có thể thiết kế hoạt động này như là một hoạt động của hợp phần quản lý dự án.

Trang 28

PHẦN C: KẾT LUẬN & KHUYẾN NGHỊ:

cơ bản thực hiện được khối lượng công việc theo văn kiện Dự án

Các hoạt động của dự án đã có tác động nhất định Về kinh tế, Dự án đã góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy sinh kế bền vững cho cả cán bộ và người dân nghèo địa phương, giúp cho giao lưu thông thương hàng hóa được thuận lợi, cải thiện thu nhập của nông hộ và phát triển kinh tế trong vùng…Về mặt xã hội, có thể thấy rõ cộng đồng dân nghèo địa phương đã hiểu và vận dụng linh hoạt những quy định của quy chế dân chủ cơ sở vào cuộc sống, nâng cao vị thế của người dân, tạo bước chuyển mạnh mẽ đối với công tác bình đẳng giới, môi trường nông thôn được cải thiện, tăng cường nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số đối với các thể chế, chính sách của Nhà nước, nâng cao tinh thần đoàn két, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau trong các cộng đồng nghèo Tác động về môi trường cũng được ghi nhận với việc cộng đồng người dân và cán bộ địa phương hiểu rõ hơn về công tác bảo vệ môi trường và thực tế các công trình hạ tầng do Dự án hỗ trợ đã góp phần cải thiện môi trường đáng kể ở địa phương Năng lực của cán bộ và người dân được nâng cao cũng là một tác động rất quan trọng của Dự án

Tính bền vững của Dự án được thể hiện trên các khía cạnh: thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ và người dân nghèo vùng dự án và lan tỏa sang các địa phương lân cận, nâng cao năng lực, kỹ năng của cán bộ các cấp và người dân, với những công trình hạ tầng được bàn giao lại cho địa phương và người dân quản lý, sử dụng cũng như phát triển bền vững địa phương thông qua các tổ chức cộng đồng Tuy nhiên, kết quả đánh giá cũng chỉ rõ các công việc cần tiếp tục thực hiện sau khi đóng dự

án như: duy trì các khóa tập huấn, củng cố nhận thức, nâng cao năng lực cho người dân, khẩn trương hoàn thành và thực hiện quy chế vận hành, duy tu bảo dưỡng đối với các công trình và tiếp tục định hướng, phát triển các nhóm sở thích để trở thành tổ chức cộng đồng mạnh ở địa phương.Trên cơ sở tổng hợp, đúc rút các điểm mạnh, hạn chế và một số đề xuất quan trọng cần tiếp tục triển khai để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của Dự án, Báo cáo cũng chỉ rõ 8 bài học kinh nghiệm rút ra từ Dự án VM015 Đó là bài học kinh nghiệm trong (1) thiết kế Dự án, (2) tổ chức thực hiện

Dự án, (3) quan tâm phát triển các tổ chức cộng đồng, (4) xây dựng các công trình song song đồng thời với việc xây dựng các quy chế quản lý vận hành, (5) tăng cường phát huy vai trò cuả cấp cơ sở trong lập và thực hiện kế hoạch – phân cấp, trao quyền, (6) thay đổi phương thức chuyển giao kỹ thuật tiến bộ cho phù hợp với đặc điểm của cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theo hướng cầm tay chỉ việc, có mô hình, địa chỉ áp dụng cụ thể, (7) tăng cường trách nhiệm, làm rõ vai trò của Ban phát triển cộng đồng, Ban quản lý dự án xã, huyện đi kèm với chế độ đãi ngộ thích đáng cũng

Trang 29

như nên (8) tiến hành điều tra cơ sở (baseline survey) để làm căn cứ giám sát, đánh giá Dự án là những bài học kinh nghiệm đã được rút ra Trên cơ sở đó Đoàn tư vấn cũng mạnh dạn đề xuất một

số khuyến nghị trước mắt cần thực hiện như dưới đây

2 KHUYẾN NGHỊ

Trong thời gian làm việc ngắn, với việc tiếp cận tài liệu, tham vấn hiện trường, thảo luận chi tiết các vấn đề có liên quan với cán bộ và nhân dân trong huyện, xã, thôn hưởng lợi từ dự án, kết hợp với một số kinh nghiệm, Đoàn đánh giá mạnh dạn đề xuất một số khuyến nghị như sau:

 Triển khai hoạt động phát triển cộng đồng: Đây là hoạt động duy nhất chậm tiến độ và đến thời điểm đánh giá vẫn chưa có được kết quả như mong đợi Báo cáo đánh giá giữa kỳ cũng đã có khuyến nghị về vấn đề này Trên cơ sở nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của các tổ chức cộng đồng, khuyến nghị SRD và BQL Dự án huyện, các xã cần quan tâm, phát triển các nhóm sở thích- thành các tổ hợp tác được UBND cấp xã chứng thực theo quy định của Bộ luật dân sự và Nghị định về tổ hợp tác Dự án nên dành một khoản ngân sách “follow-up” để địa phương tiếp tục triển khai hoạt động này Đặc biệt tập trung chỉ đạo các nhóm đã vận hành tốt ở thôn Tiến Bộ, xây dựng thành mô hình mẫu làm hạt nhân để triển khai mở rộng

 Tổ chức hội thảo tổng kết dự án: Bảy năm qua, trên địa bàn Pác Nặm, SRD đã triển khai 2 dự án VM002 và VM015 Kết thúc Dự án, cũng là lúc SRD cùng với Huyện nên tổ chức Hội thảo tổng kết dự án với sự tham gia rộng rãi của các cơ quan TW, cơ quan truyền thông, đại diện chính quyền tỉnh, huyện, xã và cộng đồng người nghèo để (1) tổng kết các hoạt động của Dự án (2) đúc rút và chia sẻ kinh nghiệm giữa các địa phương trong và ngoài tỉnh đã và đang tham gia thực hiện các dự án phát triển và (3) truyền thông Cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho Hội thảo này, nếu khuyến nghị này được chấp nhận

 Xây dựng và thực hiện quy chế vận hành các công trình hạ tầng ở nông thôn đặc biệt là công trình nước sạch Báo cáo đánh giá giữa kỳ cũng đã chỉ rõ cần khẩn trương hoàn thiện, thể chế hóa và thực hiện nghiêm minh quy chế quản lý, vận hành các công trình Tuy nhiên, đến nay, công việc này vẫn chưa được chú trọng đúng mức Báo cáo đánh giá cuối kỳ một lần nữa khẳng định sự cần thiết phải thực hiên công việc trên để đảm bảo tính bền vững của công trình

 Tài liệu hóa các bài học kinh nghiệm của dự án: Tổng kết và tài liệu hóa bài học kinh nghiệm triển khai thực hiện Dự án Nội dung này cũng là nội dung quan trọng trong hoạt động đóng Dự án và

tổ chức Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm rất cần được thực hiện

 Trao đổi bài học kinh nghiệm với dự án khác tương tự mà SRD đang thực hiện: Hiện tại, SRD đang triển khai thực hiện khác nhiều dự án tương tự ở các địa phương khác Nên chăng thiết kế hoạt động trao đổi kinh nghiệm thực hiện ở Pác Nặm với các dự án khác để chia sẻ, học hỏi và rút kinh nghiệm

Trang 30

Phần D: PHẦN PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1:

PROFILE CÁC CHUYÊN GIA ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN

Curriculum Vitae

PERSONAL INFORMATION

3 Date of birth: November 04, 1973

4 Mail address: Faculty of Economics and Rural Development, Hanoi University of

Agriculture, Gia Lam District, Ha Noi Capital, Vietnam

Telephone: 098 626 1618 (Mobile), 04-66 75 6054 (Home)

E-mail address: pbduong@hua.edu.vn

pbaoduong@gmail.comEDUCATION

- Doctor of Philosophy (Ph.D.) in Agricultural and Resource Economics, The University

of Tokyo, Japan, April 2000 – March 2003.

- Master of Sciences in Agricultural and Resource Economics, The University of Tokyo,

Japan, April 1998 – March 2000

- Bachelor of Art in Agricultural Economics, Hanoi Agricultural University, Vietnam,

September 1990 – February 1995

LANGUAGES:

Vietnamese (Mother language), English (Fluent), Japanese (Fair)

COUNTRIES OF WORKS/STUDIES: Vietnam, Japan

Hobbies: Swimming, Playing badminton

Trang 31

• Address: 06, Nguyen Cong Tru, Hanoi, Vietnam

From February to December 2000: Research Assistant, Agriculture and Rural Development Group,

MPI & JICA (Japan) Joint Research Project.

From July 2001 to March 2002: Expert, Agriculture and Rural Development Group, MPI &

JICA (Japan) Joint Research Project.

Trang 32

From July 2003 to August 2003: Consultant, Financing Modality for Seed Sector, DANIDA -

MARD (Ministry of Agriculture and Rural Development).

Late 2003 to beginning 2004: Consultant, Review of Rural Finance in Vietnam, MISPA, Ministry

of Agriculture and Rural Development.

2006, Lead consultant, Comparative studies on different models of cooperatives in rural Vietnam,

GRET.

2007-2008, Lead consultant, Assessing the effectiveness of funds from Village Development Fund

on household economy, SIDA and MPI, Chia se Program.

2007-2008, Lead consultant, Identifying factors that facilitate/hinder poor households accessing to

livelihood assets for sustainable poverty reduction, SIDA and MPI, Chia se Program

2008, Lead consultant, Research to propose policy options for cooperative development in Vietnam,

UNDP.

2008-2009, Lead consultant, Research to propose policy options for sustainable poverty reduction

in Mekong River Delta, UNDP – MOLISA.

2009-2010, Consultant, Financial Analysis, TA-7215 ADB PPTA Sustainable Rural Infrastructure

in Northern Mountain Region, Asian Development Bank, Manila, the Philippines.

2010, Lead consultant, Strategy of poor households in Mekong River Delta for climate change

adaptation, Science and Technology Innovations for the base of the Pyramid in Southeast Asia

PROJECT, The Ateneo School of Government, Philippines.

2010, Team Leader, Mid-term Review, Improving livelihood and Sanitary Environment for poor

communities in Pac Nam – Bac Kan Province PROJECT, VM 015, SRD.

2009-2011, Senior Investigator, PROJECT: Crafting Sustainability: Addressing water pollution in

Vietnam’s Craft Villages, IPSARD and ANU (Australian National University) funded by AUSAID

2010, Team Leader, Research PROJECT: Poverty Reduction Strategy for Ha Giang Province, Ha

Giang Provincial Chia Se Management Board funded by Swedish International Development Agency

2010-2013, Team member, Economics and Community Development Specialist, PROJECT: Safe

vegetable production in Cambodia and Vietnam: Developing the HARE network to enhance farmer income, health, and the local environment, Horticulture CRSP Management Entity and USAID

2010-2011, Team member, Research PROJECT: Policy research on Agricultural Insurance in

Vietnam, funded by Ministry of Agriculture and Rural Development, Vietnam

2010-2011, Team Leader, Final Evaluation, PROJECT: Community – based organizations

strengthening and further promotion of agriculture and non-farm activities for poor communities,

Cho Moi District, Bac Kan Province, VC005, CSEED.

Trang 33

2011, Team Leader, Mid-term Evaluation, PROJECT: Capacity Building on Climate Change for

civil society organizations, funded by Finland Embassy, VM020, SRD

2011, Team Leader, Final Evaluation, PROJECT: Improving livelihood and Sanitary Environment for poor communities in Pac Nam – Bac Kan Province PROJECT, VM015, SRD.

Academic publications

I Published Articles:

In English

[1] Duong Pham Bao and Izumida Yoichi, 2002, “Rural Development Finance in Vietnam: A

Microeconometric Analysis of Household Surveys”, World Development, Vol 30,

No.2, pp 319-335

[2] Duong Pham Bao and Izumida Yoichi, 2002, “Landholdings and Household Income in

Vietnamese Villages, Japanese Journal of Farm Management, Vol 40, No 2, pp

23-39

[3] Duong Pham Bao, Sato Tomohisa, and Izumida Yoichi, 2001, "Comparative Analysis on

Changes in Vietnamese Agricultural Structure - Results of Field Studies in Ninh Binh

and An Giang Provinces”, Journal of Rural Economics, Special Issue, pp 236-240

[4] Izumida Yoichi and Duong Pham Bao, 2001, “Measuring the Progress of Rural Finance in

Vietnam”, Savings and Development, Vol XXV, No 2, pp 139-166.

[5] Duong Pham Bao and Yoichi Izumida “A Cost Approach to Examine Production

Characteristics of Leading Vietnamese Agricultural Sub-sectors: Evidence from a field

study”, Japanese Journal of Farm Management, Japan, 2006

[6] Phuong, N.T., Duong Pham Bao, Baliswain, R B., (2008), Access to Rural Credit in

Vietnam – A case Study of Tan Linh Commune, Ba Vi district, Ha Tay Province The

Journal of Review of Development and Cooperation (RDC), Mekong Institute

Volume 2, Dec 20008 P 68-86

[7] Axel Wolz and Pham Bao Duong, The Transformation of Agricultural Producer

Cooperatives – The Case of Vietnam, Journal of Rural Cooperation, Volume 38, No

2, pp 117-133

In Vietnamese

Trang 34

[9] Duong Pham Bao "Constructing suitable production relationships in agriculture and rural areas”,

Economy and Forecast Journal, Viet Nam, September, 2004.

[10] Duong Pham Bao "Development of Cooperatives in Vietnam: Microanalysis of household

surveys”, Economy and Forecast Journal, Viet Nam, November, 2004 (English

available)

[11] Duong Pham Bao (Scientific secretary) "Theoretical consideration about the transformation

and business registration of cooperatives”, Ministerial Research, 2004

[12] Duong Pham Bao "Agricultural Insurance in Japan: some policy implications for Vietnam”,

Economy and Forecast Journal, Viet Nam, March, 2005 (English available).

[13] Duong Pham Bao "Some thoughts on typology of cooperatives”, Economy and Forecast

Journal, Viet Nam, May, 2005.

[14] Duong Pham Bao “Cooperatives and poverty reduction and hunger eradication”

Socio-economic Information and Forecast Review, Viet Nam, No 3 (05), May 2006.

[15] Duong Pham Bao et al “Comperative studies on organization and perfomance of diferent

cooperative groups” Independent Research funded by Dialogs/GRET, February, 2006

[16] Duong Pham Bao (lead) et al “Policy options for reforming R&D management in

agricultural sector in Viet Nam”, 2007

[17] Duong Pham Bao (lead) et al “Scientific bases for formulation of Agriculture Law of Viet

Nam”, 2007

[18] Duong Pham Bao (lead) et al “Identifying factors that facilitate/hinder poor households

accessing to livelihood assets for sustainable poverty reduction”, SIDA and MPI, Chia

se Program, 2008

[19] Duong Pham Bao (lead) et al “Assessing the effectiveness of funds from Village

Development Fund on household economy”, SIDA and MPI, Chia se Program, 2008

[20] Duong Pham Bao (lead) et al “Scientific bases for polices on vocational training for rural

labors”, 2008

[21] Duong Pham Bao (lead) et al “Scientific bases for policies on work motivation of

researchers in the field of agriculture and rural development”, 2008

[22] Duong Pham Bao (lead) et al “Studying on policies to promote research and technology

transfers in agriculture sector”, 2009

[23] Duong Pham Bao (lead) et al “Scientific bases for policies on income supports to rice

growers in specialized zones for the sake of national food security”, 2009

Trang 35

[24] Duong Pham Bao (lead) et al “Research to propose policy options for sustainable poverty

reduction in Mekong River Delta”, UNDP – MOLISA, 2008-2009

[25] Duong Pham Bao "Some thoughts about innovating the implementing regime of poverty

reduction policies”, Economy and Forecast Journal, Viet Nam, June, 2010.

[26] Duong Pham Bao "Cooperatives – important factor for developing agriculture and rural

areas”, Economy and Forecast Journal, Viet Nam, August, 2010.

[27] Duong Pham Bao (Scientific secretary) "Measures and Policy Recommendations to enhance

the effectiveness of public investments for poverty reduction and economic development

in Son Dong District, Bac Giang Province”, 2011

[28] Tran Duc Vien & Duong Pham Bao "Meaures to develop rice growing zones for the sake of

national food securiry”, Economy and Forecast Journal, Viet Nam, January, 2011.

Duong Pham Bao, “ABCD and Sustainable Poverty Reduction”

Duong Pham Bao, “Public Services – Potential Rooms for Universities in the field of

Agriculture, Forestry and Fishery”

Duong Pham Bao, “Financial Environment, Money Flow, and Changing Pattern of Household

Demand for Loans in Rural Vietnam”

Trang 36

RECENTLY STUDY INTERESTVietnam has just newly embarked on a market-oriented economy Majority of economic entities – rural households, are still very ill prepared for operating under the new playing environment By and large, they are very small, too weak in technical outfits, and also too much vulnerable to vagaries of the markets Small farmers are placed in the environment that is characterized by a number of market failures Earlier studies in the literature also report that there are many potential types of government failures, too, including that of establishing efficient institutions Moreover, in many situations, even if governments could establish formal institutions, the cost of doing so, relative to the benefits, may be high Theories on the economics of rural organizations, at the same time, contend that local communities can and do play the role to rectify for these failures Thus, rural organizations are expected to play an extremely important role in rural development Those semiformal institutions used by societal groups can influence transactions in the market, i.e., market activities are supported by a complex blend of informal and formal institutions.

Under such circumstances, household behaviors are logically expected to vary significantly Hence, it is quite pertinent and probably interesting to examine the behavior of rural households in production, consumption, as well as in social activities Throughout, I have tried to gain understandings on the rural socio-economic picture in Vietnam from such a micro perspective Rural households are chosen because of the fact that they are major economic entities in rural areas More concretely, for examples I have published studies on agricultural/rural structure in and in relation with this rural structure, I have studied on rural development finance in Vietnam On the other hand, I have also tried to touch on a production side of household economy such as examining production characteristics of leading subsectors in Vietnam, in-depth studying on household behavior in rice production (using a cost approach), and recently, an in-progress research on environmental impact of agriculture in Vietnam using a nitrogen balance approach

PHAM BAO DUONG, PhD

Trang 37

Dương Bá Hiền Ngày tháng năm 2011

LÝ LỊCH CHUYÊN GIA TƯ VẤN

- Tên nhà thầu tư vấn: Công ty Tư vấn & CGCN - Trường ĐHTL

- Nghề nghiệp chuyên môn: Thạc sỹ khoa học ngành công trình thủy lợi

- Số năm công tác tại công ty:10 năm

- Tham gia tổ chức nghề nghiệp:

+ Hội Xây dựng Việt Nam+ Hội Thuỷ lợi Việt Nam + Hội Cấp thoát nước Việt Nam + Hội Đập lớn Việt Nam

- Nhiệm vụ dự kiến được phân công: Chủ nhiệm công trình

- Đào tạo: Tốt nghiệp Đại học Thuỷ lợi Hà Nội 1978

Tốt nghiệp Thạc sỹ khoa học năm 1993 tại Hà Lan

- Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh - đọc, viết, nghe nói tốt

Tiếng Nga - đọc hiểu

- Kinh nghiệm và trình độ công tác:

+ Cán bộ giảng dạy Trường Đại học Thuỷ lợi từ năm 1978 đến năm 2000;

+ Từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 12 năm 2009 là phó giám đốc công ty TV & CGCN – ĐHTL;

+ Từ tháng 1 năm 2010 đến nay là giám đốc công ty TV & CGCN – ĐHTL;

+ Kinh nghiệm ở nước ngoài: Tham quan các công trình Thuỷ lợi ở Hà Lan, Bỉ, Đức, Áo, Thụy sỹ , Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Úc

- Những công trình đã thực hiện:

Trang 38

TT Tên công trình Thời

gian

Địa điểm xây dựng

Giai đoạn

Nhiệm vụ được phân công

vụ công trình – nhóm, cấp CT

1 Công trình Sông

Rác

1987

1986-Hà Tĩnh BVTC Chủ nhiệm Sở thủy lợi Nghệ

Tĩnh

Tưới

8500 haNhóm BCấp III

2 Xây dựng vườn cây

ăn quả Công ty du

lịch Từ Liêm

1996

1994-Hà Nội Lập

DAĐT TKKT

Chủ nhiệm Công ty du lịch Từ

Liêm

100 ha

3 Xây dựng vườn cây

ăn quả Phú Diễn

1996

Chủ nhiệm Ban QLDATL 406 Tưới

50.000haCấp II

Chủ nhiệm Ban QLDATL 407 Tưới

3000 haCấp III

Chủ nhiệm Chi cục đê điều

Thanh Hóa

7 Trạm bơm Thiệu

Duy Thanh Hoá

2002

1999-Thanh Hoá

Lập DAKT,TKKT-TC

Tham gia BQL DA Thủy lợi

Thanh Hóa

Tiêu 2000 ha

Nhóm B

CT cấp III

8 DAKT Kiên cố hoá

TKKT-Tham gia Ban QLDATL405 Tưới

8.000 haCấp IV

Chủ nhiệm Ban QLDATL 406 Tiêu 7000

ha, Tưới

3000 haCấp III

Trang 39

TT Tên công trình Thời

gian

Địa điểm xây dựng

Giai đoạn

Nhiệm vụ được phân công

vụ công trình – nhóm, cấp CT

12 Hồ chứa nước Sông

Sắt – Ninh Thuận

Thuận

TDT

TKKT-Chủ nhiệm Ban

QLĐT&XDTL7

Tưới 3000haCấp III

2001-Thanh Hóa

NCKTTKKT

Chủ nhiệm Ban QLDATL

Thanh Hóa

Tưới

3769 haCấp IIINguồn vốn ADB

Hòa Bình

Lập DAĐT

Chủ nhiệm Ban QLDATL tỉnh

23 tỉnh nghèo

Tư vấn BME

Chủ nhiệm Chi cục đê điều &

phòng chống lụt bão Thanh Hóa

18 Trạm bơm Cầu

Khải Thanh Hoá

2007

2006-Thanh Hoá

TKKT - BVTC

Chủ nhiệm Ban QLDATL

Thanh Hóa

Tiêu 4303haCấp III

PTNT Hoà Bình

Cấp IV

20 Sửa chữa, nâng cấp

tuyến đê kè biển

Trang 40

TT Tên công trình Thời

gian

Địa điểm xây dựng

Giai đoạn

Nhiệm vụ được phân công

vụ công trình – nhóm, cấp CT

Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Kè bảo

vệ bờ sông Lô đoạn qua thị xã tuyên Quang

Thanh Hóa

Lập DA&

BVTC

TKKT-Chủ nhiệm Ban QLDA cải

thiện môi trường

đô thị miền Trung

BVTC-Chủ nhiệm Uỷ bân nhân dân

2009-Bình Định

Đào tạo Chủ nhiệm Ban CPO – Bộ NN

& PTNT

Nguồn vốn ADB4

26 Dự án phát triển

nông thôn tổng hợp

các tỉnh Mền Tung

2013

2010-13 tỉnh Miền Trung

Tư vấn Chủ nhiệm Ban QLDA các dự

án NN – Bộ NN&PTNT

Nguồn vốn ADB AFB

* Xác nhận: Tôi xin cam đoan các thông tin nêu trên là đúng sự thật

ThS Dương Bá Hiền

Ngày đăng: 14/06/2017, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w