LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ triết học với đề tài: “Tư tưởng của Trần Nhân Tông về con người và những giá trị của nó trong xây dựng con người Việt Nam hiện nay” l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG THỊ TRANG
TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VỀ CON NGƯỜI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG XÂY DỰNG
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HOÀNG THỊ TRANG
TƯ TƯỞNG CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VỀ CON NGƯỜI
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG XÂY DỰNG
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH PHAN XUÂN SƠN
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ triết học với đề tài: “Tư tưởng của Trần Nhân Tông về con người và những giá trị của nó trong xây dựng con người Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của GS TSKH Phan Xuân Sơn
Các số liệu, trích dẫn và tài liệu tham khảm trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Hoàng Thị Trang
Trang 4Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè - những người đã quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất và luôn động viên tôi trong quá trình học tập
và hoàn thiện luận văn
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Hoàng Thị Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 6
5 Giả thuyết khoa học 7
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 7
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Kết cấu luận văn 8
10 Những đóng góp mới của luận văn 8
Chương 1: ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ NHÀ TRẦN VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG 9
1.1 Khái quát đặc điểm điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ nhà Trần 9
1.2 Những tiền đề hình thành nên tư tưởng của Trần Nhân Tông 14
1.2.1 Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và tư tưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 14
1.2.2 Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ - tiền đề lý luận trực tiếp hình thành nên tư tưởng triết học Trần Nhân Tông 33
Trang 6Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ CON NGƯỜI TRONG TƯ
TƯỞNG CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ
TRONG XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 42
2.1 Bản thể luận về con người 42
2.1.1 Về nguồn gốc, bản chất, sứ mệnh con người 42
2.1.2 Quan niệm của Trần Nhân Tông về vấn đề đạo đức, trí tuệ, giải thoát 48
2.2 Tư tưởng của trần nhân tông về tâm tính của con người và Phật tính của Phật giáo 50
2.2.1 Quan niệm tâm chính là Phật (“tức tâm tức Phật”) 50
2.2.2 Học thuyết vô niệm 56
2.2.3 Tinh thần nhập thế tích cực 58
2.3 Tư tưởng về con người chính trị của Trần Nhân Tông 61
2.3.1 Quan niệm về chính trị của Trần Nhân Tông 61
2.3.2 Quan niệm về con người trong chính trị của Trần Nhân Tông 66
2.3.3 Tư tưởng về sứ mệnh của con người với Tổ Quốc của Trần Nhân Tông 69
2.4 Những giá trị của tư tưởng về con người của Trần Nhân Tông trong việc xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay 74
2.4.1 Yêu cầu của việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới 74
2.4.2 Vận dụng những giá trị tư tưởng về con người của Trần Nhân Tông vào việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay 78
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vương triều Trần rực rỡ để lại những giá trị đặc biệt có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của đất nước: Một triều đại vừa sinh Phật, vừa sinh Thánh Cả Phật và Thánh nhà Trần cho đến tận ngày hôm nay, sau gần một thiên niên kỷ bão táp, vẫn giữ một vị trí sừng sững trong tâm thức dân tộc
Cùng với thời gian, những tư tưởng của vị Hoàng đế thứ 3 của triều đại nhà Trần - Trần Nhân Tông để lại càng có giá trị với tầm vóc vượt thời gian Ngay từ thế kỷ 13, trí tuệ và tư tưởng Trần Nhân Tông đã đạt tới đỉnh cao, đặc biệt là vấn đề về vấn đề con người Trần Nhân Tông là ông vua minh triết trong lãnh đạo, dũng cảm, kiên quyết trong đánh giặc và ân tình trong việc trị dân, trị nước, và sâu sắc trong tu hành Với tình thương và tâm từ bi rộng lớn, tấm lòng yêu nước và thương dân kết hợp với khuynh hướng chính trị nhạy bén của Trần Nhân Tông, người đã tiếp tục biên khảo bộ Hình Luật, chú trọng nhiều hơn đến quyền con người dưới thời ông trị vì Hội nghị Diên Hồng Và hội nghị Bình Than dưới sự dẫn dắt của Trần Thánh tông và Trần Nhân tông
đã nói lên điều đó Đối diện với vận mệnh của đất nước đang lâm nguy trước giặc ngoại xâm, ông đã kêu gọi tiếng nói và sự đồng lòng của vua tôi, quần thần và nhân dân trong việc bảo vệ đất nước Hành động đó đã thể hiện rõ chủ quyền của mỗi công dân và quyền con người rất được tôn trọng
Những tác phẩm của Trần Nhân Tông mang ý nghĩa sâu sắc về tư tưởng con người trước hết phải kể tới “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” - chủ yếu bàn về thân - tâm, vốn là những thứ chủ yếu gây nghiệp chướng cho đời sống con người, là cội nguồn nảy sinh dục vọng để khiến con người tự trở thành nô lệ và tội đồ của chính mình, tự ngăn trở và làm lạc hướng trong việc tạo tác nguồn tâm vô nhiễm - trong trẻo và ngay lành Đó mới thực sự là hình ảnh tốt đẹp của con người ở mọi thời đại
Trang 8Trần Nhân Tông để lại phần tâm cốt nhất của tư tưởng và tình cảm lớn, góp phần vào sự nghiệp giáo hóa con người, nhằm ổn định nhân tâm, khai mở nội lực (cả nhận thức lẫn hành động) và mạnh bền thế nước dài lâu Bởi chính trong lúc đang ở cõi tu, Trần Nhân Tông vẫn chủ động dấn thân chăm lo mở cõi - bằng việc làm “vô tiền khoáng hậu” là quyết định gả con gái duy nhất của mình cho vua Chiêm, đổi lấy hai châu Ô - Lý Đây chính là mảnh đất đầy
vị thế về địa lý - chính trị - quân sự và kinh tế - văn hóa, đặc biệt là thế mạnh gần như độc tôn về phát triển công nghệ vi sinh thế kỷ 21 và còn mãi về sau
Tóm lại, khi nhắc đến tư tưởng của Trần Nhân Tông, người ta không quên tư tưởng nổi bật về con người của Trần Nhân Tông đó là bài học phát huy nội lực con người ở thời đại của ông, là cao nền giáo hóa con dân theo cách thiện, giúp họ hoàn thiện quá trình tự nhận thức để giữ được tâm trong
và trí sáng, biết bình tâm trước mọi diễn biến của đời sống, đạt độ an nhiên tự tại, ít bị vướng bận vào hệ lụy thường tình như tham, sân, si, nhất là những mặc cảm áp chế thân phận và cá tính Trên cơ sở đó mà thăng hoa hết mình cả tâm hồn và trí tuệ để có thể sáng tạo và dâng hiến cho đất nước
Và chính Trần Nhân Tông - cả khi chỉ huy đánh giặc lẫn khi xây dựng hòa bình đều đã thể hiện rõ sức mạnh tự thân ấy Nó lan truyền sang tướng sĩ
và thần dân, thôi thúc ở họ lòng tự tin, tính nhân hậu, ham học hiểu, với khao khát hòa ái và lịch duyệt, biết thiện nhẫn và làm tròn bổn phận trên tinh thần
tự cường và tự tôn dân tộc
Cho nên, tư tưởng Trần Nhân Tông - trong đó, lớn nhất và cao sâu nhất
là bài học khai phóng nội lực con người - trước hết không phải là những giá trị tôn giáo, mà là giá trị dân tộc, thuộc về bản sắc cao quý, cần và theo suốt hành trình dân nước dài lâu Nếu không thấy, nhất lại là không thực hành lấy cho nghiêm thì đó quyết không phải lỗi ở tiền nhân kỳ bí, mà chính là ở hậu
Trang 9thế nhạt nhòa - ví như cuối đời Trần, khi vương triều suy vi, Trần Nghệ Tông
Ngày nay, chúng ta coi con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển, tức là coi con người là mục tiêu sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng
xã hội, phát triển đất nước Vấn đề con người là một đề tài lớn trong triết học,
nó không chỉ có ý nghĩa trong việc xây dựng nền văn hóa của một đất nước, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của một quốc gia, một dân tộc Ở Việt Nam cũng vậy, trong sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước do Đảng
Trang 10lãnh đạo và nhân dân tiến hành, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, đặc biệt là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chúng ta còn có một nhiệm vụ vô cùng quan trọng là xây dựng hệ giá trị chuẩn
mực của con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, là “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện để xây dựng con người Việt Nam đẹp về nhân cách, đạo đức, tâm hồn; cao về trí tuệ, năng lực, kỹ năng sáng tạo; khỏe về thể chất; nâng cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật” Điều này có nghĩa là muốn phát triển đất nước thì không thể
tách rời phát triển con người Vì vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu những giá trị văn hóa con người là điều cần thiết, trên cơ sở đó phát huy sức mạnh dân tộc
trong thời đại ngày nay Vì vậy tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ triết học: Tư tưởng của Trần Nhân Tông về con người và những giá trị của nó trong xây dựng con người Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sự nghiệp, cuộc đời và tư tưởng triết học về con người của Trần Nhân Tông được nhiều thế hệ nghiên cứu về nhiều mặt khác nhau, qua các chủ đề phong phú Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Trần Nhân Tông Trong đó, các hướng nghiên cứu được chia ra làm
3 nhóm chính:
Đầu tiên là những công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông trên
phương diện tư tưởng, văn hóa và tôn giáo, trong đó có: Việt Nam Phật giáo
sử luận của Nguyễn Lang, Nxb Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 2000; Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên năm 1968; Thiền uyển tập anh, Nxb Văn học,
Hà Nội, 1993; Thơ văn Lý - Trần do Viện văn học Hà Nội biên soạn; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1999; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, của Thích Minh Tuệ, Thành hội Phật giáo Tp Hòa Chí Minh, xuất bản năm 1993; Tam tổ thực lục,
Trang 11Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, xuất bản năm 1995 (Thích Phước Sơn dịch và chú giải); Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (3 tập) của Lê Mạnh Thát, Nxb, Tp Hồ Chí Minh, xuất bản năm 2002; Thiền học Việt Nam của Nguyễn Năng Thức, Nxb Lá Bối, Sài Gòn, 1966; Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1999; Hầu hết các công trình trên đều đã trình bày và phân tích tương đối cụ thể, sâu sắc tư tưởng của Trần Nhân Tông giúp ta thấy rõ được vị trí, vai trò của Trần Nhân Tông trong lịch sử tư tưởng Việt Nam
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông trên
phương diện lịch sử Trong lĩnh vực này, phải kể đến những tác phẩm tiêu biểu sau: Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII của Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975; Đại cương lịch sử Việt Nam, do Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, xuất bản năm 2005; Tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; tác phẩm Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần, của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 1980 và tác phẩm Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (3 tập), của Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; Các công trình khoa học trên đã phân tích và trình bày một cách sâu sắc điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội …cũng như những tiền
đề lý luận hình thành nên tư tưởng của triết học Trần Nhân Tông như tư tưởng chính trị xã hội thời Lý - Trần, hình thái kinh tế xã hội thời Lý - Trần, thể chế chính trị và kết cấu đẳng cấp thời Lý, Nho giáo và các yếu tố Phật, Nho, Đạo được tiếp thu và phát triển như thế nào ở Việt Nam dưới thời Trần Nhân Tông,… bên cạnh đó các công tình trên cũng đã nghiên cứu một cách rõ nét về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của Trần Nhân Tông gắn liền với các biến cố,
Trang 12diễn biến lịch sử ở Việt Nam giai đoạn XIII - XIV giúp người đọc có cái nhìn khái quát về Trần Nhân Tông
Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông dưới góc
độ tư tưởng triết học, như các tác phẩm: Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Hùng Hậu chủ biên, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2002; Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, xuất bản năm 1993; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV của Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 2002; Tư tưởng Việt Nam thời
Lý - Trần, do Doãn Chính - Trương Văn Chung chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2008; Trần Nhân Tông toàn tập của Lê Mạnh Thát, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh
Từ, Nxb Thành phố Hòa Chí Minh, 1995…các công trình kể trên chủ yếu đi vào tập trung nghiên cứu vấn đề bản thể luận, nhận thức luận và triết lý nhân sinh của Trần Nhân Tông gắn liền với lịch sử tư tưởng Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ tư tưởng của Trần Nhân Tông về con người
Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra những giá trị tham chiếu cho việc xây dựng hệ giá trị con người ở Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Tư tưởng của Trần Nhân Tông
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng về con người của Trần Nhân Tông và việc xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay
Trang 135 Giả thuyết khoa học
Có tư tưởng về con người trong tư tưởng của Trần Nhân Tông, tư tưởng đó phản ánh được tư duy của người Việt truyền thống, tư duy của phái Thiền Tông Trúc Lâm và cá nhân Trân Nhân Tông về con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng
Tư tưởng Trần Nhân Tông về con người có giá trị khoa học có thể tham chiếu để xây dựng hệ giá trị của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu mà luận văn đã đề ra, cần phải thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, làm rõ những điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và những tiền
đề tư tưởng cho sự cho sự hình thành tư tưởng về con người của Trần Nhân Tông
Thứ hai, làm rõ những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về con người
của Trần Nhân Tông
Thứ ba, làm rõ những giá trị tham chiếu của tư tưởng của Trần Nhân
Tông về con người đối với việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Thời gian: cuộc đời Trần Nhân Tông
Các tác phẩm của Trần Nhân Tông và các công trình nghiên cứu về Trần Nhân Tông
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Luận văn sử dụng các phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, diễn dịch, văn bản học, điền dã…
Trang 149 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 2 chương, 6 tiết
10 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hóa, khái quát hóa tư tưởng của Trần Nhân Tông về con người
Cung cấp phương pháp luận để vận dụng tư tưởng của Trần Nhân Tông trong việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Trang 15Chương 1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VIỆT NAM
THỜI KỲ NHÀ TRẦN VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
TRIẾT HỌC TRẦN NHÂN TÔNG
1.1 Khái quát đặc điểm điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ nhà Trần
Để nghiên cứu tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông trước tiên chúng
ta cần tìm hiểu điều kiện lịch sử xã hội và những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng triết học của ông Giống như C.Mác đã nói “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình,
mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong tư tưởng triết học” [16, tr.156]
Từ cuối thế kỷ XII khi nhà Lý ngày càng suy yếu, triều đình lục đục, vua quan ngày đêm chỉ lo ăn chơi sa đọa không màng đến đời sống của người dân cực khổ, khó khăn, sản xuất đình trệ, mất mùa đói kém xảy ra liên miên, nhân dân khắp nơi cùng nhau nổi lên chống lại triều đình, xã hội ngày càng loạn lạc, các thế lực trong nước mất đoàn kết, đánh giết lẫn nhau…Không lâu sau đó, tháng 12 năm Ất Dậu (1226) công chúa Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, nhà Lý nhường ngai vàng cho nhà Trần, nhà Trần được thành lập từ đó
Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, thời Trần tổ chức hành
chính và bộ máy quan lại nhìn chung hoàn thiện hơn so với thời Lý Sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay
vì 24 lộ như ở thời Lý Bộ máy hành chính được củng cố theo hướng tăng tính tập quyền quan liêu Các quan được cấp lương bổng theo ngạch, bậc; cứ 10 năm thăng tước một cấp, 15 thăng tước một bậc
Trang 16Về quốc phòng an ninh, Nhà Trần một mặt, nhanh chóng ổn định tình
hình chính trị, xã hội, xây dựng chính quyền mới; mặt khác, tổ chức lại quân đội, củng cố quốc phòng Quân đội nhà Trần gồm có cấm quân và quân ở các
lộ Cấm quân là đạo quân bảo vệ kinh thành, triều đình, nhà vua Ở các làng
xã, có hương binh Khi có chiến tranh, còn có quân đội của các vương hầu Quân đội nhà Trần được tuyển dụng theo chính sách "ngụ binh ư nông" và theo chủ trương : "Quân lính cốt tinh nhuệ, không cốt đông”, xây dựng tinh thần đoàn kết trong quân đội Quân đội nhà Trần được học tập binh pháp và luyện tập võ nghệ thường xuyên Nhà Trần còn cử nhiều tướng giỏi cầm quân đóng giữ các vị trí hiểm yếu, nhất là vùng biên giới phía bắc Vua Trần thường đi tuần tra việc phòng bị ở các nơi này
Về pháp luật, Năm 1230, Trần Thái Tông ban hành bộ Quốc triều hình
luật.Cơ quan pháp luật nhà Trần được tăng cường hoàn thiện hơn.Trong triều
có thẩm hình viện chuyên xét xử việc hình ngục Cuối thế kỷ 13, nhà Trần lập
ra Viện đăng văn kiểm pháp, lấy các đại thần phụ trách
Việc tuyển chọn các quan làm chức vụ này có tiêu chuẩn thanh liêm, thẳng thắn
Các tầng lớp đại quý tộc như Vua và hoàng gia được pháp luật bảo hộ đặc biệt, xã hội còn chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật Giáo, chú trọng đến việc bảo vệ sản xuất nông nghiệp, ban hành các luật về đất đai, chuyển nhượng vật nuôi trong nông nghiệp như trâu bò, coi việc xây dựng, bảo về đê điều là việc làm của toàn nhà nước và nhân dân
Về ngoại giao, Dưới triều Trần các vua đã tiến hành ngoại giao kiên
quyết và cứng rắn để bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc Sau chiến thắng quân Mông Cổ lần 1 (1258), công việc ngoại giao được tiến hành qua những biện pháp làm sáng tỏ uy lực của mình:
Trang 17+ Cử sứ bộ là tướng vừa thắng Mông Cổ sang chầu
+ Vua Trần từ chối không sang chầu Từ chối không kê khai số dân, quân dịch, cống nạp
+ Chống việc đòi ta theo nghi lễ Mông Cổ
- Trong hai lần kháng chiến chống quân Nguyên sau đó (1285 và 1288), nhà Trần đã thi hành chính sách ngoại giao vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để kiềm chân quân xâm lược Nguyên Mông, nêu cao chính nghĩa của nhân dân ta
- Sau chiến thắng, triều Trần tiếp tục đấu tranh ngoại giao làm tan rã ý chí xâm lược của kẻ thù, vừa tố cáo tội ác xâm lược, chỉ trả nhà Nguyên những tù binh ít nguy hiểm đối với đất nước
- Triều Trần đã lợi dụng lúc địch gặp khó khăn, lúng túng, vận dụng sách lược ngoại giao uyển chuyển, linh hoạt “khi cương, khi nhu” vì vậy địch phải chấp nhận hòa hoãn, thậm chí cam kết không xâm phạm lãnh thổ và danh
dự nước ta
- Biết dựa vào sức mạnh đoàn kết của dân tộc và chính nghĩa, tìm hiểu
kỹ về âm mưu của kẻ địch, linh hoạt trong việc áp dụng các chính sách ngoại giao Khi thì kìm chân địch bằng ngoại giao, lúc tiến công ngoại giao tiếp theo chiến thắng quân sự để làm lung lay tiến tới làm tan rã ý chí xâm lược của địch như sau lần thắng Nguyên - Mông lần thứ ba
Nền kinh tế đất nước thời nhà Trần, về mặt nông nghiệp: để tránh nạn
ngập lụt, vua Trần Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan đặc trách trông coi việc đê gọi là hà đê sứ Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương Về mặt thuế má: Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền Thuế thân được đóng bằng tiền và ít nhiều
Trang 18tùy theo số ruộng có Ai có dưới một mẫu ruộng thì được miễn thuế Thuế điền thì đóng bằng thóc Ngoài ra còn có thuế trầu cau, rau quả, tôm cá v.v
Về mặt tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng - vàng, bạc được đúc thành phân, lượng
và có hiệu của nhà vua
Nhìn chung, lịch sử phát triển của đất nước ở triều Trần có thể chia ba thời kỳ: thời thứ nhất từ Thái Tông đến Nhân Tông là thời xây dựng và chống Mông - Nguyên, thời thứ hai từ Anh Tông đến Hiến Tông (có thượng hoàng Minh Tông) là thời kế tục, thời thứ ba từ Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Minh Tông mất) tới khi kết thúc là thời suy tàn
Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết chiêu mộ nhân tài; lực lượng quan lại đều kém tài Nếu thế hệ trước thắng Mông-Nguyên khổng lồ một cách oai hùng bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn một Chiêm Thành nhỏ bé, từng núp bóng mình trong chiến tranh chống Mông-Nguyên xưa kia, một cách thảm hại bấy nhiêu Tới lúc bị Chiêm Thành xâm lấn, không hề có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra chống được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ Lê) Nếu trong tông thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như giai đoạn đầu thì dù Quý Ly có manh tâm cũng không thể tính chuyện cướp ngôi Nhà Trần trượt dốc từ Trần Dụ Tông, sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ Tông đã không gượng dậy được nữa Đó chính là thời cơ cho
Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi nhà Trần
Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam Trang sử về nhà Trần trong sử sách nằm trong số những trang sáng nhất và để lại nhiều bài học cho đời sau
Về văn hóa nghệ thuật, nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi
tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt Sử Ký và đây cũng là sách bộ sử đầu tiên của Việt Nam Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một ông trạng rất mực thanh
Trang 19liêm, đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải kính phục Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, một thầy giáo mẫu mực, tiêu biếu cho tính cương trực Các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn chương và có soạn “Ngự tập” và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị như Hịch tướng sĩ
Hàn Thuyên tức Nguyễn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt
ra luật thơ Nôm Vì thế đã có nhiều học giả, văn nhân đã theo gương của Hàn Thuyên mà làm những bài thơ Nôm rất giá trị ĐVSKTT chép: “Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sông Lô Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi Vua cho việc này giống như việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy” [14, tr.301]
Nghệ thuật điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so với thời Lý, trong đó có một số phù điêu khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách Chiêm Thành Cách trang trí hoa dựa trên nghệ thuật dân dụng
Âm nhạc Đại Việt thời Trần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Chiêm Thành và Trung Quốc Một số nhạc công bị bắt từ Chiêm Thành và Trung Quốc trong các cuộc chiến đã truyền nghề ca hát cho dân Đại Việt, càng ngày càng phổ biến
Về giáo dục, Đời nhà Trần, văn học rất được mở mang, Nho học cũng
phát triển hơn so với thời Lý
Ngoài Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng
Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử nhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra
Trang 20giúp nước chứ chưa có mở định kỳ Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm thì có một kỳ thi Năm
1247, nhà vua lại cho đặt ra khảo thi tam khôi để lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng nhãn
Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ Có 2 khoa thi 1256 và 1266 lấy 2 trạng nguyên là Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên nên tổng số có 12 người đỗ đầu trong các kỳ thi
Về tôn giáo, vào đầu đời nhà Trần Phật giáo còn thịnh Các nhà vua
đều sùng đạo cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi
Vua Nhân Tông còn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật, và ông chính là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi Về Lão giáo thì cũng được nhân dân ngưỡng mộ Do đó, nhà Trần cũng cho mở những khảo thi tam giáo như đời nhà Lý
1.2 Những tiền đề hình thành nên tư tưởng của Trần Nhân Tông
1.2.1 Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và tư tưởng của “Tam giáo” với việc hình thành tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Những tiền đề hình thành nên tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông không thể thoát ly khỏi những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mà ngược lại, nó phải được xây dựng trên nền tảng những giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là những giá trị văn hóa tinh thần mà cha ông ta đã dày công vun đắp và gìn giữ suốt hàng nghìn năm qua
Giá trị văn hóa tinh thần truyền thống là những giá trị tốt đẹp tiêu
biểu cho một nền văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa của một dân tộc, phân biệt
và làm nổi bật sự có mặt của dân tộc ấy trên trường quốc tế, được chắt lọc,
Trang 21được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử Các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống đó kết tinh lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo đức và cách thức ứng xử, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả một quốc gia, một dân tộc, có trong các sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa Nó bao gồm những giá trị cốt lõi sau:
Thứ nhất, lòng yêu nước, ý chí độc lập tự cường dân tộc Lòng yêu
nước không phải là giá trị tinh thần riêng có của dân tộc Việt Nam Theo Lênin: “chủ nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua hàng trăm hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” [15, tr.226] Tuy nhiên, trong bảng các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc ta thì chủ nghĩa yêu nước luôn được xếp ở vị trí đầu tiên Nó trở thành
“tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” là “động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc ta” [1]
Yêu nước là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ khi khai sinh đất nước cho đến ngày hôm nay Lòng yêu nước có nguồn gốc sâu xa từ ý thức đoàn kết trong cộng đồng, đến gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc Yêu nước được biểu hiện ở khát vọng hòa bình và hành động luôn đặt lợi ích của của nhân dân lên trên hết, là chăm lo xây dựng quê hương đất nước, sẵn sàng chiến đấu để chống ách đô hộ và kẻ thù xâm lược, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, lưu truyền, kế thừa
và phát triển bản sắc dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác Từ những tình cảm giản dị và gần gũi đối với người thân trong gia đình, dần dần phát triển thành tình cảm gắn bó với làng xóm, quê hương và cao hơn hết là lòng yêu nước, tự hào dân tộc
Trang 22Lòng yêu nước ở Việt Nam bắt nguồn và phát triển trong lịch sử dựng nước và giữ nước trải qua hàng ngàn năm với những thử thách cam
go, ác liệt của thù trong, giặc ngoài Nó được “thai nghén” và “lớn lên” trong hoàn cảnh rất đặc thù của dân tộc là luôn luôn trong tinh thần sẵn sàng phải chống thiên tai và chống giặc ngoại xâm Ít có quốc gia, dân tộc nào mà thời kỳ chống giặc ngoại xâm còn dài hơn cả thời bình xây dựng độc lập Vượt qua sự thay đổi, thử thách của lịch sử, tình thần yêu nước vẫn được thể hiện rõ nét qua các sự kiện lịch sử nhất định Lòng yêu nước không chỉ được thể hiện ở tình cảm đơn thuần của con người mà trở thành triết lý, thành phương châm phát triển của toàn dân tộc, mà cho đến ngày nay, cả thế giới vẫn biết đến Việt Nam với tư cách một dân tộc yêu chuộng hòa bình Lòng yêu nước không chỉ là một giá trị cụ thể mà cao hơn nó trở thành một triết lý nền tảng cho sự ra đời của những triết lý mới, mang đậm giá trị nhân văn như tình yêu thương con người, tình yêu hòa bình, là cơ sở của chủ nghĩa anh hùng, tinh thần đoàn kết, đức tính cần cù, chịu khó, lối sống lành mạnh, lạc quan, yêu đời của nhân dân Việt Nam, làm nên cốt cách Việt Nam
Thứ hai, tinh thần đoàn kết thể hiện trong ý thức của người dân, rộng
hơn mỗi người dân hình thành nên một cộng đồng, một dân tộc Tinh thần đoàn kết được hình thành và phát triển bắt nguồn từ tinh thần yêu nước Bởi chính trong hoàn cảnh luôn phải đổi mặt với thiên tai, địch họa, với nỗi lo giặc ngoại xâm từ thế hệ này đến thế hệ khác, kẻ thù lúc nào cũng lớn mạnh hơn nên đòi hỏi toàn dân ta phải đồng sức, đồng lòng cùng nhau vượt qua khó khăn để làm nên chiến thắng Bởi vì trong thử thách đầy cam go, khắc nghiệt
ấy chỉ có đoàn kết một lòng nhân dân ta mới có sức mạnh để bảo vệ dân tộc, phát triển sản xuất Chính vì thế mà ngày cả trong những câu ca dao, tục ngữ cha ông ta để lại, tinh thần đoàn kết ấy vẫn còn được thể hiện một cách rõ ràng, sâu sắc Ví dụ như:
Trang 23“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
có hùng mạnh, có được trang bị hiện đại đến đâu cũng bị nhân dân ta ngăn chặn ý định, bước tiến xâm lược và chiếm đoạt đất nước Lịch sử đã ghi nhận những trang lịch sử oai hùng và vẻ vang của vua tôi nhà Trần khi đồng sức, đồng lòng chống quân Nguyên Mông, của cả dân tộc ta chống Thực dân Pháp,
Đế quốc Mỹ sừng sỏ, với những vũ khí hiện đại, tối tân nhất đương thời Lịch
sử đã thể hiện rõ tư tưởng của cha ông ta từ xa xưa, rằng với một dân tộc không mạnh về quân sự, vù khí hiện đại hay vị thế trên trường quốc tế thì chỉ
có duy nhất tinh thần đoàn kết mới có thể làm nên sức mạnh để chiến thắng trước mọi kẻ thù có ý định xâm lăng
Thứ ba lòng nhân ái, khoan dung, hiếu học, khát vọng hòa bình, yêu
hòa bình, lòng nhân ái cũng là một giá trị văn hóa tinh thần truyền thống rất nổi bật của dân tộc ta Nhân ái nghĩa là tình yêu thương giữa con người với con người trước hết là trong gia đình, rộng hơn là trong tập thể, rồi mới đến quốc gia, dân tộc Lòng nhân ái được nảy nở và phát triển trong nhân dân ta chính trong cuộc sống lam lũ, khó khăn hàng ngày Được lưu truyền dưới sự dạy dỗ của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau Trong suốt chiều dài lịch sử hàng
Trang 24nghìn năm dưới ách thống trị của bọn phong kiến, đời sống nhân dân chìm trong tối tăm, khổ cực Chính sách đô hộ, nô dịch của bọn Đế quốc thống trị nước ngoài, cùng với sự bóc lột dưới nhiều hình thức của bọn địa chủ tay sai trong nước cùng với sự khắc nghiệt của thiên tai là bão lụt, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh… đè nặng lên đôi vai của người dân lao động nước ta Họ cảm thương cho chính số phận của mình và thương những người có cùng cảnh ngộ, cùng nỗi khổ với mình Trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn ấy, chính tình yêu thương giữa con người với con người mới giúp nhân dân ta đứng lên vượt qua hoàn cảnh Vì vậy, lòng yêu thương con người “lá lành đùm lá rách”, “nhường cơm sẻ áo” từ lâu đã trở thành lối sinh hoạt, cách ứng xử, văn hóa của con người Việt Nam, nó là tác nhân chi phối tất cả những mối quan
hệ trong xã hội Khi xuất hiện tư tưởng của tam giáo thì quan niệm “từ bi” của Phật giáo và “nhân” của Nho giáo có ảnh hưởng nhất định đến tinh thần yêu thương con người ở mỗi cá nhân
Tình yêu thương con người của người Việt Nam thấm đượm trong các mối quan hệ từ gia đình, làng xóm đến cộng đồng xã hội Trong gia đình, từ khi sinh ra đến khi lớn lên, con cái luôn được sống trong sự lo toan, đùm bọc, dạy dỗ của cha mẹ, bố mẹ có trách nhiệm lo cho con cái khi còn nhỏ, còn con cái phải biết vâng lời, chăm sóc bố mẹ khi về già Với anh chị em, mỗi đứa trẻ khi đến trưởng ngày từ những bài học đầu tiên đã được giáo dục về sự yêu thương, giúp đỡ lần nhau trong cuộc sống “anh em như thể chân tay”, “chị ngã, em nâng”… Trong quan hệ làng xóm thì “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “chín bỏ làm mười” Những mỗi quan hệ gia đình, làng xóm ấy mở rộng ra thành mối quan hệ của một quốc gia, dân tộc, nếu gia đình, làng xóm yên ấm, thì quốc gia, dân tộc cũng là một nhà
Lòng yêu thương con người truyền thống của dân tộc ta còn sản sinh ra những giá trị đạo đức mới, bao hàm cả lòng khoan dung, vị tha với những kẻ
Trang 25lầm đường lạc lối, biết lấy công chuộc tội, trở về với chính nghĩa, “mở đường hiếu sinh” với kẻ thù một khi chúng thất bại
Khi trở thành giá trị truyền thống của dân tộc ta, lòng yêu thương con người còn là cơ sở của tinh thần yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị với các dân tộc khác của nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử Trong lịch sử dựng nước và giữa nước, đất nước ta bao giờ cũng giữ tình hòa khí với các nước khác, cố gắng giải quyết các mẫu thuận dựa trên phương diện hòa bình, tránh xảy ra xung đột cho dù nguyên nhân là từ phía kẻ thù bên ngoài Bởi lẽ chúng
ta ý thức rõ ràng được những mất mát không thể tránh khỏi trong chiến tranh,
dù thua hay thắng thì người dân vô tội đều phải đổ máu, đối với một dân tộc
mà truyền thống nhân ái có bề dày lịch sử cùng với sự ra đời của đất nước thì
đó là điều không mong muốn và chúng ta luôn cố gắng để điều đó không xảy
ra Trên con đường phát triển đất nước cho đến ngày hôm nay, Đảng và nhà nước ta vẫn đang tiếp nối tinh thần yêu thương con người trong việc thực hiện đường lối đối ngoại “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
Thứ tư là truyền thống hiếu học, tinh thần hiếu học ấy thể hiện trước
tiên qua tình thần tôn sư trọng đạo, qua bao đời nay từ thời kỳ sơ khai dựng nước cho đến ngày hôm nay, những chứng nhân lịch sử vật thể và phi vật thể
đã rõ ràng thể hiện tinh thần ấy như Văn miếu Quốc tử giám, đền thờ Chu Văn An, những người thầy tiêu biểu cho nên giáo dục đất nước vẫn luôn được vinh danh trong những dịp quan trọng giống như những lời tri ân của thế hệ sau đối với thế hệ đi trước tiếp đó là sự chịu đựng hi sinh gian khổ, khắc phục khó khăn vươn lên nắm bắt tri thức của thời đại, phục vụ cuộc sống của bản thân, gia đình, đất nước của mỗi công dân Việt Nam Và trong sử sách vẫn còn lưu danh những tấm gương vượt lên nghèo khó, vươn lên trong học tập để trở thành những con người có ích cho xã hội như người học trò nghèo
Trang 26Mai Thúc Loan do không có điều kiện học tập đã phải nghe trộm, học lỏm mà sau trở thành một vị vua nổi tiếng Nguyễn Hiền mồ côi cha, sống nơi cửa chùa, phải bắt đom đóm làm đèn học mà trở thành trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử nước ta Quan trọng hơn, mục đích học tập của nhiều bậc trí thức lớn không phải là vinh thân, vì gia đình, mà là để đem tài trí ra giúp đời, giúp nước Ngày nay trong thời đại kinh tế tri thức, tri thức khoa học là cơ sở của mọi của cải, là con đường duy nhất để phát triển đất nước thì truyền thống
quý báu của dân tộc này càng cần được giữ gìn và phát huy
Thứ năm, sự cần cù, lạc quan, khiêm tốn, giản dị, trung thực, sự cần cù,
chịu thương chịu khó trong lao động sáng tạo, làm ra của cải vật chất cũng như tinh thần cũng là một giá trị văn hóa nổi bật, hàng đầu trong giá trị văn hóa truyền thống của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam mà ngày nay chúng ta phải bảo tồn và phát huy Trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt, mất mùa xảy ra liên miên, các cuộc chiến tranh chống thù trong giặc ngoài chưa bao giờ chấm dứt, mà nó chuyền từ hình thức này sang hình thức khác, ngay
cả trong thời bình thì vấn đề an ninh quốc gia vẫn là một vấn đề nóng đòi hỏi
sự quan tâm của tất cả người dân đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế, làm trì trệ cũng như gây ra hàng loạt những khó khăn, thử thách trong việc sản xuất của nhân dân, gây cản trở con đường phát triển kinh
tế, khiến đất nước ta tụt hậu so với các nền kinh tế của những nước bạn Điều
đó bắt buộc nhân dân ta phải phát huy sự cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất Cần cù vừa là điều kiện cần để đảm bảo nhu cầu sống của con người, vừa là điều kiện đủ để nền kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ, vừa thể hiện ý thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Hình ảnh “ăn cơm bằng đèn, đi cấy sáng trăng”, “cày đồng đang buổi ban trưa”, hay “tát nước đêm trăng” đã trở nên quá đỗi quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam Đó không chỉ là những hình ảnh đẹp, mà còn thể hiện đức tính cần cù, yêu lao động của nhân dân ta
Trang 27Ý thức đề cao lao động, chống lại tư duy lười nhác thích ăn không ngồi dồi đã hằn sâu trong nếp suy nghĩ của mỗi người dân Việt Nam ta từ bao đời nay Tất cả mọi người dân từ khi sinh ra đến khi biết tham gia lao động sản xuất đều ý thức được rằng lao động là vinh quang, là nguồn gốc của mọi sự
ấm no, hạnh phúc Chẳng thế mà trong những lời dạy dỗ của thế hệ đi trước, lớp học trò đi sau luôn khắc sâu những câu ca dao giản dị mà thấm nhuần tư tưởng sâu sắc: Họ luôn nhắc nhở nhau rằng “ năng nhặt chặt bị”, “kiến tha lâu đầy tổ”, “Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu” Đồng thời, người Việt Nam cũng tỏ rõ thái độ phê phán thói lười biếng “ăn rồi lại nằm” Họ hiểu rằng ăn không ngồi rồi là nguồn gốc của tội lỗi “nhàn cư vi bất thiện”
Mặc dù cha ông ta luôn phải sống trong hoàn cảnh khó khăn vừa chống thiên tai, vừa chống địch họa, luôn phải đối mặt với cả kẻ thù hai chân và bốn chân nhưng họ vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống hiện tại và những điều tốt đẹp phía trước Theo GS Trần Văn Giàu, lạc quan là “một đức tính lớn có từ thời thiên cổ” Chính sự lạc quan ấy đã giúp chúng ta vượt qua được những cam go, thử thách, khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua nổi Người Việt Nam ta nổi bật với đức tính khiêm tốn nhưng không hạ thấp mình, lối sống giản dị ăn sâu vào từng thế hệ người dân nên ghét thói xa hoa, cầu kỳ, phô trương hình thức, trung thực nên ghét bỏ kẻ “lá mặt, lá trái”,
“tiền, hậu bất nhất”
Thứ sáu, tinh thần dũng cảm, bất khuất, tại sao nói tinh thần dũng cảm
là một trong những đặc trưng của con người Việt Nam ta, bởi dân tộc ta, mọi thế hệ đều sinh anh hùng, không phân biệt già trẻ, gái trai mỗi cá nhân đều mang trong mình những phẩm chất quý báu của lòng can đảm, sự gan dạ trong đấu tranh cũng như trong lao động sản xuất Chẳng vì thế mà nhà thơ
Tố Hữu đã phải thốt lên rằng: “Đến em thơ cũng hóa những anh hùng” Người Việt Nam hiền hòa, chân chất trong lao động, trong cuộc sống bình dị
Trang 28là thế, nhưng đứng trước kẻ thù bất nhân dù chúng có là ai, có hùng mạnh đến đâu cũng không bao giờ lùi bước Chính vì sự dũng cảm, bất khuất ấy mà chúng ta mới có thể chiến thắng được những kẻ thù lớn mạnh hơn ta về nhiều mặt Lịch sử dân tộc ở thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm gương dũng cảm, anh hùng, bất khuất Trần Bình Trọng khi bị giặc bắt đã thét to: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”, Trần Quốc Toản dù tuổi còn nhỏ nhưng đã trả lời vua Trần Thánh Tông “Bệ hạ muốn hàng hãy chém đầu tôi trước đã” Cũng trong khỏi lửa chiến tranh, những người anh hùng nhỏ tuổi rũ bùn đứng dậy chói lòa, Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Nguyễn Viết Xuân với tinh thần “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”
Triết học Mác có khẳng định tầm quan trong của vật chất khi nó quyết định tinh thần, tuy nhiên, ở văn hóa và lịch sử Việt Nam lại thể hiện rõ sự ưu
ái cho giá trị tinh thần, đề cao giá trị đạo đức con người, qua đó khẳng định động lực của sự phát triển không chỉ nằm trong lợi ích vật chất mà song song với nó chính là các giá trị tinh thần
Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử, chúng ta đều thấy được những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống đã ăn sâu, bám rễ vào máu thịt của con người Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo nên sức mạnh dân tộc trường tồn với thời gian Không phủ nhận con đường mà Đảng và nhà nước ta đã khơi dậy và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống ấy qua các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, chống lại những âm mưu chống phá từ chính trong nội bộ, chính nhờ đó
mà một dân tộc nhỏ bé đã làm nên những kỳ tích mà các cường quốc trên thế giới phải nghiêng đầu thán phục Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự du nhập của nhiều luồng văn hóa, những đặc trưng truyền thống của người Việt Nam đang đứng trước nguy
Trang 29cơ bị mai một, nguy cơ biến đổi theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực Chính vì thế, bên cạnh việc xác định rõ, tìm hiểu sâu về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta, thì còn một nhiệm vụ hết sức quan trọng nữa đòi hỏi sự đồng sức, đồng lòng của mọi người dân là xác định được những tác động, hướng thay đổi tiêu cực của những giá trị truyền thống để loại bỏ sự thay đổi đó, phát huy những mặt mạnh, nét ưu điểm của những giá trị truyền
thống sao cho phù hợp với sự phát triển không ngừng của quốc gia
Ảnh hưởng của “Tam giáo” đối với tư tưởng của Trần Nhân Tông:
Sau hàng ngàn năm chịu sự áp bức, đô hộ của phong kiến phương bắc, chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã đánh dấu mốc son sáng chói trong lịch sử dân tộc, đưa nước ta sang một trang phát triển hoàn toàn mới, phát triển độc lập
Từ năm 938 đến đầu thế kỷ XI là thời kỳ đất nước ta đạt được sự ổn định về kinh tế, chính trị, văn hóa và thống nhất dân tộc - những tiền đề quan trọng tạo nên sự phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện sức sống của dân tộc trong thời kỳ Lý - Trần
Chế độ phong kiến trung ương tập quyền được duy trì và phát triển trong thời kỳ này, bên cạnh đó quản lý nhà nước đã có sự phát triển về chất Nhà Lý, sau đó là nhà Trần đều lần lượt cho ban bố các bộ luật phục vụ cho việc điều hành đất nước Thời kỳ này, tầng lớp tăng lữ quý tộc là một tầng lớp đông đảo, được tôn trọng và tập trung quyền lực đáng kể trong triều đình Mặt khác, do yêu cầu của lịch sử, đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của dân tộc, của thực tiễn đòi hỏi phải có một đội ngũ trí thức liên tục được bổ sung để xây dựng chính quyền, tầng lớp nho sinh ngày càng có vai trò quan trọng Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến sự kiện năm 1267, những người văn học bắt đầu giữ những vị trí quan trọng, chủ chốt trong triều đình Như vậy, tới thời Trần đã có sự phân hóa trong giai cấp thống trị: từ trong chốn thâm cung, đến tầng lớp tăng lữ, quý tộc ủng hộ sự phát triển của Phật Giáo, số còn
Trang 30lại là tầng lớp tri thức, có sự hiểu biết nhất định lại ủng hộ con đường trí tuệ Hay nói cách khác, nội bộ nhà nước đã có sự mâu thuẫn trong tư tưởng, một bên đề cao Phật Giáo, bên còn lại sùng bái Nho giáo
Văn hóa tư tưởng Đại Việt thời kỳ này có điều kiện phát triển rực rỡ trong hoàn cảnh một quốc gia độc lập Phật giáo thời kỳ này trở thành quốc giáo bởi được sự trợ giúp và hậu thuần từ các thế lực trong triều đình, Phật giáo có vai trò to lớn trong việc xây dựng mối đoàn kết dân tộc Chính vì thế nên Phật giáo được nhà nước chú trọng đầu tư phát triển cả về cơ sở vật chất lẫn tinh thần, biểu hiện ở việc xây dựng hệ thống giáo lý và tuyển chọn đội ngũ sư sãi: nhiều chùa chiền được trùng tu, xây dựng trên khắp cả nước, sách viết về Phật giáo được phổ biến rộng rãi và tái bản nhiều lần, tạo điều kiện cả
về vật chất lẫn tinh thần cho những người dân ra làm tăng ni Chính do sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đối với Phật giáo nên đã tạo điều kiện cho sự
du nhập của các dòng Thiền vào Việt Nam một cách dễ dàng, được đà phát triển nên các dòng thiền có sự thay đổi phù hợp với bản sắc văn hóa người Việt, mang bản sắc riêng biệt, tiêu biểu là dòng Thiền phái Trúc Lâm, Thảo Đường Bên cạnh sự phát triển thuận lợi theo đà tích cực thì đất nước cũng phải đối mặt với những hệ lụy do việc đề cao quá mức Phật giáo gây ra: Phật giáo lan rộng quá mức, có những thời kỳ mất mùa, đói kém xảy ra liên miên nhưng số người đi tu lại ngang bằng với số phu dịch, của cải vật chất vì thế
mà không làm ra, còn có nguy cơ tụt hậu nên kinh tế đất nước
Tất cả những vấn đề trên đưa đất nước ta đến bờ vực của sự đói kém, tụt hậu, sức sản xuất nông nghiệp giảm sút dẫn đến nguy cơ an toàn quốc gia trước sự xâm lăng là không thể tránh khỏi Trước tình hình đó, nhà nước phong kiến buộc phải đưa ra những biện pháp hạn chế, nhằm khắc phục những sai lầm như: sa thải bớt các tăng ni về với đời thường Sự không đáp ứng được nhu cầu xây dựng và phát triển nhà nước phong kiến trung ương tập
Trang 31quyền cũng là một trong những nguyên nhân khiến Phật giáo thời kỳ này bị thất sủng, có sự suy yếu rõ rệt
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo, nền giáo dục Nho học
đã dần dần đi vào nề nếp và phát triển, "có ý nghĩa rất to lớn đối với sinh hoạt văn hóa và tư tưởng của nước Đại Việt" sau này Bởi lẽ, Phật giáo vốn là học thuyết từng được ưu ái phát triển, nhưng lại chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền phát triển vững mạnh và có những hạn chế không thể phủ nhận Trong khi đó, Nho giáo với các tư tưởng "trung quân”, “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" dường như lại đáp ứng được yêu cầu cấp bách cho sự phát triển của đất nước Mặt khác, Nho giáo thời kỳ
đó mặc dù còn những hạn chế nhất định trong tư tưởng, những đối với sự phát triển về đạo đức, lối sống và văn hóa ở đất nước ta thì nó lại đáp ứng được hoàn toàn những yêu cầu dù là khắt khe nhất Ngay sau khi Văn Miếu được xây dựng năm 1075, các khoa thi lần lượt được mở ra và duy trì để tuyển chọn nhân tài phục vụ đất nước
Sự đi xuống của Phật giáo cũng như bước phát triển mới của Nho giáo làm cho đất nước ta đương thời có sự phát triển vượt trội về chất so với những thời kỳ trước đó Xét về mặt văn hóa, nếu như ở thời Lý còn chịu ảnh hưởng thời sắc từ Phật giáo cả về vật chất lẫn tinh thần thì sang tới thời Trần, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo đã có sự phát triển đa dạng, nở rộ cả về thể loại lẫn đề tài, v.v Cuộc cách mạng văn hóa thực sự nổ ra khi xuất hiện các tài liệu được viết bằng chữ Nôm năm 1282, nó chứng mình nét riêng biệt của đất nước ta qua văn hóa, tư tưởng, chữ viết, so với với các dân tộc khác trên thế giới, nó chứng minh nước ta là một lãnh thổ hoàn toàn độc lập, có phong tục tập quán
và nền văn hóa riêng biệt Nho giáo dần dần chiếm được vị thế quan trọng trong xã hội thông qua việc phát triển Nho giáo một cách có mục đích cụ thể nhất định của các triều Sự phát triển tất yếu của Nho giáo trong thời kỳ này
Trang 32cộng với những nhược điểm không gì chối cãi của Phật giáo là tiền đề cho việc Nho giáo tiến hành phê phán Phật giáo để từng bước giành vị trí hệ tư tưởng chủ đạo trong văn hóa Đại Việt
Đạo giáo dưới thời kỳ này vẫn tiếp tục phát triển, song nó kết hợp chặt chẽ với yếu tố Mật tông của Phật giáo, tín ngưỡng bản địa nên có cơ sở vững chắc trong dân gian và triều đình Mức độ ảnh hưởng của Mật giáo đối với hệ
tư tưởng còn hạn chế, chủ yếu được biểu hiện qua những tín ngưỡng Nhiều đền đài, đàn cũng được các vị Vua lập nên nhằm cầu mong những điều chưa thực hiện được như cầu cho mưa thuận gió hòa, muôn dân bách tính được bình an … Sự kiện cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho đạo sĩ vào cung ép vua Thuận Tông nhường ngôi cho con của mình và tự xưng là Thái thượng Nguyên Quân Hoàng Đế cho thấy Đạo giáo còn bị lợi dụng để làm công cụ phục vụ lợi ích chính trị Nhìn chung, xã hội Việt Nam khá phát triển trong thời kỳ Lý - Trần Tam giáo đều được nhà nước phong kiến khuyến khích phát triển, trong điều kiện đất nước thống nhất, không chịu cảnh áp bức nô lệ, các đạo không chỉ ảnh hưởng lẫn nhau mà còn cạnh tranh, bài trừ nhau để giành vị trí độc tôn
Mối quan hệ tam giáo trong thời kỳ nước ta chịu sự nô lệ của thực dân phương Bắc phần lớn được thể hiện thông qua cuộc tranh luận giữa những nhà Nho, tăng sư nhằm khẳng định tầm quan trọng, vai trò chủ đạo của từng học thuyết trong lòng nhân dân, cũng như vị thế của nó trên trường chính trị
Ở Giao Châu, Phật giáo được chọn lựa làm vị trí độc tôn, với vai trò thống trị Tuy nhiên, sang tới thời kỳ độc lập, dù ảnh hưởng ở một mức độ nhất định nào đó nhưng Nho giáo vẫn đạt được vị trí quan trọng Đứng trước những đòi hỏi của thực tiễn khách quan là xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, các triều đại đã có những chính sách nhất định, ưu ái việc sử dụng
Trang 33Nho giáo trong việc biến nó thành công cụ điều hành, quản lý cũng như bảo vệ đất nước Trên phương diện bản sắc dân tộc Đạo Lão lại đạt được những thành quả nhất định trong việc khẳng định bản sắc của Đại Việt, nhất là trong công cuộc bảo vệ chủ quyền dân tộc, yếu tố thần bí vẫn đóng một vai trò nhất định trong hoàn cảnh niềm tin của nhân dân được được tận dụng tuyệt đối; tuy vậy,
nó lại trở thành yếu tố phụ trong các mục đích khác nhau của chính quyền đường thời
Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi từ sau sự kiện chiến thắng bạch đằng năm 938, đã có những sự kiện lớn diễn ra, tiêu biểu là sự nối tiếp nhau nắm quyền của ba triều đại liên tiếp Ở đây nguyên nhân không chỉ do
sự không dung hoa của tam giáo, bên trọng bên khinh các giáo lý của triều đình mà vấn đề là ở chỗ, các triều đại sau khi tiếp nối cai quản đất nước thì
họ lúng túng trước sự lực chọn mô hình nhà nước phù hợp với khả năng quản lý của mình và kèm theo đó là lực chọn hệ tư tưởng thích hợp với mô hình quản lý đó Vì thế, Nho giáo đã được vận dụng triệt để những tư tưởng bản thân nó có để xây dựng và củng cố chính quyền khi đất nước được chuyển giao sang thời kỳ Lý- Trần Theo quan niệm trong tư tưởng Nho giáo, để có được sự thống nhất đất nước, nhân dân đồng sức đồng lòng thì việc đóng đô ở vị trí trung tâm của trời đất đóng vai trò quan trọng Ở đó việc củng cố vai trò, tập trung quyền lực của nhà Vua cũng được khẳng định, "vì ngôi chí tôn và quyền hạn tối thượng của nhà vua có ý nghĩa quyết định sự hưng vong của một nhà nước phong kiến" Bài thơ Thần được cất lên bên bờ sông Như Nguyệt trong cuộc kháng chiến chống Tống cũng đã phần nào khẳng định chủ quyền độc lập của đất nước, thể hiện sự quyết tâm, đồng sức đồng lòng của nhân dân trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ:
Trang 34"Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
(Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời) [20, tr.332]
Sang tới thời Trần, tư tưởng Nho giáo vẫn có sức ảnh hưởng sâu sắc đối với các tầng lớp từ quý tộc đến bình dân, tiêu biểu là trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, mặc dù có tư tưởng độc lập và khẳng định "Nam Bắc không phải noi nhau", nhưng ông vẫn lấy chính những điển tích của Nho giáo
để kích động tinh thần yêu nước Các kỳ thi vẫn diễn ra thường niên nhằm tìm kiếm nhân tài về cho đất nước Nếu khoa thi đầu tiên của nhà Lý được tổ chức năm 1075 với nội dung chủ yếu là kiến thức về tam giáo, thì nhà Trần cứ 7 năm một kỳ đều đặn các kỳ thi được tổ chức nhằm tuyển chọn và chiêu mộ nhân tài Những tư tưởng về trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với dân được thể hiện khá rõ, như "Trẫm là cha mẹ dân, nếu thấy dân lầm than thì phải cứu ngay há nên so đo khó dễ, lợi hại" Như vậy, những tư tưởng của Nho giáo trong việc vận dụng để xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền bước đầu đã thể hiện và phát huy tác dụng theo chiều hướng tích cực
Theo Thiền uyển tập anh, các nhà sư thời kỳ này đều giỏi chữ Hán Nhiều vị sư tinh thông cả ba giáo, như Hiện Quang, Vạn Hạnh; sư Viên Thông đỗ đầu kỳ thi tam giáo, sư Trí Hiền đỗ tiến sĩ Để tiếp nối và phát triển truyền thống yêu nước quật cường của dân tộc, các tăng ni đương thời không thể chỉ tập trung vào tư tưởng của một đạo riêng biệt nào đó, mà phải vận dụng tích hợp tư tưởng của tam giáo thì mới phục vụ được công cuộc chấn
Trang 35hưng, xây dựng đất nước phát triển, bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng thế nước dài lâu Điều đó cho thấy, các nhà sư ở Việt Nam đã có sự dung hòa giữa Đạo phật nói chung và bản sắc dân tộc nói riêng, không chỉ đơn thuần vận dụng Phật giáo Ấn Độ với tính chất xuất thế mà ở đây tinh thần nhập thế
đã được vận dụng và thể hiện một cách triệt để Nếu như Thiền Tông Trung Hoa có khuynh hướng nhập thế được nêu trong Pháp Bảo Đàn Kinh rằng,
"Phật pháp ở thế gian, không lìa thế gian giác", thì các dòng thiền khi vào Việt Nam đã thể hiện tính nhập thế mãnh liệt hơn, tích cực hơn do hoàn cảnh thực tiễn của đất nước đòi hỏi, cụ thể là các tăng ni không chỉ tập trung tu tập
mà còn thực hiện nghĩa vụ của mình trước sự phát triển vững bền của dân tộc Khi đánh giá tinh thần nhập thế của các thiền sư thời Lý - Trần, các tác giả cuốn Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, viết: "Có một sự gắn bó huyết thống, một sự thâm nhập vào nhau hết sức chặt chẽ giữa thế lực cầm quyền và thế lực Phật giáo… Không có thời nào mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tôn giáo lại được sự tham gia rộng khắp, hăm hở tinh thần nhập thế đến như vậy của các thiền sư" [1, tr.122]
Thời kỳ này, nhiều nhà sư đã tham gia công việc của chính quyền; thậm chí vai trò của họ trong triều đình còn liên quan đến sự phát triển thịnh suy của cả một triều đình Yếu tố đạo giáo phù thùy, thần linh thời kỳ này cũng được sử dụng như một yếu tố tinh thần để chống giặc ngoại xâm Cụ thể là sự kiện quân Tông sang xâm lược nước ta lần thứ nhất, với tư cách là “quốc quân của triều đình” nhà sư Khuông Việt đã đến ngôi đền thờ ông lập trước đó thờ
Tỳ Sa Môn - người mà ông gặp trong mộng để cầu xin thần linh phù hộ Tư tưởng “Thiên mệnh” cũng được nhà sư Đa Bảo dùng trong cuộc nói chuyện với Lý Công Uẩn thời trẻ, rằng ý trời đã định thì dù có tìm mọi cách cũng không thể thay đổi Người có công lớn trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi -
Sư Vạn Hạnh đã được vua Lý Nhân Tông truy tán: “chống gậy trấn kinh kỳ”
Trang 36Câu chuyện đầy ly kỳ về sự lên ngôi của Lý Thần Tông có sự góp công của nhà sư Từ Đạo Hạnh, khi bóc tách những yếu tố ma mị, thần kỳ Quốc sư Viên Thông đã không ngần ngại đưa ra câu trả lời khi được vua Lý Nhân Tông hỏi về kế “ hưng vong trị loạn” rằng vua phải hành xử sao cho hợp ý dân, chiều lòng dân, coi dân như ruột thịt, có vậy thiên hạ mới được thái bình
Tư tưởng “ Đức hiếu sinh” của Viên Thông là yếu tố thể hiện sự kết hợp tinh thần, cũng như tư tưởng của tam giáo, trong đó có tư tưởng Đức trị của Nho giáo, tư tưởng thuận theo tự nhiên của Lão giáo, và tinh thần từ bi hỉ sả, cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo Viên Thông còn nhấn mạnh đến tư tưởng nhập thế của Nho giáo khi đề cập đến việc trị loạn: “Trị hay loạn là ở dân, quan lại được lòng dân thì trị, mà mất lòng dân thì loạn” [25, tr.240] Quốc thái dân
an, tư tưởng đường lối thuận theo lòng dân chính là điểm mấu chốt để triều đình tồn tại, trật tự xã hội được duy trì Đó cũng chính là lí đó tại sao Nho giáo đáp ứng được nhu cầu cấp bách thời kỳ này
Để duy trì sự tồn tại của triều đình cũng như nền độc lập của đất nước, sau này, Trần Quốc Tuấn đã tiếp tục tinh thần của "quốc sư" Viên Thông và tổng kết thành câu nói nổi tiếng: "Phải khoan sức dân để làm kế sâu bền gốc
rễ, đó là thượng sách để giữ nước" [14, tr.126] Tư tưởng của Nho giáo còn được nhà sư Viên Thông vận dụng triệt để khi ông dùng các khái niệm về người “quân tử” và kẻ “tiểu nhân” để liên tưởng đến sự hưng vong của đất nước: “thần trải xem các bậc đế vương đời trước, chưa từng có triều đại nào không dùng quân tử mà hưng thịnh, mà cũng không có triều đại nào không dùng tiểu nhân mà suy vong” Ông nói tiếp: "Nguồn gốc dẫn đến điều đó không chỉ một sớm một chiều mà có manh nha từ trước Bậc nhân quân chỉ trong một lúc được hay mất thiên hạ, tất là do đức thiện ác đã tích tụ từ lâu"
Sự hưng vong của Triều Đình phần lớn phụ thuộc vào “đức thiện ác”, nên các bậc vua chúa, thánh vương phải "bắt chước trời không ngừng sửa mình, bắt
Trang 37chước đất không ngừng tu đức để giữ yên dân" "Bắt chước Trời" là tuân theo đạo Trời, là thuận theo lẽ tự nhiên "Không ngừng tu đức" là "làm sáng đức sáng" mà Nho gia kêu gọi: "Từ Thiên tử cho chí thường dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc" (Đại học).Chỉ có thực hiện được những tư tưởng trên thì mới hợp được lòng dân, cai trị được đất nước và giữ gìn nên hòa bình dân tộc Những tư tưởng trên tuy mang đậm màu sắc của Nho giáo, nhưng nó lại được đưa ra bới các bậc thánh nhân nổi tiếng, giữ những vị trí cốt cán trong triều đình
Lý Nhân Tông là một trong những vị vua hâm mộ đạo Phật Ông bày tỏ quan điểm của mình trong cuộc đàm đạo với nhà sư Mãn Giác: "Các bậc chí nhân thị hiện tất phải làm việc cứu giúp chúng sinh "thì phải toàn diện", các đức hạnh phải có đầy đủ, "không hạnh nào không cần có đủ", phải luôn chăm
lo đến mọi việc của dân chúng, "không việc gì không phải chăm lo", "sức định tuệ" cũng chỉ là phương tiện cứu giúp chúng sinh mà thôi nên "phải kính nhận nó" [25, tr.192] Như vậy, có thể nói, "đức hạnh" của Nho giáo được kết hợp với "sức định tuệ" để cứu giúp chúng sinh Sự kết hợp Nho, Phật ở đây thật là nhuần nhuyễn Điều đó chứng tỏ rằng, sức lan tỏa của Phật giáo tới giới trí thức ở Giao Châu lúc bấy giờ là rất lớn
Tăng phó Nguyễn Thường còn dùng chính điển tích trong Kinh Thi của Nho giáo để can gián vua đừng có chơi bời quá độ Ông nói: "Ta nghe bài tựa Kinh Thi nói rằng: Âm thanh của nước loạn ai oán và bực tức, nay dân loạn, nước nguy, chúa thượng chơi bời, chính sự của triều đình thì rối loạn, lòng dân trái lìa, đó là triệu chứng bại vong" [14, tr.299] Những lời nói, tư tưởng trên đã chứng tỏ sự am hiểu sâu rộng của nhà sư về Nho giáo Những lời khuyên đầu tiên của vị quốc sư triều đình với vị Vua đầu tiên của nhà Trần cũng đều mang đậm tư tưởng cả Nho giáo: "Phàm là người làm vua thì lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình, lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình" [19, tr.144] Đó là tư tưởng "dĩ thiên hạ chi dục vi dục dĩ thiên hạ chi
Trang 38tâm vi tâm" của Nho giáo được thiền sư phát biểu Phải chăng đây chính là lý
do khiến "Phật giáo thời Lý - Trần mang một tinh thần tiến bộ, vì nước, vì dân, quên thân phục vụ, hay cũng chính là tinh thần vô ngã vị tha của nhà Phật" [10, tr.34] Nhờ thấm nhuần tư tưởng Phật giáo ở trên, mà khi đất nước đứng trước họa xâm lăng, hầu hết các nhà sư đã vượt ra khỏi những giới định của Phật giáo để rũ bỏ áo cà sa mà tham gia vào cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc, không những là những chiến sĩ quả cảm dưới lưỡi giáo quân thù, mà các nhà
sư tiêu biểu như Khuông Việt, Vạn Hạnh còn là những nhà tham mưu quân sự kiệt xuất, có khả năng dự đoán thắng thua, thế nước ngắn dài Với "tinh thần
vô ngã vị tha", khi luận về vận nước dài, ngắn, nhà sư Pháp Thuận đã đáp lại vua Lê Đại Hành:
"Ngôi nước như mây cuốn Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các Chốn chốn tắt đao binh" [10]
Ở đây, khái niệm "vô vi" của đạo Lão được vận dụng triệt để vào công cuộc trị nước "Vô vi" chính là chính sách trị nước của Lão Tử (vô vô vi, tắc
vô bất trị), có nghĩa là để cho dân thuận theo lẽ tự nhiên mà sống: "thánh nhân xử sự theo thái độ "vô vi" dùng thuật không nói mà dạy dỗ, để cho vạn vật tự nhiên sinh trưởng mà không can thiệp vào" (thị dĩ thánh nhân xử vô chi sự, hành bất ngôn chi giáo; vạn vật tác yêu nhi bất từ, sinh nhi bất hữu) [13, tr.156] Như vậy, theo quan điểm của nhà sư Pháp Thuận, việc thi hành chính sách "vô vi" sẽ giúp dập tắt được nạn binh đao, giữ được ngôi nước và
"trời Nam mới mở cảnh thái bình" Với tình yêu quê hương, đất nước, khi tìm được "kiểu đất Long Xà", nhà sư Không Lộ đã nói:
"Có khi xông thẳng lên đỉnh núi Một tiếng kêu vang lạnh cả trời" [25, tr.106]
Trang 39Điều đó cho thấy, nhà sư đã muốn vượt ra khỏi yếu tố Mật tông của Phật giáo, vượt ra khỏi phạm vi và khả năng của thân thể để tác động đến ngoại giới; thể hiện tham vọng muốn có được khí lực quảng đại, phép thuật diệu kỳ Nếu gạt bỏ yếu tố phép thuật huyền bí, có thể thấy ở đó nghị lực, khí phách và khát vọng của con người Việt Nam Chúng ta thấy lời thơ của ông, ở mức độ nào đó, đã vượt ra khỏi giáo lý và giới luật của đạo Phật
Tựu chung lại, các nhà sư Việt Nam thời kỳ Lý - Trần đã vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của các học thuyết Nho, Phật, Lão, biến nó thành cái của riêng mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tinh thần "Phật pháp ở thế gian, không lìa thế gian giác" - một khuynh hướng nhập thế vốn có từ thiền Nam tông Trung Quốc, đã được nhân lên nhiều lần trong tư tưởng của các thiền
sư Việt Nam thời Lý - Trần Các nhà sư sẵn sàng cởi áo cà sa, mặc áo chiến lúc
Tổ quốc lâm nguy; khi đất nước hòa bình, họ lại trở về với cuộc sống tôn giáo, nhưng không bao giờ tách rời thế sự Đó là nét đặc sắc của mối quan hệ tam giáo thời Lý - Trần Cũng là những nét chính về “Tam giáo” ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nên tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông
1.2.2 Tư tưởng triết học Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ - tiền đề lý luận trực tiếp hình thành nên tư tưởng triết học Trần Nhân Tông
Về tư tưởng triết học của Trần Thái Tông, Trần Thái Tông (1218-1277)
tên thật là Trần Cảnh, là vị vua khai nghiệp nhà Trần Ông lên ngôi năm 1225 Năm 1258, với tài năng quân sự kiệt xuất ông đã dẫn dắt nhân dân Đại Việt chiến thắng vó ngựa xâm lược của quân Mông Cổ, bảo vệ nền hòa bình đất nước, xây dựng nền thái bình thịnh trị Dưới triều đại của ông, “chính trị, văn hóa, tôn giáo đều cực thịnh Ông cũng chuyên tâm nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật nhưng không xem thường cái học của các trường phái khác Học thuật nước nhà do đó phát triển Ông là vị vua đỡ đầu việc phát triển Phật giáo Việt Nam, khiến cho Thiền học phát triển rực rỡ, và Thiền học cũng
là yếu tố tư tưởng tiểu biểu trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của Trần Nhân Tông
Trang 40Dưới ảnh hưởng của ông, Phật giáo thiền tông không chỉ tạo nên những giá trị tinh thần độc đáo trong sự phát triển đời sống văn hóa - tôn giáo Đại Việt thế kỷ XIII - XIV mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ đất nước chống quân xâm lược Nguyên Mông và xây dựng nền hòa bình, thịnh vượng của triều đại nhà Trần Bên cạnh đó, tư tưởng Thiền định của Trần Thái Tông là cơ
sở, nền tảng quan trọng cho sự ra đời, phát triển của dòng thiền Trúc Lâm - thành tựu rực rỡ nhất của Phật giáo thời Trần - hình thành và phát triển Trần Thái Tông đã kế thừa quan niệm bản thể thế giới là không của thiền học thời Lý: “Nguyên lai, tứ đại vốn là không, ngũ uẩn cũng chẳng có Từ không khởi
ra hư vọng, từ hư vọng thành ra sắc tướng mà sắc tướng là từ cái chân không”;
“Bốn núi chót vót muôn khóm xanh, Hiểu ra thì tất cả là hư vô, vạn vật là không” [19, tr.34] Bên cạnh khái niệm về tính không, Trần Thái Tông còn đưa
ra các khái niệm “chân tể”, “bản tính”, “chân tâm”, “bản tâm” để chỉ bản thể của thế giới: “Bản tính huyền ngưng, chân tâm trạm tịch, dứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết, nếu không phải là người trí thì không truy cứu đến giềng mối của nó Nó không hợp, không tan, không mất, không còn… Vì nó không phải hữu cũng không phải vô, không đạo cũng không tục, nó độc tồn, siêu nhiên, ngoài nó không có gì khác, vì vậy nó là tự tính kim cương” [24, tr.219-220]
Quan niệm chân tâm đồng nhất với tính không như trên của Trần Thái Tông có rất nhiều điểm đồng nhất với quan niệm về “đạo” của Lão Tử Điều này cũng được thể hiện rõ nét khi ông kế thừa quan điểm thiền học thời nhà
Lý, khi ông cho rằng tất cả mọi người đều có Phật tính, bất kỳ ai cũng có thể đạt được thành tự trong quá trình tu tập nếu họ thực sự tập trung và cố gắng:
“Nào biết bồ đề giác tính, ai nấy viên thành; hay đâu trí tuệ thiện căn, người người đều đủ Chẳng cứ đại ẩn tiểu ẩn; đâu nền tại gia xuất gia Chẳng nề tăng tục, chỉ cốt tỏ lòng; nào kể gái trai, cớ sao nề tướng? Người chưa hiểu chia bừa thành tam giáo; giác ngộ rồi cùng thấu một chữ tâm” [19, tr.50]