HĐGDNGLL cho học sinh ở trường Phổ thông nói chung, ở trường THCS nói riêng góp phần hoàn thiện quá trình dạy học của nhà trường; phát huy tính tích cực sáng tạo, năng động cuả HS- chủ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
DƯƠNG VĂN TÔ
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH THCS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
DƯƠNG VĂN TÔ
BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH THCS
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PSG.TS ĐÀO THANH ÂM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Tâm lý- Giáo dục đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn
- Đặc biệt xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến PGS TS Đào Thanh
Âm đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
- Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí cán bộ quản lý giáo dục , các thầy cô giáo cùng các em học sinh các trường trung học cơ sở của huyện Đầm Hà đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuạn lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng bản luận văn này chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự giúp đỡ, chỉ dẫn và trân trọng tiếp thu các ý kiến phê bình đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Văn Tô
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu: 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 3
4 Phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài: 3
5 Giả thuyết khoa học: 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu: 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài 7
1.1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước gần đây 12
1.2 Một số khái niệm công cụ 16
1.2.1 Hoạt động 16
1.2.2 Hoạt động giáo dục và hoạt động tổ chức giáo dục 17
1.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 21
1.2.4 Biện pháp tổ chức HĐGDNGLL 23
1.2.5 Giáo dục; Tự giáo dục; Chất lượng giáo dục phổ thông; Kỹ năng; Kỹ năng sống 24
1.3 Nhiệm vụ, vai trò của HĐGDNGLL đối với sự phát triển nhân cách của học sinh phổ thông 30
1.3.1 Nhiệm vụ của HĐGDNGLL 30
1.3.2 Vai trò của HĐGDNGLL 30
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức HĐGDNGLL ở trường phổ thông 33
Trang 51.4.1 Xu thế giáo dục, chương trình, mục tiêu giáo dục phổ thông 33
1.4.2 Nhận thức của các lực lượng giáo dục và của chủ thể giáo dục 38
1.4.3 Nội dung của HĐGDNGLL 39
1.4.4 Hình thức tổ chức HĐGDNGLL 40
1.4.5 Đánh giá HĐGDNGLL 40
1.4.6 Nguồn nhân lực tổ chức HĐGDNGLL 41
1.4.7 Các điều kiện tổ chức HĐGDNGLL 41
1.5 Đặc điểm học sinh THCS (Sinh lý, nhận thức, tình cảm, tự ý thức) 42
Tiểu kết chương 1 45
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 46
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, KT-XH của huyện Đầm Hà 46
2.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên 46
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 46
2.1.3 Về giáo dục THCS của huyện Đầm Hà 47
2.2 Thực trạng về tổ chức hoạt động GDNGLL trong cộng đồng cho học sinh THCS huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 50
2.2.1.Mục đích điều tra: 50
2.2.2.Đối tượng điều tra: 50
2.2.3 Nội dung điều tra: 51
2.2.4 Phương pháp điều tra: 51
2.3 Kết quả điều tra: 51
2.3.1 Về nhận thức của cán bộ quản lý, của giáo viên, của cha mẹ học sinh, của học sinh THCS về vai trò của HĐGDNGLL thông qua cộng đồng đối với việc giáo dục toàn diện học sinh 51
Trang 62.3.2 Thực trạng về tổ chức HĐGDNGLL ở các trường THCS huyện
Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 55
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THÔNG QUA HĐ CỘNG ĐỒNG CHO HỌC SINH THCS 72
3.1 Căn cứ đề xuất biện pháp 72
3.2 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 74
3.3 Hệ thống các biên pháp: 76
3.3.1 Biện pháp nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về tổ chức các hoạt động GDNGLL cho học sinh THCS 76
3.3.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực và nghiệp vụ tổ chức H ĐGDNGLL trong cộng đồng cho học sinh 82
3.3.3 Phát huy vai trò của chủ thể học sinh trong quá trình H ĐGDNGLL trong cộng đồng 84
3.3.4 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt đồng GDNGLL trong cộng đồng 88
3.3.5 Biện pháp xã hội hóa giáo dục để tổ chức HĐNGLL trong cộng đồng cho học sinh 89
3.3.6 Biện pháp Kế hoạch hóa việc tổ chức HĐGDNGLL trong cộng đồng cho học sinh 90
3.3.7 Biện pháp thi đua động viên, khích lệ phong trào HĐGDNGLL trong nhà trường 99
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp đã nêu 100
3.4.1 Mục đích 100
3.4.2 Đối tượng 100
3.4.3 Nội dung 101
Trang 73.4.4 Phương pháp 101
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm thu được 102
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 123
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng điều tra: cán bộ quản lý, Giáo viên chủ nhiệm, học sinh và
phụ huynh (cha mẹ) học sinh ở các trường 51
Bảng 2.2: Hứng thú tham gia HĐGDNGLL thông qua HĐCĐ của HS 55
Bảng 3.1.Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên các trường khảo nghiệm 101
Bảng 3.2: Lý do thích tham gia HĐGDNGLL sau khảo nghiệm 104
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Khẳng định hiệu quả HĐGDNGLL thông qua HĐCĐ đối với sự
phát triển nhân cách học sinh của phụ huynh, giáo viên, cán bộ quản lý 54Biểu đồ 2.2: Lý do học sinh không hứng thú tham gia HĐGDNGLL trong
cộng đồng ở 3 trường 55Biểu đồ 2.3: Thực trạng lực lượng tổ chức giờ sinh hoạt lớp: 57Biểu đồ 2.4: Thực trạng HĐGDNGLL không bắt buộc ở các trường THCS
huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 63Biểu đồ 2.5: Lực lượng tổ chức HĐGDNGLL không bắt buộc 64Biểu đồ 2.6: Ý kiến của học sinh về các yếu tố ảnh hưởng 65Biểu đồ 2.7: Ý kiến của giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức
HĐGDNGLL 66Biểu đồ 2.8: Ý kiến của cán bộ quản lý về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ
chức HĐGDNGLL 67Biểu đồ 3.1: Khẳng định vai trò H ĐGDNGLL trong cộng đồng của học sinh,
giáo viên, phụ huynh 103Biểu đồ 3.2 Lực lượng tổ chức giờ sinh hoạt lớp sau khảo nghiệm 105Biểu đồ 3.3 Các Lực lượng tham gia tổ chức HĐGDNGNLL không bắt
buộc 105
Trang 106 GD THCS Giáo dục Trung học cơ sở
7 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
8 GDTX Giáo dục thường xuyên
9 GVCN Giáo viên chủ nhiệm
Trang 1125 TTHN&GDTX Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên
27 XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 12XH của một dân tộc của mọi quốc gia Vì thế xu thế giáo dục thế giới trong thế
kỷ XXI coi giáo dục là sự nghiệp hàng đầu của mỗi quốc gia
Để thực hiện chiến lược KT-XH Việt Nam thời kỳ CNH,HĐH (Từ năm 2020), Đảng ta đã có NQ Hội nghị BCHTW Đảng lần 4 khóa 7 (1993), lần 2 khóa 8 (năm 1996) và lần 8 khóa XI (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện GD
và Đào tạo và chiến lược phát triển GD nước ta thời kỳ mới (CNH, HĐH nước nhà trong bối cảnh Hội nhập Quốc tế)
Năm 2012 Thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn “Chiến lược phát triển Giáo dục 2011- 2020”
Năm 2005 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Giáo dục
Những Văn kiện cốt lõi trên đây chính là những đường lối, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta nhằm tạo nên lớp người lao động mới đáp ứng đòi hỏi của nền KT-XH nước ta ở thời kỳ CNH,
HĐH bằng việc xác định Mục đích giáo dục nước ta là:
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc ” (Luật Giáo dục, Hà Nội 2005; Tr.8)
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng, Giáo dục là con đường cơ bản nhất để giúp người học sinh hình thành và hoàn thiện nhân cách thích ứng với
Trang 13một nền KT-XH nhất định Để thực hiện mục tiêu của Giáo đặt ra, phải thực hiện bằng nhiều con đường đa dạng phong phú khác nhau mang tính truyền thống dân tộc và tính thời đại (hòa nhập quốc tế hiện nay), một trong những con
đường ấy là con đường “Tổ chức các hoạt động Giáo dục ngoài giời lên lớp”
(HĐGDNGLL) (Hoạt động Giáo dục không chỉ thực hiện trên lớp học mà còn được thực hiện bên ngoài lớp học và thông qua hoạt động trong cộng đồng)
HĐGDNGLL cho học sinh ở trường Phổ thông nói chung, ở trường THCS nói riêng góp phần hoàn thiện quá trình dạy học của nhà trường; phát huy tính tích cực sáng tạo, năng động cuả HS- (chủ thể hoạt động GD); nâng cao hiểu biết XH; rèn luyện kỹ năng sống; gắn kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống (quán triệt Nguyên lý Giáo dục) - đó là cách tổ chức giáo dục khoa học nhằm chuẩn bị lớp người công dân mới cho nền KT-XH tương lai Về ý nghĩa của vấn đề này Bác Hồ - Nhà Giáo dục vĩ đại của dân tộc Việt Nam và nhân loại trong thế kỷ XX đã nhiều lần khẳng định
Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, năm 2010 Việt Nam đã hoàn thành công tác PCGD THCS trên phạm vi cả nước
-
Trang 14-1.2 Về thực tiễn:
Chất lượng giáo dục toàn diện của học sinh phổ thông nói chung, của học sinh THCS nói riêng của nước ta nhìn chung còn thấp; còn nhiều bất cập, chưa đấp ứng yêu cầu của XH nhất là của nền KT-XH nước ta ngày nay Quá trình GD chủ yếu được thực hiện bằng con đường dạy chữ, trên lớp, học ở nhà trường, qua các hoạt động nội khóa trong các giờ lên lớp là chính; việc tổ chức các HĐGDNGLL còn coi nhẹ hoặc thực hiện một cách hình thức, miễn
cưỡng theo chương trình quy định, ít hiệu quả GD…và ít gắn với cộng đồng
Với lý do trên, tôi chọn một đề tài cho Luận văn Thạc sỹ để nghiên cứu
có tên là: “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thông qua hoạt động cộng đồng cho học sinh Trung học cơ sở ”
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THCS thông qua họat động cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiện cứu:
Quá trình tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp tổ chức HĐGDNGLL thông qua hoạt động cộng đồng cho học sinh THCS
4 Phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài:
Đề tài luận văn này được điều tra đại trà trên tất cả các trường THCS thuộc địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh và điều tra điểm ở 3 trường đại diện (khá, trung bình, yếu) là các trường:
1.Trường THCS thị trấn Đầm Hà
2.Trường THCS xã Đầm Hà
Trang 153.Trường THCS Quảng An
Đây là các trường được điều tra mang tính đại diện trong năm học
2016-2017 và dùng để khảo nghiệm các Biệp pháp đã nêu của Luận văn)
5 Giả thuyết khoa học:
Hiện nay hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THCS chưa được chú trọng đúng mức, còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ trong việc thực hiện chương trình quy định
Nếu chỉ ra được những biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp thông qua hoạt động cộng đồng một cách khoa học và thích hợp sau đây (***) cho học sinh THCS sẽ góp phần nâng cao nghiệp vụ của giáo viên và hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh
(***) Với các biện pháp tổ chức như sau:
5.1 Biện pháp Nâng cao nhận thức đúng đắn cho các lực lượng GD (ngay cả học sinh - chủ thể hoạt động GD) về việc tổ chức các hoat động GDNGLL cho học sinh THCS
5.2 Biện pháp Xây dựng một đội ngũ cán bộ có năng lực và nghiệp vụ
5.5 Biện pháp Xã hội hóa GD để tổ chức HĐGDNGLL cho HS
5.6 Biện pháp Kế hoạch hóa việc tổ chức HĐGDNGLL cho HS
5.7 Biện pháp thi đua để động viên, khích lệ phong trào HĐGDNGLL trong nhà trường
6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cốt lõi về tổ chức HĐGDNGLL
cho học sinh THCS
Trang 166.2 Chỉ ra thực trạng việc tổ chức HĐGDNGLLthông qua hoạt động cộng đồng ở trường THCS trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh hiện nay
6.3: Đề xuất một số biện pháp tổ chức HĐGDNGLL thông qua hoạt động cộng đồng cho học sinh THCS
7 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích các tài liệu lý luận có liên quan, các công trình nghiên cứu gần đề tài đã được công bố nhằm rút ra những lý thuyết cơ bản làm điểm tựa cho việc nghiên cứu đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.3 Phương pháp tọa đàm với GV và HS về những vấn đề có liên quan 7.2.4 Phương pháp chuyên gia: Tọa đàm với các giáo viên và các nhà quản lý giỏi, thành công trong hoạt động này ở trường THCS
7.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Phân tích thực tiễn để lại qua văn bản tổng kết năm học; học kỳ; chuyên đề; sáng kiến kinh nghiệm của đơn vị và cá nhân về vấn đề tổ chức HĐGDNGLL trong cộng đồng cho HS ở trường THCS
7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm:
Trang 17Do tính chất của đề tài và thời gian cũng như mức độ nghiên cứu nên
chúng tôi không làm thực nghiệm theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ là khảo nghiệm (Kiểm chứng những biện pháp đã nêu để bước đầu đảm bảo tính
khách quan và độ tin cậy cũng như tính khả thi của các biện pháp đã nêu về
việc tổ chức các hoat động GDNGLL thông qua hoạt động cộng đồng trên các
đối tượng đã được điều tra, đó là: Cán bộ quản lý GD; Giáo viên THCS; cha
mẹ HS và chính trên học sinh)
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu:
Dùng các công thức thích hợp của toán thống kê (như tính %; tính Trung bình cộng …) để phân tích, so sánh về mặt định lượng của các số liệu thực tế thu được
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn của chúng tôi gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh
phổ thông
Chương 2: Thực trạng tổ chức HĐGDNGLL thông qua hoạt động
cộng đồng ở trường THCS huyện Đầm Hà –Tỉnh Quảng Ninh hiện nay
Chương 3: Biện pháp tổ chức HĐGDNGLL thông qua hoạt động cộng
đồng cho học sinhTHCS
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ
LÊN LỚP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài
Giáo dục hiểu theo nghĩa xã hội học là một hiện tượng xã hội, bản chất là sự tiếp nối kinh nghiệm xã hội, cộng đồng, lịch sử qua các thế hệ Quá trình giáo dục được tổ chức, thực hiện một cách có ý thức theo định chuẩn xã hội Giáo dục là hoạt động có mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức xác định Mục tiêu cuối cung của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách của người được giáo dục (là học sinh) Sự phát triển nhân cách đó bao gồm sự phát triển về thể chất (thể lực, thể hình, thể năng, tâm trí (trí tuệ, tình cảm) và năng lực thực tiễn (cái mà Mác gọi là năng lực
kỹ thuật tổng hợp, phương tây gọi là kỹ năng xã hội, UNESCO gọi là kỹ năng sống)
Muốn đạt được mục tiêu của giáo dục nêu trên thì giáo dục không chỉ thực hiện trong không gian trên lớp học mà còn phải mở rộng trong không gian xã hội, cộng đồng, tổ chức HĐNGLL thông qua hoạt động cộng đồng là hướng đến các yêu cầu đó Học sinh không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của quá trình giáo dục; việc giáo dục không chỉ diễn ra trên lớp, trong trường học, mà phải thực hiện ở ngoài lớp, ngoài nhà trường, trong cộng đồng theo phương thức kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng và xã hội thông qua cộng đồng bằng nhiều hình thức học tập, lao động, vui chơi, giải trí, sinh hoạt ngoài trời, thăm quan, du lịch…
Đây chính là tư tưởng giáo dục lớn của nhân loại cũng như dân tộc Việt Nam Trong lịch sử, những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kỳ lịch
sử từ cổ đại cho đến hiện đại luôn thể hiện tư tưởng này trong quan điểm
Trang 19giáo dục của mình Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục xã hội, giáo dục gia đình, giáo dục cộng đồng Khổng Tử - (551- 479) trước Công nguyên – một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa Cổ đại muốn qua giáo dục để tạo ra lớp người “trị quốc” cũng phải học gắn với hành (Ông từng nói: “Học nhi thời tập”) và có viết: “Đọc thuộc ba trăm thước kinh thư, giao cho việc hành chính không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì”
J.A Cômenxki (1592 – 1670) được coi là “Ông tổ của nền sư phạm cận đại” đã có những đóng góp lớn lao cho nền giáo dục thế giới Trong đó ông đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp học tập trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giải phóng hình thức học tập “giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời kỳ Trung cổ Ông khẳng định học tạp không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây cối
ThomasMore (1478- 1535)- Nhà giáo dục không tưởng đầu thế kỷ 16
đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội nên việc giáo dục con người phải thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục ngoài nhà trường, trong lao động và hoạt động xã hội [25]
Pétxtalozi (1746- 1827) – Một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và thế giới trong thế kỷ XIX, với lòng nhân ái sâu sắc, ông muốn cứu vớt trẻ em
mồ côi, con nhà nghèo bằng con đường giáo dục thông qua thực nghiệm giáo dục của ông, đó là việc ông dựng ra “trại mới” - ở đây trẻ em vừa được học văn hóa, vừa lao động (trồng cây thiên thảo sản xuất thuốc nhuộm vải) – lao động ngoài lớp, ngoài trường học Theo ông hoạt động ngoài lớp không chỉ tạo ra của cải vật chất mà là con đường để giáo dục toàn diện học sinh [25]
Trang 20RobertOwen (1771- 1858)- Một nhà giáo dục lớn, một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ XIX muốn cải tạo xã hội (thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển) bằng con đường giáo dục đi từ cuộc thực nghiệm giáo dục mới mẻ trong công xưởng của ông ở nước Anh Qua cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại này ông đặt ra một phương thức giáo dục bất hủ là “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, “Kết hợp giáo dục trong trường với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội” [25]
C.Mác (1818- 1883 và F.Ănghen (1820- 1895) – Người sáng lập ra học thuyết cách mạng XHCN và là ông tổ của nền giáo dục hiện đại Hai ông xác dịnh mục đích của nền giáo dục XHCN là tạo ra “con người phát triển toàn diện” Muốn vậy phải theo “phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” Đây chính là phương thức giáo dục hiện đại [ 25]
V.I.Lênin (1870- 1924) người phát triển học thuyết XHCN của C.Mác
và F.Ănghen đã vận dụng phương thức giáo dục này vào thực tiễn và coi là một trong những nguyên tắc của giáo dục XHCN Trong bài phát biểu
“nhệm vụ của Đoàn thanh niên” 1920 Người nói “chỉ có thể trở thành người Cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân và nông dân” [25]
N.K.Cơrúpxkaia (1869 -1939) nhà giáo dục Xô viết vĩ đại đã phân tích rất sâu sắc ý nghĩa của hoạt động lao động, hoạt động chính trị xã hội
Bà đánh giá cao vai trò chủa hoạt động của Đoàn thanh niên, của đội thiếu niên, qua các hoạt động ngoài nhà trường, ngoài lớp, Bà cho rằng qua hoạt động thực tiễn thế hệ trẻ được “tự giáo dục”, qua đó mà hình thành phát triển nhân cách của người lao động mai sau [25]
A.X Macarenco (1888- 1939) nhà giáo dục Xô viết vĩ đại- Người có công làm một cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại trong gần 20 năm ở “trại lao động Goocki và Deczinxki” nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp, thành công của
Trang 21cuộc thực nghiệm này chính là ở chỗ Macarencô không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp trong trường mà ông đã gắn liền giáo dục trong lao động trong sinh hoạt tập thể và trong hoạt động xã hội, cộng đồng Thành công của cuộc thực nghiệm giáo dục của Macarencô đã chứng minh chân lý giáo dục của học thuyết Mac – Lênin và khái quát thành các quan điểm giáo dục XHCN rất cơ bản đó là:
+ Giáo dục thông qua hoạt động xã hội
+ Giáo dục trong tập thể bằng tập thể
+ Giáo dục trong lao động
+ Giáo dục bằng tiền đồ, viễn cảnh
+ Giáo dục thông qua cộng đồng
Có thể nói từ triết lý của C.Mác về bản chất xã hội của cá nhân là
“tổng hòa các quan hệ xã hội” đến những lý luận về sự kết hợp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục… là một chặng đường phát triển dài của Giáo dục thế kỷ XIX
Nói đến các nhà giáo dục tiêu biểu trong lịch sử không thể không nói đến Hồ Chí Minh – Nhà Giáo dục kiệt xuất của Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX, người đã được UNESCO công nhận là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn “Ở đây, Hồ Chí Minh đã để lại nhiều tư tưởng giáo dục cốt lõi như: Vị trí của Giáo dục; vai trò của môi trường giáo dục và giáo dục trong cộng đồng; vai trò của toàn dân đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ; ý nghĩa của Xã hội hóa công tác giáo dục; vai trò của nhà giáo dục – chủ thể tác động GD; vai trò của học sinh – chủ thể hoạt động GD…đó chính là những cơ sở lịch sử và lý luận của Hồ Chí Minh về việc tổ chức các HĐGDNGLL thông qua hoạt động cộng đồng cho học sinh Chẳng hạn trong tập thơ “Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh có bài “Nửa đêm”như sau:
Ngủ thì ai cũng như lương thiện
Trang 22Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên
(Hồ Chí Minh – Toàn tập –Tập III; Tr.312) Trong những năm gần đây, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và
xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia…giáo dục của các nước đã và đang có những định hướng rất cơ bản nhằm đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: Năng lực thích ứng, năng lực toàn diện, năng lực hoạt động xã hội, năng lực tổ chức hoạt động cộng đồng…
Những lý luận cơ bản của giáo dục XHCN đã trở thành những vấn đề của thời đại, xu thế chung của giáo dục các nước thông qua hoạt động của UNESCO đã tập trung vào xây dựng thống nhất môi trường giáo dục, tăng cường hoạt động phát huy tính tích cực chủ động của chủ thể (người học), đổi mới nội dung, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục nhà trường, xã hội, gia đình, cộng đồng…Những khẳng định chung của UNESCO là:
+ Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời
+ Nhà trường mở, giáo dục mở
+ Tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình
+ Giáo dục cho mọi người
+ Giáo dục hướng tới 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình
Việc ra đời chương trình HĐGDNGLL của sự nghiệp đổi mới giáo dục đang triển khai là một đóng góp nhằm vận dụng hững lý luận của chủ nghĩa Mác và xuất phát từ thực tiễn giáo dục con người Việt Nam thời kỳ CNH- HĐH Việc tìm những biện pháp hiệu quả, khả thi để mục tiêu của chương trình HĐGDNGLL thông qua hoạt động cộng đồng trở thành hiện thực là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay
Trang 231.1.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước gần đây
Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của HĐGDNGLL như vai trò, biện pháp quản lý, trong nhà trường và ngoài nhà trường ở các bậc học khác nhau: Giáo dục Mầm non, giáo dục Tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục THPT, giáo dục đại học và giáo dục trong cộng đồng
1.1.2.1 Nhiên cứu về giáo dục ngoài giờ lên lớp và sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức HĐGDNGLL thông qua hoạt động trong cộng đồng:
- Phạm Hoàng Gia: Trong bài nghiên cứu “về hoạt động ngoài giờ học của học sinh lớp 6 [10] đã dùng phiếu mẫu điều tra, nêu 30 loại công việc, gồm 57 dạng hoạt động cụ thể, phân thành các nhóm đó là:
+ Hoạt động học tập
+ hoạt động vui chơi giải trí
+ Hoạt động xã hội
+ Hoạt động năng khiếu cá nhân
Tác giả còn dùng mẫu nêu trên 6 tác dụng của những việc mà các em
đã làm Theo tác giả, thì các hoạt động mà các em tham gia nhiều nhất là hoạt động ngoài giờ của học sinh tập trung nhiều vào công việc dịch vụ gia đình, ít có thời gian để tự học, giải trí và tham gia vào các hoạt động khác
Vấn đề tác giả đặt ra là: Nhà trường và xã hội dần từng bước tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí có tính kỹ thuật, nghệ thuật dể các em phát triển năng khiếu, tài năng của mình thông qua cộng đồng mà tác động đến việc hình thành nhân cách của học sinh Xuất phát từ quan điểm nhân cách được hình thành định hình qua hoạt động và giao tiếp của trẻ, trong đó có sẵn các quan hệ xã hội được tồn tại và được tạo ra
Việc nghiên cứu: “Tổ chức HĐNGLL cho học sinh lớp 6”, tác giả Phạm Hoàng Gia là bằng cách tác động tới cha mẹ học sinh, các lưc lượng
Trang 24cộng đồng giáo dục về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập cho thấy: Khi tổ chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép được ý nghĩa tập thể thì nhân cách của học sinh cũng dược phát triển
- Tác giả Nguyễn Văn Thiềm trong bài: Mấy biện pháp giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cư” [43] đặt vấn đề: Chất lượng giáo dục học sinh ở trường giảm sút, nguyên nhân do việc giáo dục học sinh NGLL bị buông lỏng; sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục, cộng động
bị coi nhẹ, bởi vậy phải hòa nhập hoạt động nhà trường với địa bàn dân cư Tác giả tổng kết ở trường phổ thông cở sở Hoa Đông – Hà Bắc cho thấy: Nhờ sự phối hợp các lực lượng giáo dục ở địa bàn dân cư mà chất lượng giáo dục, chất lượng học tập của học sinh được nâng lên
- Nguyễn Lê Đắc: Với công trình nghiên cứu:” Cở sở tâm lý học của công tác giáo dục học sinh NGLL trên địa bàn dân cư” [9] đã khẳng định quan điểm nhóm là chủ thể của hoạt động, tập thể cơ sở là chủ thể của quá trình giáo dục Nó vạch ra vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư đối với sự phát triển tâm lý của học sinh Từ đó khẳng định cần thiết phải có một cơ chế tổ chức như thực nghiệm đã vạch ra để thực hiện tốt lĩnh vực giáo dục này
1.1.2.2 Nhiên cứu HĐGDNGLL thông qua HĐCĐ ở trường phổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể trong hoạt động tập thể
- Lê Trung Trấn với bài nghiên cứu: “Kết quả thực nghiệm chương
trình hoạt động NGLL ở trường phổ thông cơ sở [44] cho thấy: Mục tiêu
hoạt động NGLL là chuẩn bị tiếp tục các hoạt động học tập trên lớp và phát huy những tri thức đã học trên lớp, rèn cho học sinh rèn luyện những kỹ năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống, vào thực tế; bồi dưỡng cho học sinh năng lực hoạt động độc lập, sáng tạo, năng lực tổ chức tập thể, hình thành chủ nghĩa tập thể và phát triển hài hòa nhân cách
Trang 25- Đặng Xuân Hoài với Công trình “Hoạt động tập thể dưới dạng học sinh tự quản”
- Nguyễn Dục Quang: “Tổ chức giao lưu của học sinh trong hoạt động tập thể”
Những nghiên cứu trên tập trung khá đầy đủ các hoạt động NGLL Nhiều ý kiến khẳng định: Mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của HĐGDNGLL trong cộng đồng không chỉ đối với việc hình thành phát triển các phẩm chất nhân cách, đạo đức của học sinh mà còn góp phần củng cố, nâng cao kiến thức nhân văn cho học sinh Đó là những đóng góp có giá trị
to lớn vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ giai đoạn hiện nay
1.1.2.3 Nghiên cứu đề cập đến các hình thức tổ chức HĐGDNGLL
- Đỗ Nguyên Hạnh, trong công trình nghiên cứu: Một vài hình thức giáo dục học sinh NGLL có hiệu quả” [16] xuất phát từ đặc điểm học sinh ham thích hoạt động NGLL của học sinh thông qua cộng đồng Nhà trường cần tổ chức các hoạt động phù hợp với sở thích của các em như: Bình thơ, tiếp xúc với người thực, việc thực, tham quan có tác dụng tốt đối với việc củng cố, bổ sung kiến thức, giáo dục tình cảm, ý thức tập thể của học sinh
- Phạm Lăng: “Hoạt động giáo dục NGLL ở trường phổ thông trung học Chu Văn An – Hà Nội” [26], đã xác định hoạt động NGLL của năm học 1983- 1984 với 13 hình thức (11 hình thức trong trường và 2 hình thức ở ngoài trường) Các nội dung và thời gian hoạt động được xây dựng cụ thể cho từng tháng của năm học Kết quả cho thấy: Tổ chức HĐNGLL trong cộng đồng một cách khoa học không làm giảm đi chất lượng các môn học Trái lại, số học sinh đạt danh hiệu tiên tiến, số lớp đạt danh hiệu tiên tiến tăng hơn năm trước Số giờ xếp loại trung bình, yếu, và học sinh cá biệt giảm đáng kể
Trang 261.1.2.4 Nghiên cứu về công tác quản lý tổ chức HĐGDNGLL thông qua cộng đồng
- Bùi Thị Lâm với nghiên cứu: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng
tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo bé (3-4 tuổi) làm quen với môi trường xung quanh” 1999 [27], đã khẳng định vai trò của tổ chức hoạt động ngoài trời với việc nâng cao chất lượng giáo dục Mầm non đồng thời nêu lên một số biện pháp tổ chức hiệu quả
- Đinh Xuân Huy với nghiên cứu:” Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của người Hiệu trưởng trong trường phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Lai Châu” [19], đã khẳng định vai trò quan trọng của việc tổ chức HĐGDNGLL đối với việc nâng cao chất lượng của người Hiệu trưởng trong trường phổ thông Dân tộc Nội trú đồng thời xây dựng được các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường PTDTNT như: Bồi dưỡng nhận thức, năng lực cho đội ngũ giáo viên; cải tiến công tác quản lý, hướng dẫn HĐGDNGLL thông qua hoạt động cộng đồng để phối hợp các lực lượng trong cộng đồng tham gia…đây là các tác động tích cực để thúc dẩy HĐGDNGLL trong trường phổ thông Dân tộc Nội trú phát triển, nhằm xây dựng hình thành ở học sinh những năng lực, phẩm chất tốt nhất của người cán bộ dân tộc trong tương lai
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục, lần đầu tiên HĐGDNGLL được chính thức đưa vào trong chương trình giáo dục của nhà trường phổ thông với yêu cầu thực hiện bắt buộc thống nhất toàn quốc, có sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tới các trường Để triển khai chương trình và sách giáo viên “HĐGDNGLL” ở phổ thông, một loạt tác giả nghiên cứu đã đề cập tới nhiều lĩnh vực khác nhau của HĐGDNGLL
Hà Nhật Thăng, trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” [35 ] cũng đã đề cập đến sự cần thiết mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc tổ
Trang 27chức hoạt động giáo dục, hệ thống kỹ năng (KN) tổ chức hoạt động giáo dục
và phương pháp tổ chức hoạt dọng giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp
Trong sách “hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” Hà Nhật Thăng (Tổng chủ biên kiêm chủ biên) sách giáo viên từ lớp 6, 7, 8, 9, [36,37,38,39] cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, phương tiện, trang thiết bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của học sinh, đồng thời hướng dẫn cụ thể các chủ điểm giáo dục…
Với các bài viết của Nguyễn Dục Quang đã đề cập đến vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐGDNGLL, giáo dục quốc tế cho học sinh qua các hoạt động GDNGLL [30, 31], ngoài ra không ít các khóa luận đại học và luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau
Như vậy đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề HĐGDNGLL, song các tác giả hầu hết chỉ đưa ra hình thức tổ chức, các biện pháp quản lý HĐGDNGLL mà chưa phân tích các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động này cho học sinh thông qua cộng đồng, chưa làm nổi bật vai trò thế mạnh của HĐGDNGLL thông qua cộng đồng để hình thành nhân cách cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THCS trong giai đoạn hiện nay
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Hoạt động
Hoạt động là phương thức tồn tại tích cực của con người với môi trường sống của mình Trong và bằng hoạt động, con người thiết lập, vận hành mối quan hệ của mình với thế giới đồ vật và với người khác Hoạt động giúp “con người sáng tạo ra lịch sử và trong quá trình đó sáng tạo ra chính bản thân mình” (C.Mác)
Trang 281.2.2 Hoạt động giáo dục và hoạt động tổ chức giáo dục
* Hoạt động giáo dục
- Hoạt động giáo dục là hoạt động do người lớn tổ chức theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm Điều này có nghĩa các chủ thể của hoạt động giáo dục phải chịu trách nhiệm về hoạt động giáo dục Đó là các nhà giáo dục, giáo viên và các chủ thể có liên quan khác nhau như: Cha
mẹ học sinh, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ sở giáo dục Hoạt động giáo dục là sự vận hành các yếu tố của giáo dục đã được nhận thức và kiểm soát Hoạt động giáo dục cơ bản của xã hội được thực hiện bởi nhà trường
Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt động của người học (học sinh), có cơ cấu, nội dung, mục tiêu và phương tiện tương đối khách quan với học sinh Khi tham gia hoạt động giáo dục, học sinh tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc, mục tiêu, chuẩn mực và giá trị chung, như vậy học sinh được giáo dục theo những tiêu chí chung và diễn ra
ở cấp độ cá nhân
Với cách hiểu như trên, hoạt động giáo dục muốn có hiệu quả phải được tổ chức thuận lợi và phù hợp nhất với các hoạt động của học sinh Hoạt
Trang 29động của học sinh có hoạt động cơ bản và hoạt động không cơ bản, các hoạt động cơ bản là những hoạt động do học sinh tiến hành và gắn liền với đời sống học đường của các em Trong các hoạt động cơ bản này sẽ có hoạt động được xác định là hoạt động chủ đạo
Hoạt động cơ bản của học sinh có những đặc điểm chung của lứa tuổi, nhưng cũng mang những khác biệt cá nhân đáng kể, do đó việc tổ chức hoạt động cho học sinh vừa phải căn cứ vào cái chung, vừa phải căn cứ vào cái riêng của mỗi học sinh
Để hoạt động giáo dục có hiệu quả, việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường phải chú ý đến những vấn đề sau:
+ Cơ cấu các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần được xác định theo mục tiêu giáo dục, trước hết cần đáp ứng nhu cầu xã hội và nhu cầu phát triển con người nhưng không thể đi quá xa so với những hoạt động cơ bản của học sinh
+ Các HĐGD tạo môi trường cho hoạt động của học sinh và chính những hoạt động của học sinh quyết định phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Vì thế các hoạt động giáo dục phải dựa vào hoạt động của học sinh, mặt khác hoạt động của học sinh phải được định hướng bởi các HĐGD Do vậy tất cả các hoạt động giáo dục với các hình thức khác nhau trong và ngoài nhà trường cần phải hoạch định sao cho phát huy tốt nhất những hoạt động
cơ bản của học sinh, tập trung ưu tiên và đẩy mạnh những hoạt động này
+ Các HĐGD thường nhằm vào những mặt tương ứng vì thế, trong nhà trường có bao nhiêu mặt giáo dục thì sẽ có bấy nhiêu hoạt động giáo dục Tuy nhiên HĐGD này đều dựa trên nền tảng của dạy học Nói cách khác nền tảng của những hoạt động giáo dục là dạy học, dù các hoạt động giáo dục này được tổ chức ngoài các môn học
Trang 30* Tổ chức Hoạt động giáo dục
Tổ chức hoạt động giáo dục về bản chất là biến quá trình giáo dục của nhà sư phạm thành tự giáo dục rèn luyện của người được giáo dục Hoạt động của cá nhân hay tập thể chỉ có hiệu quả khi nó được tiến hành một cách
có tổ chức Xét ở phương diện cá nhân, hoạt động của con người chỉ có hiệu quả khi bản thân chủ thể hoạt động biết tổ chức, sắp xếp và thực hiện các công việc của mình một cách hợp lý Đối với một tập thể, việc tổ chức cho
cả một tập thể đồng tâm, đồng lực để tiến hành một hoạt động nào đó có ý nghĩa hơn nhiều Trong nhà trường tổ chức hoạt động giáo dục được coi là một hoạt động tự giác của mỗi thành viên Nghiên cứu tổ chức hoạt động giáo dục có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động để thực hiện mục tiêu giáo dục.Việc tổ chức hoạt động của cả một tập thể không phải là vấn đề đơn giản nó không chỉ đòi hỏi ở người tổ chức sự
am hiểu về công tác tổ chức, mà còn đòi hỏi họ ở vốn kinh nghiệm tổ chức, linh hoạt và khả năng sáng tạo của cá nhân Tổ chức hoạt động giáo dục có những đặc trưng cơ bản sau:
- Tính mục đích tổ chức: Đây là công việc quan trọng hàng đầu, mục đích hoạt động đảm bảo cho một công việc hoặc một loạt công việc tiến hành đồng thời nào đó đạt kết quả Để bảo đảm được mục đích, tổ chức hoạt động giáo dục phải gắn liền với những yêu cầu giáo dục với thực tiễn xã hội, điều đó có ý nghĩa định hướng quan trọng đối với tập thể và cá nhân tham gia hoạt động giáo dục
- Phải đảm bảo nội dung cho mọi thành viên: Thông thường trong tập thể việc tổ chức hoạt động do một nhóm người thực hiện Trong đó, có người thực hiện nội dung công tác tổ chức từ đầu đến cuối, có người chỉ thực hiện một nội dung, một phần, một khâu nào đó của công việc tổ chức Người tổ chức việc chính là người biết phân công công việc phù hợp với
Trang 31năng lực của từng người nhằm phát huy tối ưu tiềm năng của một tập thể tạo
ra được hiệu quả cao nhất đối với hoạt động giáo dục
- Các mối quan hệ giữa con người với con người trong hoạt động giáo dục: Trong công tác tổ chức, các quan hệ lẫn nhau giữa người tổ chức giáo dục và những người được giáo dục là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt Các mói quan hệ đó thường được biểu hiện trong quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm (tập thể) trong quá trình hoạt động Trong hoạt động giáo dục, các mối quan hệ đó chính là quan giữa giáo viên với tập thể, cá nhân học sinh và giữa các thành viên học sinh với nhau (giáo viên- học sinh, tập thể học sinh; học sinh- học sinh) Mức độ của quan hệ này tùy thuộc vào uy tính, năng lực của người tổ chức cũng như sức mạnh của tập thể
Tổ chức HĐGD cần thực hiện theo một quy trình nhất định đó là: + Nắm vững nhiệm vụ: Nắm vững nội dung chương trình, cách thức, phương tiện, điều kiện thực hiện nhiệm vụ và các đối tượng tham gia
+ Tính toán khả năng của các thành viên trong tập thể để dự kiến phân công cho từng người một cách hợp lý
+ Xác định điều kiện và phương tiện hoạt động
+ Vạch kế hoạch: Xác định công việc, trình tự tiến hành, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và cách xử lý
+ Phổ biến công việc và giao nhiệm vụ cho các thành viên
Xây dựng các mối quan hệ với bên ngoài
+ Thực hiện nhiệm vụ điều hành các thành viên thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch
+ Tổng kết, đánh giá
Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm tổ chức hoạt động giáo dục là sự sắp xếp các thành tố của hoạt động giáo dục theo quy trình tổng thể và quan hệ qua lại để hoạt động giáo dục đạt kết quả cao
Trang 321.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.3.1 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa HĐGDNGLL ở trường THCS có mục tiêu giúp học sinh: Nâng cao hiểu biết các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại, củng cố mở rộng kiến thức đã học trên lớp…củng cố các kỹ năng, hình thành phát triển các năng lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, thích ứng, giao tiếp ứng xử, quản lý, hoạt động chính trị-
xã hội,…) có thái độ đúng đắn trước những vấn đề diễn ra của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi bản thân và cảm thu cái đẹp, cái có ích trong đời sống
Về khái niệm HĐGDNGLL các tác giả đưa ra một số ý kiến:
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt, “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hóa nghệ thuật, thẩm
mỹ, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí……để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [19]
Trong chương trình THCS về HĐGDNGLL Các tác giả đã đưa ra khái niệm: “HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối hoạt động day- học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của học sinh”
Như vậy hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối bổ sung hoạt động trên lớp, là con đường gắn lý luận với thực tiễn nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng mục tiêu xã hội
Trang 33Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa của HĐGDNGLL nên trong đổi mới giáo dục hiện nay HĐGDNGLL là một chương trình bắt buộc, là một bộ phận trong quá trình giáo dục toàn diện học sinh, trong chính khóa chứ không phải ngoại khóa
1.2.3.2 Hoạt động ngoại khóa
Một trong những đặc điểm cơ bản của quá trình giáo dục là học sinh
có xu hướng vượt ra khỏi phạm vị tri thức do chương trình quy định Do đó những tri trong hoạt động nội khóa không thỏa mãn nhu cầu của học sinh, vì thế các hoạt động ngoại khóa minh họa thêm cho bài học nhằm tạo điều kiện cho mỗi học sinh có thể tự mở rộng, đào sâu tri thức, phát triển hứng thú và năng lực riêng cho mình Hoạt động ngoại khóa thường được tổ chức dưới nhiều hình thức để học sinh liên hệ với tập thể và cá nhân mình trong học tập, rèn luyện tác phong, lối sống và ý thức chấp hành pháp luật
Trong Giáo dục học Mầm non- Đào Thanh Âm (Chủ biên) (1995); tập
3 đã đề cập đến quan điểm của T.A.Ilina về công tác này như sau: “Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học được gọi là công tác giáo dục ngoại khóa
Nó bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa, nó là phương tiện
để phát hiện tài năng và năng lực của các em, làm thức tỉnh hứng thú và
thiên hướng của học sinh đối với một hoạt động nào đó Hoạt động ngoại
khóa là một trong những hình thức của HĐGDNGLL Hoạt động ngoại khóa
có thể diễn ra trong lớp học, trong môi trường nhà trường, môi trường cộng đồng, môi trường thiên nhiên rộng lớn
Trong các trường phổ thông hiện nay vẫn có hoạt động ngoại khóa, coi như một hoạt động phụ (dạy học là chính) việc thực hiện hoạt động ngoại khóa là theo điều kiện mỗi trường không xác định rõ ràng cũng như thống nhất toàn quốc Thực hiện hoạt động ngoại khóa chưa được đánh giá như một tiêu chí, đánh giá quá trình rèn luyện toàn diện nhân cách học sinh
Trang 341.2.4 Biện pháp tổ chức HĐGDNGLL
1.2.4.1 Khái niệm về Biện pháp
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Biện pháp là cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề” (Hoàng Phê (CB) (2011) –“Từ điển tiếng Việt” –NXB Đà Nẵng; Tr 109) Trong giáo dục học, biện pháp giáo dục là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp Tùy theo trường hợp cụ thể thì phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa lẫn nhau
1.2.4.2 Khái niệm về Biện pháp tổ chức HĐGDNGLL
Biện pháp tổ chức HĐGDNGLL: Là những cách thức tổ chức tiến hành thực hiện các nội dung trong chương trình HĐGDNGLL theo một quy trình (các bước) nhằm đạt mục tiêu của các nội dung hoạt động đặt ra
Mỗi biện pháp tổ chức HĐGDNGLL cần đảm bảo những cấu trúc thành phần sau:
- Thực hiện một mục tiêu hoặc nhiều mục tiêu giáo dục, ví dụ: Tổ chức một cuộc thi theo chủ đề (như đường lên đỉnh Olympia) vừa góp phần
mở rộng kiến thức vừa rèn luyện kỹ năng và phát triển hệ thống thái độ tích cực, tình cảm trong sáng theo mục tiêu của HĐGDNGLL
- Xác định được các chủ thể tham gia và các lực lượng phối hợp Thường HĐGDNGLL luôn có 2 chủ thể (giáo viên và học sinh), phải xác định được mói quan hệ tương hỗ của các chủ thể tham gia, Lực lượng hỗ trợ, phối hợp rất quan trọng, đôi khi góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng của biện pháp tổ chức HĐGDNGLL, chẳng hạn các cuộc thi không thể thiếu trọng tài
- Tính toán đến những điều kiện chủ quan, khách quan chi phối, chế ước hiệu quả của hoạt dộng giáo dục
- Thông thường lựa chọn một biện pháp tổ chức HĐGDNGLL phải xem xét tính khả thi của biện pháp, điều đó có nghĩa là phải phân tích mỗi
Trang 35quan hệ giữa mục tiêu, nội dung HĐGDNGLL với biện pháp tổ chức, thực hiện, phải tính toán tới không gian, thời gian, cơ sở vật chất….để đảm bảo cho biện pháp có hiệu quả
- Cuối cùng là đánh giá hiệu quả của việc sử dụng biện pháp Tổ chức thực hiện nội dung HĐGDNGLL về văn hóa, thể dục thể thao, hoạt động xã hội hay giáo dục truyền thống…đều có thể sử dung một số biện pháp chung Vấn đề cơ bản của nhà sư phạm là biết lựa chọn biện pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu đặt ra cho mỗi hoạt động Các nhà giáo dục lớn trong lịch sử đều có quan niệm chung là: Mọi biện pháp dạy học hay giáo dục đều có ưu nhược điểm của nó Trong HĐGDNGLL nếu biết phối hợp các biện pháp hợp lý, phát huy các mặt tích cực của các biện pháp thì chất lượng, hiệu quả của các HĐGDNGLL sẽ được nâng cao
1.2.5 Giáo dục; Tự giáo dục; Chất lượng giáo dục phổ thông; Kỹ năng;
Kỹ năng sống
* Giáo dục:
- Giáo dục theo nghĩa rộng: Quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có Kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người
- Giáo dục theo nghĩa hẹp: Là một bộ phận của quá trình tổng thể (QTSP; QTGDTT), là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ những nét tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực đạo đức, lao động, tư tưởng chính trị, thẩm
mỹ, vệ sinh…
Như vậy Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 36ngoài khóa của nhà trường, ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình, ảnh hưởng của sách vở, tạp trí, ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác…
Mặt khác giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách học sinh Qua những môn học trên trường, lớp, cũng như qua các hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, tham quan….được tổ chức ngoài giờ lên lớp Sẽ tạo ra những hình ảnh tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục và của cộng đồng
* Tự giáo dục: Là một hoạt động có mục đích, có ý thức của cá nhân
hướng vào việc xây dựng, hoàn thiện những phẩm chất nhân cách của mình theo đúng chuẩn mực xã hội vậy tự giáo dục có cơ sở tự đánh giá, như vậy trình độ phát triển của tự đánh giá là điều kiện quan trọng của tự giáo dục
Tự giáo dục vừa tồn tại với tư cách như là bộ phận của giáo dục (theo nghĩa hẹp) vừa là kết quả của giáo dục
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về tự giáo dục, có thể kể đến một
số tác giả tiêu biểu như: Theo tác giả Trần Thị Minh Hằng (2011), “Tự giáo dục, tự học là quá trình cá nhân tự giác, tự lực, tích cực lĩnh hội những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống bằng hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định” Lêvitôv (1970) cho rằng “Tự giáo dục là hoạt động tích cực của cá nhân với các thành phần tâm lý của sự lĩnh hội, đó là thái
độ tích cực của người học trong tự học các quá trình tư duy, các quá trình ghi nhớ,…các quá trình tâm lý có liên quan mật thiết với nhau để hoạt động tự hoc đạt kết quả” Theo tác giả Rubakin (1973), “Tự giáo dục là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân
Trang 37bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn (2001) cho rằng “Tự giáo dục là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp…), và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Từ những quan niệm nêu trên về tự giáo dục, chúng tôi cho rằng hoạt động tự giáo dục của học sinh có những đặc điểm cơ bản sau:
- Tự giáo dục là quá trình học tập tự giác, tích cực, độc lập của học sinh
- Tự giáo dục của học sinh diễn ra dưới sự hướng dẫn, giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp của giáo viên;
- Trong quá trình tự học, học sinh huy động các chức năng tâm lý (nhận thức - thái độ - hành vi”) của bản thân, bằng những hành động học tập cụ thể lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong cuộc sống
- Tự giáo dục diễn ra trong môi trường học tập, chịu sự tác động bởi các điều kiện học tập của học sinh Tự giáo dục có vai trò vô cùng quan trọng đối với hiệu quả học tập trong trường, gia đình và sự phát triển nhân cách của người học sinh
Tự giáo dục không những giúp học sinh đào sâu, nắm vững kiến thức
đã học trên lớp; mở rộng, cập nhật những kiến thức mới; mà còn giúp học sinh, sinh viên và cộng đồng hình thành kỹ năng học tập; bồi dưỡng hứng thú học tập; đặc biệt tự học là công cụ giúp học sinh học tập suốt đời
Vậy muốn xây dựng con người có tri thức thì quan trọng nhất là chính con người tự giáo dục Nhà trường hay gia đình chỉ đóng vai trò định hướng,
Trang 38hỗ trợ sự phát triển mỗi cá nhân Cái gốc của trí tuệ vẫn là do con người tự nhận thức, tự khai sáng và tự lĩnh hội
* Chất lượng giáo dục phổ thông:
Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hầu như các quốc gia đều đặt vấn đề cải cách giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đủ sức cạnh tranh với nước khác Một số nhà kinh tế nổi tiếng nước ngoài khi đến thăm nước ta đã có lời khuyên Việt Nam ngay trong lúc này cần tập trung vào giáo dục Trong giáo dục đào tạo khi nói đến cái cơ bản phải nghĩ ngay đến chất lượng giáo dục phổ thông Kinh nghiệm thế giới cho thấy, một nền giáo dục phổ thông có chất lượng tốt là nền tảng vững chắc cho một nền giáo dục quốc dân tiên tiến, hiện đại Như chúng ta biết, giáo dục phổ thông từ Tiểu học đến Phổ thông Trung học có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành những nét đầu tiên của một con người về đạo đức, tình cảm, về hiểu biết (kiến thức), kỹ năng sống…
Trong các nội dung cần phát triển, việc tiếp thu kiến thức là rất quan trọng, nhưng việc khơi dậy và bồi dưỡng tình cảm, đạo đức càng cần thiết và quan trọng hơn Các em phải được yêu thương, giáo dục để lớn lên, thành những con người có hiếu với cha mẹ, biết yêu thương mọi người và bạn bè xung quanh, yêu quý quê hương đất tổ, nghĩa là phải là người Việt Nam với lịch sử và văn hóa Việt Nam Các em phải được hướng dẫn để sống trung thực, văn minh, hữu nghị với các dân tộc khác, nhưng các em phải chuẩn bị
để trước hết phục vụ đất nước Việt Nam Nói một cách khác nếu chức năng giáo dục là dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề thì phải bắt đầu từ đây và cần làm tốt nhất bước đầu này Trong những năm gần đây với một loạt chương trình, dự án đổi mới, chất lượng giáo dục Tiểu học, phổ thông Trung học có được nâng lên Tuy nhiên nếu xét yêu cầu của mục tiêu giáo dục phổ thông
Trang 39thì cũng còn nhiều khiếm khuyết, cần phải đổi mới càng sớm càng tốt và chúng ta đang thực hiện “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo” Đất nước ta phải bảo đảm giáo dục con người phục vụ việc bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam Vì vậy, giáo dục Việt Nam phải tạo cái nền vững chắc
về con người, trước hết là nhân cách, trên cơ sở đó sẽ vun đắp những tri thức
về khoa học, về nghề nghiệp Chúng ta cần ra sức học hỏi tiếp thu kiến thức
và kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, tuy nhiên cũng cần biết lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện và mục tiêu đấu tranh của dân tộc Từ đó cần kiến nghị với Đảng và Nhà nước khẩn chương nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, cấp giáo dục bắt buộc theo hướng hiện đại, làm nền tảng vững chắc cho một nền giáo dục đào tạo mà tất cả chúng ta mong muốn thật sự là quốc sách hàng đầu, là động lực mạnh mẽ để đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, sánh vai cùng các nước trong khu vực và trên thế giới
* kỹ năng: Là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục
một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi
Bất cứ một kỹ năng nào được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đêù phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm năng lực giao tiếp của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kỹ năng đó Kỹ năng thường được trải qua các bước sau:
- Hình thành mục đích Lúc này chủ thể tự trả lời câu hỏi “tại sao tôi phải sở hữu kỹ năng đó”, sử hữu kỹ năng đó tôi có lợi gì
- Lên kế hoạch để có kỹ năng đó Thường cũng là tự làm, cũng có những kế hoạch chi tiết cũng có những kế hoạch đơn giản
- Cập nhật kiến thức lý thuyết liên quan đến kỹ năng đó Thông qua tài liệu, báo chí và phần lớn những kiến thức này chúng ta được học từ trường
và từ thầy của mình
Trang 40- Luyện tập kỹ năng Bạn có thể luyện tập ngay trong công việc, luyện với thầy hoặc tự mình luyện tập
- Ứng dụng và hiệu chỉnh Để sở hữu thực sự một kỹ năng chúng ta phải ứng dụng nó trong cuộc sống và trong công việc Công việc và cuộc sống biến động không ngừng nên việc hiệu chỉnh là quá trình diễn ra thường xuyên nhằm hướng tới hoàn thiện kỹ năng của chúng ta
* kỹ năng sống:
Kỹ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kỹ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống
Các nhóm kỹ năng sống cơ bản của một con người gồm:
- Nhóm kỹ năng về cuộc sống cá nhân như:
+ Kỹ năng thực hiện các chức năng cơ bản của cuộc sống hàng ngày của cá nhân
+ Kỹ năng tự nhận thức về bản thân
+ Kỹ năng tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân
+ Kỹ năng tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự đánh giá hành vi bản thân + Kỹ năng tự rút kinh nghiệm trọng cuộc sống hàng ngày…
- Nhóm kỹ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng và với xã hội + Kỹ năng giao tiếp, ứng xử
+ Kỹ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ nhân cách, các mối quan hệ tượng tác trong cộng đồng và xã hội
+ Kỹ năng thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, hành vi theo chuẩn mực xã hội (hành vi người công dân)
- Nhóm kỹ năng công việc như:
+ Kỹ năng xác định mục tiêu công việc