Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.” Quá trình phát triển ngôn ngữ và khả năng đọc viết ban đầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
PHẠM THỊ THÙY TRANG
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TRẢI NGHIỆM ĐỌC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
(ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG)
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -
PHẠM THỊ THÙY TRANG
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TRẢI NGHIỆM ĐỌC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Hồng Thái
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thùy Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng, các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên, nhân viên, phụ huynh và các bé các trường Mầm non 4, Mầm non 8, Mầm non 9, Mầm non 10 đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả làm việc trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
Đặc biệt, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy hướng dẫn, PGS.TS Đinh Hồng Thái, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là những người thân trong gia đình đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tác giả suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2017
Tác giả
Phạm Thị Thùy Trang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Khách thể nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của đề tài 4
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TRẢI NGHIỆM ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.2 Hệ thống khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Khái niệm “đọc” 12
1.2.2 Khái niệm “đọc” ở trẻ mầm non 15
1.2.3 Khái niệm “ trải nghiệm” 17
1.2.4 Khái niệm “ trải nghiệm đọc” 18
1.2.5 Khái niệm “biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc” cho trẻ 5-6 tuổi 20
1.3 Một số đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi liên quan đến hoạt động trải nghiệm đọc 21
Trang 61.3.1 Đặc điểm sinh lý 21
1.3.2 Đặc điểm tâm lý 23
1.3.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi 27
1.4 Khả năng đọc và việc tổ chức trải nghiệm đọc cho trẻ 5 - 6 tuổi 28
1.4.1 Đặc điểm khả năng đọc của trẻ 5-6 tuổi 28
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đọc của trẻ 5- 6 tuổi 31
1.4.3 Ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 32
1.4.4 Nội dung tổ chức cho trẻ 5-6 tuổi trải nghiệm đọc ở trường mầm non … 34
1.5 Các hình thức về phương pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5-6 tuổi 40
1.5.1 Hoạt động học có chủ đích 40
1.5.2 Hoạt động vui chơi 41
1.5.3 Môi trường chữ viết 43
Kết luận chương 1 44
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 45
2.1 Mục đích khảo sát 45
2.2 Đối tượng và phạm vi khảo sát 45
2.3 Nội dung khảo sát 45
2.4 Phương pháp khảo sát 46
2.4.1 Phương pháp điều tra bằng Anket 46
2.4.2 Phương pháp quan sát: 46
2.4.3 Phương pháp đàm thoại 47
2.4.4 Thu thập, nghiên cứu và phân tích 47
2.5 Thời gian khảo sát 47
2.6 Phân tích kết quả khảo sát 47
Trang 72.6.1 Kết quả khảo sát thông tin chung về giáo viên và trẻ các lớp 47
2.6.2 Nhận thức của giáo viên về việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 50
2.6.3 Thực trạng nhận thức của phụ huynh về việc chuẩn bị cho trẻ 5 – 6 tuổi học đọc trước khi vào lớp 1 55
2.6.4 Thực trạng khả năng đọc của trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Đà Lạt 57
2.6.5 Thực trạng biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 63
Kết luận chương 2 69
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TRẢI NGHIỆM ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 71
3.1.1 Dựa vào chương trình giáo dục mầm non 71
3.1.2 Dựa vào các nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ 72
3.1.3 Dựa vào quan điểm giáo dục hiện đại 72
3.2 Một số biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non 73
3.2.1 Biện pháp 1: Tăng cường tạo môi trường sách phong phú cho trẻ được trải nghiệm đọc 73
3.2.2 Biện pháp 2: Tăng cường tổ chức cho trẻ cùng đọc sách và chia sẻ nội dung sách đã đọc 77
3.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng có hiệu quả trò chơi học tập giúp trẻ tăng cường trải nghiệm đọc 83
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường cho trẻ làm sách, album theo chủ đề và đọc sách tự làm 88
Trang 83.2.5 Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh giúp trẻ tăng
cường trải nghiệm đọc 91
3.3 Thực nghiệm sư phạm 95
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 95
3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 95
3.3.3 Nội dung thực nghiệm 95
3.3.4 Thời gian thực nghiệm 95
3.3.5 Điều kiện tiến hành thực nghiệm 95
3.3.6 Tổ chức thực nghiệm 96
3.3.7 Phân tích kết quả thực nghiệm 97
Kết luận chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI ̣ SƯ PHẠM 108
1 Kết luận 108
2 Kiến nghị sư phạm 109
2.1 Đối với nhà quản lý, xây dựng chương trình mầm non 109
2.2 Đối với trường mầm non 110
2.3 Đối với giáo viên mầm non 110
2.4 Đối với phụ huynh 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
PHỤ LỤC 5
PHỤ LỤC 6
PHỤ LỤC 7
Trang 9MỤC LỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả điều tra thông tin chung của giáo viên dạy lớp mẫu giáo 48 Bảng 2.2 Số trẻ 5 - 6 tuổi trong một lớp 49 Bảng 2.3 Nhận thức của giáo viên về sự cần thiết chuẩn bị cho trẻ 5 – 6 tuổi trước khi vào học lớp 1 ở trường Tiểu học 50 Bảng 2.4 Nhận thức của giáo viên về một số nội dung cho trẻ 5 - 6 tuổi trải nghiệm đọc 51 Bảng 2.5 Thực trạng biện pháp giáo viên sử dụng tổ chức các hoạt động trong trường mầm non nhằm giúp trẻ 5 -6 tuổi trải nghiệm đọc 52 Bảng 2.6 Những khó khăn giáo viên thường gặp khi tổ chức trải nghiệm đọc cho trẻ 5-6 tuổi 54 Bảng 2.7 Nhận thức của phụ huynh về sự cần thiết chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo
5 - 6 tuổi học đọc trước khi vào lớp 1 55 Bảng 2.8 Thực trạng việc phụ huynh thực hiện các hoạt động giúp trẻ 5 - 6 tuổi phát triển khả năng tiền đọc 56 Bảng 2.9 Các chỉ báo được đánh giá trong từng bài tập được sắp xếp theo các tiêu chí như sau: 59 Bảng 2.10 Bảng thể hiện mức độ- điểm số và xếp loại 60 Bảng 2.11 Kết quả thực trạng về việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi của giáo viên mầm non 62 Bảng 3.1 Kết quả đo khả năng hiểu một số khái niệm về sách 98 Bảng 3.2 Kết quả đo thực hiện một số kỹ năng ban đầu trong hoạt động đọc 99 Bảng 3.3 Kết quả đo trẻ bước đầu có thể hiểu nội dung của sách 101 Bảng 3.4 Kết quả đo khả năng kể lại sách đã đọc 102
Trang 10Bảng 3.5 Kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm của trẻ
nhóm đối chứng và thực nghiệm 104 Bảng 3.6 Kết quả mức độ điểm đạt được sau thực nghiệm của trẻ nhóm đối chứng và thực nghiệm 105 Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả các mức độ điểm đạt được trước thực nghiệm và sau thực nghiệm của nhóm trẻ đối chứng và thực nghiệm 106
Trang 11
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu hiện khả năng hiểu một số khái niệm về sách 98 Biểu đồ 3.2 Biểu hiện khả năng thực hiện một số kỹ năng ban đầu trong hoạt động đọc 99 Biểu đồ 3.3 Biểu hiện khả năng trẻ bước đầu có thể hiểu nội dung của sách 101 Biểu đồ 3.4 Thể hiện khả năng kể lại sách đã đọc 103
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí
để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và của nhân loại Khả năng biết đọc, biết viết là một yếu tố vô cùng quan trọng trong năng lực của mỗi học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đó là cơ sở quan trọng để học sinh lĩnh hội tri thức, trưởng thành trong học vấn và kinh nghiệm sống Đối với trẻ em ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển cơ sở ban đầu của nhân cách Các nhà nghiên cứu giáo dục mầm non đã xem công tác phát triển ngôn ngữ cho trẻ là khâu chủ yếu của hoạt động trong trường mầm non, là tiền đề cho mọi sự thành công khác
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là lứa tuổi quan trọng mà cuối độ tuổi đó, trẻ phải trải qua bước ngoặt 6 tuổi, khi có bước chuyển giao từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo thành hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập của học sinh tiểu học Để sẵn sàng với việc học ở trường phổ thông, trẻ cần được chuẩn bị toàn diện về mọi mặt cả về hoạt động, nhận thức và nhân cách Để trẻ trở thành một học sinh thực thụ, trẻ phải được học đọc, viết Trường mầm non cần trang bị cho trẻ những kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho việc học đọc học viết ở phổ thông
1.2 Theo những nghiên cứu gần đây, sự phát triển khả năng tiền đọc -
viết của trẻ bắt đầu từ rất sớm và phát triển mạnh ở giai đoạn 5-6 tuổi Đây là giai đoạn vàng để giúp trẻ hình thành khả năng đọc Phát triển khả năng tiền đọc - viết có vai trò quan trọng thúc đẩy nhận thức nói chung và phát triển khả năng đọc nói riêng của trẻ Trẻ em lứa tuổi mầm non càng được tiếp xúc sớm với hoạt động đọc thì trẻ càng có nhiều ưu thế trong việc đọc viết sau này
ở trường phổ thông
Trang 131.3 Trường mầm non không có nhiệm vụ dạy trẻ đọc viết nhưng phải
chuẩn bị những khả năng cho việc đọc, viết của trẻ Công việc này được tiến hành trong suốt giai đoạn lứa tuổi mầm non, đặc biệt là giai đoạn 5-6 tuổi Mặc dù hiện nay giáo viên mầm non đã tổ chức các hoạt động, có tạo môi trường chữ viết giúp trẻ trải nghiệm đọc Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ chưa hiệu quả, giáo viên chưa quan tâm tổ chức các hoạt động giúp trẻ trải nghiệm đọc, chưa chú trọng tạo môi trường chữ viết trong lớp, việc đầu tư các loại sách, báo, truyện, thơ ở các góc chơi ít được cập nhật, thay đổi thường xuyên phù hợp chủ đề Cho nên nó chưa phát huy được hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ Vì vậy, để giúp trẻ tăng cường trải nghiệm đọc thì việc sử dụng có hiệu quả các hoạt động ở trường mầm non là một giải pháp quan trọng
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Biện pháp
tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.”
Quá trình phát triển ngôn ngữ và khả năng đọc viết ban đầu của trẻ 5 - 6
tuổi ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và thực hiện được những biện pháp tổ chức cho trẻ trải nghiệm đọc phù hợp với nhu cầu, khả năng nhận thức và đặc điểm xúc cảm
Trang 14của trẻ 5-6 tuổi thì sẽ tăng cường cho trẻ trải nghiệm đọc, tạo điều kiện thuận
lợi cho trẻ học đọc ở lớp Một
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
5.2 Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi trong ở trường mầm non
5.3 Đề xuất biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
5.4 Thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của biện pháp
tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu biện pháp tăng cường trải
nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
6.2 Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non 4 – Phường 4 – Thành phố Đà Lạt
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa thông tin trong các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát, ghi chép việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6
tuổi ở trường mầm non
Trang 157.2.2 Phương pháp đàm thoại:
Đàm thoại, trò chuyện với giáo viên và trẻ để phát hiện thực trạng, giải thích nguyên nhân, bổ sung thêm các dữ liệu vào kết quả điều tra và kết quả quan sát
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng Anket
Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên Thông qua trả lời của giáo viên, người điều tra có cơ sở nhận xét về thái độ, cách thức của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Tìm hiểu giáo án tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là phương pháp quan trọng dùng để kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi của các biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
7.3 Phương pháp xử lý số liệu
Để thu thập, xử lý và phân tích kết quả nghiên cứu, số liệu thu thập được trong nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel
8 Đóng góp mới của đề tài
8.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
8.2 Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
8.3 Đề xuất biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Trang 169 Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu
Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho
trẻ 5 – 6 tuổi ở trường mầm non
Chương 2: Thực trạng việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5
– 6 tuổi ở trường mầm non
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ
5 – 6 tuổi ở trường mầm non và thực nghiệm sư phạm
Phần kết luận và kiến nghị
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TRẢI NGHIỆM ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi vào trường phổ thông, chuẩn
bị cho việc học đọc, học viết của trẻ ở trường tiểu học là một vấn đề quan trọng, đã được các chuyên gia đề cập khá lâu Đặc biệt, mấy năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, nó được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và cả các bậc phụ huynh coi trọng Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cũng như ý kiến trái chiều về vấn đề này Có quan điểm phản đối việc cho trẻ học đọc, học viết trước khi vào lớp một Ngược lại, một số quan điểm lại đồng tình với việc trẻ phải biết đọc, biết viết trước khi vào lớp một Song, cũng có quan điểm cho rằng, trẻ cần có một số kỹ năng cần thiết cho việc học đọc, học viết trước khi vào trường phổ thông
1.1.1 Ở nước ngoài
Khoảng những năm 70 – 90 của thế kỉ XIX, các trường mẫu giáo của Anh, Mỹ cấm việc cho trẻ làm quen với chữ viết và các hoạt động liên quan đến đọc và viết Nhưng tới những năm 80 của thế kỉ XX, do chất lượng học tập của học sinh lớp 1 không cao, một số người cho rằng có thể do sự chuẩn
bị chưa tốt các kĩ năng khi học mẫu giáo Vì vậy, nhiều nơi ở Anh, Mỹ họ đã bắt đầu áp dụng chương trình chuẩn bị cho trẻ học đọc, viết ở trường phổ thông Trong quá trình thực hiện, họ nhận ra rằng việc cần thiết là xây dựng cho trẻ một chương trình chuẩn bị khả năng đọc viết phù hợp với lứa tuổi, sự hứng thú của trẻ và thực hiện mang tính tổng thể hơn là việc cho trẻ nhận biết từng chữ cái riêng biệt [1]
Theo Sloan.P, Latham.S – các nhà giáo dục người Úc, chuyên gia về đọc – viết, Cutting.B – nhà giáo dục người Mỹ, nếu chỉ chú trọng cung cấp cho trẻ
Trang 18về khía cạnh cấu trúc của ngữ âm học và việc thuộc lòng từng chữ cái riêng lẻ
sẽ tạo cho trẻ thái độ học tập không đúng ví dụ như việc học không cần phải
tư duy, suy nghĩ [1]
Ngày nay hầu hết các nhà giáo dục Mỹ, Úc đều ủng hộ chương trình đọc, viết được xây dựng trên quan điểm coi đọc là hành vi trí tuệ, là quá trình nắm bắt được nghĩa của văn bản Quá trình đọc hiểu và kỹ năng giải nghĩa của các
ký hiệu viết trong một ngữ cảnh nhất định được coi là yếu tố quan trọng của việc học đọc Việc làm quen với những kỹ năng đọc phải được bắt đầu bằng những ý tưởng và khái niệm gần gũi, có ý nghĩa đối với trẻ, đồng thời phải có ngữ cảnh nhất định chứ không phải bằng tên và âm của chữ hay từ riêng lẻ.[29]
Các nghiên cứu của Lay và Harste, Woodward và Burke (1984) về sự phát triển đọc viết đã cho rằng sự phát triển đọc viết bắt đầu từ sớm trước khi trẻ bắt đầu được học một cách chính thức Marie Clay nhà giáo dục người New Zealand, trong bản luận án tiến sĩ của mình đã nêu ra thuật ngữ “Đọc viết ban đầu” ( Emergent literacy ) để nói đến quá trình liên tục và phát triển của việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ viết từ khi ra đời đến khi trở thành một người độc lập
Dựa trên kết quả đánh giá khả năng đọc, vào năm 1931 ở hạt Winnetka,
Bang Illimois- Mỹ (Morphett & Washburne, 1931, in McGill – Franzen,
1992) người ta thấy rằng thời điểm diệu kì cho sự sẵn sàng học đọc là khi trẻ
được sáu tuổi rưỡi, kết quả này đã được ủng hộ quan điểm chung về sự “sự sẵn sàng đọc” và ủng hộ quan điểm cho rằng trẻ trong quá trình phát triển tự nhiên của mình sẽ học đọc Như vậy, các hoạt động sẵn sàng học đọc và quá trình dạy chính thức trực tiếp là một phần của các lớp học mầm non Các hoạt động này bao gồm các bài tập phân biệt qua thị giác và thính giác, tìm các chữ cái và âm thanh giống nhau, học tên các chữ cái và tô chữ
Trang 19Glenn Doman và Janet Doman, tác giả sách cha mẹ bán chạy nhất tại
Mỹ, nổi tiếng với cuốn sách “Dạy trẻ biết đọc sớm”, họ đã chứng minh rằng trẻ nhỏ có khả năng học hỏi nhiều hơn cả những gì chúng ta tưởng tượng Glenn Doman đã đưa ra những công trình khảo sát tại sao trẻ 0 – 6 tuổi lại học tốt và nhanh hơn những trẻ có đọc tuổi lớn hơn Cuốn sách đưa ra những
kĩ năng cơ bản giúp trẻ có khả năng đọc thông viết thạo Ông khẳng định giai đoạn 1 –> 5 tuổi là thời kì vàng để trẻ học đọc Giai đoạn này bộ não của trẻ
mở rộng và đón nhiều thông tin.[11]
Ở Nga, L.A Venghe (1992) cho rằng: Đến cuối lứa tuổi mẫu giáo, với những điều kiện giáo dục nhất định, đứa trẻ bắt đầu không chỉ sử dụng ngôn ngữ, mà còn thông hiểu cấu trúc của ngôn ngữ, điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc học đọc, học viết sau này [22]
Ở Singapore trước năm 2008, cho trẻ được tiếp cận với chương trình nghệ thuật ngôn ngữ với các hoạt động ngôn ngữ rất phong phú bao gồm các hoạt động có liên quan tới nói và nghe như: các bài thơ, bài hát, chơi đóng vai, sử dụng trò chơi để phát triển khả năng làm chủ đọc viết và đánh vần sau này [56]
Giáo sư Phùng Đức Toàn, cha đẻ của nền giáo dục sớm của Trung Quốc
trong cuốn sách “Phương án 0 tuổi - Phát triển ngôn ngữ từ trong nôi”, đã rất
coi trọng việc dạy chữ sớm cho trẻ Ông cho rằng không chỉ chuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho trẻ 5- 6 tuổi mà cho trẻ ở mọi lứa tuổi theo phương thức tự nhiên, công cụ chủ yếu là ngôn ngữ thị giác Thậm trí, ông còn cho rằng, tuổi sơ sinh là giai đoạn học chữ tốt nhất, và nên dạy chữ cho trẻ trước khi nó biết nói Dạy chữ (học đọc, học viết) cho trẻ sớm có ý nghĩa lớn trong việc khai thác tiềm năng và nâng cao tố chất của con người [39]
Như vậy, các công trình nghiên cứu của các nước có nền giáo dục phát triển đều cho rằng cần chuẩn bị cho trẻ các kĩ năng của việc đọc viết trước
Trang 20khi trẻ bắt đầu học đọc viết một cách chính thức Việc chuẩn bị khả năng tiền đọc - viết cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng nằm trong chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học, giáo dục học và cả các nhà
sư phạm như Lê Thị Ánh Tuyết, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Phương Nga, Trần Thị Nga, Trần Mạnh Hưởng, Đinh Văn Vang,
… đều chỉ ra rằng việc chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi học đọc, học viết khi vào lớp một là tạo cho trẻ những tiền đề cần thiết, những điều kiện, cơ sở ban đầu nhằm giúp trẻ vào học đọc, học viết thực thụ ở trường tiểu học một các thuận lợi, tự tin, hứng thú
Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, mục đích của việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ nhằm giúp trẻ nhận biết được mặt chữ để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú học tập tiếng Việt, làm tiền đề cho việc học đọc, học viết ở lớp Một Nội dung cho trẻ làm quen với chữ bao gồm việc cho trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái tiếng Việt; dạy trẻ nhận biết các chữ cái thông qua việc tri giác bằng âm thanh; dạy trẻ nhận biết các kiểu chữ (in hoa, in thường, viết thường); dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quen với vị trí của các âm trong từ; dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền đọc viết: cách ngồi, cách cầm bút, cách đọc,
mở sách vở [41]; [42]
Nhiều bài viết khác đề cập tới việc chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở trường phổ thông:
Trần Trọng Thủy với bài viết “Trẻ em cần phải được chuẩn bị cho việc
vào lớp 1” trong Tạp chí Giáo dục mầm non số 4, tác giả cho rằng nhiều công
trình đã chứng minh trẻ mẫu giáo lớn đã có thể học đọc, viết, học tính và giải được một số bài toán số học đơn giản Vì vậy, trong việc chuẩn bị cho trẻ
Trang 21vào lớp 1 cần dạy trẻ một số tri thức, kỹ năng riêng ngay từ mẫu giáo lớn [58]
Trần Thị Nga có bài “Khả năng tích hợp của việc dạy cho trẻ làm quen
vói chữ viết” trong kỷ yếu Hội thảo khoa học 2003, tác giả cho rằng việc cho
trẻ làm quen với chữ viết phải được tiến hành một cách thích hợp và tự nhiên, bắt đầu từ những ý tưởng kinh nghiệm gần gũi và có ý nghĩa đối với trẻ [30]
Trần Mạnh Hường có bài viết “Góp phần chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5
tuổi học tốt môn tiếng Việt ở lớp 1” trong kỷ yếu Hội thảo khoa học 2003 đã
đưa ra một số đề xuất về nội dung, yêu cầu chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi học tốt môn tiếng Việt Ngoài ra, tác giả còn cho rằng nội dung và hình thức chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi cần tập trung vào yêu cầu làm quen với các kỹ năng nghe, nói, hơn so với các kỹ năng đọc, viết, chú trọng đến các hoạt động vui chơi hơn là yêu cầu làm quen và nhận biết kiến thức [15]
Cần phải kể đến luận án tiến sĩ giáo dục học của Phan Thị Lan Anh về đề
tài “Sử dụng trò chơi nhằm phát triển khả năng tiền đọc viết ở trẻ mẫu giáo
lớn (5 – 6 tuổi) trong trường mầm non” Có thể nói đây là công trình đầu tiên
ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống, công phu, có những đóng góp mới
về lý luận cũng như thực tiễn việc chuẩn bị khả năng tiền đọc viết tuổi mầm non nước ta Ở cấp độ một luận án tiến sĩ, tác giả đã giải quyết những vấn đề rất cơ bản, đi từ các khái niệm công cụ, nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn vận dụng các biện pháp cụ thể sử dụng trò chơi, một phương tiện hữu hiệu để phát triển khả năng tiền đọc viết cho trẻ 5-6 tuổi Có thể coi đậy là công trình khoa học có đóng góp quan trọng, thiết thực vào một lĩnh vực của khoa học giáo dục mầm non nước ta đang cần cập nhật, phát triển theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới [1]
Trong các giáo trình cung cấp cho sinh viên đại học và cao đẳng sư phạm mầm non đều có nội dung chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết ở trường
Trang 22phổ thông Giáo trình “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
của tác giả Nguyễn Xuân Khoa – 2003, nêu lên việc dạy đọc và viết là nhiệm
vụ của trường phổ thông Tuy nhiên, chuẩn bị cho trẻ từ tuổi mẫu giáo để bước vào học tốt tiếng Việt ở tiểu học lại là nhiệm vụ của trường mầm non [18]
Trong cuốn Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non ( 2012 ), tác
giả Đinh Hồng Thái lần đầu tiên ở Việt Nam xác định một nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non là chuẩn bị cho trẻ khả năng tiền đọc viết Tiếp thu các quan điểm hiện đại của các học giả nước ngoài như: Otto Bervelly, Morrow Mandel Desley ( Hoa Kỳ), Amelia Church, Margett Key ( Australia), Nobuko Uchida ( Nhật Bản) Tác giả đặt vấn đề
về việc chuẩn bị khả năng tiền đọc viết ở trường mầm non cần phải bắt đầu sớm hơm, từ nửa sau tuổi sơ sinh và nội dung dạy học cũng phải xác định đúng hơn Cần hiểu đúng hơn về chuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho trẻ không chỉ quan tâm đến những hành vi bên ngoài mà còn là các hành động trí tuệ: đọc là hành động để hiểu văn bản, viết là hành động nhằm tạo ra một thông điệp nào đó Bài viết gần đây nhất của tác giả trên Tạp chí giáo dục:
“Mấy vấn đề về chuẩn bị khả năng tiền đọc, viết tuổi mầm non” đã nêu ra
những định hướng mới trong việc nghiên cứu và chỉ đạo giáo dục mầm non
Trang 23hoạt động trải nghiệm đọc cho trẻ 5-6 tuổi trong góc thư viện ở trường mầm non”…
Đặc biệt trong những năm gần đây tác giả Đinh Hồng Thái tập trung nghiên cứu việc học đọc, học viết của trẻ mẫu giáo trong trường mầm non Tác giả cho rằng đọc (đọc hiểu) là một trong các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
có vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức văn hóa của mỗi người Đọc
là một quá trình tâm lý hết sức phức tạp, một hành động trí tuệ đòi hỏi người đọc không chỉ có sự hiểu biết ngôn ngữ mà còn có tri thức nền, các kiến thức liên quan đến nội dung văn bản ở nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của nhiều loại văn bản Vì vậy, khả năng này cần được hình thành càng sớm càng tốt [53]
Như vậy, các nhà nghiên cứu ở nước ngoài hay trong nước đều nhìn nhận rằng khả năng tiền đọc viết là khả năng khởi đầu cho việc đọc viết trước khi trẻ có thể đọc và viết một cách thực thụ Nó được coi như là sự cố gắng nỗ lực đầu tiên của đứa trẻ trong việc thực hiện những hành vi đọc, viết Khả năng đọc, viết là nền tảng quan trọng cho sự phát triển các năng lực học tập của trẻ sau này, giúp trẻ có nhiều thuận lợi hơn trong lĩnh hội các kiến thức Tuy nhiên chưa có nghiên cứu riêng về biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng
1.2 Hệ thống khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm “đọc”
Đọc là một quá trình lao động tinh vi diễn ra trong sự tham gia của đời sống tâm lý Biết đọc giúp con người có thể nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, giúp con người nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội và tư duy Từ đó, con người có khả năng chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bộ giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong con người khác, thông hiểu tư tưởng, tình cảm của người khác Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm văn chương,
Trang 24con người không chỉ được thức tỉnh về mặt nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dây năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng về tâm hồn
Đọc là biến hình thức chữ viết của văn bản thành hình thức âm thanh để người đọc và người nghe hiểu được những điều mà tác giả đã nói qua chữ viết Đọc là một quá trình nhận thức, một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở của việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác
để phân biệt và hiểu được nghĩa, biết được nội dung
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê năm 1988, đọc là “phát thành
lời những điều được viết ra, theo đúng trình tự” Đọc có thể được phát âm
hoặc không phát âm Biết đọc tức là hiểu được ý nghĩa, nội dung của tập hợp các ký hiệu chữ viết thông qua sự nhận biết, phân biệt bằng mắt các ký hiệu này [38]
Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, đọc là giải mã văn bản được thao tác hóa phù hợp và có cơ sở chắc chắn Đọc văn bản là lao động của con người bằng cách tổng hợp rất nhiều thao tác cơ năng và trí năng Mắt phải bao quát tất cả các dấu hiệu của văn bản…Trí óc, đồng thời với đọc phải nhớ nghĩa, từ
ý nghĩa của các đơn vị thông tin ngôn ngữ để nắm bắt nội dung gốc, ý tưởng
sơ bộ rồi ghép nối các đơn vị ý nghĩa này thành nghĩa của văn chương Thần kinh trung ương phải điều phối việc thu nhận thông tin truyền đến các vùng đại não rồi xử lý thông tin đưa ra những phản ứng đáp lại để kết thúc một quá trình đóng, mở các cơ quan kỳ diệu này của con người.[14]
Theo tác giả Đinh Hồng Thái: đọc được hiểu theo hai nghĩa: Đọc (văn bản) thành tiếng và đọc hiểu văn bản (có thể đọc thành tiếng hoặc đọc thầm) Khái niệm chúng ta đang bàn ở đây theo nghĩa thứ hai: đọc hiểu văn bản
Jenne M.Machado, trong cuốn “Những kinh nghiệm của trẻ mầm non
trong nghệ thuật ngôn ngữ” cho rằng đọc là một phần của quá trình giao tiếp
Trang 25Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, đó là việc sử dụng một bộ phận có hai phương diện
- Phương diện thứ nhất đó là quá trình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn bản, ghi lại lời nói
âm thanh Quá trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng
- Phương diện thứ hai đó là sự vận động của tư tưởng tình cảm, sử dụng
bộ mã chữ -nghĩa, tức là mối quan hệ giữa các ký hiệu chữ viết và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu nội dung những gì được đọc Quá trình này được gọi là quá trình đọc hiểu.[16]
Theo Durkin hầu hết các chương trình đọc viết được xây dựng trên cơ sở của một trong hai quan điểm sau về đọc:
- Một là: Đọc được miêu tả như một hành vi thị giác nhằm giải mã các ký hiệu, nhận biết và nói âm các chữ cái cấu tạo nên từ, đánh vần và tạo từ từ các chữ cái đó, người đọc áp dụng các luật về cú pháp và ngữ nghĩa học để hiểu nghĩa
- Hai là: Đọc được định nghĩa là một hành vi trí tuệ nhằm hiểu, nắm bắt, rút được nghĩa trong văn bản Theo quan điểm này, trong quá trình đọc bằng cách kiểm chứng lại những giả định về nghĩa của các ký hiệu chữ viết, người đọc sử dụng kiến thức đã có về ngôn ngữ của bản thân để đọc văn bản
Thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa: Theo nghĩa hẹp, là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh; Theo nghĩa rộng,
“đọc” được hiểu là sự vật chất hóa bên trong nghĩa là hiểu được ý nghĩa, nội dung của văn bản thông qua sự nhận biết, phân biệt các ký hiệu chữ viết
Như vậy “đọc” được xem như là một hoạt động có các thành tố tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ, chuyển dạng thức chữ viết thành nghĩa có âm thanh hoặc không có âm thanh và thông hiểu những gì được đọc
Trang 261.2.2 Khái niệm “đọc” ở trẻ mầm non
Trẻ em được coi là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời con người, giai đoạn chuẩn bị các phẩm chất và năng lực cần thiết để tham gia lao động xã hội Việc tạo dựng thói quen tốt cho trẻ mầm non (từ 0- 6 tuổi) là một việc làm quan trọng để từ đó hình thành nhân cách cho trẻ em Một trong những thói quen có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự phát triển tư duy, đạo đức, lối sống của trẻ em đó là thói quen đọc sách
Trong lĩnh vực đọc - viết ở tuổi mầm non thì có nhiều khái niệm như
“làm quen với đọc”, “chuẩn bị khả năng tiền đọc viết”, “phát triển khả năng đọc” Như vậy, “đọc” ở trẻ mầm non là khả năng tiền đọc Theo Marie Clay, nhà nghiên cứu giáo dục người New Zealand, là một trong những người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ khả năng tiền đọc, viết Tác giả quan tâm đến các hành vi của trẻ khi chúng sử dụng sách và tài liệu, dụng cụ đọc viết để bắt chước các hoạt động đọc và viết mặc dù trẻ thực sự không thể đọc viết theo cách thông thường Tiền đọc – viết không phải là một số kỹ năng cô lập mà là một tập hợp các kỹ năng của quy trình phát triển mà trẻ coi đó như là một phương tiện để đạt được mục tiêu đọc, viết Theo Sulzby khả năng tiền đọc viết được coi là những hành vi đọc viết xuất hiện trước tiên làm nền tảng cho phát triển thành khả năng đọc viết thông thường [54]
Quan niệm giáo dục sớm đã xuất hiện nhiều nước trên thế giới, trong
đó Glenn Doman, Phùng Đức Toàn là tác giả có quan niệm mới trong việc dạy trẻ đọc sớm Việc dạy trẻ đọc sớm sẽ kích hoạt tiềm năng kỳ diệu của bộ não trẻ Và như vậy không có nghĩa là chúng ta lấy đi tuổi thơ của trẻ bằng cách bắt trẻ học sớm mà là “giáo dục tố chất”, “khai mở tiềm năng của bộ não trẻ” [11] [39]
Trong cuốn “Phát triển hứng thú đọc”, tác giả Hà Nguyễn Kim Giang
viết: Trẻ em đọc cái mình không thể tự hiểu, đọc bằng chữ viết và câu văn với
Trang 27những sắc thái biểu đạt thẩm mỹ riêng của nó nên việc đọc của các em cần nhờ sự giúp đỡ của người lớn và mang tính tập thể
Cho trẻ làm quen với đọc được diễn ra trong giai đoạn từ thời kỳ mới sinh cho đến thời kỳ trẻ bắt đầu lĩnh hội việc dạy học, bao gồm học đọc khi đến trường phổ thông Làm quen với đọc là một quá trình hình thành và biến đổi những kiến thức, kỹ năng, thái độ có liên quan, làm nền tảng cho việc học đọc một cách nhanh chóng, hiệu quả
Khả năng tiền đọc là nền tảng quan trọng trong sự phát triển các năng lực học tập của trẻ sau này, giúp trẻ có nhiều thuận lợi hơn trong lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng đặc trưng của hoạt động đọc Khả năng tiền đọc chỉ có thể được bộc lộ và phát triển rõ nét khi có sự tương tác xã hội và sự tác động có ý thức của con người mà ở đây là sự tác động có ý thức, phù hợp của người lớn đối với trẻ và sự tương tác giữa trẻ với những người biết đọc
Trong quá trình phát triển của trẻ nhỏ, cho trẻ làm quen với đọc sách càng sớm càng phát triển ở trẻ khả năng tiền đọc Việc phát triển khả năng làm quen với đọc của trẻ không phải là huấn luyện hay dạy trẻ học đọc một cách chính quy mà điều quan trọng nhất là làm thế nào để nuôi dưỡng lòng ham muốn biết đọc, bày tỏ sự tương tác với môi trường đọc xung quanh, khuyến khích phát triển kiến thức, kỹ năng cần thiết để chuẩn bị cho học đọc sau này
Tóm lại, khái niệm “đọc ở trẻ mầm non” cần được hiểu là sự khám phá
và thử nghiệm các âm, từ, câu; thuật lại các câu chuyện với sự phối hợp theo mẫu lời nói của câu chuyện; có thể “đọc” những từ quen thuộc và thông dụng theo trí nhớ, đọc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới; thực hiện được các hành vi của người đọc (ngồi đúng tư thế, cầm sách đúng chiều, giở sách từ trang đầu đến trang cuối, giở từng trang một, nhận biết được phần
Trang 28đầu hay cuối cuốn sách )
1.2.3 Khái niệm “ trải nghiệm”
Theo quan điểm của triết học, sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của
sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả
kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan
Qua nghiên cứu các tài liệu triết học, ta có thể thấy được một số cách để định nghĩa về trải nghiệm:
- Thứ nhất, trải nghiệm là một phạm trù của triết học, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản
xã hội, lịch sử, văn hóa
- Thứ hai, trải nghiệm là một phạm trù của nhận thức luận, được đúc kết
Trong các nghiên cứu tâm lý học, Platon K.K nhận định trải nghiệm
cũng như sự tích lũy của hiểu biết và năng lực (cá nhân, nhóm) hình thành trong quá trình hoạt động, đào tạo và giáo dục, trong đó tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, khả năng và thói quen
Trang 29Dưới góc độ của tâm lý học giáo dục, A N Leonchiev đã giải quyết được vấn đề trải nghiệm của nhân loại: “Trong cuộc đời mình, con người đã đồng hóa kinh nghiệm của nhân loại, kinh nghiệm của những thế hệ trước Nó diễn ra dưới hình thức nắm vững kiến thức và ở mức độ làm chủ kiến thức”
Trong các tài liệu sư phạm học, lý thuyết về trải nghiệm trở thành đối
tượng nghiên cứu Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo các nghĩa sau:
- Thứ nhất, trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy
- Thứ hai, trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường…
- Thứ ba, trải nghiệm là một trong những phương pháp đào tạo, trong điều kiện thực tế hay lý thuyết nhất định, để thiết lập hoặc minh họa cho một quan điểm lý luận cụ thể
Theo Wikipedia: Trải nghiệm là kiến thức hay sự thành thạo một sự kiện
hoặc một chủ đề bằng cách tham gia hay chiếm lĩnh nó
Như vậy, khái niệm “trải nghiệm” dùng để chỉ phương pháp làm ra kiến thức hay quy trình làm ra kiến thức chứ không phải là kiến thức thuần túy được đưa ra Đối với trẻ mầm non trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua
những tài liệu mà trẻ được tiếp xúc, được khám phá
1.2.4 Khái niệm “ trải nghiệm đọc”
Có các trải nghiệm khác nhau như: Trải nghiệm vật chất; Trải nghiệm tinh thần; Trải nghiệm tình cảm; Trải nghiệm tâm thần; Trải nghiệm xã hội; Trải nghiệm mô phỏng; Trải nghiệm chủ quan Đối với trẻ lứa tuổi mầm non hoạt động đọc cũng cần được thông qua hoạt động trải nghiệm
Trang 30Trải nghiệm đọc là bắt đầu tiếp xúc để biết, để làm quen với việc đọc Xét về đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, trẻ chưa đủ điều kiện để có thể lĩnh hội được một lượng tri thức khoa học như ở phổ thông Đặc biệt trẻ chưa được học đọc một cách chính thức và thành thạo như ở trường tiểu học Vì vậy, chúng ta sử dụng khái niệm “trải nghiệm đọc” nghĩa là trẻ mẫu giáo tiếp cận với việc đọc thông qua hoạt động
Theo tác giả Burns, Griffin & Snow, 1999 khoảng 5 tuổi trẻ em ở các trường mầm non được coi là người tiền đọc Trẻ phát triển nhanh các kỹ năng tiền đọc nếu được tiếp xúc với môi trường thường xuyên có các hoạt động kích thích các kỹ năng làm quen với đọc sách Trẻ “đọc” những cuốn sách trẻ được nghe nhiều lần Dần dần việc đọc này sẽ thể hiện các kiểu ngữ điệu của người lớn cũng như ngôn ngữ được sử dụng trong cuốn sách Tuy nhiên, việc đọc của trẻ chỉ dừng lại ở đọc vẹt theo trí nhớ hoặc đọc dựa theo tranh minh họa [27] Tác giả Nguyễn Thị Hạnh cho rằng: việc làm quen với đọc sách thể hiện
ở chỗ là trẻ có thể nhận biết được từ và phát triển vốn từ trong văn bản, trẻ biết di chuyển mắt, ngón tay theo các câu trên văn bản, trẻ xem tranh và kể chuyện Qua đó tác giả đưa ra một số kỹ năng cần có khi trẻ làm quen với đọc
sách: Nhận biết phần in của đọc sách (bìa sách, tên sách, phái trên, phía dưới
trang sách), nhận biết chữ in, nhận biết cách đọc từ trên xuống dưới, từ trái
qua phải, nhận biết hình minh họa các đồ dùng, các tình huống, nhận biết chữ
in mang ý nghĩa, biết giở trang sách, biết chỗ ghi số trang sách [13]
Theo tác giả Hà Nguyễn Kim Giang: Trẻ em là bạn đọc gián tiếp thông qua việc nghe người lớn đọc Trẻ chưa biết chữ, do vậy việc đọc của trẻ có những đặc điểm riêng, bắt đầu là sự tiếp xúc với sách, những bức tranh vẽ những vật thể thế giới động vật và con người Với sự hướng dẫn của người lớn để trẻ tập gọi tên, vốn từ tăng lên rồi nói thành câu, hình thành các biểu tượng, những khái niệm trong tư duy của trẻ [12]
Trang 31Tác giả Đinh Hồng Thái với bài viết trên Tạp chí Giáo dục “Một số ý kiến
bàn về hình thành khả năng đọc tuổi mầm non”, đã sử dụng cách gọi “hình thành khả năng đọc tuổi mầm non” Theo tác giả, khái niệm hình thành vừa có
ý nghĩa là khởi đầu, vừa có ý nghĩa phát triển Trong các tài liệu hướng dẫn của
Vụ Giáo dục mầm non có cách gọi là “cho trẻ làm quen với đọc” Trong bài
viết này, tác giả đã nêu ra nét đặc trưng của việc cho trẻ làm quen với đọc sách, hoạt động này được diễn ra từ rất sớm với những nội dung như:
- Thứ tư, lĩnh hội văn bản tức là khả năng nghe và ‘đọc hiểu’
- Thứ năm, hình thành thái độ yêu sách, thích chơi với sách, thích đọc sách [51]
Như vậy, “trải nghiệm đọc” có thể được hiểu là sự trải nghiệm mà qua
đó giúp trẻ hiểu được những khái niệm về sách, hình thành hành vi có liên quan đến đọc, lĩnh hội văn bản tức là khả năng nghe và ‘đọc hiểu’, hình thành thái độ yêu sách, thích chơi với sách, thích đọc sách
1.2.5 Khái niệm “biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc” cho trẻ 5-6 tuổi
Theo Từ điển Tiếng Việt – Viện khoa học xã hội và nhân văn (tr161)
định nghĩa: “Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn
đề cụ thể”, biện pháp có nghĩa là cách làm được lựa chọn để đi tới mục đích
nhất định
Theo quan điểm giáo dục học: Biện pháp là hệ thống nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định
Trang 32Như vậy, biện pháp là một phạm trù mang tính biện chứng, nó không phải là bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của thực tiễn để đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn Việc xác định đúng biện pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết công việc, nhanh chóng đạt được mục đích đề ra
Khái niệm “Biện pháp tăng cường trải nghiệm đọc” có thể hiểu là cách
thức giáo viên dùng các cách làm cụ thể thông qua các hoạt động: sử dụng góc thư viện cho trẻ làm quen với sách, sử dụng môi trường chữ viết, sử dụng trò chơi… để trẻ được tiếp xúc, được khám phá, thử nghiệm với hoạt động
đọc nhiều hơn nữa, qua đó nâng cao hiệu quả giúp trẻ chuẩn bị những kỹ năng cần thiết cho việc học đọc như: Cách cầm sách, giở sách, thứ tự các trang, biết
đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, thể hiện ngữ điệu tùy theo sự cảm nhận về nội dung, hình thành thói quen đọc sách và biết trân trọng những cuốn sách, và hơn nữa tạo cho trẻ sự hứng thú và yêu thích việc học đọc
1.3 Một số đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi liên quan đến hoạt động trải nghiệm đọc
1.3.1 Đặc điểm sinh lý
Trong những năm đầu đời, não bộ trẻ phát triển rất nhanh và có những tiềm năng lớn Trong giai đoạn này, khi các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác được kích thích đúng phương pháp, trẻ sẽ phát triển tốt nhất tiềm năng trí tuệ sẵn có Tiềm năng của não bộ trẻ là cơ sở của các chiến lược giáo dục sớm, trong đó có việc học ngôn ngữ sớm Chính vì vâ ̣y tập đọc ngay từ thơ ấu
sẽ dễ dàng hơn nhiều so với bất kỳ giai đoạn nào khác
Trẻ 5-6 tuổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan, hệ cơ quan dần hoàn thiện Sự phát triển của trẻ cho thấy năng lực làm việc đã tăng lên Hoạt động phân tích tổng hợp của các bán cầu đại não phát triển mạnh mẽ Sự thành lập của đường liên hệ thần kinh tạm thời diễn ra nhanh chóng hơn những lứa tuổi trước và sự phân hóa các tín hiệu nhận thức cũng được chính xác hơn Trẻ
Trang 33biểu hiện năng lực trí tuệ qua hoạt động tổng hợp của lời nói, qua suy nghĩ, quan sát, tập trung chú ý, khả năng ghi nhớ, liên tưởng, tưởng tượng, khả năng giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong khi học, chơi, cũng như trong lao động một cách sáng tạo và độc lập
Các cơ quan phân tích của trẻ cũng đã dần hoàn thiện và thực hiện được các chức năng như người lớn Thị giác của trẻ có khối lượng gần bằng của người lớn (5-7g) Trẻ đã có khả năng phân biệt những kích thích (màu sắc, hình dạng, kích thước,…) ngày càng phong phú Đây là yếu tố giúp trẻ có thể phát triển được vốn từ thị giác, chuẩn bị cho việc đọc, viết sau này
Thính giác giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là sự phát triển tai nghe âm vị Theo P.E.Levina cho rằng có 5 giai đoạn phát triển nhận thức âm thanh ngôn ngữ của trẻ, các giai đoạn này có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển thính giác âm vị của trẻ Giai đoạn 1: Sự phân biệt âm thanh hoàn toàn vắng mặt, trẻ chưa hiểu lời nói và cũng chưa nói được Đây là giai đoạn phát triển âm vị trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ
Giai đoạn 2: Xuất hiện sự phân biệt các âm nhưng trẻ còn chưa phân biệt được những âm thanh gần giống nhau Ở giai đoạn này trẻ nghe các âm khác với người lớn Trẻ phát âm còn sai nhiều, không phân biệt được sự phát âm đúng hay sai của người khác và không để ý tới sự phát âm của chính mình Trẻ phản ứng như nhau với các từ được phát âm đúng và những từ do trẻ phát
âm sai
Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn có những biến đổi to lớn Trẻ bắt đầu nghe thấy các âm thanh ngôn ngữ đúng với các dấu hiệu âm thanh của nó Trẻ đã nhận ra những từ bị phát âm sai và có khả năng phân biệt sự phát âm đúng và không đúng Ở giai đoạn này cũng tồn tại các tật khi nói ở giai đoạn trước và hình thức âm thanh ngôn ngữ mới được hình thành Tiếng nói vẫn còn chưa
Trang 34đúng nhưng đã xuất hiện sự thích ứng đến kiểu tri giác mới Sự thích ứng này thể hiện bằng sự xuất hiện các âm thanh trung gian giữa các âm vị của trẻ và các âm vị của người lớn
Giai đoạn 4: Việc tri giác âm thanh theo kiểu mới chiếm ưu thế Tuy nhiên kiểu cũ vẫn chưa mất hẳn Trẻ đã nhận ra các từ bị phát âm sai, tiếng nói của trẻ đã chính xác hơn trước
Giai đoạn 5: Là giai đoạn hoàn thành quá trình tri giác âm vị Trẻ nghe
và nói đúng, không còn phát âm sai Ở trẻ hình thành sự phân biệt tinh tế giữa các hình thức âm thanh ngôn ngữ của trẻ và của từng âm riêng rẽ.[35]
Như vậy, trẻ mầm non trải qua 3 giai đoạn đầu ở lứa tuổi nhà trẻ và 2 giai đoạn tiếp theo ở lứa tuổi mẫu giáo Qua đó cho thấy trẻ 5- 6 tuổi có những điều kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị những khả năng tiền đọc viết, giúp cho quá trình học tập sau đạt hiệu quả hơn
1.3.2 Đặc điểm tâm lý
Nhà tâm lý học V.X Mukhina đã có những nghiên cứu về tâm lý học trẻ
em và đã đưa ra kết luận: Độ tuổi mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” Ở giai đoạn này, những cấu tạo đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thành về mọi phương diện hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí) để hoàn thành việc xây dựng những
cơ sở ban đầu về nhân cách của con người [63]
Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng tiếng mẹ đẻ ở một trình độ nhất định, đã xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý, trẻ chuẩn bị tiến vào bước ngoặt 6 tuổi Bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng, khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ mẫu giáo, mặt khác tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập và
Trang 35cuộc sống ở trường phổ thông Vì vậy trong giai đoạn này phải có bước chuẩn
bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho trẻ đến trường phổ thông
1.3.2.1 Đặc điểm phát triển tư duy của trẻ 5-6 tuổi
Trẻ 5 - 6 tuổi có bước phát triển mới về tư duy Để giải các bài toán thực
tế, trẻ đã biết huy động vốn kinh nghiệm của mình, biết phân tích, phán đoán,
so sánh, khái quát hóa để thu nhận thông tin sâu sắc hơn về sự vật, hiện tượng, biết tìm hiểu mối liên hệ phụ thuộc giữa chúng có nghĩa trẻ biết tư duy
Tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi có những đặc điểm sau:
- Chủ yếu dựa vào kết quả đã thu nhận được trong quan sát hằng ngày để giải quyết những vấn đề đặt ra trong hoàn cảnh tương tự
- Do vốn kinh nghiệm của trẻ còn rất ít, nông cạn vì thế phán đoán của trẻ còn đơn giản
- Dựa vào các hình ảnh đã trải qua, trẻ mới bắt đầu biết khái quát
Sự phát triển tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi mạnh mẽ về kiểu loại, về thao tác
và thiết lập được những quan hệ giữa sự vật và hiện tượng, giữa thông tin cái
cũ và cái mới, giữa gần và xa Khả năng phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở hành động thao tác với sự vật mà bằng cả ngôn ngữ Ở trẻ 5 - 6 tuổi đã
có những khái niệm trừu tượng Các phẩm chất của tư duy và chức năng hành động của nó như tính mục đích, độc lập, sáng tạo, tính linh hoạt, khách quan, mềm dẻo… được phát triển qua các hoạt động của trẻ
Ở trẻ 4 - 5 tuổi đã xuất hiện tư duy trực quan trừu tượng, nhưng trẻ 5 - 6 tuổi tư duy trực quan hành động vẫn diễn ra Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng hoạt động mà ở trẻ phát triển tư duy hình ảnh trực quan hay tư duy trừu tượng Do ngôn ngữ của trẻ phát triển, những nhận xét, suy luận, đánh giá của trẻ không hoàn toàn theo ý nghĩ chủ quan, giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan hơn Kiểu tư duy trực quan hình tượng không đáp ứng được nhu cầu nhận thức đang phát triển mạnh nên bên cạnh việc phát triển tư duy trực
Trang 36quan hình tượng còn xuất hiện thêm một kiểu tư duy mới - đó là tư duy trực quan sơ đồ Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Đây là dạng trung gian quá độ để chuyển từ kiểu tư duy hình tượng lên một kiểu tư duy mới khác về chất: Tư duy logic - kiểu tư duy phát triển ở tuổi học sinh
Vì vậy, trong hoạt động cần cho trẻ được tiếp xúc, thao tác, hành động với đồ vật, đồ chơi Bên cạnh đó, chúng ta cần tiếp tục thúc đẩy sự phát triển
tư duy trừu tượng cho trẻ thông qua việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
1.3.2.2 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi
Trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi phát triển nhanh song chủ yếu vẫn là trí nhớ không chủ định Trẻ ghi nhớ chủ yếu những gì gây hứng thú cho trẻ hoặc những gì gây ấn tượng mạnh Do đó những sự vật hiện tượng nào gây sự chú ý nhiều hơn thì trẻ sẽ nhớ tốt hơn Bên cạnh đó, trí nhớ của trẻ vẫn được đặc trưng bởi trí nhớ trực quan hành động, do đó nếu trẻ có tích cực hoạt động với
đồ vật thì kết quả ghi nhớ càng cao Những công trình nghiên cứu của tâm lý học đã chỉ ra rằng: Tổ chức cho trẻ tiếp xúc với sự vật hiện tượng mà chúng tạo cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu sắc làm trí nhớ của trẻ phát triển
Trẻ ở lứa tuổi này ghi nhớ những cái mà chúng hiểu hơn là những cái
mà chúng không hiểu về nó Đặc biệt ngôn ngữ phát triển giúp cho trí nhớ của trẻ có bước phát triển rõ rệt Cuối tuổi này bắt đầu hình thành trí nhớ logic
Tuy vậy, trí nhớ máy móc vẫn có vai trò đáng kể đối với cuộc sống của trẻ
Cuối độ tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi, trẻ đã nắm được các từ khái niệm, từ mang tính khái quát bằng việc tích lũy các biểu tượng chung về một nhóm các
sự vật giống nhau Sự phát triển trí nhớ có chủ định đóng vai trò khá quan
Trang 37trọng trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một, đặc biệt nó liên quan trực tiếp đến việc học đọc, học viết của trẻ
1.3.2.3 Đặc điểm phát triển tưởng tượng của trẻ 5-6 tuổi
Đối với trẻ 5 - 6 tuổi, tưởng tượng có chủ định phát triển Tưởng tượng của trẻ đã chuyển từ bình diện bên ngoài sang bình diện bên trong Trí tưởng tượng của trẻ vô cùng phong phú, chúng tiếp nhận văn học không chỉ bằng sự phối hợp hình dạng bên ngoài mà còn huy động cả cảm hứng bên trong tâm hồn
Tưởng tượng của trẻ 5 - 6 tuổi ít phụ thuộc hơn vào cái đang tri giác và mang đậm tính chất sáng tạo Biểu hiện cụ thể trong việc chọn chủ đề chơi, trong hoạt động tạo hình, trong kể chuyện… Cũng là một trò chơi nhưng mỗi lần chơi trẻ lại tưởng tượng ra hành động chơi khác nhau và nó thể hiện rất rõ
khả năng sáng tạo để tìm ra cái mới của trẻ
1.3.2.4 Đặc điểm phát triển chú ý của trẻ 5-6 tuổi
Trẻ mẫu giáo chú ý không chủ định ở mức độ cao và chiếm ưu thế, biểu hiện: trẻ thường chú ý tới đối tượng gây kích thích mạnh, luôn có sự thay đổi, đặc biệt là những đối tượng mới đối với trẻ hay các đối tượng tạo cho trẻ hứng thú
Khả năng kéo dài sự tập trung chú ý của trẻ 5 - 6 tuổi cao hơn, khối lượng chú ý cũng nhiều hơn rõ rệt hơn so với các lứa tuổi trước Chú ý có chủ đích bắt đầu được hình thành nhưng chưa bền vững Khả năng chú ý của trẻ
đã được phát triển trên nền tảng có tính chủ động, biết hướng vào ý thức của mình về các đối tượng cần cho vui chơi, học tập, lao động…
Theo A.V.Daparozet “Khả năng chú ý ở trẻ có thể kéo dài 37 - 51 phút nếu đối tượng đó hấp dẫn, có nhiều thay đổi, kích thích được sự tò mò, ham hiểu biết của trẻ”
Trẻ 5 - 6 tuổi có thể phân phối chú ý của mình lên nhiều đối tượng cùng
Trang 38một lúc (có thể 2 - 5 đối tượng) Tuy nhiên, khả năng phân phối sự chú ý này chưa bền vững, dễ dao động, đặc biệt là trong những hành động quan sát qua tranh ảnh, mô hình… Chú ý là một đặc điểm tâm lý vô cùng quan trọng đối với quá trình nhận thức của trẻ Đó là khâu đầu tiên, là cơ sở cho sự tiếp nhận thông tin ban đầu để tiếp tục thực hiện các giai đoạn sau của quá trình nhận thức: Phân tích, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa…
Như vậy, ở trẻ 5-6 tuổi khả năng chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế
Do đó, trong tổ chức hoạt động cho trẻ cần tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, đưa trẻ vào tình huống có vấn đề để trẻ được phát triển tư duy, tích tích cực nhận thức Muốn duy trì sự chú ý của trẻ ở mức độ cao thì giáo viên mầm non cần
tổ chức nhiều hoạt động phù hợp với khả năng, nhu cầu, hứng thú và kinh nghiệm của trẻ để tích cực tham gia hoạt động
Tóm lại: Tất cả những yếu tố như chú ý, trí nhớ, tư duy, trí tưởng tượng,
ý chí, đặc điểm xúc cảm, tình cảm…đều chi phối trực tiếp đến hoạt động nhận thức của trẻ 5 - 6 tuổi Vì vậy, nhà giáo dục cần nắm vững đặc điểm tâm lý lứa tuổi của trẻ để có sự định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục khoa học, hợp lý
1.3.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi
Ngôn ngữ được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nghe, nói, đọc, viết Mặc dù mỗi dạng đòi hỏi những kĩ năng khác nhau, nhưng chúng đều có mối quan hệ khá khăng khít Những kĩ năng của hình thức này chi phối những kĩ năng của hình thức khác Chẳng hạn, có thể sử dụng những hiểu biết
về ngôn ngữ nói để đoán từ khi đọc Đọc sẽ gặp khó khăn nếu như không nói tốt
Đối với trẻ lứa tuổi mẫu giáo, đây là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ, điều này khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh Vốn từ của trẻ tăng về mặt số lượng và
Trang 39phong phú về mặt chủng loại Trẻ hiểu được khoảng 1000 từ và nắm được nghĩa câu Cuối 3 tuổi so với đầu 3 tuổi vốn từ tăng 107%; cuối 4 tuổi so với đầu 4 tuổi tăng 40,58%; cuối 5 tuổi so với đầu 5 tuổi tăng 10,4%; cuối 6 tuổi
so với đầu 6 tuổi tăng 10,01%
Bình thường trẻ có khả năng học được từ 6 - 9 từ mỗi ngày Trẻ học các
từ khi nghe người lớn gọi tên các vật cũng như học được nhiều từ mới thông qua những trải nghiệm mới và tăng thêm khả năng suy luận ra nghĩa của từ theo ngữ cảnh Do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói Mặt khác cơ quan phát âm của trẻ nhìn chung đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát ra những âm tương đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng
mẹ đẻ Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết dùng ngữ điệu phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung của một câu chuyện mà trẻ kể
Đối với trẻ 5 – 6 tuổi, trình độ phát triển của trẻ không chỉ tập trung vào các kĩ năng nghe - nói mà còn bao gồm cả phát triển các kĩ năng tiền đọc - viết để chuẩn bị cho giai đoạn học tập ở lớp 1 Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trẻ nhỏ nhận thức hình dạng chữ viết từ rất sớm Trẻ bắt đầu bằng những nét vẽ nguệch ngoạc và phát triển thông qua sự miêu tả ngày càng chính xác
về mối quan hệ giữa chữ và âm Trẻ biết sử dụng ngôn ngữ như một công cụ hữu hiệu trong việc giao tiếp cũng như chiếm lĩnh tri thức Đây là cơ sở để trẻ
có khả năng học tập tốt ở những giai đoạn sau
1.4 Khả năng đọc và việc tổ chức trải nghiệm đọc cho trẻ 5 - 6 tuổi
1.4.1 Đặc điểm khả năng đọc của trẻ 5-6 tuổi
Trẻ 5-6 tuổi hầu hết nắm vững những quy tắc cơ bản của ngôn ngữ nói Mặc dù chưa hoàn toàn thành thạo nhưng trẻ đã sử dụng câu đúng ngữ pháp
và phát âm đúng các từ Trẻ chuyển từ quá trình đọc những cái đơn giản sang phức tạp, trẻ sẽ thể hiện ngữ điệu như người lớn, trẻ có thể nói về các bức
Trang 40tranh, kể lại các câu chuyện, thảo luận về các hoạt động yêu thích và yêu cầu được đọc lại nhiều lần một câu chuyện nào đó Trẻ xây dựng lại khả năng đọc khi chúng phát hiện ra cách giải mã tổng quát các chữ cái được viết bằng cách học nhận diện các chữ cái và từ, phát triển mối liên hệ giữa âm thanh và ký hiệu, hiểu mối quan hệ giữa các chữ cái được sắp xếp theo nhóm để tạo nên từ
và nghĩa của từ
Như vậy khả năng đọc của trẻ được coi như là một quy trình tiến triển liên tục chứ không phải rời rạc Khả năng đọc viết của trẻ được hình thành ở tuổi mầm non sẽ tiếp tục phát triển, dần dần thống nhất thành các khuôn mẫu giúp cho việc đọc viết trở lên tự động và trôi chảy khi học tập ở trường phổ thông
Phùng Đức Toàn và Glenn Doman đã có lý khi cho rằng trẻ học đọc, học chữ cũng tự nhiên như chúng học ngôn ngữ nói vậy Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ từ trong nôi”, ông đã phân tích, so sánh việc học ngôn ngữ thính giác và ngôn ngữ thị giác ở trẻ Ông rút ra kết luận: ngôn ngữ thị giác có ưu thế khiến cho nó trở nên dễ học hơn ngôn ngữ am thanh đối với trẻ Theo ông tuổi sơ sinh học chữ tốt nhất và cần dạy chữ trước khi trẻ biết nói Và Glenn Doman cũng vậy ông kêu gọi người lớn dạy cho trẻ biết đọc càng sớm càng tốt Cả hai đều nhấn mạnh rằng dạy trẻ biết đọc sớm không phải là lấy đi tuổi thơ của trẻ bằng cách bắt trẻ học sớm, đây không phải là giáo dục thi cử mà là
“giáo dục tố chất”, “khai mở tiềm năng của bộ não trẻ” [39]; [11]
Theo Brian Cutting, trẻ nhỏ có khả năng tiền đọc xuất hiện trước khả năng viết Hầu hết tất cả trẻ nhỏ khi đọc đều trải qua ba giai đoạn: giai đoạn đọc mò, giai đoạn tập đọc và giai đoạn đọc trôi chảy
Giai đoạn đọc mò hay còn gọi là giai đoạn tiếp cận với việc đọc Đây là
giai đoạn đặc trưng ở độ tuổi mẫu giáo Ở giai đoạn này trẻ mong muốn được bắt chước người khác đọc, do đó cần đáp ứng những nhu cầu này của trẻ, phải