Vì vậy, nâng cao năng lực trong việc quản lý, tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân hiện nay nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao là vấn
Trang 1cổ vũ quần chúng thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng đề ra
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định công tác tuyên truyền đã và đang đóng vai trò quan trọng trong giáo dục, bồi đắp tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên trẻ Đây là một trong những nội dung luôn được Đảng, Nhà nước và các
cơ quan đoàn thể quan tâm, chú trọng Những năm qua, nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên trẻ đã được triển khai và đạt được nhiều kết quả Công tác tuyên truyền đã bám sát thực tiễn đời sống xã hội và thông qua các hoạt động thực tiễn sinh động, để giáo dục tinh thần tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện cho đảng viên trẻ phù hợp với lĩnh vực, công việc, chức trách, nhiệm vụ của từng đảng viên Thông qua các hoạt động tuyên truyền, cán bộ, đảng viên trẻ đã xây dựng tinh thần tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện nhằm nâng cao phẩm chất, nhất là phẩm chất chính trị, nâng cao năng lực, trình độ của bản thân nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu, đòi hỏi mới của sự nghiệp cách mạng Tinh thần tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện của đảng viên trẻ chỉ có kết quả tốt khi chính đội ngũ này nhận thức đúng đắn những yêu cầu, chuẩn mực về phẩm chất chính trị, phẩm chất trí tuệ, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của người đảng viên và tự nhận thức đúng về chính bản thân mình
Kể từ năm 1986 trở lại đây, cùng với sự đổi mới tư duy về kinh tế, Đảng cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về vai trò của văn hóa Văn kiện đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới nhất quán khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực, là mục tiêu của sự phát triển Để hiện thực hóa vai
Trang 22
trò của văn hóa, một trong những nhiệm vụ được Đảng quan tâm đó là xây dựng các chính sách văn hóa phù hợp
Đại hội XI (2011) Đảng nhấn mạnh sự phát triển hài hòa giữa các lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội: “Phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh
tế, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển là thể hiện rõ nhất của chế độ ta”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, lĩnh vực văn hóa đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Văn hóa góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; phát huy sức mạnh, tính tích cức của nhân dân tham gia vào các hoạt động văn hóa đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tạo nên sự chuyển biến bước đầu, là tiền đề quan trọng để văn hóa nước nhà tiếp tục phát triển đúng hướng và chắc chắn Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt năm 2009 Các hoạt động như giữ gìn
và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, xây dựng, củng cố hệ thống thiết chế văn hóa, phát triển văn chương nghệ thuật,…không ngừng được đẩy mạnh Nhiều giá trị văn hóa và sản phẩm văn hóa mới được hình thành góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân giao lưu quốc tế về văn hóa được mở rộng, việc quảng
bá hình ảnh dân tộc và văn hóa Việt Nam ra nước ngoài được chú ý Việc thể chế hóa nghị quyết của Đảng được coi trọng, tạo hành lang pháp lý phù hợp và thông thoáng cho nhân dân và đội ngũ tri thức, văn nghệ sĩ
Cùng với sự phát triến kinh tế, thành phố Móng Cái luôn coi trọng phát triển văn hóa và công tác tuyên truyền theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng Sau 15 năm triển khai thực hiện, công tác tuyên truyền chính sách văn hóa tạo được sự chuyến biến mạnh mẽ trong đời sống xã hội Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được quan tâm đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng và từng bước nâng cao chất lượng, thu hút
Trang 33
được các tầng lớp nhân dân tham gia, gắn kết với thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, phát huy vai trò là phong trào thi đua yêu nước rộng lớn, tác động tích cực đến việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh Mặc dù hoạt động tuyên truyền này đã được chú ý và phát triển
ở Quảng Ninh nói chung và ở thành phố Móng Cái nói riêng, song cần có những thay đổi nhiều hơn nữa trong công tác quản lý hoạt động này để nâng cao chất lượng, đi sâu hơn hơn về nội dung, bám sát thực tiễn đời sống nhân dân để mang lại hiệu quả tuyên truyền cao Vì vậy, nâng cao năng lực trong việc quản lý, tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân hiện nay nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao là vấn đề rất cần thiết để góp phần xây dựng nhà nước ta thành nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân
Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái - Quảng Ninh”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân Thành phố Móng Cái góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - thông tin - thể thao Thành phố Móng Cái
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái - Quảng Ninh
3.2 Khách thể nghiên cứu
+ 200 người dân sống tại 3 Phường: Hòa Lạc, Ka Long, Trần Phú và 3 xã: Hải Xuân, Hải Tiến, Hải Sơn - Thành phố Móng Cái
Trang 44
+ 30 cán bộ quản lý văn hóa tại các xã phường thành Phố Móng Cái và cán bộ quản lý văn hóa các cấp của Trung tâm Văn hóa - Thông tin - Thể thao Thành phố
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin - Thể thao thành phố Móng Cái đã được chú trọng và đạt được những hiệu quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế
Nếu tìm ra các biện pháp tổ chức phù hợp với yêu của hoạt động tuyên truyền hiện nay sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân từ đó phát huy tốt được chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về quản lý, văn hóa, tuyên truyền và quản
lý hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin - Thể thao Thành phố Móng Cái cho người dân thành phố Móng Cái
5.2 Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng Hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái
6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lí luận và thực
tiễn về những hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân Thành
phố Móng Cái Tỉnh Quảng Ninh nhắm phát huy chức năng giáo dục của Trung
tâm văn hóa - Thông tin - Thể thao thành phố Móng Cái
- Về không gian và thời gian nghiên cứu:
Trang 55
*Không gian: Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh
*Thời gian: 2016-2017
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích các vấn đề lý luận về quản lý, văn hóa, tuyên truyền và công tác tổ chức hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động tổ chức và hiệu quả của các biện pháp tổ chức hoạt động tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng cho người dân Thành phố Móng Cái ở một số xã phường của Thành phố Móng Cái: Phường Hòa Lạc, Ka Long, Trần Phú
và xã Hải Xuân, Hải Tiến, Hải Sơn để giáo dục tới người dân
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng hỏi
Chúng tôi dùng bảng hỏi để tìm hiểu các vấn đề sau:
- Thực trạng hoạt động tổ chức văn hóa của các cán bộ quản lý trong việc nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm
- Những biện pháp tổ chức của cán bộ quản lý văn hóa đã tiến hành trong việc tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân thành phố Móng Cái
- Đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân thành phố Móng Cái nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa- Thông tin – Thể thao
Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài này
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Để lượng hóa kết quả nghiên cứu chúng tôi dùng phương pháp thống kê toán học, sử dụng các công thức toán thống kê như số trung bình, tần xuất, hệ số tương quan để định lượng kết quả nghiên cứu
Trang 66
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa
cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái– Quảng Ninh
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt
động tuyên truyền chính sách văn hóa cho người dân nhằm phát huy chức năng giáo dục của Trung tâm văn hóa - Thông tin – Thể thao thành phố Móng Cái - Quảng Ninh
Trang 77
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục các chính sách văn hóa, pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội để đưa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống xã hội, giáo dục ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa cho nhân dân nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước bằng xã hội trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách văn hóa là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phải được thường xuyên quan tâm đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội và các doanh nghiệp trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện
Để công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách văn hóa đạt hiệu quả cao và thiết thực, hiện nay, các cấp Ủy đảng đã liên tục củng cố, nâng cao nhận thức và phát huy sự lãnh đạo về công tác này, thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan nhà nước, các đoàn thể, các tổ chức để xác định rõ trách nhiệm và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục chính sách văn hóa; đảm bảo mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về các chính sách văn hóa đều được phổ biến kịp thời, đầy đủ đến toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và ý thức tôn trọng, chấp hành chủ chương, chính sách của Đảng của toàn thể cán bộ và nhân dân, góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, đã rất chú trọng xây dựng chính sách văn hóa theo đúng và thể hiện rõ ràng các chủ trương, chính sách của Đảng; để đưa các chủ trương, chính sách của Đảng đi vào cuộc sống xã hội, bằng nhiều hình thức đa dạng và phong phú, đã liên tục tuyên truyền, phổ biến cho mọi
Trang 88
tầng lớp nhân dân; và đã phối kết hợp với các tổ chức, đoàn thể và các cơ quan thông tấn, báo chí cũng nghiệm của các nước khác để từng bước đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác này
Về vấn đề “văn hóa” đã có một số công trình nghiên cứu ở trong nước đề
cập tới theo những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn: xã hội hóa hoạt động văn hóa ở tình Bình Thuận của tác giả Nguyễn Minh Đức năm 2009, Phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin ở thành phố Móng Cái của tác giả Vũ Thị Liên Minh năm 2007…, tuy nhiên cho đến nay vấn đề quản lý nhằm phát huy hoạt động tuyên truyền chính sách văn hóa của Trung tâm VHTT-TT - một đơn vị sự nghiệp không phải là trường học thông thường là vấn đề mang tính đắc thù riêng của Việt Nam, nên trên thế giới cũng như ở trong nước đến nay vẫn còn là một khoảng trống, ít được quan tâm nghiên cứu Bởi thế chúng tôi cho rằng vấn đề này cần được quan tâm nhiều hơn nữa
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm quản lý
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải đảm bảo 3 yếu tố: Tri thức, lao động và quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan
hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức, điều hành xã hội cũng phát triển theo Đó là tất yếu lịch sử, ngược lại khi trình độ tổ chức điều hành xã hội phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của trình độ sản xuất, của nền văn minh xã hội
Như vậy, quản lý trở thành nhân tố của sự phát triển Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến con người Quản lý có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội tuỳ theo trình độ quản lý cao hay thấp
Trang 99
Theo C Mác, quản lý (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người) Ông coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch
sử của đời sống xã hội, theo ông: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một
sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải có một chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng " [6, tr.29-30]
Như vậy, quản lý là tất yếu tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, mọi xã hội Khái niệm quản lý đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:
Theo Harol Koontz: "Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của
các cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức" [16, tr.31]
Theo F W Taylor: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [9, tr.89]
Theo Thomas J.Robbins - Wayned Morrison: "Quản lý là một nghề nhưng
cũng là một nghệ thuật, một khoa học" [35, tr.19]
Theo M Follet: "Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc của mình được
thực hiện thông qua người khác"
Theo Aunapu F.F: "Quản lý là khoa học và là một nghệ thuật tác động vào
một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau" [1, tr.75]
Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
Theo từ điển Tiếng Việt "Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động theo
Trang 1010
những yêu cầu nhất định” [37, tr.789]
Theo Mai Hữu Khuê: "Quản lý là tác động có mục đích tới tập thể những
người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục tiêu đã định trước" [15, tr.19-20]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: "Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện chuyển biến của môi trường" [41, tr.43]
Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: "Quản lý là một nghệ thuật đạt được
những mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác" [5, tr.176]
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình có định hướng,
quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [ 22, tr.17]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [ 34, tr.24]
Tóm lại những khái niệm nêu trên dù tiếp cận ở góc độ nào, lĩnh vực nào đi chăng nữa, ở cấp vĩ mô hay vi mô đều có điểm chung thống nhất là coi quản
lý là hoạt động có tổ chức, có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản
lý và khách thể quản lý; giữa chúng được quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý, điều này được biểu thị bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ: 1.1 Khái niệm quản lý
Chủ thể
quản lý
Đối tượng quản lý
Trang 1111
Mục tiêu quản lý
Trang 12Qua sơ đồ khái niệm quản lý, tiếp cận theo quan điểm hệ thống thì
“quản lý” là một quá trình bao gồm các thành tố cấu trúc như: Chủ thể
quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý… Nếu
tiếp cận theo quan điểm hoạt động thì “quản lý” hoạt động có ý thức của chủ
thể quản lý
Thông qua việc tiếp cận một số quan điểm nêu trên về quản lý, chúng tôi cho rằng: Quản lý là hoạt động có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển, tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của quản lý
1.2.2 Tuyên truyền
1.2.2.1 Khái niệm chung về công tác tuyên truyền; vị trí, vai trò, nội dung và
những nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền trong công tác tư tưởng
* Khái niệm
“Tuyên truyền” theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra
Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”
* Vị trí, vai trò công tác tuyên truyền trong công tác tư tưởng:
Vị trí công tác tuyên truyền trong công tác tư tưởng
-Tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình liên tục, V.I Lênin khẳng định công tác
tư tưởng có ba hình thái: công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động (có nhiều người gọi là ba bộ phận) Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: sản xuất ra hệ tư tưởng; phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng; cổ
vũ, động viên quần chúng thực hiện
- Công tác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm phổ biến, truyền bá các nguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách vào quần
Trang 13chúng Mục đích cao nhất của tuyên truyền là làm cho hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội
* Vai trò công tác tuyên truyền trong công tác tư tưởng
- Tuyên truyền là một trong những bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân Tuyên truyền gắn liền với cổ động, nên tuyên truyền còn là sự cổ vũ, động viên, thúc đẩy quần chúng hăng hái tham gia các phong trào, biến nhận thức, niềm tin thành nhiệt huyết của quảng đại quần chúng, thành hành động cách mạng
- Công tác tuyên truyền uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng con người mới, cuộc sống mới
- Tuyên truyền góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức, lối sống, lẽ sống; bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
* Những nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền
Cùng với việc thực hiện các nguyên tắc của công tác tư tưởng, trong công tác tuyên truyền cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Tính đảng, tính giai cấp: Tuyên truyền vô sản phải phục vụ lợi ích của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động Tính đảng, tính giai cấp đòi hỏi khi trình bày, giải thích mọi hiện tượng và sự việc xảy ra trong thực tiễn đều phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, trên lợi ích của giai cấp và của dân tộc
- Tính khoa học và thực tiễn: Tính khoa học, thực tiễn yêu cầu khi tuyên
truyền phải dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn để nhìn nhận, phân tích
sự việc, hiện tượng, từ đó mà thuyết phục, cảm hoá đối tượng tuyên truyền- Phản ánh đúng đắn tâm tư, nguyện vọng của quần chúng trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, từ đó kiến nghị những biện pháp bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh đường lối, chính sách, pháp luật
Trang 14- Tính chiến đấu: Tính chiến đấu là bản chất của công tác tuyên truyền
chính trị, thể hiện sự nhạy bén và bản lĩnh chính trị Trong mỗi sự việc và hiện tượng cần phân biệt đúng sai, phải trái, xác định nhanh được cái tốt cần biểu dương, cái xấu cần kịp thời phê phán
- Tính phổ thông, đại chúng: Nội dung tuyên truyền phải gắn chặt với cuộc
sống thực tiễn phong phú của đại đa số quần chúng nhân dân, giải đáp những vấn
đề nóng hổi mà cuộc sống đang đặt ra và quần chúng nhân dân đang đòi hỏi
* Nội dung chủ yếu của công tác tuyên truyền
- Tuyên truyền chính trị: tuyên truyền chính trị là nội dung chủ yếu của
công tác tuyên truyền Tuyên truyền chính trị tập trung vào việc phổ biến, truyền
bá hệ tư tưởng của Đảng, bao gồm:
+ Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
+ Tuyên truyền về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
+ Tuyên truyền về truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc, của Đảng qua các hoạt động kỷ niệm, các đợt vận động chính trị lớn của đất nước và địa phương
- Tuyên truyền kinh tế: tuyên truyền kinh tế nhằm thực hiện đường lối phát
triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm trong giai đoạn hiện nay Nội dung chủ yếu của tuyên truyền kinh tế là:
+ Tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế của Đảng, các chính sách,
kế hoạch, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước
+ Tuyên truyền về những thành tựu kinh tế - xã hội, tiềm năng phát triển của đất nước, địa phương, những thuận lợi và khó khăn, những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của địa phương trong từng thời kỳ
- Tuyên truyền văn hóa: tuyên truyền về văn hóa nhằm xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xã hội, gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế và xây dựng đảng
Trang 15- Tuyên truyền quốc phòng, an ninh: tuyên truyền quốc phòng, an ninh là
trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và
an ninh nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Nội dung chủ yếu là:
+ Tuyên truyền về đường lối, quan điểm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
+ Tuyên truyền về những truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, tự hào về những chiến công hiển hách trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập
+ Tuyên truyền về những chủ trương, giải pháp lớn xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại
+ Tuyên truyền các văn bản pháp luật của Nhà nước về các nghĩa vụ của công dân tham gia quân đội, dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng…
- Tuyên truyền đối ngoại: trong thời đại toàn cầu hóa, thực hiện đường lối
đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, tuyên truyền đối ngoại có vai trò quan trọng
- Đấu tranh chống các quan điểm sai trái: trong điều kiện phong trào cách
mạng thế giới tạm thời lâm vào tình trạng thoái trào, tuyên truyền để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên quan trọng và cần thiết
1.2.2.2 Công tuyên truyền miệng, phương châm của hoạt động tuyên
truyền miệng; Nhiệm vụ của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng
* Khái niệm tuyên truyền miệng
- Tuyên truyền miệng là phương thức tuyên truyền được tiến hành chủ yếu bằng lời nói trong giao tiếp trực tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của người nghe
Các văn bản của Đảng xác định chức năng của công tác tuyên truyền miệng gồm:
Trang 16- Chức năng phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng: cùng với các hình thức và
phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền miệng góp phần quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảng chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội
- Chức năng thông tin và định hướng thông tin: tuyên truyền miệng là một
kênh thông tin chính thống giữ vai trò chủ yếu trong việc thông báo, quán triệt các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế quan trọng mà dư luận đang quan tâm, qua đó định hướng thông tin cho người nghe
- Chức năng giáo dục, cổ vũ, động viên quần chúng đi tới hành động: tuyên truyền miệng có mục tiêu rất cơ bản là góp phần giáo dục và xây
dựng những chuẩn mực về con người mới, nền văn hoá mới, cổ vũ và động viên các nhân tố mới trong xã hội Tuyên truyền miệng có khả năng to lớn và có hiệu quả trong chức năng cổ vũ, động viên, lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia các phong trào thi đua
- Chức năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng:
+ Tuyên truyền miệng là vũ khí sắc bén trong đấu tranh tư tưởng, đấu tranh
chính trị của Đảng, đặc biệt là trong đấu tranh chống các âm mưu và thủ đoạn
"diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch
+ Tuyên truyền miệng là công cụ hữu hiệu để phê phán các nhận thức tư tưởng lạc hậu, lệch lạc, các tệ nạn xã hội, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong xã hội
* Phương châm tiến hành công tác tuyên truyền miệng
Các văn bản của Đảng đã xác định phương châm công tác tuyên truyền hiện nay là:
- Toàn Đảng phải làm công tác tuyên truyền: Thông báo 71-TB/TW ngày
7-6-1997 của Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII quy định: "Toàn Đảng, mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên
Trang 17Trung ương và cấp ủy viên các cấp phải căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước mà trực tiếp tuyên truyền cho quần chúng "
- Thường xuyên, liên tục, nhạy bén, kịp thời, bám sát thời cuộc, bám sát tình hình thực tiễn:
+ Trong điều kiện tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động nhanh chóng và phức tạp, tại các địa phương và cơ sở xuất hiện nhiều vấn đề mới nảy sinh, được mọi người chú ý theo dõi và quan tâm, thực hiện tuyên truyền miệng phải được tiến hành thường xuyên và bắt kịp với tình hình thời sự nóng bỏng của cuộc sống
+ Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, thông tin tuyên truyền miệng không được chậm trễ, đi sau các sự kiện thời sự chính trị nóng bỏng, nhưng không được hấp tấp, vội vàng, nông cạn, thậm chí có khi sai lệch, thiếu sự phân tích, bình luận sâu sắc và trái với sự chỉ đạo, định hướng của các cơ quan có chức năng
- Tuyên truyền phải hết sức cụ thể, thiết thực:
+ Tuyên truyền miệng luôn xác định trước được đối tượng tuyên truyền, vì vậy phải cụ thể thiết thực, đáp ứng yêu cầu của người nghe
+ Nội dung tuyên truyền phải có căn cứ số liệu, tư liệu, sự kiện, dẫn chứng
cụ thể, phong phú, sinh động, lập luận rõ ràng; khắc phục lối tuyên truyền đại khái, quan liêu, xa rời thực tế
- Đưa thông tin, nhất là thông tin định hướng, nhanh chóng và kịp thời xuống cơ sở, phục vụ tốt cơ sở: củng cố và xây dựng cho được đội ngũ báo cáo
Trang 18viên, tuyên truyền viên có hoạt động thực sự từ Trung ương tới địa phương cơ sở, đặc biệt là đến các vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo
* Nhiệm vụ của báo cáo viên trong công tác tuyên truyền miệng
Khái niệm báo cáo viên
Báo cáo viên là lực lượng quan trọng nòng cốt, chủ lực của công tác tuyên truyền miệng, được cấp ủy lựa chọn và công nhận theo những tiêu chuẩn nhất định do Ban Tuyên giáo của cấp ủy quản lý và chỉ đạo
Báo cáo viên là chức danh để chỉ những người làm công tác tuyên truyền miệng, Báo cáo viên được coi là người phát ngôn, thông tin chính của Đảng và cơ quan Nhà nước
Từ quan niệm trên cho thấy:
- Báo cáo viên là bộ phận quan trọng, nòng cốt trong công tác tuyên truyền miệng
- Báo cáo viên do cấp ủy lựa chọn và quyết định, được tổ chức cả hệ thống
từ Trung ương đến địa phương cơ sở
- Báo cáo viên do là người phát ngôn chính thức của Đảng và Nhà nước nên do Ban tuyên giáo của cấp ủy quản lý và chỉ đạo
Nhiệm vụ chủ yếu của báo cáo viên
Ngày 10.11.2011, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ra quyết định số 518 về việc ban hành quy chế hoạt động báo cáo viên của Đảng, xác định rõ nhiệm vụ báo cáo viên:
- Trực tiếp tuyên truyền, phổ biến những quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình thời sự trong nước và thế giới; những nhân tố mới, những điển hình trong xây dựng, phát triển đất nước
và bảo vệ tổ quốc XHCN đến cán bộ, đảng viên và nhân dân
- Nắm tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân; định hướng tư tưởng và hướng dẫn dư luận xã hội, góp phần xây dựng, củng cố sự thống nhất tư tưởng, hành động trong Đảng và sự đồng thuận xã hội
Trang 19- Đối thoại với người nghe, kịp thời giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch
- Tuyên truyền các nội dung thông tin theo sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, sự phân công của cấp ủy đảng cùng cấp và sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn cấp trên
1.2.2.3 Vai trò của Ban tuyên giáo đối với công tác báo cáo viên, tuyên
truyền miệng
Ban Tuyên giáo là cơ quan tham mưu giúp cấp ủy tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động của đội ngũ báo cáo viên Nội dung bao gồm:
Tổ chức, xây dựng lực lượng báo cáo viên, tuyên tuyền miệng
- Hệ thống báo cáo viên được tổ chức ở tất cả các cấp từ Trung ương đến các tỉnh, thành, huyện, quận, xã, phường và đảng bộ cơ sở; ở tất cả các tổ chức, ban ngành đoàn thể, các đảng ủy khối, đảng ủy trực thuộc Trung ương, trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an), trong các hội quần chúng
- Ban Tuyên giáo các cấp có trách nhiệm giúp cấp ủy lựa chọn những cán
bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực và trình độ nhất là có khả năng truyền đạt tham gia là báo cáo viên
- Ban Tuyên giáo các cấp đề xuất để cấp uỷ ra quyết định công nhận báo cáo viên Báo cáo viên Trung ương do Ban Tuyên giáo Trung ương được Bộ Chính trị ủy quyền ra quyết định công nhận; báo cáo viên cấp tỉnh, huyện và cơ
sở do cấp ủy cùng cấp ra quyết định công nhận
- Tham mưu cho cấp ủy xây dựng quy chế hoạt động báo cáo viên, xác định nội dung, chương trình kế hoạch hoạt động hàng năm, 6 tháng và từng tháng
để báo cáo với cấp ủy
Quản lý, điều hành, tổ chức hoạt động báo cáo viên
Ban Tuyên giáo các cấp trực tiếp giúp cấp ủy chỉ đạo và quản lý hoạt động báo cáo viên:
Trang 20- Định kỳ tổ chức các hội nghị để cung cấp thông tin và định hướng tuyên truyền cho báo cáo viên, chỉ đạo tổ chức và theo dõi, kiểm tra hoạt động của đội ngũ báo cáo viên
- Quản lý và kiểm soát nội dung thông tin của báo cáo viên đảm bảo đúng định hướng tư tưởng chính trị
- Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ tuyên tuyền miệng cho Báo cáo viên;
- Tham mưu đề xuất với cấp ủy đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ, chính sách đối với báo cáo viên, tuyên truyền viên
- Tổ chức các hội nghị sơ kết, tổng kết, đánh giá hoạt động báo cáo viên, tuyên truyền miệng
1.2.3 Văn hoá
1.2.3.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, vô cùng phong phú và đa dạng, có sức lan toả và thấm sâu trong toàn bộ đời sống xã hội và đời sống con người, văn hoá có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau, tuỳ theo nghĩa rộng hay hẹp, tuỳ theo từng ngành, từng lĩnh vực hay từng khu vực
Tổng giám đốc UNESCO, ngài Fedeico Mayer zaragoza nêu ra một định
nghĩa về văn hoá như sau: "Văn hoá là tổng thể sống động của các hoạt động
sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo
ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [ 47, tr.33]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng những n hu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
Trang 21sinh tồn" [15, tr.14]
Theo Trần Ngọc Thêm: "Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội"
[38,tr.10]
Với ý nghĩa đó, văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người dù đó là hoạt động sản xuất vật chất hay sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội, trong thái độ đối với thiên nhiên
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
nêu ra quan điểm chỉ đạo cơ bản cũng là một khái niệm "Văn hoá là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội" [15, tr 9]
Văn hoá là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh
tế Các nhân tố của văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp kỷ cương, biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển
Trước đây chúng ta hiểu văn hoá một cách phiến diện: coi văn hoá như một lĩnh vực hẹp, thuộc quản lý của một bộ, một ngành Hoạt động văn hoá thường được hiểu như một hoạt động có tính thời vụ nhằm tuyên truyền cổ động cho một chủ trương chính sách, một phong trào Thực ra văn hoá gắn với tất cả các hoạt động nhằm phát triển và hoàn thiện con người, phát triển và hoàn thiện xã hội Như vậy văn hoá trước hết là những hoạt động nhằm phát huy những nhu cầu và năng lực tinh thần cơ bản của con người, tạo ra những chuẩn mực, các giá trị nâng cao khả năng hiểu biết
và sáng tạo của con người
Theo cách hiểu hẹp hơn và được sử dụng thông thường và khá phổ biến, khi tách giáo dục khoa học ra thành các lĩnh vực, các ngành có đặc thù riêng: Văn hoá còn được coi chủ yếu là các loại hình hoạt động cụ thể của ngành văn hoá thông tin như: Bảo tàng, thư viện, báo chí, xuất bản, đời sống văn hoá cơ sở, lễ hội và các loại hình sáng tạo văn hoá, văn nghệ Văn hoá là một lĩnh vực
Trang 22được coi là nhạy cảm nhất, mang tính sáng tạo, là bước phát triển cao của xã hội loài người
- Quan niệm mác xít về văn hoá: Vào cuối thế kỷ XIX và sang thế kỷ
XX, thuật ngữ văn hoá được dùng trong các công trình xã hội học, nhân loại học, nhân chủng học theo bốn nghĩa sau đây:
+ Một trình độ phát triển nhất định về kiến thức và đạo đức của cá nhân, như nói một người có văn hoá, trình độ văn hoá của một người, nội dung này
có liên quan tới mẫu hình con người lý tưởng, con người hoàn thiện, được bàn tới nhiều trong thời cổ đại cũng như trong thời kỳ Phục Hưng
+ Một tình trạng phát triển chung về sản xuất và vật chất, tinh thần và đạo đức của một xã hội nhất định Thí dụ trong các câu thường được các nhà nhân loại học, nhân chủng học phương Tây dùng: Nền văn hoá nguyên thuỷ, nền văn hoá của các bộ tộc và dân tộc
+ Một nghĩa hẹp hơn, chỉ toàn bộ các ngành văn hoá, nghệ thuật
+ Lối sống vật chất, tinh thần của một xã hội, của các lớp người hay xã hội đó, cho tới lối sống của mỗi cá nhân
- Trong tâm lý học, văn hoá được hiểu như sau: "Văn hoá là một phức hợp tâm lý chỉnh thể, được hình thành và phát triển trong hoạt động, phản ánh dấu ấn về một cộng đồng và luôn là một nhân tố quan trọng bậc nhất của sự phát triển nhân cách con người"
Như vậy "Văn hoá là tập hợp cả các giá trị mà con người sáng tạo ra được trong quá trình lao động và sinh hoạt Văn hoá bao gồm 2 loại: văn hoá vật thể (các công trình kiến trúc, máy móc…) và văn hoá phi vật thể (tư tưởng, thơ ca….); Văn hoá là thiên nhiên thứ hai của con người Văn hoá là thứ mà chỉ có con người mới có, động vật không thể có được
1.2.3.2 Chức năng của văn hoá
* Chức năng
Chức năng được hiểu là công việc mà tổ chức cần thực hiện trong hoạt động của nó, ví dụ, chức năng lập thời khoá biểu dùng để mô tả cho công việc
Trang 23công tác nghiệp vụ của nhóm cán bộ phòng đào tạo Học viên X, có nhiệm vụ thu thập thông tin về số lớp học, sĩ số và ngành đào tạo, quỹ hội trường, phân công nhiệm vụ giảng dạy của từng giáo viên để từ đó sắp xếp, tạo ra một thời khoá biểu dùng chung cho toàn trường trong một học kỳ
Như vậy chức năng không chỉ nêu ra rằng nghiệp vụ đó được thực hiện ở đâu, như thế nào, bởi ai và thời điểm nào Điều này có nghĩa là khi mô tả chức năng không cần quan tâm đến các yếu tố vật lý cần thiết để thực hiện công việc, các khía cạnh vật lý của vấn đề mà chỉ quan tâm đến khía cạnh hình thức, khía cạnh lô gic của vấn đề
Các chức năng diễn tả công việc ở nhiều mức độ khác nhau Chức năng
có thể diễn tả công việc ứng với một lĩnh vực hoạt động như: "quản lý tài chính", "quản lý đào tạo", hoặc ứng với một hoạt động trong một tổ chức như "lập kế hoạch mua hàng", "lập thời biểu học kỳ trong một trường học" hoặc một nhiệm vụ như "tính nhu cầu dự trữ hàng trong kho" "xếp thời khoá biểu cho một lớp" hoặc cũng có thể chỉ là một hành động như "thu thập đơn hàng", "in thời khoá biểu cho lớp " Rõ ràng là để có cái nhìn tổng quan về hoạt động của hệ thống thì cần mô tả các chức năng của hệ thống ở mức đại thể Nhưng để hiểu rõ hơn các chức năng nghiệp vụ của hệ thống thì lại cần phân rã các chức năng trong một hệ thống từ đại thể đến chi tiết gọi là xây dựng sơ đồ chức năng nghiệp vụ
Chức năng là vai trò, lý do tồn tại của một (cái gì đó, một sự vật hiện tượng nào đó), ví như: văn hoá ra đời để làm gì? văn hoá đóng vai trò gì? v.v Như vậy khái niệm "chức năng" là một vấn đề mà hiện nay chưa thể đưa
ra một khái niệm chung nhất Vì vậy chúng tôi xin nêu cách hiểu về "chức năng" như trên
* Chức năng của văn hoá
Văn hóa là tập hợp tất cả các giá trị mà con người sáng tạo ra được trong quá trình lao động và sinh hoạt, vì vậy văn hóa cũng có nhiều chức năng: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ.v.v
Trang 24- Chức năng nhận thức: Nhận thức là một yếu tố căn bản để phân biệt giữa con người với loài vật Loài vật chỉ sống với ý nghĩ muốn tồn tại y như
nó, con người do nhận thức cao hơn nên sống có 2 ý nghĩa là tồn tại y như
nó và muốn cao hơn, tự hoàn thiện theo hướng nhân bản hơn, người hơn Nhận thức giúp con người nâng cao sự hiểu biết, hiểu được công việc mình làm trên cơ sở đó tự hoàn thiện nhân cách
- Chức năng giáo dục: Giáo dục là để nâng cao nhận thức là phương tiện
để phát huy tiềm năng con người Giáo dục ở đây không chỉ có nhiệm vụ cung cấp tri thức cho người mà còn hướng tới những mục tiêu khác: giáo dục
tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục nhân cách
Một người có văn hóa - nếu hiểu đúng nghĩa của từ có văn hóa, đồng thời cũng là một người có đạo đức Một cuốn sách hay, một bộ phim tốt, một vở kịch có nội dung tư tưởng sâu sắc và diễn xuất tài tình đều có tác dụng lớn củng cố nền đạo đức xã hội và cá nhân
- Chức năng thẩm mỹ: Nói đến văn hoá là nói đến cái đẹp, văn là vẻ đẹp, hoá là làm cho cái đẹp đẹp lên Thẩm mỹ là một chức năng quan trọng của văn hoá, con người luôn luôn vươn đến cái đẹp, kể cả cái đẹp hình thức lẫn cái đẹp nội dung
Các ngành nghệ thuật cũng xuất phát từ chức năng này để hoạt động Hình thành nên các loại chủ nghĩa trong nghệ thuật Cái đẹp là những hài hoà hoàn chỉnh Cái có ích thì đáp ứng nhu cầu thực tiễn, cái đẹp thì đáp ứng nhu cầu tinh thần Cái đẹp luôn là bạn đồng hành của cái có ích, con người luôn có nhu cầu nhào nặn hiện thực thành cái đẹp
Văn hoá nghệ thuật là sự chưng cất cái đẹp Quy luật với nghệ thuật là quy luật tình cảm con người luôn khát vọng vươn tới cái đẹp thông qua cái đẹp tác động vào tình cảm, tác động lên lý trí (thích hay không thích, cái đúng cái sai, cái thiện cái ác)
Cụ thể nghệ thuật luôn mang tính phổ quát, nghệ thuật đến với tất cả con người Nghệ thuật phải đúng, phải hấp dẫn, nghệ thuật phải như ăng ten thu
Trang 25nhận tín hiệu tình cảm, phải có trái tim nhạy cảm thấm đượm tình người phải
có lý trí sáng suốt thông qua đó đánh thức nhân loại
Nghệ thuật là sự thể hiện nhu cầu của con người muốn thông qua hình tượng và biểu tượng để thể hiện và cảm nhận những thời điểm có ý nghĩa trong đời sống của mình Nghệ thuật tạo ra cho con người “Hiện thực thứ hai”, tức là thế giới những cảm xúc đã trải qua trong cuộc đời và được thể hiện bằng những phương tiện hình tượng, biểu tượng đặc biệt Việc tiếp xúc với những thế giới này cũng như việc biểu hiện và nhận thức trong thế giới này là một trong những nhu cầu quan trọng nhất của tâm hồn con người khả năng tác động vào xã hội của nghệ thuật là rất lớn
Khả năng tác động vào xã hội của nghệ thuật là rất lớn Một là hướng tâm; Hai là ly tâm - làm tan rã tâm trạng xã hội, Ba là loạn tâm - là mỗi người một tâm trạng
Thưởng thức xong một tác phẩm nghệ thuật, có thể làm thay đổi tính cách, lối suy nghĩ của con người
Văn nghệ sỹ là ai, trước hết phải là con người có tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động và hoạt động trong một lĩnh vực nghệ thuật nào đó (có người không phải là nghệ sỹ nhưng cũng rất nhạy cảm, biết thưởng thức nghệ thuật - đây
có thể gọi là những người có tâm hồn nghệ sỹ) Có tâm hồn, có năng khiếu là những điều kiện tốt để một con người trở thành nghệ sỹ, nhưng để trở thành nghệ sỹ, phải có học chuyên ngành nghệ thuật mới hiểu được hệ thống biểu tượng của nghệ thuật (bố cục, màu sắc, biểu tượng, các quy luật sáng tối, viễn cận trong nghệ thuật hội hoạ, quy luật hoà âm trong âm nhạc, gam trưởng, gam thứ….)
Nghệ sỹ là một nghề, dễ xúc cảm, hay thay đổi, đôi lúc tính khí bất thường, không chịu sống gò ép trong khuân khổ, luôn luôn sáng tạo ra cái mới Vì vậy quản lý, lãnh đạo văn nghệ sỹ là một việc khó
Đảng ta phải quan tâm đến cộng đồng nghệ sỹ: Quan tâm đến đời sống
Trang 26vật chất, đời sống tinh thần của văn nghệ sỹ bằng các chính sách đãi ngộ cụ thể Ngược lại, văn nghệ sỹ phải có trách nhiệm với đất nước, tới xã hội Sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, có tính định hướng về thẩm mỹ cho nhân dân (ví dụ định hướng về âm nhạc, nhiếp ảnh, hội hoạ, văn xuôi, thơ…)
- Chức năng điều tiết: Cấu trúc xã hội gồm các cộng đồng người: từ thấp đến cao (nhóm tập thể: bản, mường, cao hơn nữa là từng dân tộc, quốc gia, liên quốc gia…) Cộng đồng phải có sự phân công xã hội và xây dựng một thể chế làm việc Thể chế đó chính là văn hoá Thể chế phải chặt chẽ, phải có người chỉ huy, phân công lao động hợp lý Đó chính là
sự điều tiết
Chức năng điều tiết là làm cho xã hội ổn định, luôn vận hành vì một mục đích chung Xã hội vận hành được nhờ có luật pháp và văn hoá luật pháp (ý thức chấp hành của con người) Nếu không có luật pháp để điều tiết cộng đồng xã hội thì con người ta sẽ sống theo luật rừng và mọi cái sẽ bị đảo lộn Điều tiết xã hội bằng ý thức chấp hành luật pháp chính là chức năng điều tiết của văn hoá
- Chức năng động lực: Nếu xã hội là cái xe thì văn hoá là động cơ Người lái xe chỉ định hướng và vận hành xe Tại sao Nghị quyết TW 5 khoá VIII nói văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Mục tiêu phấn đấu của chúng ta là tiến tới một xã hội tốt đẹp hơn, để cho con người ngày càng hạnh phúc hơn, chất lượng sống của con người ngày một cao hơn
Tất cả các chức năng trên đều có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều mang tính xã hội cao Trong chức năng thẩm mỹ có chức năng điều tiết (cái đẹp điều chỉnh tâm hồn, hành vi), trong chức năng giáo dục có các khía cạnh giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ…
Ngoài ra văn hoá còn có các chức năng xã hội khác nữa, đó là: Chức năng đem lại hạnh phúc và niềm vui, chức năng tạo ra sự hài hoà nội tâm
- Chức năng đem lại hạnh phúc và niềm vui: Một nền văn hóa phát triển
Trang 27đặc biệt là các ngành văn học nghệ thuật, là một nguồn vui rất lớn cho xã hội
và những cá nhân được thừa hưởng nền văn hóa đó Nó gây ra những cảm xúc lành mạnh,cao đẹp C.Mác đã từng ca ngợi nghệ thuật như là niềm vui lớn nhất mà con người có thể tự đem lại cho mình
- Chức năng tạo ra sự hài hòa nội tâm: Con người sống trong một chế độ chính trị - xã hội chưa được hoàn thiện, thường phải đối đầu với bao nhiêu nghịch cảnh, làm mất thăng bằng nội tâm, gây thất vọng và chán nản, thậm chí có trường hợp dẫn tới khủng hoảng tâm thần nghiêm trọng Nếu đó là những người có cuộc sống văn hóa tinh thần phong phú, thì họ dễ trải qua thử thách, nội tâm vẫn giữ được thăng bằng hài hòa Khi xảy ra những trường hợp bão táp nội tâm như vậy thì một cuốn sách hay, một vở kịch tốt, v.v thường phát huy tác dụng như một liều thuốc tâm thần công hiệu… Tất nhiên chúng
ta không chỉ nói sự hài hòa nội tâm, mà nói tới con người phát triển hài hòa toàn diện, con người mà điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cho phép phát huy đến cao độ mọi năng khiếu và tiềm lực
1.2.4 Quản lý chức năng giáo dục của văn hoá
1.2.4.1 Chức năng giáo dục của văn hóa
Cũng giống như giáo dục, văn hóa có vai trò quan trọng trong đời sống
xã hội loài người, đối với bất kỳ một quốc gia nào cũng cần và tồn tại một nền văn hóa Văn hóa - Giáo dục là hai lĩnh vực không thể tách rời, nó đan xen hòa quyện vào nhau, trong văn hóa có giáo dục và ngược lại trong giáo dục luôn tồn tại văn hóa Vì vậy trong xã hội loài người muốn được duy trì
và phát triển, xã hội nhất định phải thực hiện chức năng giáo dục của mình
Đó là chức năng không thể thiếu (tất yếu) và không bao giờ mất đi (vĩnh hằng) của xã hội Một quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹ
và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó Nhờ thực hiện chức năng giáo dục, xã hội đã tái sản xuất những nhân cách, tái sản xuất những sức mạnh bản chất của con người nhờ được giáo dục, các
Trang 28thế hệ đang lớn lên tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động lao động sản xuất
và các hoạt động khác tiếp tục giữ vững và hoàn thiện các mối quan hệ xã hội Trên ý nghĩa đó, không có hoạt động giáo dục thì không có sự tái sản xuất các hoạt động sống khác Chức năng giáo dục của xã hội đã góp phần tái sản xuất xã hội
Chức năng giáo dục của văn hóa để thể hiện rất rõ trong đời sống con người Đảng ta đã xác định “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là cơ sở
để phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, phát huy bản lĩnh trí tuệ và đạo lý của dân tộc trong sự nghiệp đổi mới đất nước” Việc
xây dựng và giữ gìn bản sắc văn hóa là việc của toàn xã hội, chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần trong xã hội, thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, giữa tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, con người phải phát triển toàn diện
Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của phát triển kinh
tế “văn hóa đóng vai trò là nền tảng tinh thần” của xã hội, giá trị tinh thần đóng vai trò quyết định, là “hòn đá tảng” của sự phát triển kinh tế - xã hội Chức năng giáo dục của văn hóa được thể hiện thông qua các giá trị văn hóa, là mục tiêu của sự phát triển, là động lực của sự phát triển Điều này được thể hiện rõ như sau:
Mục tiêu của mọi hoạt động con người trong tiến trình lịch sử đều nhằm cải thiện nâng cao chất lượng sống Trong suốt quá trình loài người chuyển từ hình thái kinh tế xã hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, loài người luôn phải phấn đấu để được sung sướng hơn,bình đẳng hơn, hạnh phúc hơn Văn hóa là mục tiêu của xã hội phát triển, bởi văn hóa là đại diện theo trình độ văn minh, là thước đo phẩm giá con người Tuy nhiên xã hội không có những cá nhân có những phẩm giá ngang nhau (có người tốt, có người xấu), trong mỗi con người
Trang 29bao giờ cũng có 2 mặt (mặt tốt và mặt xấu) Văn hóa có trách nhiệm kích thích mỗi con người phát huy mặt tốt, kiềm chế mặt xấu Thường thì con người bị môi trường xã hội đưa đẩy “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, “Nhân chi sơ tính bản thiện” Hồ Chí Minh cũng đã viết “lúc ngủ ai cũng như lương thiện, tỉnh dậy mới biết kẻ dữ hiền.” Vậy văn hóa có chức năng giáo dục nhằm giúp con người điều tiết, điều chỉnh hành vi của mình sao cho đúng
Văn hóa là động lực của sự phát triển, trước hết phải nói đến vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội; phát triển phải mang tính đồng bộ, hệ thống biểu hiện bằng chất lượng sống, phải phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa Chìa khóa để phát triển chính là các nhân tố: nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn khoa học kỹ thuật và nguồn lực con người, trong đó nguồn lực con người có vai trò quyết định,đây chính là chìa khóa của mọi chìa khóa Con người tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất tạo ra sản phẩm xã hội Vì vậy cùng với quá trình phát triển phải hiện đại hóa dân tộc, trước hết phải hiện đại hóa nguồn lực con người, để làm được điều này thì phải đầu tư vào giáo dục đào tạo con người và phải coi là đầu tư cơ bản để đi tắt đón đầu trong quá trình phát triển Con người phải được phát triển toàn diện về trí lực và thể lực, tư tưởng,lý tưởng, đạo đức, lối sống,đủ điều kiện để bước vào thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Văn hóa phải làm bà đỡ để cho sự ra đời của nền kinh tế tiên tiến văn minh thông qua việc hoàn thành hệ thống pháp lý và đạo lý xã hội, chống lại những tiêu cực phản giá trị, phản văn hóa do nền kinh tế thị trường dã man tạo ra Trong việc phát triển nguồn lực khoa học công nghệ, không chỉ là quá trình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ mà cái chính là quá trình chuyển đổi tư duy của cả một cộng đồng dân tộc, nâng cao tầm văn hóa và trình độ văn hóa của dân tộc, là quá trình làm thay đổi lối sống, nếp sống của xã hội cho phù hợp với sự phát triển của thời đại công nghiệp
Với chức năng giáo dục, văn hóa nhằm hướng tới những giá trị đã được trong nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, đó là:
Trang 30- Giáo dục con người có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu
vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội
- Giáo dục con người có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung
- Giáo dục con người có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
- Giáo dục con người lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, năng xuất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Giáo dục con người thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực
Có thể nói chức năng giáo dục của văn hóa được thể hiện ở 4 chức năng
cơ bản đó là: chức năng giáo dục tư tưởng, chính trị; giáo dục thẩm mỹ, giáo dục nếp sống văn hóa và giáo dục thể chất cho con người
Con người là vốn quý nhất Văn hóa có ý nghĩa làm cho tốt đẹp hơn về đạo lý, đạo đức của con người Con người làm ra văn hóa, nhưng văn hóa lại
có tác dụng hình thành và phát triển nhân cách con người, văn hóa phải làm tốt vai trò hình thành nhân cách - yếu tố cốt lõi trong nguồn lực con người Con người là nguồn lực vô hạn, nhưng phải là con người có văn hóa Văn hóa
ở đây là tài sản vô hình, do học tập, tu dưỡng, rèn luyện mới có được Con người Việt Nam được hình thành từ nền văn hóa Việt Nam Với chức năng giáo dục, chức năng điều tiết của mình, văn hóa phải luôn làm cho con người sống tốt hơn, sống có đạo lý, phẩm giá Văn hóa làm cho con người bao giờ cũng sống cùng, sống với, sống vì Ngược lại, xã hội cũng phải luôn luôn quan tâm đến mỗi cá nhân, phải chăm sóc cho các cá nhân về mọi mặt, thúc đẩy động lực của mỗi con người
Như vậy trong văn hóa có giáo dục, trong giáo dục tồn tại văn hóa và thực
Trang 31hiện chức năng giáo dục con người, làm cho con người phát triển toàn diện hơn
1.2.4.2 Quản lý chức năng giáo dục của văn hóa
Văn hoá tồn tại qua các chức năng của nó, trong đó có chức năng giáo dục Với chức năng này, văn hóa có tác dụng nâng cao nhận thức của con
người về các lĩnh vực như: đạo đức, lối sống; lịch sử đất nước; truyền thống văn hoá dân tộc; thẩm mỹ
Quản lý chức năng giáo dục của văn hóa là làm thế nào để nâng cao nhận thức của con về các nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa dân tộc.v.v
1.3 CHỨC NĂNG GIÁO DỤC CỦA TRUNG TÂM VĂN HÓA - THÔNG TIN - THỂ THAO
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Văn hóa Thông tin -Thể thao
1.3.1.1 Chức năng của Trung tâm Văn hóa thông tin - thể thao
Trung tâm VHTT-TT có chức năng chung là: Nghiên cứu, thể nghiệm các mẫu hình, phương pháp và hình thức hoạt động văn hoá thông tin ở cơ sở, chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các Trung tâm thông tin cổ động, triển lãm trong địa bàn thành phố
Tổ chức hoạt động văn hoá thông tin thể thao phục vụ các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ giải trí, sáng tạo văn hoá, nghệ thuật và thu nhận thông tin của quần chúng
1.3.1.2 Nhiệm vụ của Trung tâm Văn hóa thông tin - thể thao
- Xây dựng kế hoạch, chương trình công tác, hướng dẫn, kiểm tra và đánh giá chất lượng hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đối với các Trung tâm VHTT-
TT cấp phường, xã; kế hoạch, chương trình liên kết giúp đỡ các cung văn hoá, nhà văn hoá các ngành đoàn thể quần chúng trong thực hành nghiệp vụ, trình các cấp có thẩm quyền và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
- Nghiên cứu, thể nghiệm mẫu hình nghiệp vụ của Sở văn hoá thể thao và Du lịch phù hợp với địa phương, biên soạn các chương trình, tài liệu huấn luyện
Trang 32nghiệp vụ nội dung tuyên truyền cổ động, chương trình biểu diễn văn nghệ quần chúng sinh hoạt nhóm sở thích - câu lạc bộ
- Khai thác, kế thừa phát huy vốn văn nghệ dân gian truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, tổ chức các cuộc thi sáng tạo, liên hoan, hội diễn nghệ thuật quần chúng, hội thi thông tin tuyên truyền, tổ chức các lễ hội truyền thống và hiện đại
- Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức của đơn vị và các nhà văn hoá cơ sở, các hạt nhân phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng, thông tin cổ động, triển lãm ở cơ sở Mở các lớp năng khiếu về văn hoá nghệ thuật, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng quần chúng về sáng tạo và hưởng thụ văn hoá nghệ thuật
- Tổ chức hoạt động văn hoá thông tin tại Trung tâm hoặc lưu động bằng các loại hình văn hoá thông tin tổng hợp để định hướng và nâng cao thị hiếu thẩm
mỹ, trình độ cảm thụ văn hoá nghệ thuật, tiếp nhận thông tin mới và đa dạng đáp ứng nhu cầu văn hoá thông tin của quần chúng
- Tổ chức khảo sát, tham quan, trao đổi nghiệp vụ, giao lưu văn hoá văn nghệ quần chúng với các loại hình nhóm sở thích - câu lạc bộ và các hoạt động vui chơi giải trí tại Trung tâm
Thực hiện một số dịch vụ văn hoá nghệ thuật, thông tin, quảng cáo liên kết với các cơ quan, đoàn thể quần chúng, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng nghiệp vụ, đảm bảo tính giáo dục tư tưởng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, tăng nguồn thu bổ sung kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ và góp phần nâng cao đời sống của cán bộ, công chức trong đơn vị theo quy định của pháp luật
1.3.2 Chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa Thông tin - Thể thao
Trung tâm Văn hóa thông tin - thể thao là nơi hiện thực hóa những chức năng giáo dục của văn hóa, đó là những chức năng cụ thể sau:
1.3.2.1 Giáo dục tư tưởng, chính trị cho quần chúng nhân dân
Giáo dục tư tưởng chính trị cho nhân dân được thể hiện thông qua nhiều hình
Trang 33thức tuyên truyền khác nhau: Tuyên truyền cổ động, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền bằng các phương tiện thông tin đại chúng như: sách báo, phim ảnh, tuyên truyền lưu động; hàng năm với các băng cờ, khẩu hiệu, panô áp- phích… Trung tâm VHTT- TT đã kịp thời cung cấp các thông tin về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới đông đảo quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh và thành phố góp phần nâng cao nhận thức, giáo dục tư tưởng chính trị cho quần chúng nhân dân
Thông tin cổ động chính trị - lĩnh vực quan trọng công tác tư tưởng văn hoá của Đảng và nhà nước Bằng các hình thức thông tin, tuyên truyền cổ động, thường xuyên mang tính quần chúng rộng rãi, giúp mỗi cá nhân, nhóm xã hội ở đâu, lúc nào cũng nhận rõ mình ở trong hoàn cảnh, điều kiện, môi trường để thực hiện nhiệm vụ chính trị kinh tế - văn hoá - xã hội của đơn vị cơ sở địa phương, vùng miền và của cả đất nước Thông suốt và nhận thức được rõ nhiệm vụ xây dựng của mỗi thành viên trong cộng đồng, giúp quần chúng tích cực, tự giác thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hoá Thông tin cổ động bao gồm rất nhiều nội dung: Thông tin - tuyên truyền bằng lời nói trực tiếp, thông tin - tuyên truyền bằng sử dụng phương tiện phát thanh truyền hình; thông tin tuyên truyền bằng các phương tiện trưng bày trực quan; thông tin tuyên truyền bằng các chương trình thể hiện sân khấu Như vậy, với nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau, Trung tâm VHTT-TT nhằm làm tốt chức năng giáo dục tư tưởng chính trị cho quần chúng nhân dân
1.3.2.2 Giáo dục thẩm mỹ, nâng cao đời sống tinh thần cho quần chúng nhân dân
Những sáng tạo của quần chúng nhân dân đã hoà nhập vào đời sống biểu đạt sự khéo léo, tài hoa, thể hiện cái đẹp tạo ra những rung cảm thẩm mỹ, sản phẩm của sáng tạo ấy thuộc về văn nghệ quần chúng, các loại hình văn nghệ quần chúng: Ngôn ngữ, âm nhạc, múa, tạo hình, sân khấu, nghề thủ công mỹ nghệ
Thông qua các loại hình nghệ thuật giúp con người nhìn nhận về thế giới tinh
Trang 34thần, loại hình thẩm mỹ làm cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn, tạo sự hài hòa, cân bằng giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Đây chính là chức năng giáo dục thứ 2 mà Trung tâ m VHTT- TT đã
và đang thực hiện Với kế hoạch tổ chức hàng năm, nhiều chương trình biểu diễn nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật lưu động nhân các dịp lễ, tết nhằm phục vụ quần chúng nhân dân, cùng với việc xây dựng và tạo dựng phong trào tại cơ sở phường, xã, Trung tâm VHTT-TT đã triển khai nhiều kế hoạch hoạt động đến từng nhà văn hóa cơ sở, vào từng khu phố dân cư để gây dựng và củng cố phong trào văn nghệ quần chúng, tạo môi trường học tập, sinh hoạt văn hóa lành mạnh ngoài nhà trường cho đông đảo quần chúng nhân dân
1.3.2.3 Giáo dục nếp sống văn hoá cho quần chúng nhân dân
Chức năng giáo dục của Trung tâm VHTT-TT được thể hiện rõ thông qua khía cạnh giáo dục nếp sống văn hoá được thể hiện như sau:
Bất kỳ cuộc cách mạng nào sau khi thành công, giai cấp cách mạng cũng xét lại các giá trị đã có để loại bỏ hoặc kế thừa tồn tại và xác lập những giá trị mới Nếp sống văn hoá thể hiện khái quát sự ảnh hưởng và tác động qua lại của quá trình sáng tạo, thụ cảm văn hoá - nghệ thuật, tạo dựng đời sống văn hoá của quần chúng Kết quả, hiệu quả của quá trình xây dựng nếp sống văn hoá thể hiện trong lễ thức, quan hệ, giao tiếp, ứng xử, phong tục, tập quán
Xây dựng nếp sống văn hoá tập trung công tác trong 2 nhóm xã hội: Xây dựng gia đình đạt chuẩn văn hoá, xây dựng làng, bản, khu phố đạt chuẩn văn hoá Đồng thời còn được thực hiện hiện ở việc giáo dục đạo đức, lối sống cho con người
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình nhân tố tích cực góp phần thúc đẩy phát triển sự nghiệp kinh tế - văn hoá - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Gia đình giữ vai trò quan trọng nuôi dưỡng giáo dục hình thành nhân cách cá nhân Gia đình là nơi lưu giữ và truyền lại các giá trị văn hoá truyền thống, tiếp cận các giá trị văn hoá truyền thống, văn hoá hiện đại, nơi tạo sức đề kháng trước tác động xâm thực của các sản phẩm văn hoá
Bản thân con người bao giờ cũng mang các giá trị của quá khứ và tiếp nhận
Trang 35giá trị mới được xác lập, xây dựng nhóm gia đình giúp mỗi cá nhân lựa chọn kế thừa truyền thống và tiếp nhận giá trị văn hoá mới được xác lập, đó là công việc
cơ bản của xây dựng văn hoá Tạo dựng giá trị văn hoá gia đình tác động trực tiếp đến mỗi cá nhân giúp họ hoàn thiện nhân cách trong quá trình sống, lao động và sáng tạo
Làng - tổ chức xã hội trường tồn cùng quá trình lao động sản xuất tạo dựng đời sống văn hoá của cộng đồng người Việt trong lịch sử phát triển dân tộc, quá trình lao động sản xuất, tạo dựng đời sống văn hoá của cộng đồng làng, cư dân người Việt đã tạo lập "Văn hoá làng" "Văn hoá làng" - tác phẩm văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, thể hiện khái quát những giá trị văn hoá đã được sáng tạo, gạn lọc, tích tụ từ nhiều thế hệ người Việt Nam cải tạo thiên nhiên, lao động sản xuất, tổ chức đời sống xây dựng và bảo vệ đất nước
Xây dựng làng đạt chuẩn văn hoá làm đòn bẩy đẩy mạnh quá trình xây dựng đơn vị cơ sở hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị kinh tế - văn hoá - xã hội Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá - bước phát triển mới của xây dựng nếp sống văn hoá; xây dựng nếp sống văn hoá - công việc của toàn xã hội bao gồm: Hệ thống chính trị, chính quyền, nhóm gia đình, cá nhân, cộng đồng các dân tộc xác lập hệ ý thức về xây dựng đời sống văn hoá - một yêu cầu tất yếu khách quan như cơm ăn, nước uống hàng ngày để phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Lễ hội - loại hình văn hoá - nghệ thuật quần chúng thể hiện tính chất đặc cách hoá, đậm đà bản sắc của mỗi dân tộc Lễ hội bao gồm hai phần lễ và hội Cuộc lễ trình diễn những nghi thức thể hiện tầng cấu trúc văn hoá, đạo lý và khát vọng của con người với đời sống thực tại Hội để thoả mãn nhu cầu giao tiếp, sáng tạo hưởng thụ và nhập thân vào văn hoá nghệ thuật của quần chúng lao động Lễ hội tác động trong đời sống cá nhân và cộng đồng xã hội như một giao hoà tự nhiên hình thành cách sống của con người
Lễ hội truyền thống (hội làng, hội vùng, lễ hội tôn giáo, lịch sử - văn hoá - lao động - sản xuất)
Trang 36Hoạt động văn hoá thông tin thể hiện tập trung cao nhất trong công tác tổ chức
và hoạt động của các kỳ cuộc lễ hội, nội dung và hình thức của trình diễn trưng bày trong lễ hội còn thể hiện trình độ thao tác nghiệp vụ và cũng bộc lộ những tồn tại của công tác - văn hoá thông tin
1.3.2.4 Giáo dục thể chất cho quần chúng nhân dân
Một trong những chức năng giáo dục thiết yếu của Trung tâm VHTT- TT được thể hiện thông qua khía cạnh giáo dục thể chất (thể lực) là một trong những yếu tố góp phần cho sự phát triển toàn diện của con người (con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ cả về mặt trí tuệ và thể lực) Với chức năng của mình, hàng năm Trung tâm VHTT-TT tổ chức tập huấn, rèn luyện các môn thể dục thể thao nhằm tạo nguồn vận động viên cho toàn tỉnh với nhiều môn thi đấu khác nhau như: điền kinh, bóng chuyền, bóng bàn, tennis, cầu lông, cờ vua, cờ tướng đồng thời còn tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp thành phố, các giải truyền thống nhằm thúc đẩy phong trào thể dục thể thao của cơ sở, với tinh thần “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” Các giải thi đấu thể thao được tổ chức hàng năm thu hút hàng ngàn vận động viên tham gia, đó cũng là cơ sở nền tảng, đào tạo nguồn lực vận động viên cho tỉnh, thành phố Móng Cái nói riêng và cả nước nói chung
Cùng với các khía cạnh giáo dục nêu trên, giáo dục thể chất đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện của xã hội thời nay
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa thông tin - thể thao
1.3.3.1 Nhận thức về tác động và chuyển hoá của văn hoá thông tin đối với đời sống của nhân dân
Trong đời sống xã hội ta có 5 cấp độ biểu hiện và biểu đạt văn hoá:
- Biểu hiện của văn hoá đơn lẻ - cá nhân
- Biểu hiện của văn hoá tiểu cộng đồng (như gia đình dòng họ, phường, hội, làng, bản)
- Biểu hiện của văn hoá cộng đồng tộc người (như văn hóa Việt, Thái, Ê đê,
Trang 37Chăm, Khơ me… )
- Biểu hiện của văn hoá vùng (Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên, Tây
Nam bộ…)
- Biểu hiện của văn hoá quốc gia
Như vậy, để có sự biểu hiện của văn hoá một quốc gia rõ ràng phải là hệ quả,
là tập hợp của 4 cấp độ biểu hiện văn hoá Đó là biểu hiện văn hoá của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, dòng họ, bản làng, các tộc người và các vùng Các cấp độ biểu hiện này có quan hệ hữu cơ, biện chứng với nhau, cái này vừa là tiền đề vừa là hệ quả của cái kia Như thế cũng có nghĩa là văn hoá - thông tin phải được quan tâm đầy đủ ở mọi cấp độ
Từ nhận thức trên chúng ta biết rằng: Tác động và chuyển hoá trực tiếp đến chất lượng đời sống văn hoá phải là tổng hợp các hình thức hoạt động và hưởng thụ văn hoá - thông tin Đương nhiên vấn đề này sẽ phụ thuộc vào khả năng, truyền thống và tâm thế sáng tạo, hưởng thụ của quần chúng nhân dân - gồm mọi thành phần, địa vị trong xã hội
Nhưng có một vấn đề cần lưu ý: Nếu như tâm thế sáng tạo, hưởng thụ văn hoá - thông tin của các đối tượng - thành phần xã hội có khác nhau thì các hình thức truyền tải thông tin (trong cùng một thời kỳ, một không gian, cùng một thể chế chính trị) lại cơ bản giống nhau Vậy vấn đề cần quan tâm là: Làm thế nào để các đối tượng xã hội tiếp nhận, hưởng thụ văn hoá - thông tin đúng với giá trị khách quan của nó, ít nhất cũng đúng với định hướng của các chủ thể, quản lý văn hóa thông tin Xét dưới biểu hiện này thì hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng là hình thức thông tin và ngược lại hoạt động thông tin cũng là hoạt động văn hoá Thậm chí hiện nay đang rất cần “nghệ thuật hoá” thông tin Trong khi đó quá trình cung cấp và tiếp nhận thông tin cần diễn ra liên tục, thường từ nhiều nguồn nhiều kênh thông tin khác nhau, nhất là trong thời đại phát triển khoa học công nghệ - bùng nổ thông tin Vì vậy, trong đời sống hiện nay đã và còn là cuộc cạnh tranh quyết liệt về mục đích thông tin, là vấn đề
"thắng -thua" của các luồng tư tưởng, nhận thức
Trang 38Song song với quá trình tiếp nhận thông tin thì vấn đề tạo điều kiện và tổ chức, hướng dẫn quần chúng được hoạt động sáng tạo văn hoá - thông tin là vô cùng quan trọng Thật ra bản sắc văn hóa dân tộc cũng như các giá trị văn hoá, đạo đức được thể hiện, bảo vệ, bồi đắp ở phạm vị hoạt động này là chính
Vấn đề đặt ra hiện nay là: Làm thế nào để các đối tượng xã hội khác nhau, với tâm thế hưởng thụ văn hoá - thông tin khác nhau có điều kiện tiếp nhận thông tin một cách chọn lọc, tự nguyện góp phần tạo ra nhân cách văn hoá
là công việc cần được nghiên cứu chu đáo, nhằm hình thành phương pháp công tác và các loại hình nghiệp vụ đáp ứng cho cơ sở
1.3.3.2 Cơ chế chính sách của nhà nước
Cơ chế chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của Trung tâm VHTT-TT, nó thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động, điều đó làm ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của đơn vị Chức năng giáo dục của đơn vị được thực hiện tốt hay không tốt phụ thuộc không chỉ vào khả năng của đơn vị
mà còn có sự tác động của cơ chế chính sách được ban hành từ trung ương đến địa phương Nếu có cơ chế hoạt động phù hợp thì sẽ tạo dựng được phong trào tốt, giúp đơn vị có khả năng làm tốt được vai trò, trách nhiệm của mình đối với
xã hội Đồng thời nếu có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những người hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật thì sẽ xây dựng và tạo dựng được đời sống vật chất tốt, điều đó sẽ làm ổn định về đời sống tinh thần, giúp con người nâng cao giá trị của cuộc sống
1.3.3.3 Môi trường xã hội
Đất nước ta đang ở trong thời kỳ hội nhập và phát triển về mọi mặt, đời sống vật chất ngày càng được nâng cao kéo theo nhu cầu hưởng thụ ngày càng nhiều, điều này đồng nghĩa với đời sống tinh thần cũng ngày một nâng lên rõ rệt Điều này có ảnh hưởng cả 2 mặt tích cực và tiêu cực tới nền văn hóa Việt Nam Ảnh hưởng tích cực đó là việc nâng cao giá trị đời sống tinh thần gắn với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, còn ảnh hưởng tiêu cực
đó là việc làm sai lệch đi những thuần phong mỹ tục, để cho những luồng văn
Trang 39hóa lệch lạc xâm nhập làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân Việt Nam Chính vì vậy vấn đề đặt ra cho ngành văn hóa nói chung là làm thế nào để phát huy và giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc trong thời buổi kinh
tế thị trường như hiện nay, đây cũng là vấn đề được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quan tâm Tuy nhiên trong vấn đề nghiên cứu này chúng tôi muốn
đề cập đến việc phát huy chức năng giáo dục c ủa một đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, vậy thì môi trường xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến chức năng giáo dục của một đơn vị sự nghiệp văn hóa thông tin thể thao? Từ những sơ lược trên chúng ta có thể thấy rằng: môi trường xã hội có ảnh hưởng đến nền văn hóa Việt Nam, vậy thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của văn hóa nói chung và chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa thông tin- thể thao nói riêng Nó có thể là động lực thúc đẩy nhưng cũng có thể
là yếu tố kìm hãm sự phát triển chức năng giáo dục của Trung tâm VHTT-TT
1.3.3.4 Năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ thuộc Trung tâm Văn hóa thông tin - thể thao
- Năng lực cá nhân của thủ trưởng đơn vị: Năng lực của người lãnh đạo chính là khả năng, năng lực quản lý V.I.Lênin đã từng nhấn mạnh vai trò của quản lý một cách hình ảnh như sau: “Liệu một trăm có mạnh hơn một nghìn không? Có chứ! Khi một trăm được tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên 10 lần” Việc “tổ chức lại” như thế nào đó là nghệ thuật của mỗi người lãnh đạo Trong xã hội phát triển như hiện nay, người lãnh đạo cần phải được đào tạo về chuyên môn quản lý và quản lý được xem là một khoa học, là nghệ thuật và là một nghề trong xã hội Lãnh đạo đơn vị cần phải nhận thức rõ chức năng giáo dục của đơn vị mình đối với xã hội là một tất yếu khách quan, từ đó mới có những hoạt động quản lý phù hợp nhằm phát huy chức năng giáo dục của đơn vị mình
- Kế hoạch, nội dung chương trình hoạt động và năng lực của đội ngũ cán bộ trong đơn vị: Một kế hoạch được xây dựng chu đáo, có tính chiến lược và phù hợp với mọi điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn lực con người, nguồn tài chính
…của đơn vị thì kế hoạch đó sẽ được triển khai và bước đầu thực hiện tốt, đồng
Trang 40thời nội dung chương trình hoạt động có sự chuẩn bị công phu sẽ đem lại lợi ích và hiệu quả Tuy nhiên để có thể đạt được hiệu quả cao thì vấn đề còn phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ cán bộ - những người trực tiếp làm và cụ thể hóa hoạt động của đơn vị Nếu kế hoạch tốt, nội dung chương trình hoạt động tốt nhưng năng lực của đội ngũ cán bộ kém thì chưa chắc kế hoạch đó đạt hiệu quả cao nhưng nếu năng lực đội ngũ cán bộ tốt thì có thể xây dựng, triển khai kế hoạch và nội dung chương trình hoạt động tốt, điều này có có ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của đơn vị
1.3.4 Các hình thức hoạt động nhằm thực hiện chức năng giáo dục của Trung tâm Văn hóa Thông tin - Thể thao
1.3.4.1 Hoạt động thông tin tuyên truyền
Hoạt động này đã hình thành ở nước ta ngay khi cách mạng tháng Tám thành công và đặc biệt phát huy hiệu quả trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong cuộc sống đương đại
Chỉ tính riêng mảng công tác này đã có nhiều thao tác nghiệp vụ cùng với
cơ chế tổ chức, tài chính, để triển khai thực hiện nó, trong đó có những hoạt động phải là cơ quan nhà nước, người có nghiệp vụ thực hiện và có những hoạt động do các đoàn thể xã hội và nhân dân tham gia Mục tiêu cụ thể là tuyên truyền, giải thích, thông tin những chủ trương của Đảng và nhà nước Vì vậy đặc trưng của hoạt động này là yêu cầu phải có lượng thông tin cụ thể, chính xác, mang tính trực quan, trực tiếp, không đi sâu xây dựng hình tượng văn nghệ Thông tin tuyên truyền có nhiều hình thức khác nhau như: Biên tập và phổ biến các tài liệu tuyên truyền, cổ động trực quan, tuyên truyền qua các chương trình “văn nghệ cổ động”
- Biên tập và phổ biến các tài liệu tuyên truyền: Đây là một giải pháp tuy đơn giản nhưng tỏ ra có hiệu quả khi trình độ dân trí ngày càng được nâng cao như hiện nay Hiện nay các hình thức “mang tính cổ điển” trong hoạt động này vẫn đang được triển khai thực hiện ở mọi cấp, các ngành, các đoàn thể, ở các chương trình mục tiêu: