PHAN THỊ THU HẰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Trang 1PHAN THỊ THU HẰNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
S NGUYỄN THU HƯƠNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2PHAN THỊ THU HẰNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO KHOA
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Trang 3- TS Nguyễn Thu Hương - Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
- Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục Tiểu học và Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn của tác giả
- Các thầy, cô trong Hội đồng giám khảo bảo vệ đề cương và Hội đồng giám khảo bảo vệ và đánh giá luận văn đã không quản thời gian để đọc và tham gia góp ý cho luận văn được hoàn thành
- Các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã quan tâm giúp đỡ
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Phan Thị Thu Hằng
Trang 4liệu, kết quả nghiên cứu đều là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Phan Thị Thu Hằng
Trang 52 ục đ ch và nhiệm vụ nghi n cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghi n cứu 2
4 Phạm vi nghi n cứu 3
5 Phương pháp nghi n cứu 3
6 iả thuyết khoa học 3
7 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ S LÍ LUẬN 5
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề 5
1.2 Một số vấn đề về từ láy 7
1.2.1.Quan niệm về từ láy 7
1.2.2 Sự phân loại từ láy 9
1.2.3 Từ láy và dạng láy 16
1.2.4.Phân biệt từ láy và từ ghép 19
1.2.5 Giá trị của từ láy 21
1.3 Đặc điểm của học sinh Tiểu học 25
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí 25
1.3.2 Phát triển tri giác 26
1.3.3 Phát triển chú ý 26
1.3.4 Phát triển trí nhớ 27
1.3.5 Phát triển tưởng tượng 27
1.3.6 Phát triển tư duy 28
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ ÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRON SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 31
2.1 Vai trò của việc xác định từ láy và giá trị của từ láy trong môn Tiếng Việt ở tiểu học 31
2.2 Từ láy và giá trị của từ láy trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 32
Trang 6Việt tiểu học 36
2.3.1 Từ láy trong các văn bản thơ 36
2.3.2 Giá trị của từ láy trong các văn bản thơ 48
2.4 Thực trạng việc xác định từ láy và giá trị của từ láy trong các văn bản thơ ở trường tiểu học 50
2.4.1 Đối tượng, nội dung và phương pháp khảo sát 50
2.4.2 Thực trạng việc xác định từ láy và giá trị của từ láy 50
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 BIỆN PHÁP XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ CÁC GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRON SÁCH IÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 56
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 56
3.1.1 Căn c vào đặc điểm nh n th c củ h c sinh 56
3.1.2 Căn c vào từ loại và đặc trưng ng pháp trong xác định từ láy và giá trị từ láy 56
3.1.3 Căn c vào các văn bản thơ cho h c sinh trong chương tr nh tiểu h c 58
3.2 Các biện pháp 60
3.2.1 Các biện pháp giúp h c sinh xác định từ láy 60
3.2.2 Các biện pháp giúp học sinh xác định giá trị của từ láy 68
Tiểu kết Chương 3 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 7STT KÍ HIỆU DIỄN GIẢI
Trang 8Bảng 2.1 Từ láy trong các văn bản thơ 37
Bảng 2.2 Khuôn vần láy 38
Bảng 2.3 Giá trị từ láy 48
Bảng 2.4.Tầm quan trọng của việc xác định từ láy và giá trị của từ láy 51
Bảng 2.5 Hiệu quả của việc xác định từ láy và giá trị từ láy 51
Bảng 2.6 Khả năng xác định từ láy và giá trị của từ láy của học sinh 52
Bảng 2.7a Biện pháp dạy học sinh xác định từ láy 53
Bảng 2.7b Biện pháp dạy học sinh xác định giá trị của từ láy 53
Bảng 2.8 Những khó khăn trong quá trình giảng dạy 54
Bảng 3.1 Nghĩa của từ láy có nghĩa giảm nhẹ hay tăng mạnh 63
Trang 9MỞ Đ U
1 L do chọn tài
Mỗi môn học ở bậc Tiểu học đều có vai trò, nhiệm vụ ri ng, trong đó môn Tiếng Việt giữ vai trò vô cùng quan trọng, góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết và giúp học sinh học tốt các môn khác, tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh Trong sách giáo khoa môn Tiếng Việt, số lượng các văn bản được đưa vào dạy học tương đối lớn ỗi một văn bản đều biểu hiện những tư tưởng, tình cảm nhưng các tác ph m thuộc loại thơ lại biểu hiện tình cảm theo cách
ri ng Thơ là sản ph m sáng tạo của tâm hồn và tr tuệ con người Thông qua các bài thơ giúp học sinh hiểu được cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình,
có được tình cảm y u thương, gắn bó với qu hương đất nước Với những đặc trưng về thanh âm và kiểu ngữ nghĩa ri ng biệt của mình, từ láy được dùng nhiều trong ngôn ngữ văn chương, nhất là trong các văn bản thơ của các em Suốt mấy thập kỉ qua, từ láy tiếng Việt luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bởi t nh đa diện, phức tạp nhưng cũng đầy lí thú của nó Từ láy thích hợp với việc tạo n n được những bức tranh sinh động với những gam màu ấn tượng, những hình dáng, tính cách của con người bằng ngôn từ Lớp từ láy có khả năng tạo nên nhịp điệu, hình ảnh cho thơ ca, là một trong những phương tiện biểu đạt đặc sắc của thơ ca n n được các nhà thơ, nhà văn rất ưa dùng Các nhà thơ nhà văn sử dụng từ láy như là một yếu tố nghệ thuật để thể hiện tác ph m Trong đời sống giao tiếp, từ láy cũng thường được sử dụng và mang lại nhiều hiệu quả Có thể nói từ láy là một
công cụ đặc biệt của các nhà văn, nhà thơ trong quá trình sáng tác
Hiện nay, chương trình tiếng Việt ở Tiểu học đã tiến hành cải cách, đổi mới về nội dung chương trình sách giáo khoa cho phù hợp với sự phát triển của khoa học và khả năng nhận thức của học sinh So với chương trình cũ,
Trang 10chương trình tiếng Việt sau năm 2000 đã rất chú ý đưa nội dung giảng dạy các phương thức cấu tạo từ, trong đó có từ láy theo cả hai hướng: cung cấp lý thuyết và luyện tập kĩ năng nhận diện, cảm thụ Phục vụ nhiệm vụ này, các bài thơ sử dụng phương thức láy được tuyển chọn đưa vào giảng dạy trong chương trình khá nhiều Tuy nhi n, trong quá trình giảng dạy, đa số giáo vi n chưa khai thác hết giá trị của từ láy trong mỗi văn bản thơ, cũng như chưa sử dụng tốt các biện pháp giúp học sinh xác định giá trị của từ láy qua bài thơ đó Xuất phát từ những cơ sở thực tế và lý luận tr n, chúng tôi chọn đề tài
Một số biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học
2 Mục ch và nhi m vụ nghiên c u
2.1 Mục đích
- Nghi n cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đ ch đưa ra các biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học
2.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy
và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy
và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học
- Đề xuất biện pháp hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học
3 Đối tƣ ng và khách thể nghiên c u
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Việc hướng dẫn học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học
Trang 113.2 hách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học
4 Phạm vi nghiên c u
Do phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu việc xác định
từ láy và giá trị của chúng trên văn bản thơ từ lớp 2 tới lớp 5 trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học
5 Phương pháp nghiên c u
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghi n cứu tài liệu về từ láy, các văn bản thơ trong môn Tiếng Việt ở tiểu học, phân t ch, tổng hợp các công trình đã có cả ở trong nước và ngoài nước về một số biện pháp xác định từ láy và giá trị từ láy qua các văn bản thơ trong sách giáo khoa tiếng Việt ở tiểu học
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, khảo sát các bài học về từ láy trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học
- Quan sát, khảo sát thực trạng tại trường tiểu học
5.3 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Phương pháp này được sử dụng khi xử l , thống k số lượng các từ láy và giá trị của chúng trong các văn bản thơ và khi khảo sát thực trạng tại trường tiểu học Sau khi thống k , chúng tôi tiến hành nhập và xử l số liệu bằng cách dùng Excel vẽ sơ đồ, biểu bảng
5.4 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Thông qua số liệu các từ láy và giá trị của chúng, thông qua số liệu thống
k thực trạng ở trường tiểu, chúng tôi tiến hành phân t ch, so sánh để đánh giá những kết quả đó nhằm đưa ra những kết luận phù hợp
6 Giả thuy t khoa học
Nếu đề xuất được những biện pháp phù hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả khi dạy học sinh xác định từ láy và giá trị của từ láy trong các văn bản thơ của sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Trang 127 C u tr c uận v n
Ngoài phần ở đầu, Kết luận, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Thực trạng việc xác định từ láy và giá của trị từ láy qua các văn
bản thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Chương 3 Biện pháp xác định từ láy và các giá trị của chúng qua các văn bản
thơ trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Trang 13Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan lịch sử v n
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đái Xuân Ninh về lịch sử phát triển
của từ láy tiếng Việt trong cuốn Hoạt động của từ Tiếng Việt [26] thì từ láy
xuất hiện từ thế kỷ XII sau khi hệ thống thanh điệu được hình thành Nhờ có hệ thống thanh điệu phong phú nên phép láy từ dễ dàng phát triển Nó phát triển đỉnh cao ở thế kỷ XVII - XVIII trong nhiều tác ph m tiêu biểu viết bằng chữ
Nôm của nền văn học Việt Nam như: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chinh phụ
ngâm (Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều), … Đến giai
đoạn sau từ láy phát triển với tốc độ chậm hơn, nó nhường bước cho các phương pháp tạo từ mới đáp ứng sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phù hợp với cách biểu đạt những khái niệm ch nh xác Tuy nhi n đến nay láy vẫn là một phương pháp cấu tạo từ cơ bản và có vai trò quan trọng trong việc tạo ra các giá trị về nghĩa Từ láy có khả năng giúp cho con người bộc lộ được mọi trạng thái tâm lý tình cảm một cách chính xác nhất, miêu tả sự vật, thiên nhiên một cách đa dạng và sinh động nhất Từ láy khi được thể hiện trong tác ph m văn học, nhất là tác ph m thơ thì luôn mang lại cho tác ph m những giá trị lớn lao Bởi giá trị và sức mạnh tiềm tàng trong bản thân lớp từ láy tiếng Việt mà lớp từ này từ xưa tới nay được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu.Trong lĩnh vực ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu về từ láy với tên tuổi của các nhà ngôn ngữ học tiêu biểu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài C n, Hoàng Tuệ, Diệp Quang Ban, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện Giáp, Hữu Đạt, Nguyễn Văn Tu, Hoàng Văn Hành, Đào Thản,Hoàng Cao Cương, Nguyễn Thị Hai,…Đó là những kết quả nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về các đặc điểm của từ láy Tiếng Việt: về cấu tạo, về đặc trưng ngữ nghĩa,
về giá trị biểu trưng, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm của từ láy Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: những sách nghiên cứu
Trang 14về tiếng Việt trong đó có từ láy, những chuyên luận về từ láy, những chuyên
luận về từ láy trên các tạp chí Có thể kể đến như: Cách xử lí các hiện tượng
trung gian trong ngôn ng của Đỗ Hữu Châu in trong [7] Trường từ vựng
ng nghĩ và việc dùng từ ng trong tác phẩm nghệ thu t của Đỗ Hữu Châu
đăng trong [8] Từ láy trong tiếng việt và sự cần thiết phải nh n diện nó của Phan Văn Hoàn đăng trong [17] Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành [18] Về một hiện tượng láy trong tiếng Việt của Hoàng Văn Hành [16] Cũng
có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề từ láy trong tác ph m văn học như: Hệ
thống từ láy tiếng Việt trong một số khúc ngâm thế kỉ XIX luận văn thạc sĩ
ngữ văn của Nguyễn Thị Hường Đại học Sư phạm Hà Nội (2004), Từ láy
trong thơ văn Nguyễn Đ nh Chiểu luận văn thạc sĩ ngữ văn của Hoàng Thị
an Đại học Thái Nguy n (2009) …
Từ những tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều tác giả chú ý
tới vấn đề này Điển hình như trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt của Hoàng
Văn Hành, [18] Trong cuốn sách này, tác giả đã đưa ra những cách nhìn khác nhau của từ láy, các kiểu cấu tạo từ láy, cơ cấu nghĩa của từ láy Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số cứ liệu về quá trình hình thành và phát triển từ láy tiếng Việt, giá trị sử dụng của từ láy nói chung
Trong cuốn Dạy h c từ láy ở trường phổ thông của Hà Quang Năng,
[24] tác giả đã n u được đặc điểm cấu tạo của từ láy, cơ cấu nghĩa của từ láy đối với hiện tượng láy, bao gồm các quan điểm về từ láy, phân loại từ láy về mặt ngữ nghĩa và phân loại dựa vào mặt số lượng âm tiết trong từ láy Tác giả cũng đề cập tới giá trị nghệ thuật của từ láy trong văn chương nhưng chưa thực sự đi sâu vào vấn đề đó Đáng kể nhất là luận văn thạc sĩ của tác giả
Nguyễn Thị an - Từ láy trong thơ Nguyễn Đ nh Chiểu, luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà - iá trị nghệ thu t và phương th c sử dụng hiện
tượng láy trong thơ c Việt N m Hai tác giả đã nghi n cứu giá trị và cách
Trang 15thức từ láy sử dụng để từ láy phát huy tác dụng với thơ ca ở hai phương diện
là t nh tạo hình và t nh tạo nhạc Đó thực sự là những công trình có nhiều đóng góp cho việc nghi n cứu ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhìn chung, đã có rất nhiều các tác giả nghi n cứu về từ láy trong thơ ca cũng như trong văn chương Việt Nam Tuy nhi n, nghi n cứu về các biện pháp xác định từ láy và giá trị của từ láy qua các văn bản thơ sách giáo khoa Tiếng Việt ở tiểu học lại chưa được nghi n cứu Vì vậy, lựa chọn đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ đưa ra được những ý kiến thiết thực, đóng góp vào công tác nghi n cứu và giảng dạy từ láy và giá trị của từ láy các văn bản thơ trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói riêng và dạy học từ láy nói chung
1.2 Một số v n v từ láy
1.2.1.Quan niệm về từ láy
Trong khái niệm về từ láy đã tồn tại nhiều t n gọi khác nhau như: Từ phản điệp, từ lấp láy, từ láy âm, từ láy, Những t n gọi này được thể hiện trong các định nghĩa về từ láy như sau:
“Từ láy là nh ng từ được cấu tạo theo phương th c láy, đó là phương
th c lặp lại toàn bộ h y bộ ph n h nh th c âm tiết (Với nh ng th nh điệu gi nguyên h y biến đổi theo quy tắc biến th nh, t c là quy tắc th nh điệu, biến đổi theo nhóm, nhóm c o: th nh hỏi, th nh sắc, th nh ng ng và nhóm thấp:
th nh huyền, th nh ngã, th nh nặng) củ một h nh vị h y đơn vị có nghĩ ”
[11;Tr 41] Định nghĩa này Đỗ Hữu Châu đã chỉ rõ láy là một cơ chế (cơ chế láy) và nhấn mạnh quan hệ ngữ âm giữa các âm tiết trong từ láy nhưng chưa nói rõ về ý nghĩa biểu đạt của từ láy
“Từ láy, nói chung là từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo
nh ng quy tắc nhất định, s o cho qu n hệ các tiếng trong từ vừ điệp vừ đối, vừ hài hò về âm và về ng nghĩ , có giá trị biểu trưng hó ” [18; Tr
27] Trong định nghĩa này, Hoàng Văn Hành coi láy là một cơ chế, chi phối
Trang 16việc tạo ra những từ đa tiết mà các tiếng của chúng nằm trong thế vừa điệp vừa đối Tác giả khẳng định t nh chất điệp và đối có quan hệ hữu cơ với nhau trong cơ chế láy và định nghĩa đã bao quát được cả mặt âm thanh và ngữ nghĩa của từ láy, âm và nghĩa trong từ láy có quan hệ khăng kh t và hài hòa Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng:
“Từ láy là một kiểu từ ph c (từ đ tiết) được tạo r bằng phương th c
hò phối ng âm có tác dụng tạo nghĩ Từ láy có thể là từ đơn tố (cả từ chỉ
là một bộ ph n có nghĩ )” [2; Tr 33]
Định nghĩa của Diệp quang Ban đã n u l n láy là phương thức cấu tạo
từ, phương thức láy, là sự lặp lại có t nh chất hòa phối về mặt ngữ âm toàn bộ
âm tiết ban đầu hay một bộ phận nào đó của âm tiết khác để tạo ra một tổ hợp nhiều âm tiết làm thành từ láy Tác giả nhấn mạnh đến nguy n tắc hòa phối ngữ âm của từ láy và tác dụng tạo nghĩa của từ láy Tuy nhi n về tác dụng tạo nghĩa từ láy như thế nào lại chưa được cụ thể
Hoàng Tuệ định nghĩa “Nên hiểu rằng “láy”, đó là phương th c cấu tạo
nh ng từ mà trong đó có một sự tương qu n âm - nghĩ nhất định” [30;
Tr23] Trong định nghĩa tác giả đã thể hiện cách hiểu về từ láy một cách trọn vẹn và đầy đủ về đặc trưng của từ láy với 2 đặc điểm cơ bản: từ láy là từ có sự tương quan âm - nhĩa nhất định
Nguyễn Hữu Quỳnh định nghĩa: “Từ ghép láy (h y còn g i là từ ghép
lắp láy, từ láy) là nh ng từ ghép gồm h i h nh vị kết hợp với nh u chủ yếu là theo qu n hệ ng âm Các thành tố củ từ ghép láy có mối tương qu n với
nh u về th nh điệu hoặc về các bộ ph n ng âm tạo nên các thành tố đó, đồng thời chúng tạo nên một nội dung ng nghĩ nhất định” [27; Tr113]
Định nghĩa đã n u rõ trong từ ghép láy có mối quan hệ âm nghĩa trong đó chỉ
có một thành tố có ý nghĩa từ vựng, yếu tố này có thể đứng trước hoặc đứng
sau như: l p lòe, nhấp nhô, chim chóc, im lìm, Hoặc cả hai thành tố đều
Trang 17không có ý nghĩa từ vựng, chỉ có ý nghĩa kết cấu như: đủng đỉnh, ton lon,
lóng lánh
Những quan điểm về từ láy chưa thật thống nhất trong khái niệm giữa các nhà nghi n cứu Song đa số các nhà nghi n cứu lại có quan điểm tương đồng với nhau ở chỗ: coi từ láy là từ được cấu tạo theo phương thức láy, lấy nguy n tắc hòa phối ngữ âm làm cơ sở và có những đặc trưng ngữ nghĩa ri ng
Sự trình bày của chúng tôi về các khái niệm và các quan niệm của một
số nhà nghi n cứu ngôn ngữ về từ láy trong tiếng Việt giúp chúng ta hình thành được một cách rõ ràng hơn trạng thái hiện nay của vấn đề đang xét Trong sự vận dụng khái niệm từ láy để viết đề tài này, chúng tôi có thể
khái quát về từ láy theo cách hiểu như sau: Từ láy là từ đ âm tiết được cấu
tạo theo phương th c láy mà trong đó qu n hệ gi các âm tiết phải thể hiện được sự hò phối và lặp lại về mặt ng âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái
hó về ng nghĩ Chúng tôi đi vào xem xét và khảo sát từ láy Tiếng Việt ở
thời điểm hiện tại, tức xem xét láy tr n quan điểm đồng đại - xét từ láy trong
sự hành chức của nó chứ không phải tr n quan điểm lịch đại Tr n quan điểm
đồng đại, Diệp Quang Ban cho rằng với từ láy hiện nay Một sự giải thích lịch
sử không có tác dụng thực tiễn bởi lẽ con người khi sử dụng ngôn ngữ chỉ
chú ý đến hoạt động của từ mà t chú ý đến nguồn gốc của từ
1.2.2 Sự phân loại từ láy
1.2.2.1.Phân loại từ láy trên cơ sở ng nghĩ
Cách phân loại này gặp nhiều khó khăn bởi phần lớn các nhà nghiên cứu thường chỉ chú tâm vào việc phân loại và miêu tả từ láy theo tiêu chí thuộc về hình thức cấu tạo Đáng chú ý là cách phân loại của Hoàng Tuệ (1978), Đỗ Hữu Châu (1999) và của Hoàng Văn Hành (1985)
Căn cứ mà Hoàng Tuệ dựa vào để xem xét và phân loại từ láy là „„Sự tương quan âm - nghĩa‟‟ trong từ Với tiêu chí này, tác giả chia từ láy thành 3 nhóm khác nhau:
Trang 18- Nhóm thứ nhất: gồm những từ như: a) oa oa, gâu gâu và b) cu cu „„Nói
chung là những từ mô phỏng, những từ tiếng vang‟‟
- Nhóm thứ hai: gồm những từ như: a) làm lụng, mạnh mẽ và b) lơ thơ,
loanh quanh Đó là những từ „„bao gồm một âm tiết - hình vị‟‟
Ví dụ: làm và làm lụng (làm lụng = làm + 1 sắc thái, sắc thái này có giá trị ngữ pháp và biểu cảm)
- Nhóm thứ ba gồm những từ như: lác đác, bâng khuâng…đó là những
từ không bao gồm một âm tiết - hình vị, „„Nhưng lại là những từ có giá trị biểu cảm rất rõ‟‟ [23, tr.21]
Cách phân loại này khắc phục được tính phiến diện của cách phân loại không chỉ thuần túy dựa vào cấu trúc và gợi cho ta một hướng suy nghĩ đáng chú ý
Cũng dựa tr n cơ sở ngữ nghĩa, Đỗ Hữu Châu đề nghị lấy t nh „„Đột biến‟‟ hay „„Sắc thái hóa‟‟ về nghĩa làm căn cứ Tr n cơ sở những căn cứ đó, ông chia từ láy thành 3 nhóm:
- Nhóm thứ nhất: Những từ láy sắc thái hóa về nghĩa, v dụ: dễ dãi, dễ
dàng (so với dễ)
- Nhóm thứ hai: Những từ đột biến về nghĩa ở hình vị cơ sở, ví dụ: lúng
túng (so với túng), bỡ ngỡ (so với ngỡ)…
- Nhóm thứ ba: Những từ trung gian giữa hai nhóm trên, ví dụ:
+ Bối rối: Nghĩa 1 (nghĩa vật l ) „„rối‟‟: đột biến
Nghĩa 2 (nghĩa tâm l ) „„rối‟‟: sắc thái hóa
+ Phất phơ: Nghĩa 1 (nghĩa vật l ) „„phất‟‟: sắc thái hóa
Nghĩa 2 (nghĩa t nh cách) „„phất‟‟: đột biến
Cách phân loại này nghiêng hẳn về tiêu chí ngữ nghĩa Nó chỉ ra được những bước khác nhau trong quá trình diễn biến của từ láy về mặt ngữ nghĩa Song mối tương quan âm - nghĩa ở đây chưa được quan tâm một cách đầy đủ
Trang 19Hoàng Văn Hành lại căn cứ vào tính có lí do của từ mà chia từ láy thành
ba nhóm:
a Từ láy phỏng thanh như lộp bộp, bìm bịp…
b Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm và chuyên biệt hóa về nghĩa: bấp bênh,
nõn nà…
c Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm, thí dụ: lênh đênh, lâng lâng, lác đác…
Trong quá trình nghiên cứu từ láy, Hoàng Văn Hành đã hiệu chỉnh hệ thống phân loại từ láy tr n cơ sở dùng một tiêu chí thỏa đáng hơn Ti u chí ấy, theo tác giả là „„Đặc điểm của hình thái biểu trưng hóa ngữ âm của từ‟‟vì nó thỏa mãn được ba yêu cầu:
Nhóm 1: Có t nh đến mối tương quan âm - nghĩa trong từ láy
Nhóm 2: Có t nh đến vai trò ngữ nghĩa của tiếng gốc và khuôn vần (trong điều kiện cho phép)
Nhóm 3: Có t nh đến khả năng bộc lộ nghĩa, hay là giá trị ngữ nghĩa của các kiểu từ láy khác nhau
Dựa vào tiêu chí này, từ láy được phân chia làm ba nhóm:
1 Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản, đó ch nh là những từ láy mà
chúng ta quen gọi là “tượng thanh”, từ “tiếng vang”, v dụ: tí tách, lộp bộp…
2 Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu, như lênh đênh, lác đác, bâng
Trang 20Cách phân loại từ láy dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa có ưu điểm chỉ ra được những bước khác nhau trong quá trình diễn biến của từ láy về mặt nghĩa Tuy nhiên, theo cách phân loại này thì mối tương quan âm - nghĩa chưa được quan tâm một cách đầy đủ
1.2.2.2 Cách phân loại từ láy dự vào số lượng âm tiết
Dựa vào tiêu chí phân loại này, Hoàng Văn Hành chia từ láy ra làm 2 loại, đó là: từ láy bậc 1 và từ láy bậc 2 Trong mỗi loại lớn, tác giả lại chia làm hai loại nhỏ hơn
Cũng căn cứ vào số lượng âm tiết trong từ láy, Diệp Quang Ban chia từ láy ra làm ba loại: từ láy đôi từ láy ba và từ láy tư Trong các phân loại này, từ láy đôi chiếm vị trí quan trọng hàng đầu không chỉ vì nó chiếm số lượng lớn nhất trong tổng số từ láy tiếng Việt mà chính là ở từ láy đôi, các đặc trưng cơ bản thể hiện bản chất của hiện tượng láy cả ở bình diện thể hiện bằng âm thanh lẫn bình diện ngữ nghĩa đều được bộc lộ đầy đủ
1.2.2.2.1 Từ láy đôi
Từ láy đôi là từ láy gồm hai âm tiết Tùy theo kết quả của phương thức láy có hình thức ngữ âm giống như âm tiết của hình vị cơ sở hay cho một âm tiết khác với hình vị cơ sở ở phụ âm đầu hoặc vần mà ta chia từ láy đôi ra làm hai loại: láy hoàn toàn (hay láy toàn bộ) và láy bộ phận
*Từ láy hoàn toàn
Láy hoàn toàn là từ láy mà toàn bộ âm tiết của hình vị cơ sở được giữ lại
Ví dụ: đ m →đ m đ m
mãi→ mãi mãi
Đây là nhóm điển hình trong từ láy hoàn toàn Trong kiểu láy này có 3 mức độ khác biệt sau đây:
Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo,
chỉ khác nhau về trọng âm, ví dụ: h o h o, đùng đùng, x nh x nh…
Trang 21Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có thêm sự khác biệt ở thanh điệu, ví dụ:
- Từ láy âm:
Từ láy âm là những từ láy trong đó âm đầu được láy lại Ví dụ: c p kềnh,
tung tăng, ngô nghê, qu nh co, th thầm…
Trang 22Trong từ láy âm, người ta dựa vào hình vị gốc để chia thành hai loại: + Các từ láy âm có hình vị cơ sở ở trước (gốc trước), láy sau
Ví dụ: ríu rít, ngẩn ngơ, mỏng manh, lạnh lùng, nhẹ nhàng, lạ lùng,
Từ láy vần là những từ láy có phần vần trùng lặp và phụ âm đầu khác
biệt ở tiếng gốc và tiếng láy Ví dụ: lủng củng, chói lói, thong dong…
Từ láy vần có số lượng t hơn so với từ láy âm loại láy vần người ta cũng dựa vào hình vị cơ sở để chia từ láy vần ra làm hai loại:
+ Loại gốc trước < hình vị cơ sở ở trước >, láy sau Loại này có số lượng
rất ít Ví dụ: thò lò, thiêng liêng, co ro, xo ro, thè lè…
+ Loại láy trước, gốc sau Ví dụ: lềnh kềnh, lờ mờ, líu díu, cheo leo, lom
khom, tủm tỉm…
*Một số trường hợp cần chú ý về từ láy đôi
- Có một số từ cả hai âm tiết đều có nghĩa như: g y gộc, vung vẩy, bạn
bè, cây cối, đất đ i, ch chiền, mùa màng, thịt thà… âu nay tồn tại nhiều
cách lý giải khác nhau, theo chúng tôi nên xếp vào từ láy có nghĩa khái quát
- Có một số từ mà các tiếng trong từng từ được biểu hiện trên chữ viết
không có phụ âm đầu như: êm ái, ấm áp, ốm o, ầm ĩ, óc ách, inh ỏi, ồn ã, ép
uổng, im ắng, ế ẩm, ít ỏi, oi ả, yên ả, o ước, ấm c, o ép (xác định được tiếng
gốc), ấp úng, ẽo ợt, ỉ eo, oái ăm, ỏn ẻn, õng ẽo, ách ỏi…(không xác định được
tiếng gốc) là từ láy Đây là các từ láy đặc biệt (đặc biệt ở chỗ: nó không giống các từ láy bình thường về hình thức ngữ âm)
- Các từ như: bình minh, linh tính, cần mẫn, tham lam, bao biện, bảo bối,
căn cơ, ho n hỉ, hào hiệp, hào hoa, hào hùng, hào h ng…không phải là từ
láy Đây là những từ ghép Hán - Việt
Trang 23Tuyệt đại đa số từ láy ba là từ láy hoàn toàn, một số ít là từ láy vần (khác
phụ âm đầu) như: lơ tơ mơ, lờ tờ mờ, tù lù mù…
1.2.2.2.3.Từ láy tư
Do phương thức láy tác động vào những từ láy đôi mà có, cho ta một từ láy bốn âm tiết - gọi là từ láy tư Tuy nhi n, cũng có những từ láy tư do phương thức láy tác động vào những hình vị hai âm tiết không láy (từ ghép)
Từ láy tư khá đa dạng về kiểu cấu tạo Một số kiểu thường gặp là:
- Láy qua vần a hoặc ơ như:
ấm ớ → ấm a ấm ớ
hì hục → hì ha hì hục sớn sát → sớn sơ sớn sát vất vưởng → vất vơ (v ) vất vưởng
- Láy bằng biến thanh, ví dụ:
bồi hồi → bổi hổi bồi hồi lảm nhảm → lảm nhảm làm nhàm
Trang 24- Láy bằng tách xen và biến âm, ví dụ:
nhồm nhoàm → lồm nhồm loàm nhoàm thơ thẩn → lơ thơ lẩn thẩn
- Láy bằng tách xen và láy toàn bộ, ví dụ:
hăm hở → hăm hăm hở hở hối hả → hối hối hả hả
bù xù bà xòa, buồn thỉu buồn thiu
Như vậy, có nhiều cách phân loại từ láy: ta có thể dựa vào mặt nghĩa, cũng có thể dựa vào số lượng tiếng trong từ láy để phân loại khác nhau Trong mỗi cách phân loại đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm riêng.Cách phân loại dựa vào số lượng tiếng tỏ ra có nhiều hợp lý vì mối tương quan âm - nghĩa thể hiện rõ hơn và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh nhất là học sinh tiểu học Trong luận văn này người viết dựa vào cách phân loại căn
cứ vào số lượng tiếng theo quan điểm của Diệp Quang Ban (như đã trình bày
ở trên)
1.2.3 Từ láy và dạng láy
Khi nghiên cứu từ láy, đa số các nhà nghiên cứu không chủ trương đi vào phân biệt từ láy và dạng láy của từ Một số nhà nghiên cứu lại chủ trương phân biệt từ láy và dạng láy, mặc dù những tiêu chu n, những dẫn chứng mà các tác giả này trên thực tế khi đưa ra chứng minh chưa đủ sức thuyết phục và
có căn cứ rõ ràng Có một số quan niệm về dạng láy: Dạng láy của từ là kết
quả củ quá tr nh trượt để nhân đôi từ khi sử dụng chúng trong lời nói Từ
Trang 25dùng để làm cơ sở cho việc tạo dạng láy có thể là từ đơn âm tiết, có thể là một số kiểu từ láy đôi Tùy thuộc vào số lượt âm tiết mà chúng ta có dạng láy đôi, dạng láy ba hay láy của từ [16; Tr12]
Tác giả Võ Xuân Quế trong bài viết Tìm hiểu về một số kiểu láy trong
Tiếng Việt lại khẳng định những trường hợp như g t gà g t gù, hấp ta hấp
tấp, ngất nga ngất ngưởng là kiểu láy bốn, chứ không phải là dạng láy bốn
Các tác giả Nguyễn Tài C n, Hồ , Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện iáp, Đỗ Hữu Châu cũng thừa nhận đây là kiểu láy tư trong Tiếng Việt Kiểu láy bốn này đuợc cấu tạo từ các từ láy đôi n n nghĩa của chúng chỉ là nghĩa của từ láy đôi mức độ cao hơn, nhấn mạnh hơn nghĩa của từ láy đôi cơ sở
Những từ kiểu như: đo đỏ, tim tím, chầm chậm, Hoàng Văn Hành và một số nhà nghiên cứu lại coi là dạng láy đôi Tuy nhi n tác giả Hoàng Văn Hành lại lí giải chỉ nên phân biệt dạng lặp với từ láy vì cái gọi là dạng láy và
từ láy thực chất đều được cấu tạo theo cùng một cơ chế
Quan niệm truyền thống khi phân biệt từ láy và dạng láy lại cho rằng dạng láy biểu thị ý nghĩa ngữ pháp còn từ láy biểu thị ý nghĩa từ vựng Tuy nhiên ngữ pháp truyền thống lại chưa phân biệt rõ ràng thế nào là ý nghĩa ngữ pháp, thế nào là ý nghĩa từ vựng nên khó lòng phân biệt được khi nào là từ láy, khi nào là dạng láy của từ Truyền thống Việt ngữ học, các nhà tác giả thường phân biệt dạng láy, dạng lặp và từ láy
Hoàng Tuệ cho rằng những từ bốn âm tiết như: mừng mừng rỡ rỡ, tùm
lum tà la chỉ là dạng láy và cho rằng các từ láy chỉ gồm có hai âm tiết “như
v y, các từ láy đều hai âm tiết” và khẳng định “các dạng láy bốn âm tiết không nên xem là từ, đó là nh ng đơn vị hình thành qua một sự biểu trưng hóa ng âm ở b c câu, không phải ở b c từ” [30; Tr.23]
Dạng láy đôi biểu hiện mức độ giảm của tính chất, nó chỉ miêu tả mức
độ tương đối Ngoài dạng láy đôi, còn có dạng láy bốn biểu thị mức độ tăng của tính chất so với từ gốc
Trang 26Ví dụ: vụng về và vụng vụng về về; lúng túng và lúng ta lúng túng
Sách Ng pháp Tiếng Việt của UBKHXH (1983) cũng có sự phân biệt từ
láy và dạng láy “Tránh nhầm lẫn từ láy toàn bộ với dạng láy của một tiếng”
[34;Tr.56]
Ví dụ: Đùng đùng, róc rách, nhí nhảnh, là từ láy
Thấp thấp, nhí nha nhí nhảnh là dạng láy
Các tác giả của cuốn Ng pháp Tiếng Việt đã có sự trình bày tỉ mỉ về
hình thức ngữ âm và nghĩa của dạng láy
*Hình th c ngữ âm của dạng láy:
Từ một tiếng có những dạng láy: dạng láy hai tiếng, dạng láy ba tiếng và dạng láy có kết hợp với trợ từ
Từ hai tiếng có những dạng láy: dạng láy toàn bộ, dạng láy bộ phận
Từ một tiếng và từ hai tiếng có dạng láy đặc biệt với vần “iếc” ở tiếng cuối của dạng láy Ví dụ: Cơm kiếc, xe xiếc, câu lạc bộ lạc biếc
Dạng láy đặc biệt có thể có vần “ang” hay vần “ung”
Ví dụ: đàn ông đàn ng, hoa tai hoa tung
* Nghĩa của dạng láy:
Dạng láy của dạng từ biểu thị loại nghĩa: Nghĩa về số lượng toàn bộ của
sự vật.Ví dụ: người người, ngành ngành, đâu đâu và nghĩa về sự liên tục thời gian.Ví dụ: Sáng sáng, chiều chiều, lớp lớp,
Dạng láy của động từ có thể biểu thị những loại nghĩa: Nghĩa về sự liên
tục của hoạt động.Ví dụ: Đ p đ p, g t g t, lắc lắc, đẽo đẽo, Có thể có cách dùng hai ngữ liền nhau, song song.Ví dụ: Qu y đi qu y lại, nói lên nói
xuống và nghĩa về cường độ hoạt động Ví dụ: lo lo, sờ sợ, yêu yêu
Dạng láy của tính từ biểu thị nghĩa về mức độ của tính chất: Nghĩa về
mức độ thấp của tính chất.Ví dụ: be bé, nho nhỏ, nằng nặng, và nghĩa về mức độ cao của tính chất Dạng láy hai tiếng kết hợp với trợ từ.Ví dụ: Mẩy
Trang 27mẩy mẩy là; ngoan th t là ngoan Dạng láy ba tiếng , bốn tiếng.Ví dụ: Đủng
đ đủng đỉnh; sạch sành sanh
Dạng láy đặc biệt có vần “iếc” hay “ ng”, “ung” của danh từ, động từ,
tính từ thường biểu thị t nh không xác định của sự vật, hoạt động của trạng
thái hay tính chất.Ví dụ: Sốt siếc, diễn văn diễn vung, Có khi nó nhấn mạnh
nghĩa phủ định hoặc có hàm ý khinh thường, mỉa mai hay đùa giỡn
Ví dụ: H c hiếc, hát hiếc
Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu khác công phu về dạng láy như chúng tôi đã trình bày ở tr n Nhưng phải thừa nhận một thực tế là sự phân biệt từ láy và dạng láy của từ chưa có tác giả nào đưa ra dẫn chứng chặt chẽ và khoa học để chứng minh một cách có thuyết phục về sự phân biệt đó Với những quan niệm về dạng láy trong sự phân biệt với từ láy, tuy các tác
giả có những lý giải ri ng nhưng những trường hợp láy đôi như: xanh xanh,
đo đỏ, đèm đẹp, và láy ba, láy tư như: khít khìn khịt, vội vội vàng vàng tại
sao lại là dạng láy của từ thì chưa ai giải th ch rõ được do những trường hợp trên giống từ láy hoàn toàn cả về hình thức cấu tạo lẫn ý nghĩa
Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình Từ chỉ tồn tại dưới một hình thức duy nhất, có nghĩa là không tồn tại một hình thức biến dạng Việc đưa ra
sự đối lập từ với dạng thức của từ e rằng không phù hợp và lại còn lạm dụng nhiều phạm trù chỉ có ở trong ngôn ngữ Ấn - Âu Hơn nữa nếu quả thực trong các hiện tượng láy, sự phân biệt từ láy và dạng láy có chấp nhận được đi nữa thì điều đó cũng không giúp ch gì th m cho sự miêu tả Tiếng Việt và lại còn
có thể che lấp đi những cái chung hơn, bản chất hơn của đối tượng và gây ra những rắc rối không đáng có Hơn nữa, đối với học sinh tiểu học thì sự phân biệt từ láy và dạng láy chưa thực sự cần thiết trong sự nhận thức của các em
1.2.4.Phân biệt từ láy và từ ghép
Để hiểu biết hơn về từ láy và không nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép, chúng ta cần phân biệt từ láy và từ ghép
Trang 28Từ láy là những từ được tạo ra từ phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết của một hình vị hay một âm vị
có nghĩa Còn từ ghép lag từ được tạo ra từ phương thức ghép, bao gồm hai
âm tiết (hoặc hai hình vị trở lên) Trong đó hai âm tiết (hai hình vị) đều có nghĩa, có mối quan hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa và mặt cú pháp
Cả từ láy và từ ghép đều có điểm giống nhau Trước hết, về hình thức,
chúng đều là những từ có hai âm tiết, có thể song tiết hoặc đa tiết như: h c
sinh, trường h c, hợp tác xã, bách hóa tổng hợp,…(từ ghép); khấp khểnh, sạch sành sanh, kẽo cà kẽo kẹt,…(từ láy) Còn về nghĩa thì láy khái quát còn
ghép tổng hợp từng bộ phận giống nhau như: Từ láy: tiệc tùng (tiệc nói chung), máy móc (máy nói chung); từ ghép: đồng áng (đồng nói chung), chợ
búa (chợ nói chung)… đây hai bộ phận của từ ghép và từ láy giống nhau
Ngoài sự giống nhau này thì giữa từ láy và từ ghép cũng có điểm khác biệt Về cơ chế cấu tạo thì từ láy tạo ra từ phương thức láy; từ ghép tạo ra từ phương thức ghép Từ láy bao gồm hai hình vị, trong đó chỉ có một hình vị có nghĩa và một hình vị không có nghĩa, trừ một trường hợp đặc biệt không xác định được nghĩa; còn trong từ ghép thì cả hai hình vị đều có nghĩa
Ví dụ: Từ láy “nhanh nhẹn” thì bản thân nó có ý nghĩa chỉ mức độ của
sự dời chỗ Nếu tách riêng ra thì chỉ có hình vị nhanh có ý nghĩa; Từ ghép “ăn
uống”, “quần áo”… thì cả hai hình vị đều có nghĩa khi tách ri ng ra
Về mặt ý nghĩa thì từ láy thường tạo ra sự đồng nghĩa; còn từ ghép
thường có ý nghĩa khái quát, phân loại Ví dụ: từ láy “nhanh nhẹn” so với hình vị gốc “nhanh” đồng nghĩa với nhau; từ ghép “tàu thuyền” (mang ý nghĩa kh a quát chung); “cá rô”, “cá diếc”…mang ý nghĩa phân loại
Từ ghép có số lượng nhiều hơn và thường được dùng trong ngôn ngữ khoa học vì nó đòi hỏi tính khái quát, chính xác cao Còn từ láy có tác dụng sắc thái hóa rất lớn, nó tạo hình ảnh và hình tượng bởi vậy được dùng nhiều trong ngôn ngữ văn chương, nhất là trong thơ ca
Trang 29Như vậy, ngoài sự giống nhau thì giữa từ láy và từ ghép cũng có những điểm khác biệt Chúng ta cần nhận biết sự khác biệt này để không nhầm lẫn giữa từ láy và từ ghép Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giảng dạy bởi đối tượng của chúng ta là học sinh tiểu học Chúng ta nắm được
từ láy và phân biệt được với từ ghép để từ đó cung cấp và mở rộng vốn từ cho các em
1.2.5 Giá trị của từ láy
Do đặc điểm ngữ nghĩa như chúng ta vừa phân t ch ở tr n cộng với t nh cân đối hài hòa trong cấu tạo âm thanh của từ láy cho n n nó được sử dụng phổ biến trong hoạt động lời nói hàng ngày của người Việt cũng như trong các loại hình văn học
Từ láy là sản ph m của văn hóa Việt Nam, cho n n ngay trong bộ phận văn học truyền miệng từ xưa tới nay từ láy đã xuất hiện rất nhiều, ti u biểu hơn
cả là trong thơ ca Bởi như chúng ta đã biết thơ là thể loại văn học giàu t nh nhạc điệu, giàu cảm xúc mà từ láy thì thường được v như những “nốt nhạc” về
âm thanh Vì vậy có thể xem từ láy là một công cụ quan trọng để tạo n n t nh nhạc, t nh họa trong bài thơ Nó làm cho những bài thơ càng th m mượt mà, cân đối và dễ đi vào lòng người Nhất là đối với các văn bản thơ trong tiểu học,
từ láy là yếu tố quan trọng giúp các em li n tưởng thực tế hơn, sâu sắc hơn thông qua đó các em sẽ tiếp nhận các bài học một cách chủ động hơn
1.2.5.1 iá trị gợi tả
Giá trị gợi tả của từ láy là khả năng làm cho người đọc, người nghe cảm thụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động màu sắc, âm thanh, hình ảnh của sự vật mà từ biểu thị Cái khả năng ấy không dễ dàng nắm bắt và giải thích bằng lời lẽ rành mạch nhưng hiển nhi n là “Người bản ngữ tỏ
ra nhạy cảm hơn so với người nước ngoài dùng tiếng Việt” [24, tr.24] Khả năng ấy không phải là kết quả của một sự cảm thụ chủ quan, có tính chất cá
Trang 30nhân, mà là một thực tế khách quan, có tính chất xã hội, bắt nguồn từ bản chất
từ láy Như đã biết, từ láy là một phương thức cấu tạo từ mà trong đó có sức hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa, tức là có một sự tương quan âm
- nghĩa nhất định Chính sự hòa phối hay mối tương quan âm - nghĩa này dưới nhiều hình thức khác nhau, đã làm cho từ láy có sức gợi tả lớn Những hình thái biểu hiện chủ yếu của giá trị gợi tả của từ láy là: giá trị tượng thanh, giá trị tượng hình và giá trị gợi ý
1.2.5 1 iá trị tượng th nh
Giá trị tượng thanh thể hiện đặc biệt rõ ở các phỏng thanh Trong các từ
này, mối tương quan âm - nghĩa có t nh chất tự nhiên, trực tiếp như leng keng,
huỳnh huỵch… Đó là những từ mô phỏng gần đúng âm thanh tự nhiên, bằng
những phương diện và quy tắc ngữ âm của tiếng Việt Sự mô phỏng này là dạng đơn giản nhất của sự biểu trưng ngữ âm vì sự biểu trưng này còn mang tính chất tự nhiên và trực tiếp Mối tương quan âm - nghĩa trong từ phỏng thanh là mối tương quan trực tiếp, âm đổi thì nghĩa đổi song không phải vì thế
mà giá trị gợi tả của nó giảm đi Trái lại, do từ láy phỏng thanh trong tiếng việt chịu sự chi phối của quy tắc điệp và nối, do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu, nên những từ này có khả năng mi u tả âm thanh tự nhiên một cách rất tinh tế trong sự đa dạng về đặc trưng của nó Hãy lấy những từ miêu tả tiếng trống làm ví dụ Không phải vô cớ mà người Việt lại có xu hướng chọn
dụng phụ âm đầu t/t, những cặp khuôn vần -ung, -om hoặc - i -, - ung; - i, -
om với thanh bằng,…để mô phỏng tiếng trống khác nhau:
thùng thùng thòm thòm/ tòm tom/ tom tom lùng tùng/ tùng tùng/ tung tung thì thòm/ thì thung
th nh th nh/ thùng th nh…
Trang 31Ta thấy rằng, mỗi từ láy mô phỏng thanh như thế đều gợi tả một loại
tiếng trống với âm sắc, âm vực và âm điệu riêng biệt Thật vậy, bung - b p
bung rõ là tiếng trống cơm; thùng thùng là tiếng trống cái, tiếng trống hội
mùa, tiếng trống ra quân: “thùng thùng trống đánh ngũ li n”…(ca dao); tom
tom… chỉ có thể là tiếng trống con và lùng tùng là tiếng trống trong hội ngày
xuân Cũng như vậy, tiếng chuông cũng được mô phỏng bằng nhiều từ khác
nhau ứng với những âm điệu riêng biệt của nó như: bi li (tiếng chuông nhà thờ), boong boong (tiếng chuông chùa), leng keng (tiếng chuông xích lô), kính
coong (chuông xe đạp), leng reng (tiếng chuông điện)…
Như vậy, giá trị tượng thanh của những từ đang xét thể hiện ở khả năng
mô phỏng, hay gợi ta một cách tinh và hài hòa âm thanh tự nhiên trong sự đa dạng về âm điệu, âm sắc của nó
1.2.5 1.2 iá trị tượng h nh
Giá trị tượng hình là hình thái biểu hiện cao và tinh tế của sự biểu trưng
hóa ngữ âm Ví dụ về các từ láy có giá trị tượng hình như: loằng ngoằn, lơ
thơ, lác đác,… mối tương quan âm - nghĩa ở những từ láy này tuy không rõ
nét nhưng có giá trị tượng hình Những từ này “không phải là bắt chước, là
mô phỏng những tiếng kêu, tiếng động do một sự vật phát ra để gọi tên sự vật
ấy, nhưng ở đây vẫn có sự tương quan giữa mặt âm của từ với sự vật mà từ đó chỉ ra, chính mối tương quan này tạo nên sắc thái biểu cảm hay gợi ý của từ” [23, tr.23] Mối tương quan âm - nghĩa của từ láy là có thực: khi được cách điệu hóa, nó biểu hiện dưới hình thái biểu trưng hóa ngữ âm, khiến cho từ láy
có khả năng gợi ý gợi hình Sự sắc thái hóa nghĩa của từ láy không chỉ là biểu hiện của giá trị tượng hình mà còn là sự biểu hiện của giá trị gợi ý
Gắn liền với những giá trị này, còn có giá trị biểu cảm và màu sắc phong cách của từ, tức nói đến mặt thực dụng trong cơ cấu nghĩa của từ
Trang 321.2.5 2 iá trị biểu cảm
Giá trị biểu cảm của từ là khả năng diễn đạt thái độ đánh giá, tình cảm của người nói đối với sự vật, hay thuộc tính do từ biểu thị và cũng là khả năng khơi dậy ở người nghe một thái độ đánh giá, một tình cảm tương ứng Thái độ đánh giá hay sự thể hiện tình cảm lúc đầu chỉ là hiện tượng cá nhân mang tính chất chủ quan nhưng dần chở thành hiện tượng xã hội, mang tính chất khách
quan Ví dụ: chói chang: “là một cảm giác khó chịu tác động vào bản thân mình như trời mưa năng gắt”; khỏe khoắn: “là dễ chịu, làm cho con người phấn khởi, thoải mái”; tròn trặn: là “tròn, gây cảm giác êm dịu khi nhìn, như
trăng rằm, mặt trời buổi sáng sớm” hoặc là “rất tròn, không gây ấn tượng xấu”…
Từ láy trong tiếng Việt có những phương tiện ri ng để biểu cảm, ví dụ:
các từ láy có khuôn vần - ăn thường biểu thị nghĩa tốt như: xinh xắn, khỏe
khoắn, chín chắn…; các từ láy có khuôn vần -ơm thường biểu thị nghĩa xấu
như: người ngợm, hay hớm, lì lợm… hay các từ láy có khuôn vần - iếc có sức sản sinh rất lớn trong việc tạo từ, bao giờ - iếc cũng đem vào nghĩa của từ nét đánh giá phủ định như: h c hiếc, đi điếc, tay tiếc…
Ví dụ về từ láy được dùng trong phong cách chính luận cũng như trong
phong cách khoa học là: bàn bạc, thu th p, song song, dần dần, nền nếp, sâu
Trang 33sắc, rõ ràng, đúng đắn… Đó thường là những từ trung tính về giá trị biểu
cảm, được dùng chung cho nhiều phong cách Khi được dùng trong phong cách khoa học cũng như trong phong cách ch nh luận, từ láy góp phần làm cho lập luận chặt chẽ, ý tưởng được diễn đạt chính xác
Ví dụ: “…nếu muốn có một định nghĩa thật sự khoa học, thì rõ ràng là cần phải có sự điều chỉnh lại” [4, tr.14]…
Như vậy, từ láy có giá trị gợi tả, giá trị tượng thanh, tượng hình, giá trị biểu cảm và giá trị phong cách Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu giá trị gợi tả, giá trị tượng thanh, giá trị tượng hình và giá trị biểu cảm của từ láy trong sử dụng; còn giá trị phong cách chúng tôi không đi sâu tìm hiểu, bởi những từ láy trong các văn bản thơ lớp 2 - 5 tất nhiên sẽ thuộc phong cách văn chương
1.3 Đặc iểm của học sinh Tiểu học
1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lí
Đi học ở trường Tiểu học là bước ngoặt trong đời sống của trẻ Những mối quan hệ mới với thầy cô giáo, với bạn bè cùng tuổi được hình thành Điều
đó tác động đặc biệt đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh Một vấn đề nổi bật nhất trong nhân cách của học sinh Tiểu học là đời sống tình cảm của các em Trẻ đang ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, giàu cảm xúc, dễ
bị xúc động trước các hiện tượng xung quanh Các em dễ vui, dễ buồn, dễ rung cảm… Sự nảy sinh tình cảm ở học sinh gắn liền với những tình huống cụ thể với những hoạt động của trẻ Trạng thái tình cảm được bộc lộ khá rõ ràng qua ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, hành vi của các em Tình cảm trí tuệ đang hình thành và phát triển, các em dần biết chăm lo cho kết quả học tập, biết thể hiện
sự hài lòng hay không hài lòng với kết quả của mình lứa tuổi này trẻ rất ham hiểu biết, th ch khám phá để tìm cái mới lạ trong thế giới tự nhiên và xã hội gần gũi xung quanh Tình cảm đạo đức và tình cảm th m mĩ cũng được
Trang 34thể hiện khá rõ nét thông qua tình cảm bạn bè, tình cảm thầy trò, tình cảm tập thể, tình cảm ham th ch cái đẹp Việc tổ chức tốt đời sống và hoạt động tập thể cho học sinh tiểu học là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho các em Ý chí của các em cũng đang hình thành và phát triển Tuy nhiên những ph m chất ý chí của các em như t nh kiềm chế, độc lập, tự chủ, tính kiên trì còn yếu Các em chưa đủ khả năng theo đuổi lâu dài mục
đ ch đã đề ra, chưa ki n trì khắc phục khó khăn và trở ngại Khi gặp thất bại cho các em có thể mất lòng tin vào sức lực và khả năng của mình Tính cách của học sinh mới chỉ được hình thành Điểm nổi bật nhất trong tính cách của các em là t nh xung đột - khuynh hướng hành động ngay tức khắc do ảnh hưởng của các kích thích trực tiếp trong tính cách của các em có nhiều mâu thuẫn và chưa bền vững Tóm lại, ở lứa tuổi này dưới ảnh hưởng chủ đạo của việc giảng dạy, việc giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội và tổ chức đoàn
- đội, sự phát triển tâm lí, nhân cách của các em đang diễn ra mạnh mẽ
1.3.2 Phát triển tri giác
Cuối tuổi mẫu giáo và đầu tuổi tiểu học, trẻ em đã hình thành và phát triển một dạng tri giác mới có chất lượng cao hơn tri giác thông thường là: Quan sát Quan sát phát triển mạnh mẽ trong suốt quá trình học phổ thông, Thông qua các giờ học, lúc đầu giáo viên chỉ ra cho học sinh các biện pháp tri giác; sau đó, học sinh tự tổ chức, tự tổ chức, tự vạch ra nội dung, kế hoạch, phương tiện tri giác và thực hiện tri giác một cách có kết quả
1.3.3 Phát triển chú ý
Trước tuổi đến trường, chú ý có chủ định của trẻ còn hạn chế Trẻ chủ yếu chú ý đến các thuộc tính nổi bật, rực rỡ và khác thường Vào tuổi học sinh, trẻ buộc phải theo dõi các đối tượng, phải nắm lấy những hiểu biết mà tại thời điểm đó trẻ hoàn toàn không thích thú Dần dần, trẻ học cách điều khiển và duy trì chú ý một cách bền vững đến những đối tượng cần thiết chứ
Trang 35không phải là những đối tượng có sự hấp dẫn bề ngoài Phương hướng chung của sự phát triển chú ý ở trẻ là từ chỗ đạt mục đ ch do giáo vi n đặt ra, chuyển sang việc giải quyết các nhiệm vụ do chính trẻ tự đặt ra và tự kiểm soát
1.3.4 Phát triển trí nhớ
Thời gian đầu tiểu học, học sinh ghi nhớ và khôi phục nguy n văn các sự kiện của tài liệu Phương thức phổ biến nhất là nhắc lại nhiều lần tài liệu Đến giữa lớp 1 và sang lớp 2, đa số học sinh đã biết ghi nhớ dựa tr n cơ sở hiểu nghĩa (ghi nhớ ý nghĩa); biết phân chia tài liệu nhớ thành từng ý (lập dàn ý) Phương thức hiệu quả này của việc ghi và tái hiện tài liệu của học sinh không phải do ngẫu nhiên, mà do trẻ học được ở trường dưới sự hướng dẫn của giáo viên Cùng với việc hình thành các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa và tự kiểm tra, trí nhớ chủ định của trẻ (phổ biến từ học sinh lớp 2 -3) phát triển và mang lại hiệu quả hơn tr nhớ không chủ định Nói cách khác, ở nhi đồng đã mang lại hiệu quả hơn tr nhớ không chủ định Nói cách khác, ở nhi đồng đã diễn ra sự biến đổi căn bản về mặt tâm lí trong bản thân các quá trình trí nhớ từ lớp 1 đến lớp 4 - 5
1.3.5 Phát triển tưởng tượng
Khả năng tưởng tượng của nhi đồng đã có sự chuyển biến cơ bản và được phát triển theo hai hướng: Thứ nhất, phát triển khả năng tưởng tượng tái tạo từ đầu cấp đến cuối cấp tiểu học giai đoạn đầu (lớp 1), trẻ tái tạo gần đúng đối tượng thực nhưng các chi tiết, các sự kiện còn nghèo nàn (trẻ hay bỏ sót nhiều chi tiết), các hình ảnh được cấu trúc thường ở dạng tĩnh Trẻ chỉ hình dung các trạng thái đầu và cuối của đối tượng đang vận động Sang giai đoạn sau (từ lớp 2 và 3), số lượng các chi tiết, các sự kiện được tái tạo đã tăng
l n đáng kể Trẻ hình dung được khá đầy đủ các trạng thái trung gian trong cả quá trình vận động của đối tượng, dù chúng được bộc lộ trực tiếp hay ngầm
n Trong học tập, trẻ đã có thể làm cả một bài văn khá dài theo chủ đề do
Trang 36giáo viên yêu cầu Thứ hai, tính chủ định trong tưởng tượng của trẻ đã biết tái tạo cho mình các hình ảnh tùy theo tính chất bài dạy của giáo viên và của tài liệu từng môn học Đồng thời các em đã biết huy động tr tưởng tượng tái tạo
và việc sáng tạo ra các ý tưởng, hình ảnh - tức là dựa vào tưởng tượng tái tạo
để phát triển tưởng tượng sáng tạo
1.3.6 Phát triển tư duy
Tư duy của nhi đồng thường mang t nh đột biến, nhảy vọt: Chuyển từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác Trong giai đoạn mẫu giáo và đầu tiểu học, tư duy của trẻ chủ yếu diễn ra trong trường hành động: Hành động thực
tr n đồ vật và hành động tri giác, hành động kí hiệu hóa - đó là tư duy tiền thao tác Thực chất của loại tư duy này là trẻ em tiến hành các hành động để phân t ch, so sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất, trẻ chưa có các thao tác tư duy - với tư cách là các thao tác tr óc b n trong iai đoạn tiếp theo (thường có ở đa số học sinh lớp 3 -4), trẻ đã chuyển được các hành động phân t ch, so sánh, khái quát…từ bên ngoài thành các thao tác trí óc bên trong, mặc dù quá trình tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vào các hành động với đối tượng thực, thực thoát li khỏi chúng Đó là các thao tác
cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này trong tư duy của nhi đồng là các em đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sự vật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng
Sự phát triển tư duy của trẻ lứa tuổi nhi đồng đặt ra hai vấn đề trong dạy học: Thứ nhất, ở mức độ thao tác cụ thể, quá trình tư duy của trẻ diễn ra trên
cơ sở các hành động trực quan (hành động thực đối tượng hoặc quan sát đối tượng) Vì vậy, để tạo thuận lợi cho trẻ tư duy, cần tổ chức cho các em làm việc trực tiếp với đối tượng nhận thức, qua đó quan sát đầy đủ đối tượng theo nhiều mức độ, nhiều trạng thái biến đổi của nó Đây ch nh là cơ sở tâm lí học của dạy học trực quan
Trang 37Thứ hai, có khoảng cách khá lớn giữa mức độ tiền thao tác với mức độ thao tác cụ thể trong quá trình phát triển tư duy của trẻ Các em thường gặp khó khăn, hẫng hụt trong quá trình chuyển từ mức độ tư duy tiền thao tác lên
tư duy thao tác cụ thể Tức là khó khăn trong quá trình chuyển hành động tư duy ở b n ngoài thành thao tác b n trong Để khắc phục khó khăn này, học sinh phải sử dụng hành động mô hình hóa ô hình hóa là bước đệm, là giai đoạn chuyển tiếp từ hành động bên ngoài thành thao tác bên trong Trong thực tiễn, dạy cho học sinh biết cách sử dụng phương pháp mô hình hóa, biết cách xây dựng các mô hình và phát triển mô hình là biện pháp tốt nhất để trợ giúp học sinh lấp được khoảng trống trong quá trình chuyển từ tư duy tiền thao tác lên mức thao tác
Trang 38âm có giá trị biểu trưng hoá
Chúng tôi cũng tiến hành thống kê một số vấn đ li n quan tới từ láy như các quan niệm về từ láy của nhiều tác giả, cũng như phân loại về từ láy qua đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về khái niệm của từ láy một cách bao quát hơn, đa chiều hơn
Qua việc nghiên cứu đặc điểm của học sinh tiểu học như đặc điểm về tâm lý, về nhận thức, tri giác, chú ý, trí nhớ,tưởng tượng, tư duy chúng tôi nhận thấy, đa số giáo vi n đều nắm được quá trình nhận thức của học sinh qua
đó có cách dạy đúng đắn phù hợp với giai đoạn phát triển của học sinh
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC XÁC ĐỊNH TỪ LÁY VÀ GIÁ TRỊ CỦA TỪ LÁY QUA CÁC VĂN BẢN THƠ TRONG SÁCH GIÁO
KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 2.1 Vai trò của vi c xác ịnh từ láy và giá trị của từ láy trong môn Ti ng
Vi t ở tiểu học
Từ láy là một trong ba loại từ được phân loại theo đặc điểm cấu tạo Trong vốn ngôn ngữ người Việt, từ láy có số lượng khá lớn với số lượng tiêu biểu nhất là các từ láy đôi thuộc về nhiều tiểu loại khác nhau Thấy được số lượng cũng như vai trò to lớn của từ láy, các nhà khoa học trong quá trình Tiếng Việt đã đưa nội dung này vào chương trình S K bậc tiểu học Việc phát triển vốn từ cho học sinh tiểu học không phải chỉ được thực hiện trong phân môn Luyện từ và câu mà còn được tích hợp ở tất cả các phân môn khác Việc xác định được các từ láy chỉ là bước đầu tiên trong quá trình chiếm lĩnh ngôn ngữ, bước quan trọng thứ hai chính là việc học sinh biết cách phân tích giá trị của từ láy Học sinh nhận thức cũng như biết cách phân tích giá trị của từ láy là một phương tiện quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ của chủ thể có được là kết quả của nhiều đường k nh và phương tiện khác nhau.Trong vốn từ của học sinh phải là sự xuất hiện của đầy đủ các từ thuộc các loại khác nhau Khi người học biết cách xác định từ láy và giá trị của từ láy thì bản thân chủ thể sẽ nhận thức được vai trò quan trọng của các từ láy đối với việc chiếm lĩnh nội dung của các văn bản văn chương Thông qua đó, năng lực ngôn ngữ của học sinh sẽ được tăng cường cả về chất và lượng Học sinh có vốn từ phong phú cả về chiều rộng và chiều sâu là căn cứ quan trọng để học sinh củng cố các kĩ năng ngôn ngữ của mình Mặt khác, từ láy cũng tham gia quan trọng vào quá trình
tư duy của người học Câu là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ được dùng để tạo
n n các đơn vị lớn hơn và cũng là đơn vị quan trọng của hoạt động giao tiếp
Trang 40bằng ngôn ngữ Và để tạo nên câu cần phải có các từ, vì vậy từ láy cũng chính là một trong các chất liệu để tạo thành câu
Tóm lại, việc nhận thức từ láy cũng như việc biết cách phân tích giá trị của từ láy là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển ngôn ngữ nói chung
và việc khám phá các tác ph m văn học nói riêng Có thể xem đây là một việc
cơ bản và quan trọng đối với việc hình thành các năng lực ngôn ngữ và khả năng tư duy cho học sinh
2.2 Từ láy và giá trị của từ láy trong sách giáo khoa Ti ng Vi t tiểu học
2.2.1 Từ láy
Như đã trình bày, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của từ láy trong đời sống cũng như trong văn học Nhưng trong toàn bộ chương trình Tiểu học, học sinh chỉ được học về từ láy lớp 4, còn ở các khối khác thì từ láy và giá trị từ láy được dạy ở dạng một số dấu hiệu nhận biết mà chưa cung cấp gì
về khái niệm Trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4, từ láy được dạy trong 2
tiết Luyện từ và câu (tập một) với các dạng bài tập sau:
- Bài tập cấu tạo: yêu cầu quan sát ví dụ, trả lời câu hỏi để từ đó hình thành khái niệm về cấu tạo từ láy (phần Nhận xét, TV 4, T1, tr.38)
- Bài tập nhận diện và tái hiện:
* Bài 1 (TV4, T1, tr.39): Hãy xếp những từ phức được in nghiêng trong các câu dưới đây thành hai loại: từ ghép và từ láy Biết rằng những tiếng in đậm là tiếng có nghĩa:
a) Nhân dân ghi nhớ công ơn Chử Đổng Tử, lập đền thờ ở nhiều nơi b n
sông Hồng Cũng từ đó hằng năm, suốt mấy tháng mùa xuân, cả một
vùng bờ bãi sông Hồng lại nô nức làm lễ, mở hội để tưởng nhớ ông
(Theo Hoàng Lê)
b) Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc Tre trông thanh cao, giản dị, ch kh như người
(Thép Mới)