1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh

135 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI ------ BÙI THỊ THU THẮNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM N

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

BÙI THỊ THU THẮNG

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN

GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -

BÙI THỊ THU THẮNG

XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN

GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ LỆ THU

Trang 3

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Quảng Ninh, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Bùi Thị Thu Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Giới hạn khách thể và đối tượng nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 7

1.1 Khái quát một số công trình nghiên cứu liên quan 7

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 10

1 Giáo dục giá trị sống v n ng sống d a v o cộng đồng 13

1.2.1 Khái niệm giá trị sống và k năng sống 13

1.2.2 Chương trình giáo dục GTS-KNS dựa vào cộng đồng 15

1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tập huấn d a v o cộng đồng 19

1.3.1 Khái niệm 19

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản tập huấn dựa vào cộng đồng 22

1.3.3 Hình thức, cách tổ chức và phương pháp tập huấn dựa vào cộng đồng 24

1.4 Chương trình tập huấn GTS-KNS d a v o cộng đồng d nh cho giáo viên Mầm Non 25

1.4.1 Khái niệm 25

1.4.2 Cơ sở ây dựng chương trình giáo dục GTS- KNS dựa vào công đồng 26

Trang 5

1.4.3 Cấu trúc chương trình tập huấn GTS-KNS dựa vào cộng

đồng dành cho giáo viên mầm non 35

1.5 Nh ng nh n tố ảnh hưởng tới vi c d ng chương trình giáo dục GTS-KNS cho giáo viên Mầm non 46

1.5.1 Chính sách, nhu cầu ã hội 47

1.5.2 Nguồn nhân lực và tài chính 48

1.5.3 Trình độ giáo viên, cán bộ quản lý 51

1.5.4 Nhu cầu, quan điểm thái độ của giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh 53

Tiểu ết chương 1 58

Chương 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU VÀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ MÓNG CÁI –TỈNH QUẢNG NINH 59

1 Tổ chức v phương pháp nghiên cứu 59

2.1.1 Vài nét về địa bàn Móng Cái 59

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 62

2.1.3 Tổ chức nghiên cứu 64

2.1.4 Các phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 65

Th c trạng nhu cầu về chương trình tập huấn GTS-KNS dành cho giáo viên Mầm non tại th nh phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh 66

2.2.1 Thực trạng nhận thức về vai trò, sự cần thiết của nhu cầu tập huấn GTS-KNS dành cho giáo viên mầm non 66

2.2.2 Thực trạng nhận thức về GTS- KNS và chương trình tập huấn dựa vào cộng đồng 69

2.2.3 Thực trạng hình thức, nội dung và những khó khăn trong giáo dục GTS- KNS cho trẻ mầm non 73

2.2.4 Thực trạng chương trình tập huấn GTS-KNS dành cho giáo viên Mầm non tại thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh 78

Trang 6

2.2.5 Thực trạng nhân tố tác động chương trình tập huấn

GTS-KNS dành cho giáo viên mầm non tại thành phố Móng Cái – tỉnh

Quảng Ninh 87

Tiểu ết chương 89

Chương 3: XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN GIÁ TRỊ SỐNG – KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ MÓNG CÁI – TỈNH QUẢNG NINH 91

3.1 Các ngu ên tắc đề uất hung chương trình tập huấn giá trị sống - ỹ n ng sống d a v o cộng đồng d nh cho giáo viên mầm non th nh phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh 91

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 91

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 92

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính cộng đồng 93

3.1.4 Nguyên tắc phù hợp với từng địa phương 95

3 Đề uất hung chương trình tập huấn giá trị sống - ỹ n ng sống d a v o cộng đồng d nh cho giáo viên mầm non tại th nh phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh 95

3.2.1 Mục tiêu chương trình 96

3.2.2 Cấu trúc 97

3.2.3 Phương pháp sử dụng trong quá trình tổ chức tập huấn GD GTS-KNS dựa vào cộng đồng 102

3.2.4 Chủ thể được tập huấn và tham gia thực hiện 106

3.2.5 Kế hoạch thực hiện 107

Tiểu ết chương 3 110

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC

Trang 7

TĐQT Tương đối quan trọng

THCS, THPT Trung học cơ sở; Trung học phổ thông

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khách thể nghiên cứu 62Bảng 2.2 Qúa trình nghiên cứu 64Bảng 2.3 Nhận thức sự cần thiết của chương trình tập huấn GTS-KNS

dành cho GVMN 66Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về khái niệm GTS-KNS của CBQL, GV

tại thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh 70Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức về chương trình giáo dục GTS – KNS

của CBQL, GVMN tại thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh 71Bảng 2.6 Thực trạng khó khăn của PHHS về giáo dục KNS cho trẻ

mầm non 74Bảng 2.7 Thực trạng khó khăn của PHHS về giáo dục Giá trị sống cho

trẻ mầm non 75Bảng 2.8 Khảo sát về thực trạng hình thức GD GTS-KNS phù hợp với

trẻ mầm non 76Bảng 2.9 Thực trạng PHHS lựa chọn nội dung giáo dục GTS-KNS

phù hợp với trẻ mầm non 77

Bảng 2.10 Thực trạng số lượng CBQL, GV đã được học những môn

liên quan tới GTS-KNS 79Bảng 2.11 Số lượng CBQL, GV được tham gia các lớp tập huấn có nội

dung về GD GTS – KNS 80Bảng 2.12 Mức độ mong muốn được tập huấn các nội dung trong lĩnh

vực GTS-KNS 81Bảng 2.13 Mức độ sắp ếp tính quan trọng của các chủ đề trong khóa

tập huấn 83

Bảng 2.14 Những yếu tố ảnh hưởng tới ây dựng và thực hiện chương

trình tập huấn dành cho GVMN tại thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh 88Bảng 3.1 Bảng kế hoạch thực hiện khóa tập huấn GD GTS - KNS

dành cho CBQL 108Bảng 3.2 Bảng kế hoạch thực hiện khóa tập huấn GD GTS - KNS

dành cho GV và PHHS 108Bảng 3.3 Bảng kế hoạch thực hiện khóa tập huấn GD GTS - KNS

dành cho CBQL, GV và PHHS 109

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng 46

Sơ đồ 3.1 Các lực lượng cộng đồng cùng tham gia tập huấn 106

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế xã hội có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự phát triển mạnh như vũ bão của khoa học và công nghệ, con người đang trải qua nhiều biến động tích cực lẫn tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường và sự bùng nổ thông tin, với nhiều thông tin thiếu lành mạnh đang tác động mạnh đến đời sống làm cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống

Có nhiều nguyên nhân khách quan như mặt trái của kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế, nhưng theo các chuyên gia giáo dục, nguyên nhân sâu

xa là do thiếu giá trị sống, k năng sống

Ai cũng hiểu giá trị sống, k năng sống là những k năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp con người tồn tại, phát triển và thích nghi trong cuộc sống Nói một cách khác đơn giản hơn, k năng sống là tất cả điều cần thiết chúng

ta phải biết để có thể thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống, nhất là trong cuộc sống hiện đại đầy biến động Giá trị sống là tất

cả những gì có ích lợi, đáng ham chuộng, qúy giá, quan trọng, có ý nghĩa đối với cuộc sống; khiến mỗi người mong muốn lĩnh hội và thể hiện ra để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn, đồng thời góp phần cải thiện đời sống chung Giáo dục giá trị sống (GTS) và k năng sống (KNS) là một trong những chủ

đề rất được cộng đồng quan tâm hiện nay Đặc biệt giáo dục KNS đã trở thành một trào lưu rộng, lan tỏa cả nước

Trong hệ thống giáo dục của Việt Nam, bên cạnh môn học “Đạo đức” thuộc quy định bắt buộc của chương trình giáo dục quốc gia; từ năm 2005 bắt đầu xuất hiện môn học/hoạt động giáo dục giá trị sống (GTS) hoặc k năng sống (KNS)- hoạt động này được lồng ghép vào giờ sinh hoạt hoặc thời gian

Trang 11

tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp Đến năm 2008 nhiều cơ sở giáo dục chính quy và không chính quy đã quyết định đưa hoạt động này vào chương trình giáo dục của cơ sở mình Hình thức thực hiện là lồng ghép hoặc dành hẳn giờ sinh hoạt hoặc giờ hoạt động ngoài giờ lên lớp để đưa lịch giáo dục GTS hoặc KNS vào chương trình chung của toàn trường Các chương trình

chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực giáo dục riêng biệt: (1) Là các chương trình giáo dục GTS, trong đó có ít nhiều nói tới rèn một số k năng ã hội; (2) là

các chương trình tập trung vào giáo dục và rèn luyện chuyên sâu về KNS

Các giáo trình, sách tham khảo, tài liệu tham khảo và sách truyện về giáo dục giá trị sống và k năng sống (GTS&KNS) được xuất bản rất nhiều Các trung tâm giáo dục và tư vấn về GTS&KNS cũng đồng thời được thành lập với nhiều chương trình và mục đích khác nhau Tính khoa học, tính thực tiễn và sự phù hợp của mỗi ấn phẩm, mỗi chương trình là như thế nào; kết quả thực chứng của chúng trên các đối tượng cụ thể ra sao hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu, chưa được kiểm định và công bố chính thức

Nghiên cứu về giá trị sống, k năng sống được đề cập đến từ rất sớm trong lịch sử tâm lý học Ngày nay sự phát triển của lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về lĩnh vực này trên thế giới khá mạnh mẽ Các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển lý thuyết và giải quyết những vấn đề của thực tiễn cuộc sống, xã hội và phát triển con người

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây uất phát từ nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, của sự phát triển xã hội, của mục tiêu phát triển con người, các công trình nghiên cứu đã bắt đầu đề cập đến vấn đề này trên các phương diện khác nhau, ở các nhóm xã hội khác nhau Kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 05.07 đã khẳng định: Phần lớn con người Việt Nam hiện nay đều có giá trị nhân cách tích cực, các giá trị nhân cách cơ bản, thái

độ chính trị đến giá trị nhân sinh quan cần thiết của một con người sống trong

Trang 12

thế giới hiện đại Tuy nhiên, đáng chú ý là vẫn còn một số không ít tỏ ra thiếu tích cực xã hội, thiếu khả năng thích ứng và cạnh tranh, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa chưa rõ ràng… Nói cách khác, hiện trạng và xu thế phát triển nhân cách của thế hệ trẻ ngày nay mang một tiềm năng tâm lực rất phong phú sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, nhưng vẫn còn một

số điểm cần khắc phục, cần giải phóng tiềm năng, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng người, từng cộng đồng và cả xã hội Việc nghiên cứu đang tiến tới sự hoàn thiện hơn về mặt lý luận, phương pháp, cũng như việc nhận diện về đặc trưng về giá trị sống của con người Việt Nam hiện nay, của các nhóm xã hội khác nhau

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung giáo dục GTS và rèn luyện KNS vào chỉ thị về nhiệm vụ năm học Tuy nhiên, chương trình giáo dục giá trị sống và rèn luyện k năng sống phần lớn vẫn phụ thuộc vào việc tích hợp với giảng dạy các bộ môn, chưa có chương trình riêng về giáo dục giá trị sống và k năng sống (GTS-KNS); các giáo viên cũng chưa được đào tạo bài bản về dạy GTS-KNS

Trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, xã hội, Giáo dục

và Đào tạo đã có bước tiến đáng kể, đặc biệt là cấp học Mầm non Điều đó được thể hiện qua quy mô trường lớp và đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên Mầm non Từ năm 2012 đến nay, đội ngũ giáo viên Mầm non có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên đa số phần lớn là giáo viên trẻ mới ra trường, k năng giao tiếp với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp còn nhiều hạn chế, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Trong đó, hiện nay trên địa bàn thành phố Móng Cái chưa có một chương trình tập huấn về giáo dục GTS - KNS dành cho giáo viên mầm non để trên cơ sở đó giáo viên có thể triển khai dạy GTS-KNS cho học sinh tại cơ sở giáo dục Mầm non nơi mình công tác

Trang 13

Để góp phần nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ,

tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống

- kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh”

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát nhu cầu được tập huấn giá trị sống, k năng sống của giáo viên mầm non và nhu cầu dạy GTS- KNS cho trẻ mầm non của phụ huynh, của giáo viên ở thành phố Móng Cái Trên cơ sở đó đề xuất khung chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh

3 Khách thể v đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo GTS- KNS dành cho

giáo viên mầm non

- 15 cán bộ quản lý: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non

4 Giả thuyết khoa học

4.1 Trong chương trình giáo dục dành cho giáo viên đã có một số nội dung cơ bản về giáo dục những GTS- KNS

4.2 Đa số cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh trong mẫu khảo sát

có nhu cầu được tập huấn GTS- KNS phù hợp với nhu cầu công tác (về giáo dục trẻ mầm non) và phát triển bản thân của giáo viên Mầm non

Trang 14

4.3 Dựa trên cơ sở khảo sát thực tiễn có thể đề xuất được khung chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh

5 Nhi m vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đào tạo và xây dựng khung chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non

5.2 Khảo sát, đánh giá nhu cầu và thực trạng và các chương trình đào tạo và chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

5.3 Xây dựng và đề xuất một khung chương trình tập huấn giá trị sống

- k năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

6 Giới hạn khách thể v đối tượng nghiên cứu

6.1 Nội dung phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu xây dựng khung

chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên

Mầm non thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

6.2 Địa bàn nghiên cứu

Đề tài chỉ khảo sát nghiên cứu khung xây dựng chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

7 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này dựa vào hướng tiếp cận: Giáo dục và phát triển cộng đồng và giáo dục GTS- KNS

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Áp dụng các lý luận về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý chương trình tập huấn giáo dục GTS- KNS sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non

Trang 15

- Hệ thống hóa những nội dung và những luận điểm cơ bản của chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

7.2 Phương pháp điều tra

Điều tra bằng phiếu hỏi để thu thập thông tin về nhu cầu và chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

7.3 Phương pháp phỏng vấn

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia, giáo viên, phụ huynh

và cán bộ quản lý để tìm hiểu thực trạng và nhu cầu tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp cá nhân, nhóm về chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non

7.4 Phương pháp thống kê toán học

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra, phương pháp kiểm định giả thuyết

- Sử dụng bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ

8 Cấu trúc luận v n

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận xây dựng và chương trình tập huấn giá trị

sống – k năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non

Chương 2: Thực trạng nhu cầu và chương trình tập huấn giá trị sống –

k năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non tại thành phố Móng Cái – Tỉnh Quảng Ninh

Chương 3: Xây dựng khung chương trình tập huấn giá trị sống – k

năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non tại thành phố Móng Cái – Tỉnh Quảng Ninh

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN GIÁ TRỊ SỐNG - KỸ NĂNG SỐNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

DÀNH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1 Khái quát một số công trình nghiên cứu liên quan

1.1.1 Nh ng nghiên cứu nư c ngo i

Nhận thức được vai trò của giáo dục giá trị sống – k năng sống KNS) đưa giá trị cốt lõi đến học sinh từng cấp, nhiều nước trên thế giới đã có yêu cầu đưa chương trình giáo dục GTS-KNS vào chương trình học cho các học sinh tại các bậc học khác nhau như: Ở M từ năm 1996 tại Hội nghị Liên Bang Tổng thống yêu cầu các trường học phải dạy những giá trị cốt lõi ý thức công dân mẫu mực Tại Anh, giáo dục xung quanh 7 phẩm hạnh (giá trị cốt lõi); ở Thái Lan giáo dục trong các trường học phải đảm bảo giáo dục 6 nội dung phẩm hạnh Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Liên Hiệp Quốc một dự án quốc tế có tên gọi là LVEP ra đời, đây là một chương trình giáo

(GTS-dục có tính chất toàn cầu, mang tính quốc tế cao, dự án nhằm “Chia sẻ các

giá trị vì một thế giới tốt đẹp hơn” Dự án này thu hút được 20 nhà giáo dục

tiêu biểu ở các nước trên thế giới tập trung ở New York tập trung nghiên cứu dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp quốc và đã ban hành được hai tập tài liệu

“Hướng dẫn các GTS” và “Công ước về quyền trẻ em” Từ tháng 02 năm 1997,

Chương trình được chính thức đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước trên thế giới

và hiệp hội những người giáo dục các giá trị sống quốc tế ra đời Hiện nay chương trình này đã được 80.000 các tổ chức của 80 quốc gia thực hiện [15, 8]

KNS đã uất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ, năm 1996 UNICEF đã tổ chức hội thảo thu hút

Trang 17

được sự tham gia của nhiều nhà Giáo dục học, Tâm lý học, 1998 tại M đã tiến hành tổ chức một số hoạt động giáo dục giá trị sống ở một số tiểu Bang

và đã thu được những kết quả có giá trị Năm 2000 M đã lập ra một chương trình và một tổ chức phi lợi nhuận về vấn đề giáo dục giá trị sống Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất một quan niệm chung về kĩ năng sống cũng như đưa ra được một bản danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có

Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước Đông Nam , các nghiên cứu về giáo dục dựa trên GTS-KNS xuất hiện chủ yếu vào 5 năm cuối của thế

kỉ XX, là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kĩ năng, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau: Nghiên cứu ác định mục tiêu của giáo dục KNS hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội thảo về giáo dục kĩ năng sống cho thanh niên đã ác định mục tiêu giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy của các nước Ở Châu Á - Thái Bình Dương

có mạng lưới về giáo dục GTS và coi đây là một vấn đề giáo dục nhằm phát triển bền vững, nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống thường ngày đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống; nghiên cứu ác định chương trình và hình thức giáo dục k năng sống

Ở Indonesia, năm 1997, giáo dục GTS-KNS được đưa ra qua chương trình giáo dục KNS cho cuộc sống khoẻ mạnh, thực hiện trong cấp tiểu học Từ năm 2001, chính phủ Indonesia đã nỗ lực đưa GTS-KNS vào trong chương trình giảng dạy của giáo dục cơ bản Ở Campuchia, năm 2001 chương trình giáo dục GTS-KNS được phát triển bởi một nhóm liên ngành của Bộ Giáo dục, thanh niên và thể thao (MoEYS) Chương trình này là một phần của kế

hoạch quốc gia “Giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở cả chính khoá và

Trang 18

ngoại khoá trong cả hai cấp học: Tiểu học và trung học Ở Philippin, KNS bắt đầu được tích hợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản

GTS-từ năm 2001 Bên cạnh các chương trình tiếp cận GTS-KNS trong giáo dục, Philippin còn triển khai giáo dục GTS-KNS trong quân sự, nhằm lồng ghép đưa 11 KNS cốt lõi (tư duy phản biện, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định, tự nhận thức, đối phó với cảm úc, đối phó với căng thẳng, đồng cảm, giao tiếp hiệu quả, kĩ năng quan hệ tích cực, kĩ năng sản xuất kinh doanh) vào chương trình giảng

Đi cùng với nghiên cứu về GD KNS là những nghiên cứu về giá trị sống đây là vấn đề có tính chất nền tảng mà nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm bởi giáo dục KNS mà không được đặt trên nền giá trị sống đúng đắn thì những k năng đó chỉ là những hành vi hời hợt bên ngoài không có mục đích

và động cơ đúng đắn đôi khi lại có hại cho cuộc đời của con người Dựa trên các cách tiếp cận khác nhau qua từng lĩnh vực cụ thể, đến nay, trên thế giới đã

có rất nhiều công trình, dự án nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS Đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng rất phong phú, đa dạng cả trong lĩnh vực chính quy và không chính quy, trong đó số lượng các công trình nghiên cứu về GD KNS cho trẻ em và vị thành niên chiếm ưu thế hơn Nhìn chung, trong các nghiên cứu này đã được chỉ ra khá rõ về vai trò, khái niệm, cách phân loại, các nguyên tắc, lí thuyết nền tảng làm cơ sở cho việc tiếp cận giáo dục GTS-KNS, được áp dụng mạnh mẽ vào trong giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy và đã đạt được nhiều kết quả tốt

GTS-Giáo dục GTS-KNS cho trẻ mầm non trên thế giới được được các tổ chức giáo dục, các trường học đặc biệt quan tâm và coi trọng Giáo dục GTS-KNS được đưa vào chương trình giảng dạy và là một môn học, các chuyên gia cho rằng nội dung GD K năng sống cho trẻ em hết sức đơn giản và gần gũi với trẻ Theo Qu nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), k năng sống là

Trang 19

cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới K năng sống của trẻ mầm non thực chất xoay quanh những nguyên tắc và k năng cơ bản phục

vụ cho bản thân trẻ Đó có thể là những việc vô cùng đơn giản như ăn, ngủ, chơi,… nhưng chúng đều cần k năng riêng mà trẻ cần phải học Giáo dục k năng sống cho trẻ mầm non thực chất là giáo dục các các k năng như giao tiếp, thích nghi, khám phá thế giới xung quanh, k năng tự chăm sóc bản thân,

tự bảo vệ mình, tự quyết định một số tình huống phù hợp với lứa tuổi…

Như vậy trên thế giới giáo dục GTS-KNS cho học sinh nói chung và trẻ mầm non nói riêng đã và đang là vấn đề được các nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm, cũng như nhận được sự quan tâm nhiều tổ chức xã hội Vấn đề này được thông qua nhiều cách tiếp cận như vấn đề giới tính, chăm sóc sức khỏe

và bảo vệ bản thân… các đối tượng nghiên cứu đa dạng nhưng được chú trọng đặc biệt là học sinh và trong đó học sinh mầm non được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý và chọn làm đề tài chuyên sâu

1.1.2 Nh ng nghiên cứu trong nư c

Do yêu cầu của sự phát triển và u thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa tiềm năng của con người Vấn đề giáo dục GTS-KNS cho thế hệ trẻ nói chung và học sinh nói riêng được đông đảo các nước quan tâm

Trong nền giáo dục hiện đại, KNS của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục Quan niệm, nội dung GD GTS - KNS được triển khai ở nhiều nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia, phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai GD KNS nên những nghiên cứu

lí luận về vấn đề này mặc dù còn khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc Cho đến nay chưa quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kĩ năng sống

Trang 20

Ở Việt Nam “Thuật ngữ k năng sống” bắt đầu biết đến từ chương trình UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng, trong giai đoạn đầu tiên khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như:

Kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định và kĩ năng đạt mục tiêu [8, 12]

Năm 2003, UNESCO phối hợp với Viện Chiến lược tổ chức hội thảo

“Chất lượng giáo dục GTS và KNS”, Chương trình giáo dục tổ chức từ 23- 25 tháng 10 tại Hà Nội đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn về khái niệm GTS-KNS Đồng thời năm 2003- 2004, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục phối hợp với

tổ chức UNESCO triển khai nghiên cứu về “Giáo dục GTS-KNS ở Việt Nam” Nghiên cứu này sau đó đã được xuất bản thành sách năm 2006 Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về: Quá trình nhận thức về KNS và tổng quan các chủ trương, chính sách, điều luật, thực trạng phản ánh yêu cầu tiếp cận KNS trong giáo dục và quá trình nghiên cứu, thực hiện giáo dục GTS-KNS ở Việt Nam; đánh giá về giáo dục GTS-KNS ở Việt Nam và rút ra những bài học kinh nghiệm; ác định những thách thức và định hướng trong tương lai để đẩy mạnh giáo dục GTS-KNS ở Việt Nam Đến năm 2007, các kết quả nghiên cứu của đề tài đã được biên tập và in thành sách: “Giáo dục kĩ năng sống” (2007), “Giáo trình chuyên đề GDKNS” (2009, 2010) được sử dụng làm giáo trình, tài liệu tham khảo cho các trường cao đẳng, đại học

Cùng với việc triển khai chương trình nêu trên, vấn đề KNS-GTS cho học sinh đã được nhiều đối tượng quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu ở giai đoạn này chủ yếu nêu ra các kĩ năng cơ bản và cần thiết ở các lĩnh vực

Trang 21

hoạt động mà học sinh tham gia Ngoài ra một số nghiên cứu đáng chú ý như: Công trình nghiên cứu với đề tài “Giáo dục GTS-KNS cho trẻ mầm non - Phần 1” của PGS TS Nguyễn Thị M Lộc, TS Đinh Thị Kim Thoa, ThS Phan Thị Thảo Hương đã chỉ rõ đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non để từ đó giúp các giáo viên ây dựng chương trình tư vấn tâm lý học đường phù hợp với từng độ tuổi, nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Vân về vấn đề “Giáo dục KNS cho học sinh Trung học phổ thông qua hoạt động giáo dục những giờ lên lớp” góp phần quan trọng trong việc ây dựng các hoạt động giáo dục KNS-GTS cho học sinh trong quá trình giảng dạy; nghiên cứu của Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Thị Hồng Hạnh nghiên cứu giáo dục KNS cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc thông qua dạy học môn đạo đức Tác giả đã nghiên cứu

GD KNS qua cách tiếp cận môn học chiếm ưu thế và đề xuất được hệ thống các biện pháp giáo dục k năng sống cho học sinh tiểu học khu vực miền núi phía Bắc (đề tài cấp Bộ B2009 - TN 09-14) Nguyễn Thị Hường về KNS dưới góc độ khai thác trên môn học giáo dục sống khoẻ mạnh và tích hợp nội dung giáo dục KNS trong dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở trường tiểu học

Một số nghiên cứu khác không trực tiếp đề cập đến vấn đề KNS, giáo dục KNS như đối tượng nghiên cứu của mình, những kết quả nghiên cứu của công trình này có giá trị quan trọng trong việc thiết lập quan điểm phương pháp cũng như những định hướng và tiếp cận trong việc nghiên cứu giáo dục GTS-KNS cho thế hệ trẻ Đó là nghiên cứu của tác giả Đặng Quốc Bảo; Dương Tự Đam; Phạm Minh Hạc; Phạm Đình Nhiệp, các nghiên cứu này so sánh giáo dục Việt Nam với một số quốc gia khác, nhằm đưa ra các phương pháp nâng cao hiệu quả giáo dục GTS-KNS trong nhà trường

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước về GTS-KNS đã cung cấp khá đầy đủ và phong phú về cơ sở lý luận cũng như thực trạng vấn

đề giáo dục GTS-KNS tại các trường học, để từ đó đưa ra giải pháp hợp lý nhằm giáo dục tốt GTS-KNS cho các học sinh

Trang 22

Ở Việt Nam đến nay, GD GTS-KNS đã được các chuyên gia giáo dục nghiên cứu và tiến hành triển khai rộng rãi tất cả các tỉnh thành trong cả nước Các cơ sở lý luận từng bước được hình thành và hoàn thiện, tuy nhiên chỉ mang tính chất chung, chưa nghiên cứu nào đi sâu làm rõ từng khía cạnh củ thể của vấn đề Đặc biệt là các chương trình GD GTS-KNS có đề cập tới nội dung GD GTS-KNS dành cho giáo viên Mầm non và trẻ mầm non, nhưng cũng chưa nhiều và cụ thể cho từng địa phương nói chung và cho thành phố Móng Cái nói riêng Chính vì vậy cần có những nghiên cứu cụ thể thực trạng nhu cầu giáo dục GTS-KNS cho giáo viên và trẻ mầm non tại địa bàn TP Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh

1 Giáo dục giá trị sống v n ng sống d a v o cộng đồng

1.2.1 hái ni m giá trị sống và kỹ năng sống: Cho đến nay, có rất

nhiều cá nhân, tổ chức cùng nghiên cứu về GTS-KNS, tuy nhiên chưa có một

sự thống nhất chung, rõ ràng về khái niệm này Tuỳ thuộc vào người sử dụng hay tiếp cận ở góc độ, lĩnh vực nào mà các khái niệm được mô tả với nội hàm,

ý nghĩa khác nhau Ở Việt Nam, cũng tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về GTS-KNS, dưới đây tôi tổng hợp khái quát một số khái niệm được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất

1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng sống

Theo UNESCO (Hà Nội, 2003): KNS là khả năng của cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Như vậy, khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa rộng, gắn với toàn bộ khả năng của con người khi tham gia vào tất cả các hoạt động của xã hội Khả năng cá nhân này không chỉ chịu sự chi phối và ảnh hưởng đến bản thân cá nhân mà nó còn tác động tới các cá nhân khác trong xã hội khi cá nhân thực hiện quá trình tham gia vào cuộc sống hàng ngày

Theo WHO (1993): KNS là khả năng thích ứng và thực hành các hành

Trang 23

vi tích cực giúp cá nhân có thể giải quyết vấn đề có hiệu quả và khắc phục những khó khăn của cuộc sống hàng ngày Theo UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp cá nhân thay đổi, hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và k năng Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc (UNESCO), KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết gồm các k năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…

Theo quan điểm gần đây nhất của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2010): KNS bao gồm một loạt các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người Bản chất của KNS là 20 k năng tự quản bản thân

và k năng ã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với người khác, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Tuy nhiên với đặc thù của của từng quốc gia, đối với Việt Nam, khái niệm này có thể hiểu theo định nghĩa chung như sau: K năng sống là những

k năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực giúp bạn đối mặt với những thức thách của cuộc sống hàng ngày Có rất nhiều các kĩ năng sống khác nhau Chẳng hạn như: K năng giao tiếp; K năng ra quyết định; K năng duy trì các mối quan hệ; K năng giải quyết vấn đề; Kĩ năng thiết lập mục tiêu; Suy nghĩ tích cực; Kiểm soát tình cảm; Phát triển lòng tự trọng; Tránh áp lực

từ bạn bè; Kĩ năng ác định giá trị bản thân…

Trong luận văn này em chọn khái niệm: “KNS là khả năng cá nhân

được thể hiện thông qua hành động làm chủ bản thân, hành động ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống dựa trên những tri thức, thái độ và giá trị mà

Trang 24

chủ thể có được” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (Vi n khoa học Giáo dục

Vi t Nam) làm công cụ của đề tài nghiên cứu

1.2.1.2 Khái niệm Giá trị sống

Để định nghĩa về giá trị sống, đầu tiên chúng ta phải hiểu giá trị là gì Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Giá trị là cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng Giá trị cũng là những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội Giá trị chính là những quy tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận, nó có vị trí to lớn trong đời sống, và định hướng cho cuộc sống của mỗi cá nhân, điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội những niềm tin bền vững và lâu dài về những điều được coi là quan trọng trong các tình huống khác nhau Giá trị sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn mục tiêu của chúng ta và các phương tiện để đạt được mục tiêu đó

Trong luận văn này em chọn khái niệm: “Giá trị sống là tất cả những

gì cá nhân nhận thức là quan trọng, rất cần thiết, rất có ý nghĩa, luôn mong đợi; chúng có khả năng chi phối thái độ, xúc cảm, tình cảm và hành vi của một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày"

1.2.2 hương trình giáo dục -KNS dựa vào cộng đồng

Giáo dục GTS-KNS theo nghĩa rộng được hiểu là quá trình tác động có mục đích có kế hoạch đến đối tượng được giáo dục nhằm giúp cho họ tiếp thu, lĩnh hội được những giá trị phổ quát của ã hội để từ đó họ có kiến thức

về cuộc sống, có hành vi, suy nghĩ và ứng ử đúng mực trong mỗi quan hệ ã hội và của bản thân, phát triển và thích ứng tốt nhất với môi trường

Cùng với xu thế phát triển của thời đại, ngày nay, Giáo dục đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, đó là: Học

để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống

Trang 25

Cùng với đó, việc giáo dục giá trị sống, hình thành và phát triển k năng sống cho học sinh trở thành một yêu cầu quan trọng, đồng thời là một biểu hiện của chất lượng giáo dục trong nhà trường Giáo dục giá trị sống, k năng sống chính là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng những thách thức của cuộc sống, mặt khác góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi học sinh

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của giáo dục GTS-KNS cho học sinh, sinh viên hiện nay, kể từ năm 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát

động trên toàn quốc phong trào “ â dựng trường học thân thiện, học sinh

t ch cực” nhằm mang lại cho học sinh cả nước một “môi trường giáo dục an toàn thân thiện, ph hợp với u cầu của địa phương đap ứng nhu cầu của hội” Một trong hoạt động đó là chương trình tập huấn giáo dục KNS và bình

đẳng giới được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 5 10 2008 cho Cán bộ, giáo viên cốt cán của một số trường ở các bậc học khác nhau ở 11 tỉnh phía Bắc tham gia Qua đợt tâp huấn này giáo viên biết cách hình thành cho học sinh các k năng cơ bản, giúp các em hiểu về giới tính cũng như bảo vệ bản thân mình khỏi các nguy cơ âm hại, đòng thời các giáo viên cũng được củng cố và phát triển kĩ năng như hoạt động nhóm Ngày 18/8/2014 thực hiện chỉ thị

số 3008/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên

và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2014-2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức giáo dục k năng sống tại các cơ sở Mục đích đẩy mạnh hoạt động giáo dục GTS-KNS cho học sinh theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh gắn với định hướng nghề nghiệp; giúp giáo viên chủ động, tích cực trong việc tự bồi dưỡng KNS cho bản thân và giáo dục GTS-KNS cho học sinh; tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và ã hội, tạo môi trường thuận lợi để giáo dục KNS cho học sinh

Trang 26

Xuất phát từ thực tế, với mục tiêu cung cấp cho các giáo viên k năng

tổ chức nội dung giáo dục GTS - KNS thông qua các môn học và hoạt động giáo dục, tại các Tỉnh trong cả nước đã đẩy mạnh các chương trình tập huấn GTS-KNS cho giáo viên như: Bắc Kạn trong hai ngày 05, 06 8 2013, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức lớp tập huấn giáo dục GTS-KNS cho học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông Tham gia lớp tập huấn có 84 cán bộ, giáo viên cốt cán của các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường THCS, THPT trong toàn Tỉnh Tại tỉnh Tuyên Quang từ ngày 26-28/8/2016, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức lớp tập huấn giáo dục KNS trong trường THCS, THPT và trung tâm giáo dục thường uyên cho hơn 200 học viên là cán bộ cốt cán trong công tác giáo dục k năng sống của tất cả các trường trên địa bàn tỉnh Tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa….các tỉnh phía Bắc, các tỉnh phía Nam đã phổ biến chương trình tập huấn GTS-KNS uống các cơ sở giáo dục

Bên cạnh các chương trình tập huấn GTS-KNS với qua mô lớn, thì tại các trung tâm phi chính quy như Trung tâm ABS training, công ty Tân Việt ở

Hà Nội, công ty bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam phối hợp với báo người lao động tổ chức các chương trình, hoạt động giáo dục GTS-KNS dựa vào cộng đồng cho các đối tượng lưa tuổi vị thành niên, tại các cung văn hóa như: Cung văn hóa Lao Động thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn hóa Thanh Niên Hồ Chí Minh…đã phối hợp với các cấp, ban ngành địa phương tổ chức các hoạt động giáo dục GTS-KNS thường uyên trên địa bàn Ngoài ra tại khối trường học Liên cấp Quốc tế việc giáo dục GTS-KNS được chú trọng, hệ thống trường học ischool Hà Tĩnh, Quy Nhơn, Ninh Thuận, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, đặc biệt tại ischool Nha Trang, trong hai ngày 20 và 21/6/2016, Tiến sĩ Nguyễn Cao Dũng và Tiến sĩ Phạm Đức Dũng – cố vấn Hội đồng Giáo dục của tập đoàn Nguyễn Hoàng (NHG) cùng các cộng sự đã tổ chức lớp tập huấn về GTS - KNS cho các thầy cô trường ischool Nha Trang

Trang 27

Tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đã diễn ra các chương trình tập huấn giáo dục GTS-KNS cho các cán bộ, giáo viên: Thực hiện Công văn số

4917 BGDĐT-VP ngày 31/7/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc Triệu tập lớp tập huấn GTS-KNS và công tác tư vấn tâm lí học đường cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, ngày 08 08 2012 Sở GD&ĐT

đã gửi công văn uống các phòng GD&ĐT, các trường yêu cầu cử cán bộ giáo viên tham dự lớp tập huấn Nội dung của chương trình tập huấn nhằm cung cấp các kiến thức, k năng cơ bản về giáo dục GTS-KNS cho giáo viên; hướng dẫn các hình thức tổ chức giáo dục GTS-KNS cho học sinh; xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động giáo dục GTS-KNS cho học sinh tại các trường

Giáo viên (GV) muốn hoàn thành nhiệm vụ của GV về giáo dục KNS cho học sinh mầm non trước hết phải có tâm, có tấm lòng vì tình yêu thương con người, có sự độ lượng, bao dung, đồng thời phải giỏi về tâm lý lứa tuổi, có nhiều biện pháp giáo dục tinh tế, đặc biệt đối tượng ở đây là học sinh ở lứa tuổi mầm non Cùng đó, giáo viên còn cần am hiểu và biết cách tổ chức GD GTS-KNS cho học sinh

GTS-GV phụ trách GD GTS-KNS đòi hỏi người giáo viên phải là tấm gương sáng về đạo đức, mẫu mực từ lời ăn tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên môn; quan hệ với học trò như là một người bạn lớn, vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên trì trong giáo dục trẻ theo kiểu mưa dầm thấm lâu; giáo dục đạo đức phải trở thành thói quen của mình

Căn cứ vào nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời thấy được tính thiết yếu của việc giáo dục GTS-KNS cho học sinh mầm non, đội ngũ GV phải tăng cường GD GTS-KNS dựa vào các tổ chức, các chuyên gia cùng tham gia thẩm định, cùng sự hỗ trợ của phụ huynh thông qua các hình thức dạy học của mình, đồng thời lồng ghép vào các giờ sinh hoạt để giáo dục đạo đức và nhân cách cho học sinh trong và ngoài nhà trường Phụ

Trang 28

huynh là nhân tố cộng đồng quan trọng, cho nên GV cần bám sát thường xuyên liên hệ với cha mẹ học sinh, kịp thời nắm bắt thông tin, diễn biến tâm sinh lí của trẻ, đưa nội dung GD GTS-KNS của trẻ cho các bậc phụ huynh vào những lần họp phụ huynh; cung cấp cho các bậc phụ huynh những kiến thức và phương pháp chăm sóc, giáo dục con em phù hợp với đặc điểm từng

độ tuổi, đặc biệt phát hiện sớm những biểu hiện rối loạn tâm thần ở học sinh, các bệnh tật học đường; cung cấp địa chỉ những dịch vụ hỗ trợ tại cộng đồng

để giúp gia đình và ã hội tham gia chăm sóc giáo dục con trẻ tốt hơn nhằm rèn luyện cho trẻ k năng ứng xử, rèn luyện sức khỏe, k năng giao tiếp…

Trong luận văn này em sử dụng khái niệm: "Chương tr nh giáo dục

G - N dựa vào cộng đ ng là chương tr nh được xây dựng và thực hiện với

sự tham gia của nhiều tổ chức cơ quan c ng phối hợp, trong đó cộng đ ng

ch nh là trung tâm của quá tr nh thực hiện giáo dục G - N sự tham gia của cộng đ ng rất đa d ng và phụ thuộc vào ối cảnh địa phương, qu mô của cộng đ ng

1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tập huấn d a v o cộng đồng

1.3.1 hái ni m

Có nhiều khái niệm về giáo dục cộng đồng (GDCĐ)

GDCĐ là một quá trình trong đó việc học hỏi sẽ mang lại sự phát triển, thay đổi tốt hơn cho cá nhân và cộng đồng GDCĐ có các đặc tính như bao gồm mọi người ở mọi lứa tuổi, việc học hỏi sử dụng các tài nguyên và nghiên cứu mang đến những thay đổi cho cộng đồng

Chúng ta có thể hiểu GDCĐ như là “giáo dục cho cộng đ ng trong

ph m vi cộng đ ng” Nói cách khác, khi nói về cộng đồng không có nghĩa là

chỉ nơi chốn hay hoàn cảnh trong đó việc giáo dục được tiến hành GDCĐ còn là mối quan tâm chung, trọng tâm của cộng đồng Đó là một quá trình mà cộng đồng trở thành một phần của mạng lưới ã hội hiện đại nhằm khuyến khích đối thoại hoặc học hỏi

Trang 29

GDCĐ là một quá trình được thiết kế nhằm làm giàu thêm cuộc sống mỗi cá nhân và các nhóm thông qua sự tham gia của mọi người sống trên cùng một vùng địa lý, hoặc chia sẻ cùng một mối quan tâm, để tự nguyện phát triển phạm vi hay lĩnh vực học tập, học hỏi và cơ hội suy nghĩ và hành động những học hỏi, suy nghĩ và hành động này uất phát từ nhu cầu chính trị, kinh

tế, ã hội và từ bản thân các thành viên của cộng đồng

GDCĐ giúp cho một cộng đồng được trang bị đầy đủ những kiến thức, hiểu biết để hành động chung, cùng giải quyết các vấn đề của mình Vì thế giáo dục cộng đồng là ây dựng năng lực và tạo sức mạnh cho người dân trong cộng đồng

Với sự quan tâm hiện nay, ý nghĩa của việc GDCĐ trở nên phổ biến trong việc tăng cường sức mạnh cho các tổ chức quần chúng tại địa phương [4, 7]

Trong phạm vi GDCĐ, có 3 nội dung trọng tâm bao gồm: Hình thành các giá trị cộng đồng; Nâng cao nhận thức cộng đồng; Phát triển k năng để cùng hành động

Hình thành các giá trị: Trong bối cảnh của các cộng đồng nghèo và bị gạt ngoài lề ã hội, người dân cần được nuôi dưỡng các giá trị về sự tự do và

gia tăng quyền lực Phát triển các giá trị để được cho là được “có tư cách đ o

đức tốt” không thôi chưa đủ Việc hình thành các giá trị cộng đồng là một sức

mạnh tiềm tàng để triệt tiêu chủ nghĩa cá nhân và thái độ tự cho mình là trung tâm Ngoài bản năng tự vệ ra, cần hình thành các giá trị chung cho cộng đồng, tạo ra sự quan tâm thật sự đến an sinh hạnh phúc của người khác

Nâng cao nhận thức: Quá trình nâng cao nhận thức giúp cho người dân chuyển từ việc thụ động chấp nhận tình trạng của mình và chấp nhận các thế lực đã tạo ra và duy trì tình trạng đó sang việc ý thức nhu cầu hiểu biết sâu sắc

về hoàn cảnh sống của mình Đó là quá trình hiểu biết, không chỉ hài lòng bề

Trang 30

mặt, nhưng đâm rễ bên trong để cuối cùng có được sự hiểu biết cơ bản về mối quan hệ nhân – quả của các thực trạng khác nhau Trong một số cộng đồng, quá trình này giống như gợi hỏi (cá nhân và tập thể) các nguyên nhân dẫn đến tình trạng của họ và tại sao tình trạng này lại tồn tại mãi

Về phía người dân, quá trình này là ý thức nỗ lực, cố gắng khám phá những ảnh hưởng của tình trạng này đến đời sống các cá nhân và trong đời sống cộng đồng Như Freire đã nói “Hầu như mọi khám phá không chỉ đơn thuần là hiểu biết của trí tuệ nhưng còn liên quan đến hành động cụ thể nữa (Freire, 1970, p.52) Những người nào thường tham gia vào các buổi bàn thảo trong cộng đồng thì có thể thấy được mối quan hệ nhân quả trong hành động của họ Chúng ta hy vọng rằng một khi đến thời, đến buổi, những bàn thảo trong nhóm sẽ được chuyển hóa thành hành động cụ thể Đó là quá trình huấn luyện lương tâm để người dân không chấp nhận vấn đề mà hành động để thay đổi

Mọi người cần phải được trang bị những k năng cần thiết cho công tác cộng đồng, ví dụ như k năng tổ chức cộng đồng, giáo dục và vận động, quan

hệ công chúng và truyền thông, giải quyết mâu thuẫn, lập kế hoạch, quản lý

và những thứ khác (Luna, 1998, p.16) để họ có thể chuyển nhận thức thành hành động một cách hiệu quả Những k năng này không nhất thiết là những

k năng mới đối với họ Họ có những kiến thức chuyên môn bản địa riêng về những k năng này, và có thể sử dụng những kiến thức này để làm khởi điểm cho những hoạt động phát triển những k năng chuyên sâu hơn

Phát triển các k năng cũng bao gồm khả năng canh tân đổi mới và thông thạo khoa học công nghệ và các chuyên môn khác như chuyên môn về sức khỏe, sản uất kinh tế, phương tiện truyền thông, vệ sinh và nhưng thứ khác Những hiểu biết này có thể được phổ biến rộng rãi, đơn giản hóa sao cho phù hợp với khả năng và trình độ hiểu biết của người dân Khái niệm này

có thể được thể hiện trong các chương trình sức khỏe dựa vào cộng đồng hoặc

biện hộ truyền thông dựa vào cộng đồng [4, 15]

Trang 31

Tập huấn dựa vào cộng đồng

Tập huấn dựa vào cộng đồng là một khái niệm rộng và đa nghĩa theo tính ứng dụng của nó trong thực tiễn, đề cập đến sự tham gia của các cộng đồng có lợi ích liên quan trong quá trình tập huấn Nguyên tắc cốt lõi của tập huấn dựa vào cộng đồng là dù tồn tại dưới hình thức nào vẫn là sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng, thẩm định, lập kế hoạch đứng ra tổ chức

mà cộng đồng được hưởng lợi

Theo đó tập huấn dựa vào cộng đồng, tư cách cộng đồng có 3 khía cạnh

chính: (1) Trách nhiệm: Cộng động tham gia xây dựng, thẩm định làm chủ;

(2) quyền lực: Cộng đồng vừa là người tham gia vừa là người quản lý, cộng

đồng có quyền đưa ra những quyết định trong quá trình tập huấn; (3) Kiểm

soát: Cộng đồng có khả năng thực hiện và ác định được kết quả, cộng đồng

có quyền tham gia góp ý

Trong luận văn này tôi sử dụng khái niệm: "Tập huấn dựa vào cộng

đ ng là tập huấn có sự tham gia của cộng đ ng được xây dựng và tổ chức dựa vào cộng đ ng"

1.3.2 Nguyên tắc cơ bản tập huấn dựa vào cộng đồng

Để chương trình tập huấn đạt hiệu quả cao, đi đúng hướng, ác định đúng mục đích Chúng ta cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Đối với chương trình tập huấn dựa vào cộng đồng cần đảm bảo nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

Đây là nguyên tắc có tính chất xuyên suốt, nó chỉ đạo mọi hoạt động của chương trình tập huấn Chương trình tập huấn bao giờ cũng hướng tới mục đích đề ra, trong mục đích có mục đích ngắn hạn và mục đích dài hạn Mục đích ngắn hạn là những mục tiêu cụ thể mà con người cần đạt trong thời gian ngắn, là phương tiện để đạt được mục đích dài hạn Mục đích dài hạn trong chương trình tập huấn thường hướng tới cách làm, cách ứng phó với

Trang 32

những thách thức trong cuộc sống tương lai Mục đích ngắn hạn là cơ sở, phương tiện để đạt được mục đích dài hạn mục đích cuối cùng của tập huấn dựa vào cộng đồng là dù tồn tại dưới hình thức nào vẫn là sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng, thẩm định, lập kế hoạch đứng ra tổ chức mà cộng đồng được hưởng lợi

- Nguyên tắc phù hợp với đối tượng giáo dục

Đối tượng hưởng lợi từ chương trình tập huấn dựa vào cộng đồng là hết sức đa dạng, bao gồm CBQL, GV, HS, PHHS… căn cứ vào nhu cầu, trình độ, điều kiện cơ sở vật chất mà đưa ra nội dung và phương pháp phù hợp cũng như hình thức tổ chức sao cho phù hợp

- Nguyên tắc cung cấp thông tin cơ bản

Thiếu thông tin trong chương trình tập huấn sẽ khó hình thành k năng cho đối tượng Tuy nhiên chương trình tập huấn không quá coi trọng việc cung cấp thông tin mà coi trọng việc hình thành k năng dựa vào cộng đồng cho đối tượng tham gia Nếu đi sâu vào tri thức uyên bác thì sẽ rơi vào tình trạng lý thuyết sáo rỗng, người học sẽ ít hứng thú và tất nhiên hậu quả sẽ thấp Việc cung cấp thông tin chỉ là những thông tin cơ bản để đối tượng biết và để làm

Vì vậy chương trình tập huấn dựa vào cộng đồng phải thông qua hoạt động của người học nhằm giúp người học hình thành k năng dựa vào cộng đồng

- Nguyên tắc khuyến khích, động viên, cổ vũ người học: Nguyên tắc này đòi hỏi trong giáo dục lấy phương pháp động viên khuyến khích là chính, nhằm khích lệ tinh thần tự giác, tạo hứng thú cho người học

- Nguyên tắc hình thành k năng dựa vào cộng đồng

Muốn có hành vi thì phải trang bị kiến thức cơ bản, thời gian dành cho việc cung cấp tri thức không nhiều, phương pháp đơn giản, chủ yếu là phương pháp động não nên dành nhiều thời gian cho việc lĩnh hội cách tập huấn dựa vào cộng đồng

Trang 33

- Nguyên tắc phát huy óc phê phán và khả năng chọn phương án phù hợp của người học

Trong u thế toàn cầu hóa, mọi thứ sẽ du nhập vào đời sống ã hội, có những vấn đề tích cực, có những vấn đề không tích cực, thậm chí tiêu cực Để tồn tại, phát triển và tránh rủi ro có thể xảy ra con người cần phải biết phân tích mổ ẻ mọi vấn đề, biết phê phán những cái không phù hợp, biết ủng hộ

và phát huy, đồng thời biết vận dụng những cái tích cực vào thực tiễn cuộc sống của bản thân nói riêng và ã hội nói chung

- Nguyên tắc phối hợp các lực lượng giáo dục: Tập huấn dựa vào cộng đồng phải được thực hiện mọi nơi, mọi chỗ, dựa vào sự hỗ trợ của địa phương, đoàn thanh niên, chuyên gia trong lĩnh vực và cả bậc phụ huynh học sinh

- Nguyên tắc giáo dục đồng đẳng: Tập huấn dựa vào cộng đồng phải được thực hiện ở tất cả các trường, các vùng miền từ thành phố đến nông thôn Tạo điều kiện hết sức nhằm hoàn thành tốt khóa tập huấn cho các trường

ở thành phố cũng như vùng nông thôn thiếu thốn về điều kiện vật chất

1.3.3 Hình thức, cách tổ chức v phương pháp tập huấn dựa vào cộng đồng

* GDCĐ, tập huấn dựa vào cộng đ ng mang đặc trưng ri ng và sử dụng hình thức sau:

- Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Móng Cái:

+ Xây dựng kế hoạch tập huấn cấp Thành phố, trong Kế hoạch nêu rõ thành phần, nội dung và dự kiến kinh phí tổ chức, đặc biệt quan tâm đến sự tham gia của các lực lượng cộng đồng phối hợp tổ chức (Ban đại diện cha mẹ học sinh, Hội Liên hiệp phụ nữ );

+ Căn cứ các tài liệu chuyên sâu và tài liệu tham khảo, xây dựng nội dung tập huấn dựa vào cộng đồng thông qua hình thức GDCĐ để tăng năng lực của cộng đồng trong chương trình tập huấn thông qua tăng năng lực cá nhân và cá nhân cộng đồng tự lực phát huy

Trang 34

- Đối với các cơ sở giáo dục Mầm non: Căn cứ nội dung tập huấn của Thành phố và tình hình thực tiễn của đơn vị, xây dựng nội dung tập huấn tại địa phương Trong đó chú trọng đến việc huy động các cộng đồng cùng tham gia

Tổ chức tập huấn tại địa phương cho 100% giáo viên Mầm non đang công tác

* Phương pháp thường sử dụng:

- Phương pháp thuyết trình, phát huy khả năng trình bày, tự tin trước cộng đồng

- Phương pháp thảo luận nhóm, phát triển k năng làm việc chung

- Phương pháp nghiên cứu, khảo sát tình huống thực tế nâng cao k năng thực hành

- Phương pháp thảo luận, chia sẻ ý tưởng từ các chuyên gia trong ngành

- Phương pháp trải nghiệm, đóng vai, huy động tất cả các lực lượng từ PHHS, GV, CBQL tham gia trải nghiệm

1.4 Chương trình tập huấn GTS-KNS d a v o cộng đồng d nh cho giáo viên Mầm Non

1.4.1 hái ni m

Chương trình tập huấn GTS- KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non là một chương trình giáo dục những GTS-KNS nền tảng, cốt lõi dành cho giáo viên và học sinh mầm non, trên cơ sở tiếp cận dựa vào cộng đồng; chương tình tạo cơ hội để GV mầm non trải nghiệm nội dung GTS- KNS dành cho trẻ mầm non, được thực hành áp dụng các phương pháp, các

k thuật tổ chức và giáo dục GTS- KNS cho học sinh mầm non

Bản chất của chương trình tập huấn GTS-KNS dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên Mầm non chính là giúp cho các giáo viên Mầm non hiểu rõ hơn một số vấn đề lý luận liên quan đến GTS-KNS: Thế nào là giá trị sống Hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị là gì Trang bị các k năng cho cán bộ tư vấn học Qua đó GV có thể ây dựng được chương trình, đưa ra qui trình tiến

Trang 35

hành các hoạt động giáo dục GTS và KNS ngay tại trường học của mình cho trẻ em; đồng thời có thể áp dụng những kiến thức đã học để tập huấn cho đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng, giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc giáo dục GTS – KNS cho trẻ mầm non

Chương trình tập huấn giúp giáo viên tiếp cận tốt nhất những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến GTS-KNS Giúp giáo viên nắm được các GTS cốt lõi, các KNS cơ bản nhằm áp dụng cho bản thân và từ đó đưa vào thực tiễn giảng dạy cho các trẻ mầm non Đồng thời chương trình tập huấn cung cấp nội dung kiến thức giúp giáo viên định hướng, ây dựng được chương trình giáo dục GTS-KNS cho trẻ, qua đấy nắm được phương pháp cũng như

k thuật cơ bản của quá trình dạy trẻ GTS-KNS

Trong phạm vi của Luận văn này, em sử dụng khái niệm: “Chương tr nh

tập huấn giáo dục Giá trị sống – kỹ năng sống là chương tr nh đào t o kiến thức kỹ năng cơ ản về G - N dành cho trẻ mầm non, được â dựng thực hiện tr n cơ sở nhu cầu của cộng đ ng, dựa vào sự phối hợp, trợ giúp của nhiều ngu n lực, nhiều tổ chức và cá nhân trong cộng đ ng” để nghiên cứu

1.4.2 ơ s ây dựng chương trình giáo dục - N dựa v o công đồng

1 4 2 1 Cơ sở lý luận

Trong quá trình phát triển của trẻ mầm non, thì 5 năm đầu đời giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự phát triển sau này của một đứa trẻ

Mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục Quốc dân, là nền tảng của giáo dục tiểu học, phổ thông, giáo dục mầm non cho đến tiểu học có tầm quan trọng trong việc hình thành nên nhân cách của mỗi người Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm m , hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ

Trang 36

em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh

lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tố đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời Giáo dục GTS-KNS ngay từ cấp học này sẽ giúp học hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức và nhân cách Để

ây dựng thành công, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu chương trình tập huấn giáo dục GTS-KNS dành cho giáo viên mầm non cần phải dựa trên cơ sở pháp lý,

đề cập đến phương diện lý luận và thực tiễn của việc rèn luyện GTS-KNS thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt công trình nghiên cứu thực tiễn nhằm nêu ra sự cần thiết phải đẩy mạnh việc giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên ở tất cả cơ sở giáo dục

Kết quả điều tra cho thấy, các công trình nghiên cứu lý luận, thực tiễn, nhất là thực tiễn giáo dục GTS-KNS ở trường mầm non chưa nhiều Bước đầu của các công trình nghiên cứu chỉ đề cập tới tầm quan trong của giáo dục GTS-KNS cho học sinh, sinh viên nhưng chưa làm rõ những vấn đề liên quan đến công tác giáo dục GTS-KNS cho học sinh mà nhất là học sinh mầm non Một số vấn đề như: Vai trò của việc hình thành GTS-KNS đối với học sinh ở bậc mầm non; sự khác biệt trong quá trình hình thành GTS-KNS giữa học sinh mầm non ở thành phố với học sinh mầm non các vùng miền khác; cách

Trang 37

quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp như thế nào để nâng cao hiệu quả giáo dục GTS-KNS cho học sinh mầm non; các điều kiện để thực hiện việc quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh mầm non …thì chưa được nghiên cứu sâu, do đó về mặt lý luận đòi hỏi cần làm rõ hơn Dựa trên cơ sở

lý luận này, đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần quan trọng làm sáng tỏ các vấn

đề trên và xây dựng lên chương trình tập huấn GTS-KNS dành riêng cho giáo viên bậc mầm non

Chương trình này đã được thực hiện và phát triển mạnh trong khu vực

M Latinh và Caribe, khu vực Nam Phi và Botswana, khu vực Châu như: Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Mông Cổ, Nepal, Srilanka, Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philipines, Thái Lan… trong đó có Việt Nam Với

sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như:, UNESCO, UNFPA, UNICEF, WHO… chương trình giáo dục GTS-KNS đã được phát triển rộng khắp, thông qua mạng lưới toàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu, đồng thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo dục GTS-KNS trong thanh thiếu niên thông qua các cách tiếp cận khác nhau

Trên thực tế, các nước trên thế giới đã đưa môn học giáo dục KNS vào trong chương trình học của các bậc học Ở Việt Nam chương trình giáo dục GTS-KNS cho học sinh đã được triển khai từ rất lâu theo phương pháp lồng ghép vào các môn học đạo đức, giáo dục công dân hay văn học mức độ kiến thức về GTS-KNS từ các môn học này cung cấp đến học sinh còn khá ít, mang tính đơn thuần, không được chú trọng, nó được em là phần kiến thức phụ trong chương trình học vủa các em học sinh

GTS-Trước đó, thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, k năng sống cho trẻ và vị thành niên” với sự hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam Đến năm

2001 Bộ giáo dục và Đào tạo mới chính thức bắt đầu triển khai mạnh mẽ chương trình giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông tại các tỉnh:

Trang 38

Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai, Kon Tum, TP HCM, An Giang, Kiên Giang… Dự án khá thành công, nhận được phản hồi tích cực của học sinh đối với việc ây dựng thể chất, tinh thần, hiểu biết ã hội, nâng cao nhân thức của cha mẹ học sinh để họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức về GTS-KNS cho con em mình Mặc dù được quan tâm hơn nhưng những chương trình giáo dục GTS-KNS tổ chức dành cho các em học sinh chưa nhiều, chủ yếu là các chương trình của các tổ chức ngoài chính quy và tổ chức phi chính phủ

Những năm trở lại đây, tình trạng trẻ vị thành niên có u hướng bạo lực học đường, tự tử, đánh nhau, trấn lột, cướp của, giết người , đặc biệt là tình trạng học sinh trầm cảm, tăng động giảm chú ý, sa sút, khó khăn về nhận thức

và học tập ngày càng gia tăng Các vụ giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh, sinh viên và nan nhân chính là cha mẹ, bạn bè, thầy

cô giáo của chính họ Bên cạnh đó là sự bùng phát của hiện tượng học sinh hút thuốc lá, uống rượu, quan hệ tình dục sớm… Nhiều em có thành tích học tập cao nhưng khả năng tự chủ và bảo vệ mình cùng k năng giao tiếp kém

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nêu trên, theo các chuyên gia nguyên nhân sâu a là do các em thiếu KNS, không nắm được các GTS bền vững Các em thiếu k năng giải quyết tình huống khó khăn trong đời sống Thực tế về vấn đề giáo dục toàn diện GTS-KNS cho học sinh ở nước ta còn nhiều hạn chế, nhà trường vẫn quan niệm dạy học vấn đề quan trọng là

“dạy chữ”, không chú trọng dạy các k năng mềm cho học sinh, các k năng ứng ử giải quyết tình huống trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân

và cá nhân với ã hội Các giáo viên đa phần đến lớp dạy học sinh theo phương pháp thầy đọc trò chép, giáo viên chủ nhiệm cả tuần chỉ có một tiết sinh hoạt, hơn nữa k năng ử lý của giáo viên với các tình huống xảy ra của học sinh còn chưa chuyên nghiệp Các chuyên gia cho rằng đây là khuyết

Trang 39

điểm lớn trong ngành giáo dục Việt Nam chỉ nghiêng về mặt đào tạo mà coi nhẹ giáo dục toàn diện cho học sinh

Khi chương trình giáo dục tại nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục GTS-KNS cho các lứa tuổi học sinh, nắm bắt được nhu cầu ã hội hàng loạt các trung tâm như: Cung thiếu nhi Hà Nội, trung tâm ABS Training, Eveil, Skids, Club… liên tục mở các khóa học dạy k năng sống cho mọi lứa tuổi, các lớp học dạy cho các em biết giới thiệu về bản thân, gia đình mình trước đám đông, cách chia sẻ, giúp đỡ, cách bảo vệ mình…

Nhìn chung một thực trạng các chương trình giáo dục GTS-KNS ở trong hệ thống chính quy lẫn hệ thống phi chính quy vẫn nặng về lý thuyết, mang tính lý thuyết, phần thực hành còn kém, việc rèn luyện thực tế các k năng cho các em còn kém Các giáo trình chủ yếu dựa vào khung của các nước chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện ã hội và thuần phong m tục của người Việt Nam chưa thể hiện được đặc thù và tính chuyên nghiệp cao

Xã hội ngày càng phát triển, vấn đề giáo dục GTS-KNS là việc hàng đầu

và có vai trò hết sức quan trọng Giáo dục GTS-KNS cần bắt đầu từ bậc mầm non, vì ở lứa tuổi này các em học sinh đã bắt đầu hình thành hành vi cá nhân,

cá tính và nhân cách Tuy nhiên hiện nay giáo dục GTS-KNS chưa được xem như một môn học chính thức trong nhà trường, chính vì vậy các cơ quan giáo dục cũng nên sớm có những tài liệu, giáo án… góp phần giúp nhà trường, các trung tâm và phụ huynh thấu hiểu về môn học này Để xây dựng được chương trình giáo dục GTS-KNS phù hợp cần phải điều tra hiện trạng học sinh, qua đó xây dựng chương trình phù hợp với tâm sinh lý của từng lứa tuổi, nội dung giảng dạy phù hợp, có nhiều giải pháp, áp dụng cụ thể cho từng lứa tuổi

1 4 2 3 Về cơ sở pháp lý

Trong tiến trình ây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam đã đặt mục tiêu đề ra là đến năm 2020 nước ta về căn bản sẽ trở thành một nước công

Trang 40

nghiệp Nhân tố quyết định thắng lợi cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là nguồn lực con người Việt Nam, trong đó Đảng và Nhà nước

ta đã đặt ra mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 là: “Đến năm

2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn ản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đ i hóa, hội hóa và hội nhập quốc tế chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao giáo dục đ o đức, kỹ năng sống, năng lực sáng t o,

kỹ năng thực hành được chú trọng…” trong đó giáo dục bậc mầm non và bậc

tiểu học được chú trọng vì đây là bậc học nền tảng có vị trí hết sức quan trọng trong giáo dục và đời sống ã hội

Ý thức được vai trò quan trọng của giáo dục GTS-KNS trong hệ thống giáo dục nhà trường cùng với sự hỗ trợ của UNICEF tại Việt Nam, thông qua dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, k năng sống cho trẻ và vị thành niên”, ngày 22/7/2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chỉ thị số 40/2008/CT - BGDĐT đưa vào nội dung rèn k năng sống cho HS, vì nhận thấy có nhiều trẻ em bị xâm hại, bị lạm dụng chỉ vì thiếu k năng sống Đã đến lúc dạy cho HS k năng sống để các em không bị sốc trong mọi hoàn cảnh Cái trước tiên cần làm là chuẩn bị cho các em tâm lí chủ động để tiếp nhận cuộc sống, như chuyển cấp, chuyển trường hoặc khi tham goa các hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể

Đến năm 2001, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức bắt đầu làm quen chương trình giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông tại các tỉnh: Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Gia Lai, Kon Tum, TP HCM, An Giang, Kiên Giang… Trong Luật Giáo dục năm 2005, luật Giáo dục sửa đổi 2009, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông

và trường phổ thông có nhiều cấp học (gọi tắt là điều lệ trường trung học) do

Bộ GD&ĐT ban hành năm 2011 đã chỉ ra: Ngành GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng,

Ngày đăng: 14/06/2017, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ sách “The Leader in Me”- Franklin Covey (2014 ), r nh độ 1- 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Leader in Me
Tác giả: Franklin Covey
Năm: 2014
2. Bộ sách Đạo đức (2015), Lớp 1- 5, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lớp 1- 5
Tác giả: Bộ sách Đạo đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
5. Diane Tillman (2010), Những Giá trị sống cho trẻ 8 -14 tuổi, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Giá trị sống cho trẻ 8 -14 tuổi
Tác giả: Diane Tillman
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
6. Diane Tillman & Diana Hsu (2010), Những Giá trị sống cho trẻ 3- 7 tuổi, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những Giá trị sống cho trẻ 3- 7 tuổi
Tác giả: Diane Tillman, Diana Hsu
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
7. Ngô Công Hoan (2006), Giá trị đ o đức và giáo dục giá trị cho trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị đ o đức và giáo dục giá trị cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Ngô Công Hoan
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
8. Nguyễn Thị Thu Hằng (2013), Viện khoa học Giáo dục Việt Nam, Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía bắc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Nhà XB: Viện khoa học Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
9. Nguyễn Thị M Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng (2010), Giáo dục GTS và KNS cho học sinh tiểu học (tài liệu dùng cho GV tiểu học), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục GTS và KNS cho học sinh tiểu học (tài liệu dùng cho GV tiểu học)
Tác giả: Nguyễn Thị M Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
10. Nhóm “Hanh in Hand”, Bộ sách Giáo dục GTS- KNS dành cho học sinh 1- 5 (bao gồm cả sách học sinh và sách hướng dẫn giáo viên). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ sách Giáo dục GTS- KNS dành cho học sinh 1- 5 (bao gồm cả sách học sinh và sách hướng dẫn giáo viên)
Tác giả: Nhóm “Hanh in Hand”
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
11. Nguyễn Kim Liên (2008), Giáo trình phát triển cộng đ ng, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển cộng đ ng
Tác giả: Nguyễn Kim Liên
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2008
12. Nguyễn Thị M Lộc – Đinh Thị Kim Thoa (2010), Tài liệu tập huấn và bồi dưỡng cán bộ giáo viên: Giáo dục giá trị và kỹ năng sống cho học sinh phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn và bồi dưỡng cán bộ giáo viên: Giáo dục giá trị và kỹ năng sống cho học sinh phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị M Lộc, Đinh Thị Kim Thoa
Năm: 2010
13. Lê Đức Phúc (1992), “Giá trị và định hướng giá trị”, T p ch Nghi n cứu giáo dục, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị và định hướng giá trị
Tác giả: Lê Đức Phúc
Nhà XB: T p ch Nghi n cứu giáo dục
Năm: 1992
14. Huỳnh Khải Vinh (chủ biên) (2001), Một số vấn đề về lối sống, đ o đức, chuẩn trị hội”, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lối sống, đ o đức, chuẩn trị hội
Tác giả: Huỳnh Khải Vinh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2001
15. Hà Nhật Thăng (1998), Giáo dục hệ thống giá trị đ o đức nhân văn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hệ thống giá trị đ o đức nhân văn
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
16. Trần Trọng Thủy (1993), “Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách”, T p ch Nghi n cứu giáo dục, (7).II. T i li u tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị, định hướng giá trị và nhân cách
Tác giả: Trần Trọng Thủy
Nhà XB: T p ch Nghi n cứu giáo dục
Năm: 1993
18. Thomas K. Fagan & Paula Sasch Wise (2000). School Psychology: Past, Present, and Future; Second Edition. National Association of School Psychologists Sách, tạp chí
Tiêu đề: School Psychology: Past, Present, and Future; Second Edition
Tác giả: Thomas K. Fagan, Paula Sasch Wise
Nhà XB: National Association of School Psychologists
Năm: 2000
19. Terry B. Gutkin & Cecil R. Reynolds (2009). The Handbook of school psychology. John Wiley & Son, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Handbook of school psychology
Tác giả: Terry B. Gutkin, Cecil R. Reynolds
Nhà XB: John Wiley & Son, Inc
Năm: 2009
3. Bộ sách Giáo dục nếp sống thanh lịch, văn minh cho học sinh Hà Nội (2015), Nxb Giáo dục Việt Nam Khác
4. Nguyễn Thị Ngọc Bích, Giáo trình Giáo dục cộng đ ng Khác
17. Best practices in school psychology V (2010). National Association of School Psychology Khác
20. Lee, S. W. (editor) (2005). Encyclopedia of school psychology. CA Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Khách thể nghiên cứu - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.1. Khách thể nghiên cứu (Trang 71)
Bảng 2.2. Quá trình nghiên cứu - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.2. Quá trình nghiên cứu (Trang 73)
Bảng 2.3. Nhận thức s  cần thiết của chương trình tập huấn GTS-KNS - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.3. Nhận thức s cần thiết của chương trình tập huấn GTS-KNS (Trang 75)
Bảng 2.4. Th c trạng nhận thức về khái ni m GTS-KNS của CBQL, GV tại thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.4. Th c trạng nhận thức về khái ni m GTS-KNS của CBQL, GV tại thành phố Móng Cái – tỉnh Quảng Ninh (Trang 79)
Bảng 2.6. Th c trạng  hó  h n của PHHS về giáo dục KNS cho - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.6. Th c trạng hó h n của PHHS về giáo dục KNS cho (Trang 83)
Bảng 2.7. Th c trạng  hó  h n của PHHS về giáo dục Giá trị sống cho - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.7. Th c trạng hó h n của PHHS về giáo dục Giá trị sống cho (Trang 84)
Bảng 2.8. Khảo sát về th c trạng hình thức GD GTS-KNS phù hợp với - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.8. Khảo sát về th c trạng hình thức GD GTS-KNS phù hợp với (Trang 85)
Từ  21-23%  PHHS  phân  vân  với  2  hình  thức  trên,  điều  đó  cho  rằng  các  hình  thức này không mang lại hiệu quả như mong muốn của họ - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
21 23% PHHS phân vân với 2 hình thức trên, điều đó cho rằng các hình thức này không mang lại hiệu quả như mong muốn của họ (Trang 86)
Bảng 2.10. Th c trạng số lƣợng CBQL, GV đã đƣợc học nh ng - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.10. Th c trạng số lƣợng CBQL, GV đã đƣợc học nh ng (Trang 88)
Bảng 2.11. Số lƣợng CBQL, GV đƣợc tham gia các lớp tập huấn có nội - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.11. Số lƣợng CBQL, GV đƣợc tham gia các lớp tập huấn có nội (Trang 89)
Bảng 2.12. Mức độ mong muốn đƣợc tập huấn các nội dung - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.12. Mức độ mong muốn đƣợc tập huấn các nội dung (Trang 90)
Bảng 2.13. Mức độ sắp xếp tính quan trọng của các chủ đề trong khóa - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 2.13. Mức độ sắp xếp tính quan trọng của các chủ đề trong khóa (Trang 92)
Bảng 3.1. Bảng kế hoạch th c hi n khóa tập huấn GD GTS - KNS - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 3.1. Bảng kế hoạch th c hi n khóa tập huấn GD GTS - KNS (Trang 117)
Bảng 3.3. Bảng kế hoạch th c hi n khóa tập huấn GD GTS - KNS - Xây dựng chương trình tập huấn giá trị sống   kỹ năng sống dựa vào cộng đồng dành cho giáo viên mầm non thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh
Bảng 3.3. Bảng kế hoạch th c hi n khóa tập huấn GD GTS - KNS (Trang 118)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w