1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục hướng nghiệp cho học viên ở trung tâm GDNN GDTX thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

125 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN VIẾT THANH GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VIẾT THANH

GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VIẾT THANH

GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành:

Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Ngưới hướng dẫn khoa học: PGD.TS Hà Thế Truyền

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Viết Thanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ các thầy cô giáo, bạn bè và các cơ quan trong và ngoài ngành GD&ĐT Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Sư Phạm Hà Nội; Ban giám đốc Trung tâmGDNN-GDTX Móng Cái đã tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS

Hà Thế Truyền, người đã hướng dẫn nhiệt tình, tâm huyết và giúp tác giả trau dồi phương pháp nghiên cứu khoa học, bổ sung cho tác giả những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tác giả hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn tiếp tục được hoàn thiện tốt hơn

Xin trân trọng cảm ơn

Trang 5

6 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

11 GDHN-DN Giáo dục Hướng nghiệp và Dạy nghề

12 GDNGLL Giáo dục ngoài giờ lên lớp

13 GDNN-GDTX Giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên

15 HĐGDHN Hoạt động giáo dục hướng nghiệp

19 KHKT-CN Khoa học kỹ thuật – Công nghệ

20 KT-XÃ HộI Kinh tế xã hội

25 THCS,THPT Trung học cơ sở,Trung học phổ thông

26 Sở GD-ĐT Sở Giáo dục và Đào tạo

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Những khái niệm cơ bản liên qua đến đề tài 10

1.2.1 Nghề nghiệp 10

1.2.2 Hướng Nghiệp 11

1.2.3.Giáo dục hướng nghiệp 12

1.2.4 Phân Luồng học sinh 13

1.2.5 Biện pháp giáo dục hướng nghiệp 13

1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 14

1.3.1.Đặc điểm tâm lý học sinh trung học phổ thông 14

1.3.2 Cách thức tìm hiểu nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông từ nhiều nguồn thông tin khác nhau 15

1.3.3 Các con đường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 17

1.4 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và yêu cầu giáo dục hướng nghiệpcho học viên 17

Trang 7

1.4.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên 17 1.4.2 Đặc điểm học viên bổ tục trung học phổ thông 18 1.4.3 Yêu cầu về giáo dục hướng nghiệp cho học viên bổ tục trung học phổ thông 18 1.4.4 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyênvới công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh hệ bổ túc trung học phổ thông 19

1.5 Giáo dục hướng nghiệp cho học viên tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyêntrong bối cảnh đổi mới giáo dục 21

1.5.1 Quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục 21 1.5.2 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông 22 1.5.3 Định hướng đổi mới giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 23 1.5.4 Quá trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thôngtrong bối cảnh đổi mới giáo dục 25 1.5.4.1 Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục 25 1.5.4.2 Nội dung, chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục 26 1.5.4.3 Phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thôngtrong bối cảnh đổi mới giáo dục 27 1.5.4.4 Đối tượng, lực lượng giáo dục hướng nghiệp theo định hướng đổi mới giáo dục 33 1.5.4.5 Phương tiện, điều kiện phục vụ giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thôngtrong bối cảnh đổi mới giáo dục 34

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục 34

1.6.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDHN 34

Trang 8

1.6.3 Năng lực của những người làm công tác giáo dục hướng nghiệp 35

1.6.4 Điệu kiện, môi trường giáo dục hướng nghiệp 36

Kết luận chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN TRUNG TÂM GDNN-GDTX THÀNHPHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 38

2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 38

2.1.1 Mục đích, yêu cầu khảo sát 38

2.1.2 Nội dung khảo sát 38

2.1.3 Đối tượng khảo sát 38

2.1.4 Phương pháp khảo sát 39

2.1.5 Tiến hành khảo sát 39

2.1.6 Phương pháp xử lý số liệu 40

2.1.7 Tiêu chí đánh giá 40

2.2 Khái quát về thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh 40

2.2.1 Về vị trí địa lý 40

2.2.2 Về Giáo dục – đào tạo 41

2.3 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học viên hệ bổ túc trung học phổ thông ở Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh 42

2.3.1 Thực trạng học sinh tìm hiểu về nghề nghiệp từ nhiều nguồn thông tin 42

2.3.2 Thực trạng thực hiện các con đường giáo dục hướng nghiệp 43

2.4 Thực trạng quá trình giáo dục hướng nghiệp chohọc sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục 45

2.4.1 Thực trạng việc thực hiện mục tiêu giáo dục hướng nghiệp 45

2.4.2 Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình GDHN 47

2.4.3 Thực trạng sử dụng phương pháp, hình thức GDHN 49

2.4.4 Thực trạng về cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục hướng nghiệp 52

Trang 9

2.4.5 Thực trạng lực lượng tham gia công tác giáo dục hướng nghiệp 53

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục hướng nghiệp cho học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục 56

2.5.1 Thực trạng nhận thực về tầm quan trọng của GDHN 56

2.5.2 Thực trạng năng lực của cán bộ, giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp 63

2.5.3 Thực trạng nguồn lực phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp 64

2.6 Đánh giá chung về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh 65

2.6.1 Ưu điểm 65

2.6.2 Hạn chế 65

2.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế trên 66

2.7 Bài học kinh nghiệm về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở một số nước trên thế giới 67

2.7.1 Ở Philipines 67

2.7.2 Ở Úc 67

2.7.3 Ở Mỹ 68

2.7.4 Ở Nhật Bản 69

Kết luận chương 2 71

Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC VIÊN Ở TRUNG TÂM GDNN-GDTX THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 72

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 72

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo mục đích của GDHN 72

3.1.2 Nguyễn tắc đảm bảo tính khoa học 72

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 72

Trang 10

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 73

3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73

3.2 Biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho học viên Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục 73

3.2.1 Tích hợp giáo dục hướng nghiệp vào các môn học theo định hướng đổi mới giáo dục 74

3.2.2 Mời chuyên gia nói chuyện về nghề nghiệp và chọn nghề trong xã hội hiện đại 76

3.2.3 Tổ chức tham quan các doanh nghiệp 78

3.2.4 Tư vấn hướng nghiệp theo định hướng đổi mới 79

3.2.5 Mời cựu học sinh thành đạt về trường trao đổi về chọn nghề nghiệp 82

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83

3.4 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 84

3.4.1 Mục đích khảo sát 85

3.4.2 Đối tượng khảo sát 85

3.4.3 Qui trình khảo sát 85

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 91

2.1 Đối với UBND tỉnh và Sở GD-ĐT Quảng Ninh 91

2.2 Đối với nhà trường 91

2.3 Đối với gia đình học sinh 92

PHỤ LỤC 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨUCÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 108

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 11

Bảng 2.1 Danh sách 4 trường có hệ THPT khảo sát……… 38

Bảng 2.2 Học sinh tìm hiểu về nghề nghiệp từ các nguồn thông tin khác nhau 42

Bảng 2.3 Đánh giá về các hình thức GDHN trong nhà trường 43

Bảng 2.4 Kết quả về việc xác định mục tiêu GDHN khi thiết kế bài dạy của GV 45

Bảng 2.5 Mức độ đạt được các mục tiêu GDHN 47

Bảng 2.6 Mức độ thực hiện các nội dung GDHN 48

Bảng 2.7 Mức độ sử dụng hình thức GDHN cho HS 50

Bảng 2.8 Mức độ yêu thích các hình thức GDHN của HS 50

Bảng 2.9 Mức độ sử dụng phương pháp GDHN 51

Bảng 2.10 Đánh giá thực trạng CSVC, điều kiện phục vụ GDHN 52

Bảng 2.11 Nhận thực về tầm quan trọng của lực lượng tham gia GDHN cho HS 53

Bảng 2.12 Nhận thức về tầm quan trọng của việc phối hợp giữa các lực lượng tham gia GDHN 54

Bảng 2.13 Lý do chọn trường của học sinh 60

Bảng 2.14 Lý do chọn ngành học của học sinh 61

Bảng 2.15 Nguồn thông tin học sinh có được về ngành học 62

Bảng 2.15 Đối tượng giúp học sinh chọn nghề có hiệu quả 62

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ thực hiện nội dung hướng nghiệp thông qua chương trình môn học và hoạt động giáo dục khác 49 Biểu đồ 2.2 Phương tiện phục vụ GDHN cho HS 52 Biểu đồ 2.3 Mức độ quan tâm của giáo viên đến vấn đề GDHN cho HS 57 Biểu đồ 2.4 Mức độ quan tâm của học sinh đến vấn đề lựa chọn nghề nghiệp (%) 58 Biểu đồ 2.5 Dự định của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT(%) 59

Trang 13

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Quá trình hướng nghiệp 16

Sơ đồ 1.2 Quá trình phát triển việc làm 17

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới và cải cách nền kinh tế Việt Nam đã phát triển nhanh chóng Từ một quốc gia kém phát triển trở thành quốc gia đang phát triển, vị thế đất nước đang dần được khẳng định và ngày càng được nâng cao trên chính trường quốc tế Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài bởi vì: an ninh chính trị được đảm bảo, tỉ lệ công dân trong độ tuổi lao động cao, chi phí nhân công thấp, kinh tế tăng trưởng nhanh, tỉ lệ

hộ nghèo giảm rõ rệt và đặc biệt là tỉ lệ người dân biết chữ cao, trình độ giáo dục trung học, cao đẳng và đại học phát triển cao hơn nhiều so với các nước có thu nhập bình quân đầu người( GDP) tương đương

Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế, đặc biệt kể từ khi chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới(WTO), nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam lại càng trở lên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công trên con đường hội nhập

kinh tế quốc tế Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định:” phát triển và

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chất lượng, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởngvà là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Đặc biệt coi trong và phát triển đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn, Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ

và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu phát triển của xã hội Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Chú trọng phát triển bồi dưỡng, phát huy nhân tài, đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức ”

Trang 15

Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội

Để đạt được mục tiêu này( Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã

đề ra) công tác giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng trong tiến trình xây dựng, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ báo cáo chính trị tại Đại Hội IX của Đảng đã xác định:” Giáo dục, đào tạo là một trong những động lực quan trọng, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực con người – yếu tố căn bản để tăng trưởng kinh tế, xã hội nhanh chóng và bền vững” Như vậy, nền kinh tế - xã hội tăng trưởng và phát triển bền vững thị việc giáo dục

và đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có đạo đức tốt, có tri thức vững vàng và kỹ năng lao động thành thạo là tính tất yếu của nền kinh tế thị trường phát triển Đồng thời, thông qua sự phát triển chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tạo nên khả năng chiến thắng cao hơn trong việc cạnh tranh thị trường lao động quốc tế Vì thế để phát huy vai trò to lớn của giáo dục – đào tạo và quản lý giáo dục, đào tạo có hiệu quả, các ngành, các cấp cần phải đổi mới tư duy phát triển giáo dục, đổi mới công tác quản lý nhằm tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp giáo dục, trong đó hoạt động Giáo dục hướng nghiệp(GDHN) là một nhiệm vụ quan trọng, là thành tố cấu tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Nghị quyết TW2 khóa VIII đã nhận định khái quát:” Công tác hướng nghiệp

ở bậc phổ thông chưa được chú ý đúng mức" và khẳng định:" mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, ngoại ngữ, tin học ở trường trung

Trang 16

Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 và chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho cho học sinh đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục được đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu xã hội

Trong chương trình GDPT, mục tiêu chung của hoạt động " Giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông" là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề Thông qua hoạt động GDHN và giáo dục nghề phổ thông, giáo viên giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề trên cơ sở đó các em định hướng đi vào lĩnh vực sản xuất mà xã hội đang có nhu cầu nhân lực

Hiện nay, một trong những bức xúc của nền giáo dục phổ thông nước ta là vấn đề phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở( THCS) và THPT Hàng năm, ở nước ta có hơn 2 triệu học sinh tốt nghiệp THCS và hơn 1,2 triệu học sinh tốt nghiệp THPT ra trường, tạo cho đất nước một nguồn lao động dự trữ có học vấn phổ thông và một nguồn tuyển sinh lớp Mục tiêu của GDHN là giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp đúng đắn để lập nghiệp sau khi học xong phổ thông Tuy nhiên, do việc GDHN cho học sinh chưa tốt, tình trạng thừa thầy thiếu thợ, mất cân đối trong cán cân nhân lực xã hội, các trường đào tạo tràn lan mà ra trường không

có việc làm hoặc làm trái ngành nghề được đào tạo diễn ra khá phổ biến, gây nhiều

hệ lụy cho sự phát triển kinh tế - xã hội Khâu định hướng của GDHN trong nhà trường chưa hoàn thành trách nhiệm nên khi ra trường các em chưa được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi vào lao động sản xuất, đáp ứng yêu cầu phân công lao động cho

xã hội của từng địa phương và cả nước

Móng Cái là thành phố biên giới thuộc tỉnh Quảng Ninh có tiềm năng kinh

tế, đời sống của người dân ngày một nâng cao Chất lượng giáo dục trong các nhà trường luôn giành được kết quả cao Tuy nhiên hoạt động GDHN trong các nhà trường trên địa bàn thành phố còn nhiều hạn chế và bất cập Để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, thành phố Móng Cái cần có nguồn

Trang 17

nhân lực dồi dào, đồng bộ và có chất lượng Vì vậy, GDHN cho học sinh trong bối cảnh đổi mới giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài:" Giáo dục hướng nghiệp cho học viên ở Trung tâm GDNN-GDTX Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục"

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về GDHN, khảo sát thực trạng GDHN ở Trung tâm GDNN-GDTX thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh, luận văn có mục đích đề xuất các biện pháp GDHN cho học viên Trung tâm GDNN-GDTX Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động GDHN cho học viên Trung tâm GDNN-GDTX trong bối cảnh đổi mới giáo dục

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp GDHN cho học viên Trung tâm GDNN-GDTX thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

4 Giả thuyết khoa học

Việc chọn nghề của đa số các học viên ở Trung tâm GDNN-GDTX và các trường THPT trên địa bàn thành phố Móng Cái - Quảng Ninh chủ yếu dựa và cảm tính, theo phong trào, do nhà trường chưa làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Nếu các trường có dạy hệ THPT trên địa bàn thành phố Móng Cái áp dụng các biện pháp giáo dục theo định hướng đổi mới giáo dục do tác giả đề xuất một cách đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay thì sẽ nâng cao được hiệu quả của công tác giáo dục hướng nghiệp, góp phần chuẩn bị tốt nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của địa phương và xã hội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về GDHN cho học sinh THPT theo định hướng đổi mới giáo dục

Trang 18

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN ở Trung tâm GDNN-GDTX Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

5.3 Đề xuất và khảo nghiệm sự cần thiết, tính khả thi của một số biện pháp nâng cao GDHN cho học viên ở Trung tâm GDNN-GDTX Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động GDHN cho học sinh, học viên

ở 4 trường có hệ THPT: Trường THPT Lý Thường Kiệt, Trường THCS-THPT Chu Văn An, Trường THPT Trần Phú, Trung tâm GDNN-GDTX Móng Cái - Quảng Ninh

Các số liệu được khảo sát trong thời gian 3 năm trở lại đây( năm học 2012 -

2013 đến năm học 2014 - 2015)

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu văn bản khoa học để làm lịch sử nghiên cứu vấn đề và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động giáo dục hướng nghiệp của giáo viên và học sinh ở các trường THPT

- Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu thực trạng GDHN cho học sinhTHPT

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Thông qua phân tích đánh giá kết quả GDHN cho học sinh THPT

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia, các nhà giáo có kinh nghiệm về GDHN để đề xuất các biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục,

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GDHN qua các năm trước đây

Trang 19

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ

Đề tài sử dụng các công thức toán học thống kê và phần mềm máy tính để xử

lý số liệu điều tra và kết quả nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về GDHN cho học sinh THPT theo định hướng đổi mới giáo dục

Chương 2: Thực trạng GDHN cho học viên Trung tâm GDNN-GDTX thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Chương 3: Biện pháp GDHN cho cho học viên Trung tâm GDNN-GDTX thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây các nhà khoa học sư phạm như: Heinz Frankiez, Ubrich Viets đã đề xuất và áp dụng hình thức giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông cho học sinh phổ thông tại các trung tâm kỹ thuật tổng hợp, trung tâm giáo dục thường xuyên và ở các nhà máy, xí nghiệp Việc hướng dẫn học nghề phổ thông là do các công nhân lành nghề và các giáo viên dạy nghề ở các nhà máy, xí nghiệp ở các trung tâm kĩ thuật tổng hợp thực hiện, còn các giáo viên phổ thông chỉ tổ chức theo dõi và đón nhận những nhận xét và kết quả học nghề của từng học sinh Ngoài ra các cơ quan Nhà nước tham gia vào việc hoạch định kế hoạch giáo dục nghề phổ thông, định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp vào các trường nghề chuyên nghiệp hoặc trường cao đẳng (CĐ), đại học (ĐH) tiếp theo phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của công dân

Với mô hình này, việc quản lý giáo dục hướng nghiệp hầu hết được thực hiện (chủ yếu) bởi trung tâm dạy nghề hoặc bởi các nhà máy, xí nghiệp liên kết với nhà trường làm nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp Nhà trường phổ thông chỉ tham gia một phần trong hệ thống quản lý trên, đó là lập kế hoạch hướng nghiệp, tổ chức ban đầu theo biên chế học sinh

Ở Cộng hòa liên bang Đức, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như Wolfgang Schulz lại xác định giáo dục hướng nghiệp là nhằm sáng tỏ thêm những kiến thức có liên quan được truyền thụ cho học sinh THPT, giúp cho học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản nhất, dễ dàng phát triển, hòa nhập với cuộc sống lao động xã hội Thông qua đó học sinh hình thành những kĩ năng lao động kĩ thuật, thể hiện quan điểm học đi đôi với hành Việc quản lý giáo dục hướng nghiệp

ở mô hình này được thực hiện toàn bộ trong phạm vi nhà trường phổ thông

Trang 21

Mô hình giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông ở Liên Xô cũ cũng có nét tương tự với Cộng hòa liên bang Đức Ở đây các nhà khoa học sư phạm

đã đề cập nhiều đến giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; PP Atutop, Batustep, H.Sararinxki áp dụng phương pháp thực hành lao động hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tại xưởng trường, tại liên trường trong khu vực với các thiết bị máy móc sản xuất ở nhà máy Giáo dục hướng nghiệp như trên đã liên hệ mật thiết với kiến thức trong kho tàng lý thuyết của học sinh, đồng thời hình thành những thao tác kỹ thuật, thao tác lao động nghề nghiệp, học sinh được liên hệ thực tiễn công nghiệp thông qua việc làm quen với máy móc, tạo hứng thú cho học sinh

Các nước phát triển cao như Mỹ, cũng định hướng phân luồng cho học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, trong đó đào tạo nghề chiếm 24% vào những năm 1980 - 1990, 48% học sinh vào những trường dạy nghề và tham gia vào lao động sản xuất 1995 Còn ở Nhật, số học sinh chiếm 60% qua đào tạo nghề năm

1996

Với quan điểm trên, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh được xem là một

bộ phận của giáo dục nghề nghiệp và giáo dục nghề nghiệp gắn liền với công tác hướng nghiệp của Nhà nước Việc giáo dục hướng nghiệp có tính chọn lọc cao, có chương trình nội dung phong phú Nhiệm vụ quản lý giáo dục nghề phổ thông được thực hiện đồng thời với công tác quản lý khác do Nhà nước qui định

Tại Philipines giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông cũng thực hiện theo mô hình trên, song yêu cầu cao hơn về tay nghề Học sinh phổ thông khi tốt nghiệp phải đạt trình độ thợ bậc 1/7 đến 2/7 Nghề được học, được chú trọng gắn liền với nhu cầu của nền kinh tế xã hội, đó là: Nghề điện tử, tin học, thông tin, thương mại Yêu cầu chất lượng chuyên môn, tổ chức học tập và việc đánh giá kết quả có cao hơn, đòi hỏi công tác giáo dục hướng nghiệp cũng cao hơn

1.1.2 Ở Việt Nam

Chỉ thị 14/2001/CT- TTg của Thủ Tướng Chính phủ về đổi mới chương trình trình giáo dục phổ thông, đội ngũ CBQL và GV cần nâng cao hơn nữa nhận thức về

Trang 22

ý nghĩa, mục đích, nội dung và những biện pháp thực hiện giáo dục hướng nghiệp

và giáo dục nghề cho học sinh trung học

Tiếp theo Chỉ thị của Thủ Tướng Chính phủ, Chỉ thị số 33/2003/CT- BGDĐT, ngày 23 tháng 7 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông đã nêu: "Các Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tăng cường chỉ đạo việc triển khai thực hiện qui chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH-HN, có kế hoạch bổ sung đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất cho các trung tâm hiện có để trung tâm hoàn thành nhiệm vụ hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông và có đủ điều kiện thực hiện nội dung giáo dục nghề phổ thông trong chương trình THCS và THPT mới ".[7]

Trong văn bản Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục trung học năm học

2014 - 2015, số 4099/BGDĐT - GDTrH ngày 05 tháng 8 năm 2014, cũng xác định

rõ phải: Nâng cao chất lượng giáo dục nghề phổ thông tại các trường, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp; khuyến khích việc dạy nghề truyền thống của địa phương, nghề phổ thông về "Tìm hiểu kinh doanh" ở những nơi có điều kiện thuận lợi Tiếp tục đa dạng các phương thức tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh trung học [10]

Những vấn đề giáo dục hướng nghiệp, phân luồng ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [15], Nguyễn Văn Hộ [17], Trần Khánh Đức [16], Hà Thế Truyền [30,31,32], Đặng Danh Ánh [1,2], Nguyễn Viết Sự [28], Nguyễn Minh Trí [29], Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền - Bùi Văn Quân [23], Nguyễn Trọng Bảo [5], Phạm Huy Thụ [33] Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập chung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp cho học sinh trung học

Tác giả Nguyễn Trọng Bảo: "Vấn đề GDHN vừa là một vấn đề cơ bản, vừa

là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông ngày nay" và để làm tốt hơn thì

"GDHN phải được quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường Đó không chỉ là nhiệm vụ riêng của nhà trường, của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ của tất cả các

Trang 23

cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn xã hội" [5, tr13,36]

Tác giả Phạm Huy Thụ:“Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông

yêu cầu cao về sự phù hợp nghề của con người, luôn luôn tính đến sự phát triển nhân cách và sự tiến bộ nghề nghiệp của người lao động Tinh thần nhân đạo được quán triệt trong nội dung hướng dẫn chọn nghề, trong tư vấn nghề nghiệp…Mặt khác công tác hướng nghiệp lại phải bảo đảm quyền bình đẳng chọn nghề của mỗi trẻ em”[33, tr9]

Các tác giả Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền - Bùi Văn Quân đã khẳng định:

"Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và

xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân"[23,tr38]

Tóm lại, giáo dục hướng nghiệp, phân luồng đã trở thành vấn đề xã hội mang tính toàn cầu sâu sắc, nhưng các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp, phân luồng cho học sinh trung học ở trong nước cũng như ngoài nước còn

ít, chưa đi sâu vào nghiên cứu từng vấn đề và sự phù hợp với từng đối tượng học sinh Tuy nhiên, các công trình đó có giá trị về mặt phương pháp lý luận và cơ sở lí luận giúp ích cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu này

1.2 Những khái niệm cơ bản liên qua đến đề tài

1.2.1 Nghề nghiệp

Theo từ điển tiếng Việt, Nghề nghiệp là:" Công việc chuyên môn làm theo sự

phân công lao động của xã hội"

Theo ngôn ngữ chung, nghề nghiệp được hình thành bởi hai từ ghép: nghề và nghiệp Nghề là khái niệm về các dạng( loại, kiểu, hình thức) lao động bằng kiến thức, kỹ năng đặc trưng, người lao động có thể làm ra các loại sản phẩm tương ứng

để phục vụ cho cuộc sống cá nhân và nhu cầu tiêu dùng của xã hội Nghiệp là khái niệm nói về sự nghiệp, là nền tảng của cuộc sống, đảm bảo cho sự thành đạt, hạnh phúc của mỗi cá nhân Nghề luôn gắn liền với nghiệp, nên được gọi là nghề nghiệp

Trang 24

Người lao động có nghề nghiệp là người đã được đào tạo về chuyên môn, nghiệp

vụ, có việc làm và làm tốt các công việc được phân công

Nghề xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động, xã hội phát triển nghề cũng luôn ở trong trạng thái biến động Xã hội càng phát triển nhiều nghề cũ mất đi, nhiều nghề mới xuất hiện, trong xã hội hiện đại nghề nghiệp rất đa dạng, các mức độ chuyên môn sâu và tính kỹ thuật ngày càng cao

Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu được: nghề nghiệp là một dạng lao động xã hội, nhờ được đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ tích cực với nghề, có thể tạo ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần tương ứng, nhằm đáp ứng các nhu cầu của bản thân và xã hội

1.2.2 Hướng Nghiệp

Có nhiều lĩnh vực khoa học đề cập đến công tác hướng nghiệp Vì vậy, để hiểu bản chất của khái niệm này, tác giả xin đề cập một số định nghĩa khác nhau:

Những nhà giáo dục hiểu: Hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế

hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống này điều chỉnh sự lựa chọn nghề của học sinh cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xã hội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân

Trong tâm lý học: Hướng nghiệp được coi như một quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào hoạt động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lý đó chính là tâm thế lao động – một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động

để họ yêu thích nghề nghiệp và gắn bó với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn, đảm bảo thích ứng năng lực của bản thân

Phương diện khoa học lao động: Hướng nghiệp là hình thức giám định lao động có tính chẩn đoán Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề của trừng người cụ thể, trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa các đặc điểm tâm – sinh lý của người học với những yêu cầu của một nghề mà mình đã lựa chọn, đảm bảo thích ứng năng lực của bản thân

Trong trường THPT: Hướng nghiệp vừa là hoạt động giảng dạy của thầy, vừa là hoạt động của trò Như vậy có nghĩa là trong công tác hướng nghiệp, giáo

Trang 25

viên là người tổ chức, người hướng dẫn, còn học sinh là người chủ động tham gia vào hoạt động để tiếp cận với hệ thống nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai

Như vậy, theo chúng tôi: Hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất trong xã hội Là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phải phù hợp với hứng thú năng lực bản thân

1.2.3.Giáo dục hướng nghiệp

Theo từ điển Tiếng việt (NXB Đà Nẵng, 1998) thì hướng nghiệp (HN) được

hiểu là “Thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới

năng khiếu, năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” hoặc được

hiểu với nghĩa “giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” Đây có thể xem như là một

khái niệm chung nhất về HN

Trong cơ sở giáo dục phổ thông, hoạt động GDHN là một hệ thống các tác động của các lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động theo những định hướng nhất định, giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội về khả năng đóng góp của mỗi người vào cuộc sống lao động sản xuất, đem lại lợi ích cho mỗi cá nhân và toàn xã hội Với đặc điểm của chương trình là phổ thông, cơ bản và GDHN cũng bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò

GDHN được coi như là công việc của toàn thể giáo viên, tập thể sư phạm trong nhà trường nhằm mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các

em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội

Như vậy, GDHN trong nhà trường phổ thông được thể hiện như một hệ

Trang 26

Khi xem xét GDHN là một trong những nội dung của hoạt động giáo dục, thông qua hoạt động hướng nghiệp mỗi HS lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, có kỹ năng tự đối chiếu những đặc điểm tâm

- sinh lý của bản thân với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động

sự lựa chọn và sự tự quyết định

1.2.4 Phân Luồng học sinh

Phân luồng học sinh là việc xác định các mục tiêu và tổ chức hệ thống giáo dục đào tạo phù hợp với yêu cầu, cơ cấu của lực lượng lao động xã hội nhằm đáp ứng chiến lược phát triển cân đối, bền vững của mỗi quốc gia, trên cơ sở đó định hướng cho sự phát triển giáo dục các ngành các cấp học

Phân luồng HS sau mỗi cấp học là giúp cho các em chủ động lựa chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đo phù hợp với hoàn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để HS tốt nghiệp THCS, THPT tiếp tục học ở các cấp học hoặc trình cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của mỗi cá nhân và nhu cầu xã hội góp phần điều tiết ngành nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước

1.2.5 Biện pháp giáo dục hướng nghiệp

Theo từ điển tiếng Việt:" Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề

cụ thể" Trong lĩnh vực giáo dục, biện pháp là cách thức tiến hành một hoạt động giáo dục, là yếu tố hợp thành của phương pháp giáo dục và đồng thời phụ thuộc vào phương pháp và mục tiêu giáo dục

Mỗi phương pháp giáo dục có thể bao gồm nhiều biện pháp giáo dục Biện pháp giáo dục bao hàm hai tầng bậc: biện pháp lớn là cách giải quyết các vấn đề có tính khái quát, phạm vi rộng( vĩ mô); biện pháp nhỏ nằm trong biện pháp lớn, là

Trang 27

cách giải quyết, cách làm cụ thể( vi mô) Nhiều biện pháp khác nhau nhưng cùng loại và để giải quyết một vấn đề chung thường được gọi là nhóm biện pháp

Biện pháp GDHN là một biện pháp giáo dục, là cách làm, cách giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực GDHN Trong luận văn này biện pháp GDHN là đề cập đến mục tiêu, nội dung, cách tổ chức thực hiện và điều kiện thực hiện GDHN ở cấp THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục

1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

1.3.1.Đặc điểm tâm lý học sinh trung học phổ thông

Học sinh THPT thuộc lứa tuổi đầu thanh niên, là thời kỳ đang trưởng thành

về mặt tâm, sinh lý, thể lực Các hệ cơ, xương, thần kinh, sinh dục phát triển nhanh tạo cho các em có cơ thể cân đối, khỏe và đẹp Sức mạnh cơ thể gần đạt như người lớn, giúp các em có điều kiện tham gia vào nhiều hoạt động xã hội, lao động, học tập… Qua đó, kiến tạo nên cấu trúc tâm lý mới, chất lượng mới trong hoạt động trí tuệ và các mặt tâm lý khác

Học tập là hoạt động chủ đạo được điều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, hình thành những hành vi, những dạng hoạt động, những giá trị nhân cách

Thái độ và ý thức đối với học tập ngày càng phát triển cách em đã hiểu vốn kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là điều kiện cần thiết để các em bước vào cuộc sống tương lai Do đó, nhu cầu kiến thức của các em tăng lên một cách rõ rệt, đối với việc học đã có sự lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng chọn nghề cho tương lai

Ở lứa tuổi THPT, học sinh có nét tâm lí đặc biệt đó là thường băn khoăn suy nghĩ xác định phương hướng cho tươnglai Các em hay tự hỏi: " mình sẽ làm nghề gì?", " mình sẽ là người như thế nào?"… Một vấn đề quan trọng của học sinh THPT

là việc chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân mà trước hết là chọn nghề

Nhìn chung hiện nay, các em còn định hướng một cách phiến diện, đa số các

em muốn vào được trường đại học hơn là chọn được nghề phù hợp Tâm thế chuẩn

Trang 28

bị bước vào đại học như thế có ảnh hưởng tiêu cực đến các em, nếu dự định của các

em không thực hiện được

Chọn nghề là một công việc hết sức quan trọng và cũng hết sức khó khăn trong cuộc đời mỗi con người Nhiều thanh niên học sinh, do thiếu hiểu biết về nghề nghiệp nên đã mắc sai lầm trong việc chọn nghề Kết quả sự lựa chọn nghề không phù hợp dẫn đến tình trạng chán nghề, muốn đổi nghề hoặc bỏ nghề, vừa gây thiệt hại cho cá nhân vừa gây khó khăn và tổn phí cho gia đình và cho nhà nước

Bên cạnh những đặc điểm chung của lứa tuổi học sinh THPT, học viên ở các Trung tâm GDNN-GDTX có những đặc điểm riêng của học sinh học trong môi trường giáo dục không chính quy, đó là:

+ Do hạn chế về mặt nhận thức và điều kiện, hoàn cảnh, học viên BTTHPT thường có tâm lý tự ti, mặc cảm, thiếu động lực để cố gắng Xét ở góc độ đặc điểm con người trong xu hướng phát triển, học viên BTTHPT được xếp vào nhóm ít có thể phát triển học văn hóa lên cao nhưng lại có ưu điểm hơn khi tham gia học nghề Làm tốt công tác GDHN cho các em sẽ góp phần phát triển lực lượng lao động được đào tạo tại chỗ của địa phương nhất là đội ngũ công nhân kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu lao động có tay nghề cho xã hội, đồng thời rút ngắn thời gian, tiết kiệm tiền bạc cho bản thân và gia đình học viên

+ Chất lượng đầu vào của học viên BTTHPT thấp, đa số các em không nắm vững kiến thức cơ bản đã học ở cấp THCS, ý thức, thái độ và động cơ học tập chưa tốt Hiện nay, chất lượng đầu vào của học viên đang từng bước được nâng cao do có

sự chỉ đạo quyết liệt về công tác chuyên môn từ cấpTiểu học, THCS

1.3.2 Cách thức tìm hiểu nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

từ nhiều nguồn thông tin khác nhau

Ta thấy tâm lý của con người không phải là bất biến, nó luôn luôn thay đổi nhất là đối với lứa tuổi học sinh, dưới sự giáo dục của nhà trường và sự rèn luyện của bản thân Do năng lực, nguyện vọng của cá nhân cũng thay đổi nên giáo dục hướng nghiệp cho học sinh là quá trình liên tục lâu dài: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, giáo dục lao động, thông tin định hướng nghề nghiệp… là quá trình theo

Trang 29

dõi phát hiện, bồi dưỡng tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết, quá trình rèn luyện và củng cố sức khỏe và các khả năng tâm sinh lý để định hướng nghề cho các em… Trên bình diện xã hội quá trình hướng nghiệp được thể hiện qua sơ đồ 1.4 sau:

Bồi dưỡng

Đào tạo lại

Sơ đồ 1.1 Quá trình hướng nghiệp

GDHN cho học sinh không chỉ dừng lại ở trường THPT mà nó còn được tiến hành trong các trường đại học, trường cao đẳng, trường TCCN…Nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn của nền kinh tế tri thức, giai đoạn thông tin chiếm vị thế hàng đầu, giai đoạn mà ta không chỉ làm việc với một ông chủ, thì GDHN còn phải tiến hành trong cả quá trình làm việc, lao động để người lao động có khả năng thích nghi và thay đổi việc làm với cơ chế lao động mới

Định hướng

nghề

Thích ứng nghề (Học

nghề)

Phù hợp nghề (Hành nghề)

TRƯỜNGPHỔ

THÔNG

TRƯỜNG TRUNG CẤP

CƠ SỞSẢN XUẤT KINH DOANH

Phù hợp nghề Thích ứng nghề; Học nghề

Định hướng nghề

PHƯƠNG TIỆN THÔNGTIN

CÁC TỔ CHỨC

XÃ HỘI

CƠ QUAN CHUYÊN MÔN GIA ĐÌNH

Trang 30

Sơ đồ 1.2 Quá trình phát triển việc làm

1.3.3 Các con đường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Để làm được các nhiệm vụ GDHN cho học sinh trung học phổ thông có thểthực hiện qua các con đường sau đây:

- Hướng nghiệp qua hoạt động tư vấn hướng nghiệp

- Hướng nghiệp qua dạy kỹ thuật công nghệ và dạy nghề phổ thông

- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp (SHHN)

- Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa (HĐNK) như hoạt động thăm quan các cơ sở sản xuất, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề

1.4 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và yêu cầu

giáo dục hướng nghiệp cho học viên

1.4.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên

Theo Điều 44, Luật Giáo dục 2005: Giáo dục Thường xuyên giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Trung tâm GDNN-GDTX là cơ sở giáo dục trong hệ thống GDQD, có chức năng, nhiệm

vụ được quy định tại Quyết định số 01/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/01/2007 của

Bộ GD&DT Trong đó có các chương trình giáo dục có liên quan đến nhiệm vụ GDHN, bao gồm:

- Các chương trình GD đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức,

kỹ năng, chuyển giao công nghệ;

- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: bồi dưỡng ngoại ngữ, Tin học, Ứng dụng CNTT – truyền thông; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, …

Trang 31

- Tổ chức dạy và thực hành kỹ thuật nghề nghiệp, các hoạt động laođộng sản xuất và các hoạt động khác phục vụ học tập, hình thành kỹ năng cho người học Trung tâm GDNN-GDTX tổ chức dạy các nghề thông dụng đang phát triển ở địa phương nhằm giúp người học có tay nghề ở mức độ nhất định nhằm góp phần ổn định cuộc sống và phát triển sản xuất

- Hỗ trợ để các trường TCCN, ĐH-CĐ tổ chức thực hiện chương trình đào tạo không chính quy tại địa phương

1.4.2 Đặc điểm học viên bổ túc trung học phổ thông

- Theo xu hướng phát triển của xã hội, học viên vào học BTTHPT hiện nay khá đa dạng Mỗi đối tượng vào học đều có mục đích học tập khác nhau:

Người lớn tuổi đã tham gia lao động, công tác: tham gia học tập để hoàn thiện học vấn phổ thông, giúp công việc đang làm đạt hiệu quả cao hơn hoặc tiếp tục học nghề, TCCN, ĐH-CĐ Thời gian tham gia học tập chương trình BTTHPT tại các Trung tâm GDNN-GDTX được kết hợp vừa học vừa làm, không làm ảnh hưởng đến công việc của người học Trong quá trình học tập người học được trang

bị những kiến thức văn hóa phổ thông, có cơ hội được tiếp thu những kiến thức mới

ở trình độ cao hơn, tạo động lực để họ lựa chọn hướng học lên để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt hơn công việc mà họ đang làm, thậm chí tạo cơ hội để họ thay đổi nghề nghiệp

1.4.3 Yêu cầu về giáo dục hướng nghiệp cho học viên bổ tục trung học phổ thông

Trong thực tế, việc tiếp cận các hình thức và nội dung GDHN của học viên BTTHPT có nhiều điểm khác biệt so với HS THPT chính quy Cụ thể:

- Hình thức GDHN qua các môn học hầu như không được quan tâmtriển khai trong các Trung tâm GDNN-GDTX hoặc nếu có triển khai thường ít mang lại hiệu quả như mong muốn, vì phần lớn học viên vào học tại Trung tâm GDNN-GDTX có chất lượng đầu vào thấp, giáo viên chỉ tập trung vào việc giúp các em nắm được những kiến thức cơ bản, ít quan tâm đến khía cạnh GDHN

Trang 32

- Học viên Trung tâm GDNN-GDTX không có chương trình sách giáo khoa riêng mà được sử dụng theo chương trình ban cơ bản, gồm 7 môn học chính (Toán, Vật Lý, Hóa, Sinh, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý), mỗi Trung tâm GDNN-GDTX có thể

tổ chức dạy bổ sung các môn học khác: giáo dục công dân, Ngoại ngữ, Tin học, không có môn Công nghệ cũng như môn tự chọn vì vậy hạn chế các em trong việc tham gia các hoạt động GDHN

Hiện nay, bộ GD-ĐT mới có văn bản chỉ đạo về việc phối hợp tổ chức học văn hóa và dạy nghề cho học viên tại các Trung tâm GDNN-GDTX nhằm thực hiện phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THCS Văn bản này mở ra một hướng phát triển mới đối với tất cả các Trung tâm GDNN-GDTX từ cấp huyện về nhiệm vụ GDHN cho học viên BTTHPT

Qua các nghiên cứu và phân tích ở trên cho thấy: đối tượng học viên BTTHPT có đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý khác với học sinh các trường THPT, điều kiện và thời gian học tập cũng khác, vì vậy yêu cầu GDHN cho đối tượng này phải được xem xét ở góc độ khác, theo hướng chuẩn bị cho đào tạo lực lượng lao động có tay nghề nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực tại địa phương, theo hướng đào tạo liên thông để người học tiếp tục được phát triển theo quan điểm GDTX và học tập suốt đời

1.4.4 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên với công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh hệ bổ túc trung học phổ thông

Trung tâm GDNN-GDTX có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy chương trình BTTHPT nhằm tạo cơ hội học tập cho thanh niên và người lớn có thể tiếp tục theo học để đạt được trình độ THPT Mục tiêu của chương trình BTTHPT là giúp người học hoàn thiện học vấn phổ thông trên cơ sở kết quả của chương trình THCS, có những hiểu biết về văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật; giúp học viên có thể làm tốt hơn công việc đang làm hoặc có thể tiếp tục học nghề, trung cấp, ĐH-CĐ

So với nhà trường phổ thông, hiện nay các Trung tâm GDNN-GDTX đều gặp khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên nên việc triển khai các hoạt động GDHN hiệu quả còn thấp Các cơ sở giáo dục chủ yếu thực hiện nhiệm

Trang 33

vụ GDHN qua giáo dục nghề phổ thông, có một số ít trung tâm thực hiện 2-3 chức năng: GD BTTHPT, Hướng nghiệp - Dạy nghề Bộ GD&ĐT mới có chủ trương sát nhập Trung tâm GD-KTTH, HN-DN với Trung tâm GDTX để thực hiện đồng thời nhiều chức năng trên đối tượng học viên của mình và đáp ứng nhu cầu của xã hội.Tuy nhiên, so với nhà trường phổ thông thì các Trung tâm GDNN-GDTX có những thuận lợi về quy chế để kết hợp giữa nhiệm vụ giáo dục BTTHPT, GDHN và dạy nghề, giúp học viên vừa có kiến thức văn hóa phổ thông cần thiết, vừa có những định hướng, kỹ năng nghề nghiệp để chuẩn bị cho cuộc sống lao động và học tập sau khi tốt nghiệp ra trường Trung tâm GDNN-GDTX có nhiều điều kiện để giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Bên cạnh việc tổ chức các lớp BTVH các trung tâm có thể tổ chức các lớp liên kết dạy nghề với các trường TCCN-DN

Khi học viên tham gia lao động và học nghề một cách tự giác, tích cực; lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân mới có thể đem lại hiệu quả thiết thực cho học viên Chính vì vậy, việc giáo dục KTTH phải gắn với học nghề phổ thông; học nghề phổ thông phải gắn với GDHN Nếu làm tốt các nhiệm

vụ đó sẽ giúp cho thế hệ trẻ có được những tri thức cần thiết về kỹ thuật và công nghệ, có năng lực tham gia lao động ngoài xã hội, đồng thời đảm bảo định hướng một cách tự giác cho học viên đi vào các nghề phù hợp và lao động trong mọi ngành sản xuất, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân Từ đó góp phần tích cực vào việc phân luồng học viên sau khi tốt nghiệp BTTHPT và phát triển nguồn nhân lực địa phương, đáp ứng nhu cầu của xã hội

- Tăng cường quản lý hoạt động GDHN cho học viên:

Nhiệm vụ của Trung tâm GDNN-GDTX không chỉ là chẩn đoán những phẩm chất nghề nghiệp cần thiết hiện có ở học viên mà còn làm sáng tỏ mức độ sẵn sàng về tâm lý và thực tiễn của học viên đối với nghề nghiệp mà các em định chọn cũng như kích thích các em tự giáo dục, tự rèn luyện và phát triển những phẩm chất, năng lực còn thiếu của bản thân

Trang 34

1.5 Giáo dục hướng nghiệp cho học viên tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên trong bối cảnh đổi mới giáo dục

1.5.1 Quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục

Trong nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ VIII ban chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chỉ rõ quan điểm chỉ đạo[22]:

- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng, chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học, đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

- Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phải đảm bảo tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng đối tượng và cấp học; giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp

- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng

Trang 35

- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục và đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo

- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo

- Chủ động tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước

1.5.2 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông

Theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc Hội ban hành ngày 28/11/2014

về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông[24]:

- Về mục tiêu đổi mới: "Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển

trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh…Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng".[24]

- Về nội dung đổi mới:" Đổi mới nội dung giáo dục phổ thông theo hướng

tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và định hướng nghề nghiệp; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên Ở cấp trung học phổ thông yêu cầu học sinh một số môn bắt buộc, đồng thời được tự chọn các môn học và chuyên đề học tập theo hình thức tích lũy tín chỉ…"[24]

Định hướng đổi mới về chương trình giáo dục phổ thông:

- Quan điểm xây dựng chương trình GDPT:" Giáo dục phổ thông 12 năm,

Trang 36

trung học cơ sở 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp( cấp trung học phổ thông 3 năm)"

- Mục tiêu chương trình cấp trung học phổ thông:" Nhằm giúp học sinh hình

thành phẩm chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và định hình các phẩm chất, năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở; có khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, có những hiểu biết và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động"

- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp(cấp trung học phổ thông): + Có 4 môn học bắt buộc: Ngữ văn 1, Toán 1, công dân với Tổ quốc, Ngoại ngữ 1

+ Ngoài các môn học bắt buộc, học sinh được tự chọn:

Tự chọn tùy ý (TC1) gồm: Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ

Tự chọn trong nhóm môn học (TC2) gồm 4 môn ( lớp 10, 11) và 3 môn ( lớp 12) trong các môn: Lịch sử, địa lý, ngữ văn 2, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, công nghệ, toán 2, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội Nếu chọn môn khoa học tự nhiên thì không chọn các môn: Vật lý, hóa học, sinh học; nếu chọn môn khoa học

xã hội thì không chọn các môn: Lịch sử, địa lý Các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội chỉ học ở lớp 10 và 11

Tự chọn trong môn học (TC3) gồm: Âm nhạc, mĩ thuật, thể thao, hoạt động trải nghiệm sáng tạo ( lớp 10, 11, 12); chuyên đề học tập( lớp 11, 12)

- Trong cả cấp học trung học phổ thông, học sinh có thể thay đổi môn học tự chọn và chuyên đề học tập tự chọn phù hợp với định hướng nghề nghiệp cá nhân nhưng bắt buộc phải hoàn thành số lượng các môn học, chuyên đề học tập tối thiểu theo quy định trong chương trình giáo dục Chương trình dành một thời lượng nhất định để tạo điều kiện cho học sinh có thể thực hiện sự thay đổi này

1.5.3 Định hướng đổi mới giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Trang 37

Từ những định hướng đổi mới giáo dục và giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học phổ thông cũng được quan tâm đổi mới Chiều ngày 22/4/2016 Thứ trưởng bộ GD – ĐT Nguyễn Vinh Hiển trả lời nhà báo Hoàng Thùy như sau:

1 " Thứ trưởng cho biết những bất cập về hướng nghiệp trong trường phổ thông những năm quá?"

cơ sở vật chất phục vụ hướng nghiệp còn nghèo nàn

- Nhà trường, thầy cô, phụ huynh, học sinh trong một thời gian dài chạy theo điểm số, học và dạy chỉ để phục vụ các kỳ thi

- Tuy nhiên, việc phân luồng kém hiệu quả còn do ngành nghề của xã hội chưa phát triển, ít cơ hội việc làm đa dạng cho người được đào tạo từ các trường nghề

2 " Khi thiết kế chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ GD-ĐT đã có những thay đổi để khắc phục những bất cập trên?"

- Ở cấp THPT, tính hướng nghiệp sẽ rõ hơn khi chương trình được thiết kế với các nhóm môn học tự chọn và các chuyên đề học tập theo sở trường, định hướng nghề nghiệp

- Ngoài ra việc hướng nghiệp sẽ được chú trọng ngay trong từng môn học bằng cách lựa chọn các kiến thức thiết thực, dạy học gắn với giải quyết các vấn đề của cuộc sống, chú trọng các hoạt động thực hành, trải nghiệm sáng tạo Đây là cách hướng nghiệp tự nhiên, được xen kẽ ngay trong nội dung dạy học

- Chương trình giáo dục cấp THPT theo hướng mở với quyện tự chủ cũng

Trang 38

tổ chức các mô hình dạy học gắn liền với thực tiễn lao động sản xuất tại địa phương, tổ chức các chuyên đề dạy học gần với nội dung đào tạo của trường ĐH,

- Chú trọng tính thiết thực của các nội dung dạy học và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng với hoạt động tư vấn trường học để giúp học sinh học xong THCS có thể chọn con đường học lên theo giáo dục nghề nghiệp hoặc THPT, góp phần phân luồng mạnh sau THCS

1.5.4 Quá trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Trước yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực, có thể thấy công tác hướng nghiệp nói chung và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông chiếm một vị trí vô cùng quan trong, góp phần làm tốt công tác chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ CNH - HĐH đất nước Thực hiện theo định hướng đổi mới GDHN, các quan điểm chỉ đạo, hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông cần tập trung vào đổi mới các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố trong quá trình GDHN:

- Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp

- Nội dung, chương trình giáo dục hướng nghiệp

- Phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDHN

- Đối tượng, lực lượng giáo dục hướng nghiệp

- Phương tiện, điều kiện phục vụ hoạt động GDHN

1.5.4.1 Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 đã quy định mục tiêu của GDHN.[12]

- Về kiến thức: Giúp học sinh hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ,

kỹ thuật, quy trình công nghệ và về an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với nghề phổ thông đã học Biết những đặc điểm và yêu cầu của nghề đó

Trang 39

- Về kỹ năng: Có một số kỹ năng sử dụng công cụ, thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm đơn giản theo yêu cầu của mỗi nghề Hình thành và phát triển kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

- Về thái độ: Phát triển hứng thú kỹ thuật và khả năng vận dụng vào hoàn cảnh mới, thói quen làm việc có kế hoạch, bước đầu có tác phong công nghiệp, làm việc theo quy trình và an toàn lao động, vệ sinh môi trường Có ý thức trong việc tìm hiểu nghề và lựa chọn nghề nghiệp

Mục tiêu GDHN theo định hướng đổi mới GD hiện nay trên tinh thần kế thừa văn bản chỉ đạo đã có còn cụ thể hóa định hướng giáo dục; giúp học sinh hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức chủ quyền và nghĩa vụ đối với Tổ quốc; có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân

1.5.4.2 Nội dung, chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Ở cấp THPT, chương trình giáo dục bảo đảm phân hóa mạnh: Học sinh học 4 môn bắt buộc, đồng thời được tự chọn các môn và chuyên đề học tập, trong đó có những chuyên đề riêng về hướng nghiệp Kết thúc giai đoạn này, học sinh có kiến thức, kỹ năng phổ thông cơ bản được định hướng theo lĩnh vực nghề nghiệp, phù hợp với năng khiếu và sở thích, phát triển tiềm năng cá nhân để chuẩn bị tốt cho giai đoạn giáo dục sau phổ thông hoặc bước vào cuộc sống lao động

- Nội dung GDHN: định hướng nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề được thực hiện theo chương trình GDHN

- Nội dung, chương trình GDHN được xây dựng trên định hướng xây dựng chương trình môn học và hoạt động GD khác:

+ Với các môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và văn học:

Nội dung, chương trình được xây dựng giúp học sinh phát triển và nâng cao năng lực sử dụng Tiếng Việt trong các hoạt động học tập và thực tiễn đời sống; đồng thời được tiếp cận với một số nội dung học tập liên quan đến định hướng nghề

Trang 40

chuyên sâu về tiếng Việt, văn học, văn hóa, gắn với định hướng nghề nghiệp và ngành học mà học sinh có thể ở bậc cao hơn, đáp ứng sở thích và nhu cầu của những học sinh muốn đi sâu và từng lĩnh vực, chuyên ngành hẹp của môn học

+ Với môn học cốt lõi thuộc lĩnh vực giáo dục Toán học:

Lĩnh vực giáo dục toán học có ưu thế hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tính toán, năng lực tư duy toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giao tiếp toán học( nói, viết, biểu diễn toán học), năng lực sử dụng các công cụ, phương tiện học toán( đặc biệt là công cụ công nghệ thông tin và truyền thông); giúp học sinh nhận biết toán học như một phương tiện mô tả và nghiên cứu thế giới hiện thực, là công cụ thực hành ứng dụng trong học tập và các môn khác

1.5.4.3 Phương pháp, hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thôngtrong bối cảnh đổi mới giáo dục

Phương pháp GDHN có thể thực hiện riêng theo lớp hoặc theo khối lớp, nhà trường có thể giao cho GV hoặc mời các chuyên gia Tuy nhiên cần phải quản lý, giám sát và đánh giá các phương pháp dạy học xem chất lượng và hiệu quả của phương pháp này có đạt hay không, có phù hợp với HS hay không?

Các phương pháp GDHN:

- Phương pháp dạy học theo tình huống

- Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề

- Phương pháp thảo luận

- Phương pháp dạy học theo dự án

- Phương pháp đóng vai mô phỏng Các hình thức GDHN theo định hướng đổi mới giáo dục

Trên cơ sở định hướng đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới GDHN nói riêng, Hiệu trưởng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các hình thức GDHN trong nhà trường Chỉ đạo ứng dụng, mở rộng sử dụng các hình thức GDHN như:

- Tích hợp nội dung HN qua giảng dạy các môn học

Ngày đăng: 14/06/2017, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh (2005), “Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông”, Tạp chí giáo dục số 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2005
2. Đặng Danh Ánh (2006), “Những điểm mới trong chương trình giáo dục hướng nghiệp thí điểm hiện nay”, Tạp chí giáo dục số 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới trong chương trình giáo dục hướng nghiệp thí điểm hiện nay
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2006
3. Đặng Quốc Bảo (1997), “Một số khái niệm về quản lý giáo dục”, Trường quản lý Cán bộ GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
4. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quang Kính, Phạm Đỗ Nhật Tiến (2007), "Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý Nhà trường", NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý Nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quang Kính, Phạm Đỗ Nhật Tiến
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2007
5. Nguyễn Trọng Bảo (1985), “Giáo dục lao động - Kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông”, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục lao động - Kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Trọng Bảo
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1985
6. Bộ GD&ĐT (1981), “Thông tư số 33/TT ngày 17 tháng 01 năm 1981 của Bộ Giáo dục”, Hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP của Hội đồng Chính Phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 33/TT ngày 17 tháng 01 năm 1981 của Bộ Giáo dục
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP của Hội đồng Chính Phủ
Năm: 1981
7. Bộ GD&ĐT (2003), “Chỉ thị số 33/CT-Bộ GD&ĐT” ký ngày 23/7/2003 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 33/CT-Bộ GD&ĐT
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
8. Bộ GD&ĐT (2011), Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. (Ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT-Bộ GD&ĐT ngày 28/3/2011 của Bộ GD&ĐT), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
9. Bộ GD&ĐT (2014) “Chỉ thị số 3008/CT - Bộ GD& ĐT ngày 18 tháng 8 năm 2014 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục trung học, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2014 – 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 3008/CT - Bộ GD& ĐT ngày 18 tháng 8 năm 2014 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục trung học, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2014 – 2015
10. Bộ GD&ĐT (2014), "Hướng dẫn Số: 4099/BGDĐT-GDTrH ngày 5 tháng 8 năm 2014 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2014- 2015&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Số: 4099/BGDĐT-GDTrH ngày 5 tháng 8 năm 2014 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2014- 2015
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2014
11. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2012), Chiến lược phát triển Giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ – TT ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục 2011-2020
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
12. Bộ GD&ĐT (2006) "Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
27. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam “Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 40 của Quốc hội khóa X
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
29. Nguyễn Minh Trí (2006) "Giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông, vấn đề và định hướng giải pháp", Tạp chí giáo dục số 146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông, vấn đề và định hướng giải pháp
30. Hà Thế Truyền (2002), “Giáo dục và hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học – Thực trạng và kiến nghị”, Kỷ yếu hội thảo khoa học trường cán bộ quản lí giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học – Thực trạng và kiến nghị
Tác giả: Hà Thế Truyền
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo khoa học trường cán bộ quản lí giáo dục
Năm: 2002
31. Hà Thế Truyền (2005), “Một số biện pháp thực hiện giáo dục lao động – hướng nghiệp – dạy nghề góp phần thực hiện tốt việc phân luồng trong đào tạo”, Tạp chí giáo dục số 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp thực hiện giáo dục lao động – hướng nghiệp – dạy nghề góp phần thực hiện tốt việc phân luồng trong đào tạo
Tác giả: Hà Thế Truyền
Nhà XB: Tạp chí giáo dục
Năm: 2005
32. Hà Thế Truyền, Hoàng Minh Thao (2003), "Quản lý giáo dục tiểu học theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Nhà xuất bản giáo dục năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục tiểu học theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Hà Thế Truyền, Hoàng Minh Thao
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục năm 2003
Năm: 2003
36. www.baothanhnien.vn 37. www.huongnghiepviet.com 38. www.gso.gov.vn Link
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm