Trong quá trình phát triển, sau khi đã khẳng định được vị thế và tác dụng đối với xã hội trong việc nâng cao dân trí, Kominkan được giao về cho chính quyền các địa phương tổ chức và quản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN TÁM
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN ĐÂM HÀ,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN TÁM
BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN ĐÂM HÀ,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, của quý thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp
và gia đình để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban lãnh đạo và các thầy cô ở trường Đại học sư phạm Hà Nội
Huyện uỷ, HĐND và UBND huyện Đầm Hà, Hội Khuyến học, Tập thể lãnh đạo Phòng GD& ĐT, Ban Giám đốc Trung tâm GDNN-GDTX huyện, các Trung tâm HTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà và các đơn vị có liên quan trong quá trình nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và cung cấp tài liệu, số liệu cho luận văn
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Phan Bích Ngọc
đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ, hướng dẫn và góp ý trong suốt thời gian nghiên cứu và viết luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong nhận được những lời chỉ dẫn của quý thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn về mặt thực tiễn
Xin chân thành cảm ơn!
Quảng Ninh, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Văn Tám
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGD&ĐT: Bộ giáo dục và Đào tạo TTHTCĐ: Trung tâm học tập cộng đồng TTGDTX: Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý TTHTCĐ ở Nhật Bản 7
Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý và tác dụng của TTHTCĐ ở Thái Lan 9
Sơ đồ 1.3: Hệ thống quản lý TTHTCĐ tại địa phương ở Việt Nam 13
Sơ đồ 1.4 Mô hình quan hệ giữa các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức với TTHTCĐ 19
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa TTHTCĐ với các đơn vị liên quan 108
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thời gian thành lập các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Đầm Hà 47Bảng 2.2 Cơ cấu độ tuổi của Cán bộ quản lý các trung tâm học tập cộng đồng huyện Đầm Hà (Số liệu năm 2016) 49Bảng 2.3 Cơ cấu đội ngũ CBQL các trung tâm học tập cộng đồng huyện Đầm Hà (số liệu năm 2017) 49Bảng 2.4 Mức độ phù hợp giữa chức danh giám đốc, Phó Giám đốc gắn với các chức danh khác 50Bảng 2.5 Thực trạng những thuận lợi trong công tác quản lý TTHTCĐ ở huyện Đầm Hà 53Bảng 2.6 Thực trạng những khó khăn trong hoạt động của các TTHTCĐ ở huyện Đầm Hà 54Bảng 3.1 Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 112Bảng 3.2 Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 113
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của đề tài 4
9 Dự kiến cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 11
1.2 Một số khái niệm cơ bản 15
1.2.1 Giáo dục cộng đồng và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng 15 1.2.2 Hiệu quả và hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng 20
1.2.3 Biện pháp và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng 23
1.2.4 Học tập suốt đời và xã hội học tập 25
1.3 Trung tâm học tập cộng đồng với nhiệm vụ xây dựng “Xã hội học tập” trong bối cảnh hiện nay 26
1.3.1 Vai trò và vị trí của các Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 26
Trang 81.3.2 Yêu cầu về phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ Trung tâm học tập
cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 27
1.3.3 Những thách thức đối với đội ngũ cán bộ Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 29
1.4 Một số vấn đề về biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng trong giai đoạn hiện nay 30
1.4.1 Sự cần thiết phải có các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng trong giai đoạn hiện nay 30
1.4.2 Nội dung các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng trong giai đoạn hiện nay 32
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng trong giai đoạn hiện nay 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 36
2.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 36
2.1.1 Khái quát tình hình tự nhiên 36
2.1.2 Tài nguyên nhân văn 38
2.1.2 Về điều kiện kinh tế - xã hội của huyện 39
2.1.3 Khái quát về công tác Giáo dục & Đào tạo huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 44
2.2 Thực trạng hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng tại Huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 46
2.2.1 Về tổ chức của các trung tâm học tập cộng đồng ở huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh 46
Trang 92.2.2 Về chất lượng hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng ở
huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 55
2.3 Thực trạng về các biện pháp giáo dục – dạy học đã thực hiện tại các trung tâm học tập cộng đồng huyện Đầm Hà – tỉnh Quảng Ninh 64
2.3.1 Các công tác đã thực hiện tại các TTHTCĐ huyện Đầm Hà 64
2.3.2 Nhiệm vụ của Ban Giám đốc 66
2.4 Đánh giá thực trạng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh 73
2.4.1 Nguyên nhân thành công 73
2.4.2 Nguyên nhân của hạn chế và thiếu sót 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 77
3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 77
3.1.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển nâng cao chất lượng hoạt động của TTHTCĐ ở nước ta 77
3.1.2 Văn bản chỉ đạo của Huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh về nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ trên địa bàn Huyện, 78
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 79
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 79
3.2.2 Nguyên tắc đẳm bảo tính thực tiễn 79
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 79
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 80
3.3 Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 81
Trang 103.3.1 Xây dựng và phát triển các hoạt động của TTHTCĐ đa dạng,
hiệu quả 81
3.3.2 Nâng cao năng lực quản lý của các BGD TTHTCĐ 89
3.3.3 Xây dựng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên của TTHTCĐ đa dạng, hiệu quả 97
3.3.4 Tăng cường công tác lãnh đạo của xã, chỉ đạo chuyên môn của Phòng GD&ĐT, sự phối hợp của các ban ngành ở địa phương 103
3.4.4 Điều kiện đảm bảo cho thực hiện biện pháp 109
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 109
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 110
3.5.1 Mục tiêu khảo nghiệm 110
3.5.2 Phương pháp và đối tượng thăm dò 111
3.5.3 Kết quả thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 112
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 115
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 116
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ở nước ta, chủ trương phát triển giáo dục thường xuyên, đào tạo tại cơ
sở, học tập suốt đời đã được thể hiện từ khá sớm trong đường lối phát triển giáo dục của Đảng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960) nêu rõ “Cần sử dụng rộng rãi các hình thức học buổi tối, hàm thụ và mở lớp tại các cơ sở sản xuất” [1], đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) đã khẳng định: “Cần phải thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân” [2] Tư tưởng về “Xây dựng xã hội học tập”[5] bắt đầu được thể hiện trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX: "Thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập”, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang
mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục" Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Đảng ta tiếp tục chỉ rõ:
„„Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hoá giáo dục, đào tạo trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời” [6]
Với tư tưởng đó, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam đã có sự biến đổi đáng kể cùng sự ra đời những mô hình tổ chức cơ sở giáo dục ở nhiều cấp
độ khác nhau trong lĩnh vực Giáo dục thường xuyên và Dạy nghề, trong đó có
mô hình Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) Luật Giáo dục (năm 2005)
Trang 12đã chính thức công nhận Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức ở các xã, phường, thị trấn
TTHTCĐ là mô hình giáo dục được xây dựng trên các địa bàn xã, phường, thị trấn nhằm thoả mãn nhu cầu học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng Phát triển mô hình TTHTCĐ là một xu thế tất yếu nhằm thực hiện các chương trình XMC, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, đáp ứng mục tiêu xây dựng xã hội học tập
Trong thời gian qua, huyện Đầm Hà đã có nhiều chính sách để phát triển các TTHTCĐ Mạng lưới TTHTCĐ của Đầm Hà được xây dựng sớm, góp phần đáng kể vào việc nâng cao dân trí và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, phần lớn TTHTCĐ trên địa bàn huyện vẫn đang hoạt động chưa thật hiệu quả: việc tổ chức học tập tại trung tâm còn đơn điệu và thụ động, cơ sở vật chất và kinh phí duy trì hoạt động còn hạn chế, cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành chưa được ổn định Đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ còn nhiều biến động và hầu hết chưa được đào tạo, thiếu hiểu biết sư phạm và nghiệp vụ quản lý nên đã ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ Việc xác định chủ thể, đối tượng, những biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động TTHTCĐ … chưa được nghiên cứu để làm cơ sở lý luận, chỉ đạo các hoạt động của TTHTCĐ Vì thế, học viên chọn đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh”
để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà đáp ứng yêu cầu xây dựng XHHT trong giai đoạn hiện nay
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trong xây dựng
xã hội học tập hiện nay
3.2 Đối tựợng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà sẽ đạt hiệu quả cao hơn, thiết thực hơn nếu đề xuất và thực hiện được các biện pháp thực hiện mang tính khoa học và khả thi cao
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trong giai đoạn hiện nay
5.2 Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ ở huyện Đầm Hà
5.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ ở huyện Đầm Hà
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TT HTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
6.2 Khách thể khảo sát
- Khảo sát trên 30 cán bộ quản lý, giáo viên và 100 học viên tại các Trung tâm HTCĐ trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Khảo sát trên 30 cán bộ quản lý cộng đồng, cán bộ của các tổ chức xã hội
6.3 Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2016 đến năm 2017
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được triển khai nghiên cứu dựa trên tiếp cận giáo dục và phát triển cộng đồng, cụ thể như sau:
Trang 147.1 Phương pháp luận
7.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
7.1.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết; khái quát hóa, các nhận định độc lập,
để nghiên cứu lý luận về hoạt động của TTHTCĐ
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng các phương pháp, điều tra, tổng kết kinh nghiệm, lấy ý kiến chuyên gia,… để nghiên cứu thực tiễn hoạt động của các TTHTCĐ
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu
8 Đóng góp mới của đề tài
9 Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, TTHTCĐ phát triển sớm ở nhiều quốc gia, như Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc … với nhiều hình thức đa dang, hoạt động phong phú gắn liền với thực tiễn của mỗi đất nước Trong khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương, Nhật Bản và Thái Lan là hai nước có sự phát triển mạnh mẽ nhất về TTHTCĐ
1.1.1.1 Trung tâm học tập cộng đồng ở Nhật Bản:
Nhật Bản là nước đầu tiên trên thế giới có các trung tâm học tập cộng đồng (1946) Mô hình TTHTCĐ ở nước Nhật bắt đầu xuất phát từ việc mở các lớp xóa mù chữ cho con cháu trong làng, trong xã, gọi là “Têrakôya” có
từ khoảng thế kỷ XVII, phổ biến vào thế kỷ XIX (Têrakôya theo chiết tự có nghĩa “Trường đạo”) và mô hình giáo dục Tê-ra-kô-ya được phổ cập nhanh chóng trên toàn quốc Việc mở rộng các mô hình Tê-ra-kô-ya trên khắp đất nước đã góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội của Nhật Bản lúc bấy giờ Trên cơ sở đó, sau chiến tranh thế giới thứ II, Bộ Giáo dục Nhật Bản xây dựng một mô hình giáo dục mới, gọi là Kô-min-kan (chúng ta gọi là Trung tâm học tập cộng đồng), hoạt động của các Kô-min-kan liên quan sâu sắc đến việc xây dựng đất nước Nhật Bản sau chiến tranh và trở thành nền móng vững chắc trong việc xây dựng cộng đồng Nhật Bản ngày nay
Từ đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản xây dựng mô hình giáo dục có 4 tư tưởng chỉ đạo thì tư tưởng hàng đầu đưa vào giáo dục nhà trường là tư tưởng giáo dục suốt đời Nhật vốn có hai bộ phận của nền giáo dục là giáo dục nhà trường cho thanh niên và giáo dục xã hội gắn với giáo dục người lớn Năm
Trang 161946 Bộ Giáo dục Nhật Bản ra thông báo khẳng định: "Cần hình thành các Kô-min-kan tại mọi làng, xã như một ngôi nhà của công dân, nơi mà nhân dân trong làng, xã có thể đến bất cứ lúc nào, có thể là nơi đọc sách, trao đổi, tranh luận, là nơi mà đôi lúc có thể tiếp nhận sự giúp đỡ của người khác về các vấn
đề sinh sống của cá nhân hay các vấn đề liên quan đến công việc ." Đến
năm 1949, Bộ Luật Giáo dục của Nhật xác định: " Kôminkan mang đến cho người dân tại các thành phố, thị trấn, làng mạc hoặc bất kỳ một khu vực nào khác những kiến thức đã được chỉnh sửa cho phù hợp với các nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày và các hoạt động trí tuệ, văn hóa khác để làm giàu thêm nền văn hóa, cải thiện sức khỏe và trao dồi nhận thức về đạo đức và thẩm mỹ của họ Bởi vậy, mục đích của Kôminkan là góp phần cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường phúc lợi xã hội"
Kôminkan của nước Nhật được thành lập do yêu cầu của dân và được coi như một bộ phận của hệ thống giáo dục người lớn, vì vậy được người dân tham gia quản lý và luôn có sự quan tâm thường xuyên của nhà nước Kominkan hình thành, phát triển và hoạt động ban đầu tương tự như tổ chức các TTHTCĐ của Việt Nam Kominkan phát triển rộng khắp, đã có vị trí, vai trò trong xã hội Nhật Bản suốt trong 60 năm qua Tuy có khác biệt là từ khi hình thành nó đã là một bộ phận của hệ thống giáo dục Trong quá trình phát triển, sau khi đã khẳng định được vị thế và tác dụng đối với xã hội trong việc nâng cao dân trí, Kominkan được giao về cho chính quyền các địa phương tổ chức và quản lý, nhà nước hỗ trợ kinh phí, giai đoạn này cộng đồng tham gia học tập đều được miễn phí, cũng giống như cách tổ chức hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng của Việt Nam hiện nay Từ năm 1989, khi chuyển sang giai đoạn mới, hoạt động của Kominkan chủ yếu mang tính dịch vụ, người tham gia học đều phải trả tiền Trong 60 năm phát triển và hoạt động, Kominkan đã rút ra được những bài học kinh nghiệm là: muốn có đỉnh cao
Trang 17khoa học, công nghệ thì phải có cái gốc về dân trí của cộng đồng một cách vững chắc Với mục tiêu ấy, Kominkan đã góp phần quyết định cho chiến lược nâng cao dân trí của Nhật Bản
Sơ đồ 1.1: Hệ thống quản lý TTHTCĐ ở Nhật Bản
Hiện nay Nhật Bản có trên 18.000 Koominkan, đạt trên 90% tổng số thành phố, thị trấn, làng xã của nước Nhật
1.1.1.2 Trung tâm học tập cộng đồng ở Thái Lan
Thái Lan là một nước có nhận thức sớm về vai trò của giáo dục không chính quy và cũng có cơ sở hạ tầng của giáo dục không chính quy tương đối tốt Năm 1998, Thái Lan đã có 35.000 Trung tâm đọc sách Hiện nay, các cơ sở
Bộ Giáo dục- Khoa học-
Thể thao và Công nghệ
Chính quyền quận/ huyện
Hội đồng giáo dục quận/ huyện
Trang 18giáo dục không chính quy của Thái Lan được tổ chức theo hệ thống từ Trung ương tới địa phương gồm các Trung tâm nguồn ở cấp vùng (gồm 7 Trung tâm), các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh (gồm 76 Trung tâm), các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp huyện (gồm 877 Trung tâm) và Trung tâm học tập cộng đồng ở cấp xã (gồm 8.577 Trung tâm)
Với cách tổ chức hệ thống như vậy, các TTHTCĐ ở Thái Lan được hỗ trợ điều phối các hoạt động về tài chính, được điều phối về cán bộ quản lý, nhân viên, giáo viên và được tập huấn cán bộ, hỗ trợ học liệu từ các Trung tâm nguồn, các Trung tâm giáo dục không chính quy cấp tỉnh và cấp huyện TTHTCĐ tổ chức ở cấp xã được đánh giá là thực sự cần thiết để cung cấp kiến thức và thông tin cho mọi người dân sống trong cộng đồng
Các TTHTCĐ ở Thái Lan thực hiện 3 chức năng chủ yếu là:
- Giáo dục cơ sở (xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở),
- Giáo dục nghề nghiệp (mở lớp huấn luyện kỹ năng ngắn ngày và giáo dục nghề cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông);
- Thông tin, tư vấn (qua các hoạt động và qua tài liệu)
Kết quả nghiên cứu về mô hình TTHTCĐ ở Thái Lan đã khẳng định các nguyên tắc cơ bản để điều hành và quản lý hoạt động của TTHTCĐ là:
- TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân Người đứng đầu trung tâm phải có định hướng cụ thể để phát triển trung tâm, đảm bảo để mọi người đều
Trang 19(Xem mô hình quản lý và tác động của TTHTCĐ ở Thái Lan tại Sơ đồ 1.2
ra thêm nhiều chương trình để đẩy mạnh giáo dục sau xóa mù chữ và GDTX, trong đó có chương trình thành lập các Trung tâm GDTX (Continuing Education Centres - CECs) Các Trung tâm GDTX này không chỉ phục vụ cho những người mới biết chữ mà cho cả trẻ em, thanh niên thất học và tất cả thành viên trong cộng đồng có nhu cầu học tập suốt đời
(cấp vùng)
Trung tâm GDKCQ cấp huyện
Trung tâm học tập cộng đồng
Trang 20Các Trung tâm GDTX (CECs) ở Ấn Độ thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu là: Mở các lớp buổi tối để củng cố kỹ năng biết chữ; Tổ chức đọc sách hoặc cho mượn sách; Tổ chức thảo luận những vấn đề của cộng đồng; Tổ chức huấn luyện ngắn ngày về kỹ thuật sản xuất và đời sống; Tổ chức các hoạt động thể thao, văn hóa, giải trí; Tổ chức thông tin tuyên truyền
Về mặt tổ chức và quản lý, các Trung tâm GDTX của Ấn Độ được thành lập theo quy mô cấp xã (dân số khoảng 1500-2000 người trong đó có khoảng 500 người mới biết chữ), và chủ yếu do cộng đồng tự cam kết thành lập
và quản lý
1.1.1.4 Trung tâm học tập cộng đồng ở Myanmar
Mô hình trung tâm học tập cộng đồng bắt đầu được xây dựng tại Myanmar từ năm 1994 với sự giúp đỡ của UNDP, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác Tính đến năm 2007, Myanmar đã có 480 Trung tâm
Mục đích của các TTHTCĐ tại Myanmar là: Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc hạn chế tỷ lệ bỏ học và nâng cao tỷ lệ đến trường tiểu học của trẻ em; Tập trung vào hoạt động tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; tạo cơ hội cho người dân được tiếp cận với thông tin Ở Myanmar, TTHTCĐ có thể vừa là một trung tâm thông tin, trung tâm huấn luyện nghề nghiệp vừa là một câu lạc bộ để trao đổi, thảo luận, một thư viện, nơi đọc sách báo hoặc trung tâm văn hoá, vui chơi, giải trí của cộng đồng, có vai trò to lớn trong việc tạo cơ hội học tập tiếp tục cho trẻ em và người lớn
Về măt tổ chức và quản lý, TTHTCĐ tại Myanmar được xác định là một cơ sở giáo dục tại làng xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, được nhân dân địa phương thành lập và quản lý, nhằm cung cấp cho nhân dân những cơ hội học tập đa dạng để cải thiện chất lượng cuộc sống và phát triển cộng đồng
Trang 211.1.1.5 TTHTCĐ ở các nước khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Trong khuôn khổ Chương trình Châu Á - Thái Bình Dương về Giáo dục cho mọi người (APPEAL), Dự án phát triển TTHTCĐ đã được triển khai từ năm 1998 Đến năm 2005, chương trình phát triển TTHTCĐ của UNESCO đã được triển khai tại 20 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Ở các quốc gia này, TTHTCĐ đã phát huy vai trò phục vụ cho các đối tượng người lớn, thanh thiếu niên thuộc mọi đối tượng trong cộng đồng thông qua các hoạt động xóa mù chữ và GDTX TTHTCĐ giúp người học có được thông tin chủ yếu và những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của
cá nhân, gia đình và xã hội
Tóm lại, nghiên cứu sự phát triển mô hình tổ chức và quản lý của các TTHTCĐ trên thế giới chúng tôi thấy TTHTCĐ ở các nước dù có tên gọi khác nhau nhưng đều thể hiện rõ là một cơ chế có hiệu quả để thực hiện xoá mù chữ
và GDTX và có vai trò quan trọng trong các hoạt động giáo dục, y tế, nông nghiệp, phát triển cộng đồng - nhất là ở nông thôn Đúng như “Khuyến nghị của Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ 21 gửi UNESCO 1996” đã khẳng định: “Rõ ràng cộng đồng địa phương bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ một chiến lược cải cách nào.Vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng để phát triển cộng đồng và để cộng đồng tham gia vào quá trình cải cách giáo dục cần thiết phải xây dựng và phát triển các cơ sở giáo dục cộng đồng TTHTCĐ đã và đang được phát triển ngày càng rộng khắp ở các nước như một hệ thống cơ sở tổ chức học tập cho cộng đồng phù hợp với xu thế giáo dục mới Sự ra đời và phát triển của mô hình TTHTCĐ ở Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Mô hình Trung tâm học tập cộng đồng của Việt Nam bắt đầu được thử nghiệm từ năm 1997, do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thiết kế với sự hỗ
Trang 22trợ kinh nghiệm của một số tổ chức nước ngoài như UNESCO Bangkok, hiệp hội các câu lạc bộ UNESCO Nhật Bản và UNICEF Việt Nam Sự nỗ lực của các tổ chức xã hội (trước hết là Hội Khuyến học Việt Nam) và ngành Giáo dục – Đào tạo, đặc biệt là sự thừa nhận vai trò, vị trí như một cơ sở giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, đã làm cho hệ thống TTHTCĐ phát triển rất nhanh Từ 10 TTHTCĐ được thử nghiệm trong những năm 1997-
2000 tại một số tỉnh đại diện cho các vùng miền trong cả nước (gồm: Hà Nội, Hoà Bình, Lai Châu, Thái Bình, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Kon Tum và Lao Cai), năm 2001 cả nước đã có 125 TTHTCĐ, đến năm 2005 có 5.331 TTHTCĐ và tại thời điểm tháng 6/2009 đã có 9.551 TTHTCĐ (chiếm 86,41%
so với tổng số 11.059 xã, phường, thị trấn của cả nước) Mô hình TTHTCĐ đã được thực tiễn chấp nhận và được triển khai đều khắp trên cả nước trong đó
có 29 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ 100% và 39 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ trên 95% đơn vị cấp xã đã thành lập TTHTCĐ
Về mặt tổ chức và quản lý, mô hình TTHTCĐ của Việt Nam được thiết
kế và phát triển trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới (như đã trình bày ở trên), đồng thời có sự kế thừa và phát huy các yếu tố tích cực của các mô hình thiết chế văn hoá - giáo dục tại cộng đồng đã có từ trước đây ở trong nước (như Nhà Rông, Đình làng, ) Do đó, TTHTCĐ đang được xây dựng và phát triển ở Việt Nam vừa có sự phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh mới và mang ý tưởng của thời đại, vừa có yếu tố truyền thống
Trang 23(Xem sơ đồ quản lý TTHTCĐ ở địa phương tại Sơ đồ 1.3 dưới đây)
Sơ đồ 1.3: Hệ thống quản lý TTHTCĐ tại địa phương ở Việt Nam
Sau gần hai mươi năm phát triển, hệ thống TTHTCĐ ở Việt nam đã được đánh giá là một mô hình cơ sở giáo dục mới với những điểm mạnh, điểm yếu và đang đứng trước những cơ hội và thách thức khá rõ rệt Cụ thể là:
- TTHTCĐ ở nước ta có những điểm mạnh chủ yếu sau:
+ Đã tạo ra cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho người dân ngay tại cộng đồng do được tổ chức ngay tại cơ sở làng xã, với phương châm “cần gì, học nấy”;
+ Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở cộng đồng
cả về nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định và nâng cao chất lượng dân số và cải thiện môi trường dân cư;
+ Góp phần phát triển cộng đồng bền vững thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế địa phương, thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa - xã hội của địa phương và nâng cao nhận thức, kỹ năng của người dân trong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường
Sở GD&ĐT tỉnh
UBND cấp xã
UBND cấp huyện
Phòng GD&ĐT cấp huyện Trung tâm
GDTX
Trung tâm HTCĐ
Trang 24- Những hạn chế cần khắc phục:
+ Chưa thực sự tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho tất
cả mọi người (mới chỉ thu hút được khoảng 20-40% người dân tham gia);
+ Chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của nhiều THTCĐ còn hạn chế (Chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của nhiều TTHTCĐ chưa đa dạng, thiết thực, phù hợp với nhu cầu của người dân và các vấn đề của cộng đồng; Địa điểm đặt TTHTCĐ chưa thật sự thuận lợi đối với người dân ở các địa bàn miền núi, hải đảo có địa hình phân tán );
+ Việc giám sát, đánh giá chưa được quan tâm và còn nhiều bất cập
- Những cơ hội đang mở ra đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay là:
+ Người dân ngày càng ý thức được tầm quan trọng và có nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời;
+ Đảng và Nhà nước đã quan tâm và có nhiều chủ trương chính sách (TTHTCĐ đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục; Đã có “Quy chế tổ chức
và hoạt động” cụ thể; Đã được Nhà nước hỗ trợ ban đầu và hỗ thợ thường xuyên về kinh phí );
+ Việc giáo dục, tuyên truyền cho người dân ở cơ sở ngày càng được các ban, ngành, đoàn thể, chương trình, dự án coi trọng;
+ Vấn đề học tập thường xuyên, học tập suốt đời ngày càng được các tổ chức quốc tế quan tâm
- Những thách thức đang đặt ra đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay: + Nhận thức của xã hội, các cấp chính quyền và người dân đối với vị trí, vai trò của THHTCĐ còn chưa đầy đủ, sự quan tâm chỉ đạo của nhiều địa phương và sự tích cực chủ động tham gia của nhiều người dân còn hạn chế;
Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc tổ chức hoạt động tại các TTHTCĐ chưa chặt chẽ và thiếu hiệu quả;
+ Cơ sở pháp lý, chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý và giáo viên của THTCĐ chưa đầy đủ, thiếu thống nhất và chưa phù hợp;
Trang 25+ Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên của TTHTCĐ còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng;
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu học tập tại TTHTCĐ còn thiếu thốn, chưa phù hợp; Kinh phí đã được Nhà nước hỗ trợ nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu, trong khi khả năng huy động xã hội hóa còn rất hạn chế
Từ những đánh giá (qua việc phân tích SWOT) đối với hệ thống TTHTCĐ trên đây, có thể thấy rằng : với đặc điểm là một mô hình cơ sở giáo dục mới, bên cạnh việc phát triển khá nhanh về số lượng, hệ thống TTHTCĐ
ở nước ta vẫn đang trong quá trình hoàn thiện Vì vậy việc nghiên cứu các giải pháp để nâng cao chất lượng các TTHTCĐ (trong đó có vấn đề “phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ” nhằm giải quyết một trong những khó khăn/thách thức đối với hệ thống TTHTCĐ hiện nay) là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với một địa phương mà đối với cả nước
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Giáo dục cộng đồng và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng
1.2.1.1 Giáo dục cộng đồng
- Giáo dục cộng đồng là phương thức GD thường xuyên do người dân trong cộng đồng (xã, phường, thị trấn) tự tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của những người không đủ điều kiện theo học các trường lớp GD chính quy Cơ sở GD cộng đồng thực hiện nhiều chức năng khác nhau, trong đó quan trọng nhất là chức năng thông tin, tư vấn, truyền bá, phổ cập những nội dung thiết thực nhất, phù hợp nhất với từng loại đối tượng người học, với những điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương, từng cộng đồng dân cư
- Giáo dục cộng đồng mang tính tự nguyện cao, nhưng vẫn cần có sự quan tâm, giúp đỡ thường xuyên của cấp uỷ Đảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể cơ sở, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở GD chính quy tại địa phương
Trang 261.1.1.2 Hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng
- Theo quan niệm của UNESCO, TTHTCĐ là cơ sở GD không chính quy của một xóm, làng bản do cộng đồng điạ phương đứng ra thành lập và quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông qua việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho họ Đây là tổ chức GD không chính quy của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng TTHTCĐ do cộng đồng thành lập Ban quản lý, đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên là những người tự nguyện không có lương, TTHTCĐ phục vụ cho mọi người, mọi lứa tuổi, đào tạo bồi dưỡng không định hướng bằng cấp Chương trình hành động linh hoạt, đa mục đích, đa dạng tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế - xã hội của từng cộng đồng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của cộng đồng địa phương
- Ở nước ta Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, thị trấn ban hành theo Quyết định số 09/2008/BGD&ĐT ngày 24/3/2008 của Bộ GD&ĐT đã ghi rõ: “Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phát huy mạnh
mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm Trung tâm HTCĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng”
- Mục đích của việc thành lập các TTHTCĐ ở các nước trong khu vực là thông qua việc tạo cơ hội học tập suốt đời và hiệu quả cho mọi người dân trong cộng đồng, xây dựng cơ sở hạ tầng của GD thường xuyên nhằm tạo điều kiện cho những người biết chữ củng cố nâng cao kỹ năng đọc, viết, tính toán và vận dụng những kiến thức đã học nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển nguồn lực phục vụ phát triển cộng đồng
- Nhiệm vụ của TTHTCĐ gồm: Tổ chức điều tra cơ bản nhu cầu học tập
ở địa phương, đề xuất nội dung và hình thức học cho phù hợp với từng đối
Trang 27tượng; liên kết thực hiện các chương trình GD ở địa phương như: chương trình xoá mù chữ, chương trình GD tiếp tục sau xoá mù chữ, chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, chương trình đáp ứng nhu cầu của người học về thời sự, pháp luật, chính sách, sản xuất, sức khoẻ, văn nghệ, TDTT…; hỗ trợ TTGDTX thực hiện chương trình bổ túc văn hoá từ tiểu học đến trung học cơ sở; tổ chức tư vấn các hoạt động sản xuất, sinh hoạt văn hoá, hoạt động TDTT, vui chơi giải trí, hoạt động chính trị…; dự các lớp tập huấn
kỹ thuật
TTHTCĐ còn là nơi các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức hội họp, mít tinh, sinh hoạt; phối hợp với nhau nhằm thực hiện thành công các chương trình kinh tế, văn hoá- xã hội, an ninh chính trị ở địa phương
- Chức năng của các TTHTCĐ: Các TTHTCĐ ở các nước trong khu vực thực hiện 4 chức năng cơ bản sau đây:
(1)- Chức năng GD và huấn luyện
Tạo cơ hội học tập: Các cơ hội phải đa dạng có sẵn; Các cơ hội phải thuận tiện về địa điểm và thời gian; Các cơ hội phải được thông tin tư vấn tới người dân; Các cơ hội phải dễ dàng về thủ tục nhập học
(2)- Chức năng thông tin, tư vấn
TTHTCĐ có thể thông tin tư vấn về các vấn đề sau: sức khoẻ, dinh dưỡng,
kế hoạch hoá gia đình, nghề nghiệp, việc làm, sản xuất, pháp luật, giá cả thị trường, tín dụng, chương trình, lớp học phù hợp, tài liệu, sách báo đọc…
(3)- Chức năng phát triển cộng đồng
Các TTHTCĐ có 3 vai trò quan trọng đối với việc phát triển cộng đồng: tổ chức các hoạt động chung của cộng đồng; hỗ trợ các chương trình, dự án đang được triển khai tại các địa phương; dự báo xu thế phát triển của cộng đồng
Trang 28(4)- Chức năng liên kết, phối hợp
Một yếu tố thành công cơ bản của TTHTCĐ là sự phối kết hợp thành mạng lưới của các bên đối tác có liên quan Có như vậy mới hạn chế được sự trùng lặp, chồng chéo giữa các chương trình và sử dụng tối đa các phương tiện và nguồn lực hiện có Cần chú ý liên kết và phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể và giữa các cơ quan Chính phủ và tổ chức phi Chính phủ có liên quan tại địa phương như: Nông nghiệp, Y tế, Thanh niên, Hội phụ nữ, GD, Công đoàn
- Vai trò của TTHTCĐ: Do dân trong cộng đồng lập nên, là cơ sở của dân,
do dân quản lý và điều hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương Các TTHTCĐ ở các nước trong khu vực thường đóng vai trò như:
+ Một trung tâm học tập suốt đời của tất cả mọi người dân trong cộng đồng theo mô hình thực hiện XHHGD, ngăn chặn tái mù chữ, giúp người biết chữ vươn lên xoá, giảm nghèo, làm giàu, tạo dựng đời sống văn hoá mới + Một trung tâm huấn luyện, dạy nghề góp phần giúp cộng đồng triển khai thành các chương trình kinh tế - xã hội
+ Một trung tâm thư viện, đọc sách
+ Một địa điểm hội họp của cộng đồng
+ Một trung tâm văn hoá thể thao của cộng đồng
+ Kế hoạch hoạt động của TTHTCĐ
Các hoạt động của TTHTCĐ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của mọi người dân trong cộng đồng trong từng thời kỳ cụ thể và có các hoạt động như: Xoá mù chữ, nâng cao trình độ văn hoá; hình thành kỹ năng lao động; nâng cao chất lượng cuộc sống; học tập theo sở thích; các dịch vụ thông tin, văn hoá của địa phương; thể dục, thể thao; vui chơi giải trí …
Để xây dựng chương trình phù hợp các TTHTCĐ phải tuân thủ theo 6 bước sau đây:
Trang 29Bước 1: Phát hiện vấn đề
Bước 2: Điều tra nhu cầu học tập của đối tượng
Bước 3: Xác định mục tiêu của chương trình hoạt động
Bước 4: Sắp xếp thứ tự các hoạt động ưu tiên
Bước 5: Xem xét các điều kiện thực hiện
Bước 6: Tổ chức thực hiện và điều chỉnh
- Quản lý và điều hành TTHTCĐ: Các thành viên của Ban quản lý là những người tình nguyện không có lương, đại diện cho các ban, ngành, đoàn thể Ban quản lý gồm:
+ Lãnh đạo chính quyền địa phương
+ Đại diện các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức trong cộng đồng (Hội khuyến học, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Phụ nữ…)
+ Đại diện giới kinh doanh…
- Các doanh nghiệp, sở sản xuất, các nhà hảo tâm…
- Các đơn vị, trường, lớp GD tại địa phương
Sơ đồ 1.4 Mô hình quan hệ giữa các ban, ngành,
đoàn thể, các tổ chức với TTHTCĐ
Để giám sát, chỉ đạo hoạt động hàng ngày, mỗi TTHTCĐ thường có nhiệm vụ:
TTHTCĐ
Trang 30+ Giúp đỡ cộng đồng phát triển nhu cầu học tập
+ Cố vấn cho ban quản lý về chính sách, xây dựng chương trình hoạt động ngắn hạn và dài hạn của TTHTCĐ
+ Tổ chức thực hiện mọi hoạt động của trung tâm
+ Quản lý ngân sách
+ Điều hành, tìm kiếm giáo viên, cộng tác viên cho trung tâm
+ Tổ chức thư viện và lưu trữ tài liệu, sách báo
+ Báo cáo thường xuyên các hoạt động của trung tâm cho ban quản lý
- Nhiệm vụ của TTHTCĐ:
(1)- Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xoá mù chữ và GD tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập GD; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng; phối hợp triển khai các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án, chương trình tại địa phương
(2)- Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, đọc sách báo, tư vấn, khuyến học GD cho con em nhân dân địa phương, phòng chống tệ nạn xã hội
(3)- Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hình thức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng
(4)- Quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm theo qui định của pháp luật
1.2.2.Hiệu quả và hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng
1.2.2.1 Hiệu quả
Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là: kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại Nhưng theo từ điển Lepetit Lasousse định nghĩa
"Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định"
Trong khi đó các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: Hiệu quả là mục tiêu chủ yếu của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư
Trang 31với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra - đầu vào
Cũng có quan điểm cho rằng: Hiệu quả được xem là đại lượng cho biết giá trị của kết quả đạt được ở đầu ra so với mục tiêu và so với giá trị của nguồn lực đầu vào của chu trình hoạt động
Như vậy, xác định hiệu quả một hoạt động kinh tế thường cho chúng ta những con số chính xác và cụ thể, nhưng với bất kỳ hoạt động xã hội nào nói chung và hoạt động giáo dục nói riêng, để tính được hiệu quả đạt được rất khó khăn và phức tạp Bởi loại hoạt động này chủ yếu mang tính chất định tính chứ không phải định lượng Do đó, cách tính hiệu quả của một hoạt động xã hội tốt nhất chúng ta phải vận dụng phương pháp tính hiệu quả kinh tế (tất nhiên chỉ tương đối) Theo cách tiếp cận này," hiệu quả chính là chỉ số so sánh giữa kết quả thu về với chi phí, công sức bỏ ra"
Trong một số trường hợp cụ thể, chỉ số so sánh này có thể lượng hoá một cách cụ thể (định lượng) Ví dụ: Khi đánh giá hiệu quả đầu tư trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả cao hay thấp được đánh giá định lượng cụ thể, chính xác bằng cách so sánh chi phí đầu tư và kết quả thu về trên một đơn vị tiền tệ xác định Nhưng một số trường hợp khác, chỉ số này khó có thể lượng hoá bằng những con số cụ thể đánh giá có tính chất định tính
Trong Giáo dục, khi đánh giá hiệu quả của một nhà trường hay của một
cơ sở giáo dục thường được xem xét dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: Chất lượng đào tạo; Mức độ đáp ứng mục tiêu kinh tế xã hội; Hiệu suất sử dụng các nguồn lực trong đào tạo Trong đó hiệu suất sử dụng các nguồn lực trong đào tạo được xem như điều kiện cần để có hiệu quả Các tiêu chí cụ thể được xem xét gồm: chi phí đào tạo; sử dụng nguồn nhân lực trong đào tạo; sử dụng trang thiết bị và cơ sở vật chất (CSVC) phục vụ đào tạo
Trang 32Theo UNESCO: "Một hệ thống GD được gọi là có hiệu suất cao nếu với một đầu vào xác định lại thu được đầu ra tối đa, hoặc thu được một đầu ra xác định với một đầu vào nhỏ nhất có thể Tuy nhiên, đo lường hiệu suất của
GD cũng là vấn đề lớn do những khó khăn trong việc đo lường đầu ra cũng như lượng hóa mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra"
1.2.2.2 Hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng
Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân
và cả cộng đồng; là nơi thực hiện việc phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân Vì vậy, hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ có
ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi người dân và góp phần phát triển kinh tế, xã hội của phường, xã, thị trấn
Cũng như các cơ sở giáo dục khác, hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ phải được xem xét trên các tiêu chí cơ bản: Chất lượng đào tạo; Mức độ đáp ứng mục tiêu kinh tế xã hội; Hiệu suất sử dụng các nguồn lực trong đào tạo
Cụ thể, hiệu quả hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng cần được xem xét trên các mặt sau đây:
- Về chất lượng:
Cần quan tâm đến các yếu tố: Chương trình đào tạo; đội ngũ những người tham gia giảng dạy; chất lượng giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy và nghiên cứu; đổi mới phương pháp giảng dạy và các mối quan hệ liên kết trong đào tạo, giảng dạy
- Về mức độ đáp ứng mục tiêu KT-XH: Quan tâm đến các vấn đề sau:
Trang 33+ Trung tâm học tập cộng đồng đã góp phần củng cố kết quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở
+ Trung tâm học tập cộng đồng đã góp phần ổn định chính trị - xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết trong nội bộ nhân dân, góp phần nâng cao nhận thức về Hiến pháp và pháp luật
+ Các Trung tâm học tập cộng đồng đã góp phần giúp người lao động biết cách xoá đói giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống
- Về huy động và sử dung các nguồn lực cho hoạt động của các TTHTCĐ: cần quan tâm đến việc tận dụng tối đa các phòng học, phương tiện dạy học có sẵn tại địa phương Ngoài nguồn kinh phí của chính quyền địa phương, cần tận dụng nguồn kinh phí xã hội hóa Nguồn lực thực tế nằm chính trong cộng đồng, vì vậy, các TTHTCĐ cần chủ động huy động, sử dụng hiệu quả và làm tốt công tác quản lý nguồn lực phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân
Bộ Giáo dục – Đào tạo đã ban hành các văn bản hướng dẫn đánh giá hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ, gần đây nhất là Công văn số 2553/BGD ĐT-GDTX ngày 18/4/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn đánh giá Trung tâm học tập cộng đồng Trên cơ sở đó, Sở GD&ĐT đã ban hành bộ tiêu chí cụ thể để đánh giá hoạt động của TTHTCĐ
1.2.3 Biện pháp và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng
Trang 34ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra Tuy nhiên để có được những biện pháp đó, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan khoa học và chính xác
Trong GD, biện pháp là những cách thức tác động của chủ thể của quá trình giáo dục hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống giáo dục, làm cho cả hệ thống đó vận hành đạt kết quả cao nhất
1.2.3.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng
Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ là những cách thức tác động của chủ thể quá trình giáo dục hướng vào việc giải quyết những mục đích yêu cầu đặt ra đối với các TTHTCĐ, là cách giải quyết những khó khăn, tồn tại và bất cập trong hoạt động của TTHTCĐ nhằm đưa TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả; cho mọi người dân ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, áp dụng những kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm vào sản xuất và đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân
và cả cộng đồng
Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ vừa phải đảm bảo thực hiện được các nhiệm vụ giáo dục cộng đồng vừa phải đảm bảo đúng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ hoạt động của TTHTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân
và cả cộng đồng; nâng cao hiệu quả phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến mọi người dân
Trang 35TTHTCĐ là nơi học tập thường xuyên của nhân dân, học không chỉ vì bằng cấp, chủ yếu để nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc gia đình, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở địa phương Chính vì thế các biện pháp áp dụng, các hình thức học tập cũng rất linh hoạt, đa dạng, mềm dẻo đáp ứng yêu cầu “cần gì học đó”, “học để làm ngay”, “vừa học vừa làm”,…rất phù hợp với nguyện vọng và hoàn cảnh của người lao động, cán bộ đảng viên, thế hệ trẻ, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
TTHTCĐ là cơ sở giáo dục được thành lập ở các xã, thị trấn hoạt động theo phương thức của GDTX; được thành lập theo quyết định của UBND huyện, cán bộ của TTHTCĐ hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm
1.2.4 Học tập suốt đời và xã hội học tập
Học tập là một khái niệm rộng, được hiểu là bất cứ quá trình, hoạt động nào đem lại sự thay đổi về kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi của cá nhân đều được coi là học tập; HTSĐ là nhu cầu của tất cả mọi người, ở mọi lứa tuổi; Mục đích HTSĐ có sự thay đổi- ngày càng thiết thực hơn và có cả yếu tố thực dụng hơn, HTSĐ không chỉ để biết, chỉ để có bằng cấp hay chứng chỉ mà cần tính đến “nhu cầu cần gì học nấy”, học để có kiến thức, có năng lực thực
sự để làm việc, để kiếm sống, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, để tồn tại và thích nghi trong mỗi cộng đồng và xã hội Nội dung HTSĐ nhằm giúp cho mọi người có cuộc sống ngày càng chất lượng hơn, hòa hợp hơn và làm việc có hiệu quả hơn trong môi trường đa văn hóa; phương thức HTSĐ ngày càng mềm dẻo, linh hoạt: Tập trung và tại chức; chính quy, không chính quy
XHHT là một xã hội, trong đó mọi cá nhân đều theo đuổi việc học thường xuyên, HTSĐ, mọi tổ chức/cộng đồng đều trở thành những tổ chức/cộng đồng học tập, mọi thành phần xã hội đều tham gia và đóng góp vào việc thúc đẩy học tập và phát triển giáo dục
Trang 36HTSĐ và XHHT là hai khái niệm có liên quan, gắn bó chặt chẽ với nhau “Cốt lõi về ý tưởng về một xã hội học tập, trong đó việc HTSĐ là nội dung xuyên suốt, là phải có một nền giáo dục đáp ứng những thách thức của một thế giới thay đổi nhanh chóng và để đạt điều này phải đưa con người trở lại nhà trường để ứng xử với những tình huống mới mẻ, nổi lên trong đời sống cá nhân hay đời sống nghề nghiệp của họ
1.3 Trung tâm học tập cộng đồng với nhiệm vụ xây dựng “Xã hội học tập” trong bối cảnh hiện nay
1.3.1 Vai trò và vị trí của các Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCÐ) đã được quy định rất rõ trong "Quy chế Tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn" (Ban hành kèm theo Quyết định số: 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) cụ thể:
Điều 2 Vị trí của trung tâm học tập cộng đồng
1 Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục thường xuyên trong
hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp
xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm
2 Trung tâm học tập cộng đồng có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
Điều 3 Chức năng của trung tâm học tập cộng đồng
Hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống góp
Trang 37phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng; là nơi thực hiện việc phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân
Như vậy, TTHTCĐ là nơi học tập thường xuyên của nhân dân, học không chỉ vì bằng cấp, chủ yếu để nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc gia đình, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở địa phương Chính vì thế hình thức học tập cũng rất linh hoạt, đa dạng, mềm dẻo đáp ứng yêu cầu
“cần gì học đó”, “học để làm ngay”, “vừa học vừa làm”,…rất phù hợp với nguyện vọng và hoàn cảnh của người lao động, cán bộ đảng viên, thế hệ trẻ, đặc biệt là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa
Với phương châm “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập”, TTHTCĐ trong thời gian qua đã góp phần tích cực trong việc xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng, đặc biệt là những người nông dân, người lao động nghèo, không có điều kiện để đến các trường học chính quy TTHTCĐ chính là một thiết chế giáo dục quan trọng để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở
1.3.2 Yêu cầu về phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Mỗi TTHTCĐ có đội ngũ cán bộ quản lý gồm 3 người: một cán bộ quản lý cấp xã kiêm Giám đốc trung tâm, một cán bộ của Hội khuyến học và một lãnh đạo Trường Tiểu học hoặc Trung học cơ sở trên địa bàn kiêm Phó Giám đốc Trung tâm Các cán bộ quản lý TTHTCĐ được bố trí theo chế độ kiêm nhiệm, được hưởng phụ cấp từ kinh phí hỗ trợ của Nhà nước
- Giám đốc TTHTCĐ là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của trung tâm và chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan quản lý cấp trên về mọi hoạt động của trung tâm; Giám đốc TTHTCĐ do Chủ tịch UBND huyện
ra Quyết định trên cơ sở đề nghị của UBND cấp xã
Trang 38Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc TTHTCĐ: Lập kế hoạch tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của TTHTCĐ Tuyên truyền vận động mọi thành viên trong cộng đồng tham gia các hoạt động của TTHTCĐ Huy động các nguồn lực trong và ngoài cộng đồng để duy trì và phát triển các hoạt động của TTHTCĐ Quản lý tài chính, cơ sở vật chất của TTHTCĐ Xây dựng nội quy hoạt động của TTHTCĐ Kiểm tra, đánh giá và báo cáo định kỳ kết quả hoạt động của trung tâm với UBND cấp xã và cơ quan quản lý cấp trên Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và được hưởng các chế độ phụ cấp trách nhiệm và khen thưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước
- Phó Giám đốc TTHTCĐ là người có phẩm chất chính trị, có năng lực quản lý do Chủ tịch UBND huyện ra quyết định theo đề nghị của Giám đốc TTHTCĐ
Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Giám đốc TTHTCĐ: Giúp giám đốc trong việc quản lý và điều hành các hoạt động của trung tâm Trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực công tác theo sự phân cộng của giám đốc và giải quyết các công việc do giám đốc giao Khi giải quyết các công việc do Giám đốc giao, Phó Giám đốc thay mặt Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc
về kết quả công việc được giao, thay mặt Giám đốc điều hành hoạt động của trung tâm khi được Giám đốc uỷ quyền Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và được hưởng các chế độ phụ cấp trách nhiệm và khen thưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước
- Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn do UBND xã trực tiếp quản lý về tổ chức, nhân sự, nội dung và kế hoạch hoạt động Phòng Giáo dục là cơ quan quản lý chuyên môn cấp trên chỉ đạo về nội dung và các hình thức hoạt động của TTHTCĐ Tổ chức tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên của các TTHTCĐ Báo cáo định kỳ cho UBND huyện và Sở GD&ĐT về công tác quản lý và hoạt động của các TTHTCĐ đóng trên địa bàn
Trang 39Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, để TTHTCĐ phát huy được hiệu quả, đội ngũ CBQL các TTHTCĐ là nguồn nhân lực quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống TTHTCĐ Để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, ngoài tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn và nhiệt tình và hăng say với công việc, cán bộ quản lý TTHTCĐ còn phải là người được chuẩn bị
về tri thức quản lý và tâm thế của người lãnh đạo, có sức thu hút, vận động và thuyết phục mọi người cùng tham gia học tập suốt đời
Để thực hiện việc phát triển đội ngũ CBQL các TTHTCĐ trên địa bàn cấp huyện, phải tiến hành hàng loạt giải pháp gồm: Tuyển chọn cán bộ phù hợp với yêu cầu và tính chất công việc; Bố trí sử dụng cán bộ quản lý TTHTCĐ theo phương án tối ưu; Đào tạo, bồi dưỡng về năng lực và kỹ năng quản lý giáo dục cho đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ; Giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ; Xây dựng chế độ đãi ngộ đối với cán bộ quản lý TTHTCĐ và Tổ chức mối quan hệ tương tác trong đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ trên địa bàn toàn huyện
1.3.3 Những thách thức đối với đội ngũ cán bộ Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Thứ nhất: Trong bối cảnh hiện nay, thế giới mà chúng ta đang sống là thế giới của những sự thay đổi lớn Với những thành tựu phi thường của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, với sự xuất hiện của kinh tế tri thức, với quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội biến chuyển không ngừng Mặt khác, với sự ra đời của Internet, các phương tiện truyền thông, thế giới dường như thu nhỏ lại, mọi người có thể cập nhật kiến thức một các dễ dàng và nhanh chóng hơn bao giờ hết Đây là một thách thức không nhỏ đối với cán bộ quản lý TTHTCĐ;
Thứ hai: Nhận thức của xã hội, các cấp chính quyền và người dân về
Trang 40vấn đề xây dựng xã hội học tập nói chung, vị trí, vai trò của THHTCĐ nói riêng còn chưa đầy đủ, sự quan tâm chỉ đạo của nhiều địa phương và sự tích cực chủ động tham gia của nhiều người dân còn hạn chế; Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc tổ chức hoạt động tại các TTHTCĐ chưa chặt chẽ và thiếu hiệu quả;
Thứ ba: Nhà nước đã có những hành lang pháp lý nhất định với việc hình thành và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, tuy nhiên chưa có được các chính sách hỗ trợ cụ thể về tổ chức, nguồn nhân lực và chưa có sự
hỗ trợ thoả đáng về ngân sách hoạt động của trung tâm Cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu học tập tại TTHTCĐ còn thiếu thốn, chưa phù hợp;
Kinh phí đã được Nhà nước hỗ trợ nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu, trong khi khả năng huy động xã hội hóa còn rất hạn chế Các tổ chức, cá nhân
có khả năng tài trợ chưa sẵn sàng đầu tư vì họ chưa tin tưởng vào hiệu quả hoạt động mà trung tâm có thể đem lại cho cộng đồng
Thứ tư: Nguồn nhân lực của trung tâm hầu hết là thiếu và yếu Đa số các cán bộ của các trung tâm đều hoạt động kiêm nhiệm nên họ chưa thực sự yên tâm, toàn tâm toàn ý với sự phát triển của trung tâm Cán bộ của trung tâm chưa được đào tạo, còn lúng túng trong việc tổ chức và vận hành trung tâm; Trung tâm chưa có khả năng tìm hiểu và phát hiện nhu cầu học tập của cộng đồng; Cán bộ trung tâm cũng chưa có khả năng tổ chức, điều hành, lập
kế hoạch và điều phối các hoạt động học tập tại cộng đồng; … …
1.4 Một số vấn đề về biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng trong giai đoạn hiện nay
1.4.1 Sự cần thiết phải có các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng trong giai đoạn hiện nay
Hoạt động của các TTHTCĐ hiện nay còn có những tồn tại và bất cập nhất định, như: Chưa có hệ thống giải pháp phù hợp; Các cấp, các ngành và