BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI LƯƠNG ANH NUY BIỆN PHÁP DUY TRÌ BỀN VỮNG CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG ANH NUY
BIỆN PHÁP DUY TRÌ BỀN VỮNG CÔNG TÁC
PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG ANH NUY
BIỆN PHÁP DUY TRÌ BỀN VỮNG CÔNG TÁC
PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Hữu Long
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Biện pháp duy trì bền vững công
tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở dựa vào cộng đồng ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hữu Long là
công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác
Tác giả
Lương Anh Nuy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Hữu Long ,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm
lý – Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội, các đồng chí cùng công tác tại đơn
vị, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng
do khả năng của bản thân còn những hạn chế nhất định, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em cũng còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học
Quảng Ninh , ngày … tháng … năm 2017
Tác giả
Lương Anh Nuy
Trang 5CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
6 GD THCS Giáo dục Trung học cơ sở
7 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
24 TT-TH Truyền thanh Truyền hình
25 TT HN&GDTX Trung tâm hướng nghiệp và giáo dục thường xuyên
26 UBND Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu: 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc Luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DUY TRÌ BỀN VỮNG CÔNG TÁC PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 4
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 4
1.2 7
7
7
8
1.2.4 Cộng đồng 8
trì bền vững công tác PCGD THCS 8
dục và PCGD 8
1.3.2 Cơ sở pháp lý của công tác phổ cập giáo dục 17
1.4 Duy trì bền vững công tác PCGD THCS dựa vào cộng đồng 26
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đển duy trì bền vững công tác PCGD nói chung và PCGD THCS nói riêng: 28
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
Trang 7Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PCGD THCS Ở HUYỆN ĐẦM HÀ,
TỈNH QUẢNG NINH 30
2.1 Khái quát tình hình phát triển - , tỉnh Quảng Ninh 30
2.1.1 Đặc điểm chung về huyện Đầm Hà: 30
2.1.2 Đối với công tác Giáo dục của huyện 32
-2010: 34
35
36
39
2.2.4 Kết quả phổ cập giáo dục THCS huyện Đầm Hà giai đoạn 2006-2010: 39
2.2.5 Thực trạng chất lượng học sinh sau khi PCGD THCS tại huyện Đầm Hà 41
2.3 Đánh giá thực trạng 42
2.3.2 Ưu điểm 42
2.3.3 Tồn tại 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 48
Chương 3: BIỆN PHÁP DUY TRÌ BỀN VỮNG CÔNG TÁC PCGD THCS HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH 49
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 49
tỉnh Quảng Ninh 49
3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng và điều hành của Chính quyền đối với công tác phổ cập giáo dục 49
3.2.2 Nâng cao nhận thức cho phụ huynh học sinh và cán bộ làm công tác giáo dục về PCGD 50
Trang 83.2.4 Đầu tư đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học 52
3.2.5 Nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở 55
3.2.6 Phối hợp giữa gia đình – nhà trường và đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục 57
3.2.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên, đặc biệt là cán bộ tham gia quản lý công tác PCGD THCS 58
3.2.8 Đa dạng hoá các loại hình đào tạo và tăng cường công tác hướng nghiệp cho học sinh 61
62
62
62
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 71
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số trường MN, TH và THCS trên địa bàn huyện năm học 2016-2017 33
Bảng 2.2: Kết quả học sinh tốt nghiệp THCS và Bổ túc THCS (lớp 9) từ 2006 đến 2010 vào học THPT và Bổ túc THPT 42
Bảng 2.3: Số phòng học năm học 2011-2012 43
Bảng 2.4: Số CBGV năm học 2011-2012 44
Bảng 2.5: Số học sinh bỏ học cấp THCS giai đoạn 2006-2010: 46
Bảng 3.1: Các đối tượng khảo nghiệm 62
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm các biện pháp (200 đối tượng) 63
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công tác phổ cập giáo dục nói chung và phổ cập giáo dục THCS nói riêng là chủ trương lớn, của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Năm 2005, với nỗ lực của cả hệ thống chính trị, huyện Đầm Hà đã được công nhận đạt chuẩn PCGD THCS Tuy nhiên, cơ sở vật chất phục
vụ cho công tác PCGD THCS còn thiếu thốn Phụ huynh học sinh chưa nhận thức hết tầm quan trọng và lợi ích của công tác giáo dục Ý thức học tập của học sinh kém, thiếu sự phấn đấu, thi đua Công tác xã hội hóa giáo dục chưa được đẩy mạnh Sự kết hợp giữa các lực lượng trong xã hội “Nhà trường – Gia đình – Xã hội” chưa tốt Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng rất lớn đến công tác PCGD THCS
các Chỉ thị, , Nghị định của Trung ương
đã nỗ lực triển khai, thực hiện công tác PCGD THCS và đạt chuẩn từ năm 2005 và duy trì đến nay Trong thời gian tiếp theo huyện bền vững kết quả PCGD THCS để làm tiền đề phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học Tìm
ra biện pháp để duy trì bền vững kết quả PCGD THCS là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của huyện, vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp duy
trì bền vững công tác phổ cập giáo dục Trung học cơ sở dựa vào cộng đồng
ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sátthực trạng về
giai đoạn 2006-2010, luận văn đề xuất một số biện pháp nhằm duy trì bền vững công tác PCGD THCS và chuẩn bị điều kiện cho phổ cập giáo dục Trung học của huyện
Trang 113 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý nhằm duy trì bền vững công tác PCGDTHCS dựa vào cộng đồnghuyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Huyện Đầm Hà đã đạt chuẩn PCGD THCS, tuy nhiên kết quả đạt được chưa thật vững chắc bởi tỷ lệ đạt chuẩn ở một số xã vùng cao còn thấp, cơ sở vật chất của một số trường đang dần bị xuống cấp, nên ảnh hưởng đến công tác phổ cập bậc trung học cơ sở M
cụ thể, khả thi, kiểm tra được
trì bền vững kết quả PCGD THCS của huyện, tạo điều kiện để hoàn thành
công tác phổ cập giáo dục Trung học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
THCS dựa vào cộng đồngở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
5.4 Thực nghiệm thực hiện một vài biện pháp đề xuất
(trong 4 nhiệm vụ nghiên cứu trên thì 5.3 và 5.4 là 2 nhiệm vụ chủ yếu)
Trang 126 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp duy trì bền vững công tác phổ cập giáo dục THCS dựa vào cộng đồng ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Giới hạn về địa bàn: Đề tài triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
- Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu tài liệu trong 3 năm (từ 2015 - 2017)
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung của Luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về duy trì bền vững công tác PCGD THCS
- Chương 2:Thực trạng công tác PCGD THCS ở huyện Đầm Hà, tỉnh
Quảng Ninh
- Chương 3: Biện pháp duy trì bền vững công tác PCGD THCS dựa
vào cộng đồng ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh Thực nghiệm một vài biện pháp đề xuất
Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DUY TRÌ BỀN VỮNG CÔNG TÁC
PHỔ CẬP GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
-Tro
”
Trang 15-: “ công dân”
CNH,
-
– “
”
Trang 16” Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, năm
2010 Việt Nam đã hoàn thành công tác PCGD THCS trên phạm vi cả nước
và hội nhập quốc tế
–-
1.2.1.
,
1.2.2.
Trang 171.3.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về giáo dục và PCGD:
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về giáo dục, đào tạo luôn
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta, tư tưởng đó của Người càng có ý nghĩa thiết thực
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục không bó hẹp trong việc giáo dục
Trang 18sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàn diện, vừa “hồng” vừa “chuyên”, có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khỏe, thẩm mỹ… Tư tưởng
Hồ Chí Minh về giáo dục vừa là thành quả của sự chắt lọc tinh tế tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, vừa mang đậm hơi thở của cuộc sống Do vậy, ở Hồ Chí Minh, lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau Đúng như Nghị quyết UNESCO đánh giá: “Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”
Theo Hồ Chí Minh, giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới Người nói: “Thiện, ác vốn chẳng phải
là bản tính cố hữu, phần lớn đều do giáo dục mà nên”
Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ
và xây dựng đất nước Người kêu gọi:
“ Quốc dân Việt Nam!
Muốn giữ vững nền độc lập,
Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,
Mọi người Việt Nam phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”
Từ thực trạng nền giáo dục dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vạch trần và lên án chính sách giáo dục của thực dân Pháp là làm cho
“ngu dân dễ trị” Người viết: “Phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáo dục nô dịch của thực dân còn sót lại như: Thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theo lối nhồi sọ Và cần xây dựng tư tưởng dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ
Trang 19nhân dân” Thật vậy, ngay từ những năm đầu vào đời, khi tham gia giảng dạy
ở trường Dục Thanh - Phan Thiết, tại đây, bên cạnh việc truyền bá những kiến thức về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đặc biệt chú trọng đến việc truyền thụ tinh thần, truyền thống yêu nước thương nòi của dân tộc
Mục đích cao cả của Hồ Chí Minh là mong cho dân tộc, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Bởi, đối với Người, “ Nếu nước nhà độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì” Suốt đời, Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất, cao hơn hẳn xã hội cũ - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Và để xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Người, “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa
Đó là nền giáo dục nhằm phát triển con người toàn diện, vừa “hồng” vừa
“chuyên” trong thời đại mới Và như vậy, “con người xã hội chủ nghĩa”, con người toàn diện, “nhất định phải có học thức” Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật Cần phải lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày
Người chỉ rõ: “Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng
ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao trình
độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc làm cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, văn minh và giàu mạnh” Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là
vì con người, cho con người, là xây dựng con người mới Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho phù hợp
Tuy Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm, một hệ
Trang 20những bài viết ngắn gọn, súc tích của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục Nguyên tắc này được Người sử dụng trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên…
Để nâng cao trình độ nhận thức của người lao động, Hồ Chí Minh cho rằng cần có quan điểm dân chủ, thẳng thắn, không nhồi sọ và cần có sự đối thoại trong quá trình học tập, nhận thức Người chỉ rõ: “Mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy Song không được nói gàn, nói vòng quanh” “ Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý” Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi cán bộ, nhà giáo phải biết tôn trọng ý kiến người khác, không nên có thành kiến đối với các ý kiến trái với ý kiến mình
Trong giáo dục, theo Hồ Chí Minh, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục Giáo dục phải căn cứ vào “trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng” Cần có phương pháp tổ chức giáo dục sao cho đảm bảo được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáo dục Đối với Hồ Chí Minh, tất cả các phương pháp giáo dục như phương pháp đối thoại, phương pháp học đi đôi với hành,
lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp làm gương, phương pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đều nhằm mục đích “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”, nâng cao nhận thức, chất lượng và hiệu quả giáo dục Các phương pháp này vừa có tính khoa học, hệ thống lại đảm bảo tính thực tiễn, thời đại
Trang 21-ho”
[12, Tr.118]
Trang 22Hơn 50 năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm, chiến lược, mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo nói chung và PCGD nói riêng luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam Tư tưởng đó không chỉ
là cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời
kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói chung hiện nay
1.3.1.2 Đường lối, quan điểm của Đảng ta về giáo dục và PCGD:
Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và PCGD, Đảng ta qua nhiều kỳ Đại hội, đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề xuất những quan điểm có tính chiến lược và đột phát về phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương khóa VIII đã xác định nhiệm vụ và mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là
“nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” Và tại Đại hội Đảng lần thức IX, một lần nữa Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học,
tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”
Trang 23Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI gần đây, một lần nữa Đảng ta lại nhấn mạnh hệ thống các quan điểm có tính chiến lược về phát triển sự nghiệp giáo dục:
Một là: Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Giáo dục và đào tạo phải góp phần tạo nên một thế hệ người lao động
có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung thực, có tư duy phê phán, sáng tạo,
có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả trong môi trường toàn cầu hóa vừa hợp tác vừa cạnh tranh Điều này đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về giáo dục từ nội dung, phương pháp dạy học đến việc xây dựng những môi trường giáo dục lành mạnh và thuận lợi, giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức, phát triển kỹ năng và vận dụng những điều đã học vào cuộc sống
Hai là: Phát triển nền giáo dục của dân, do dân và vì dân là quốc sách
hàng đầu Giáo dục phải chăm lo nhiều hơn đến việc học tập của các tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện cho mọi người, đặc biệt là con em các đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh ở các vùng kinh tế chậm phát triển, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với giáo dục có chất lượng Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng và Nhà nước tiếp tục dành sự ưu tiên cho giáo dục, không chỉ thể hiện ở những chính sách đầu tư
mà còn ở sự lãnh đạo trực tiếp và triệt để hơn nữa đối với sự nghiệp giáo dục của nước nhà Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, những giải pháp chỉ đạo giáo dục của Đảng và Nhà nước cũng cần có những đổi mới, sáng tạo và linh hoạt hơn để thích ứng với thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 24Ba là: Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thỏa mãn nhu cầu
phát triển của mỗi cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập Vì người học có những mong muốn, nhu cầu khác nhau, điều kiện sống và học tập khác biệt, giáo dục chỉ thực sự có hiệu quả nếu không đồng nhất với tất cả mọi đối tượng Giáo dục phải chú trọng nhiều
hơn đến “cơ hội lựa chọn” trong học tập cho mỗi người học Các chương
trình, giáo trình và các phương án tổ chức dạy học phải đa dạng hơn, tạo cơ hội cho mỗi người học những gì phù hợp với chuẩn mực chung nhưng gắn với nhu cầu, nguyện vọng và điều kiện học tập của mình
Bốn là: Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục phải dựa trên cơ sở bảo
tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng nền giáo dục giàu tính nhân văn, tiên tiến, hiện đại Cần vận dụng những kinh nghiệm giáo dục của nhiều nước tiên tiến trên thế giới để tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nước ta và các nước trên thế giới Tuy nhiên, việc tiếp nhận những mô hình giáo dục của nước ngoài phải được xem xét thận trọng để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội Vận dụng những bài học kinh nghiệm của quốc tế phải được tiến hành đồng thời với việc nhấn mạnh hơn những yếu tố dân tộc trong nội dung và phương pháp giáo dục
Năm là: Phát triển dịch vụ giáo dục và tăng cường yếu tố cạnh tranh
trong hệ thống giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục Sự quan tâm của nhà nước trong nhiều năm qua đã được thể hiện rõ thông qua đầu tư ngày một tăng cho giáo dục Tuy nhiên, với một đất nước còn nghèo như nước ta, đầu tư trong ngân sách nhà nước cho giáo dục dù đã tăng nhưng vẫn còn nhỏ bé so với yêu cầu phát triển giáo dục và so với sự đầu tư cho giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới Phát triển những dịch vụ giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN là cần thiết, nhằm thu hút nhiều
Trang 25hơn các nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu học ngày càng tăng của nhân dân Bên cạnh đầu tư của Nhà nước và của xã hội cho giáo dục, mỗi cá nhân tham gia vào sự nghiệp giáo dục phải có những đóng góp tích cực góp phần tạo nên chất lượng giáo dục Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục và giữa các
cá nhân tham gia giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục
Sáu là: Giáo dục đào tạo phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều
kinh nghiệm và “mô hình” giáo dục, đào tạo của các nước tiên tiến, tích
cực đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện tiết kiệm, chống tiêu cực trong giáo dục, thu hút các nhà khoa học, nhà giáo giỏi trong và ngoài nước tham gia giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu khoa học… là những giải pháp cần được chú trọng nhằm sử dụng tối ưu các nguồn đầu tư và hỗ trợ để nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 26
1.3.2 Cơ sở pháp lý của công tác phổ cập giáo dục
Trên nền tảng đường lối, quan điểm của Đảng ta về giáo dục và PCGD qua các Nghị quyết và văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Quốc hội, Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hóa trong Luật Giáo dục, trong các Nghị định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Theo trình tự thời gian có thể dẫn ra cụ thể như sau:
Trang 27-
Trang 312
Trang 32-–
-u 35: “
Trang 35* Tóm lại:
âng c
văn minh”
1.4 Duy trì bền vững công tác PCGD THCS dựa vào cộng đồng
- Trong hệ thống giáo dục quốc dân, g
ể đ
+
+
Trang 36+
- Nội dung trọng tâm của công tác PCGD THCS là: Huy động tối đa học sinh tốt nghiệp tiểu học (100%) vào học lớp 6, duy trì, chống lưu ban,
bỏ học ở cấp THCS; mở rộng các loại hình trường lớp như lớp bổ túc phổ cập giáo dục THCS đối với đối tượng học sinh không có điều kiện tiếp tục đến trường học cấp THCS
- Tiêu chuẩn PCGD THCS của xã, thị trấn phải đạt được:
* Tiêu chuẩn 1:
–
Các cơ sở giáo dục bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện dạy
đủ các môn học của chương trình phổ cập giáo dục THCS
* Tiêu chuẩn 2:
–
Trang 37- Công tác tuyên truyền vận động, huy động: Đây là một trong những
công tác trọng tâm, làm nồng cốt cho việc nâng cao chất lượng, quyết định
sự thành công của việc PCGD THCS
- Chế tài: Chế tài góp phần thành công cho công tác PCGD THCS, vì
vậy phải xây dựng bộ chế tài hợp lí để áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
- Điều kiện kinh tế của địa phương, cơ sở vật chất phục cho công
tác: Điều kiện kinh tế của địa phương và cơ sở vật chất là yếu tố ảnh
hưởng rất lớn đến công tác duy trì bền vững công tác PCGD THCS Địa phương nào có kinh tế phát triển, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học đảm bảo thì địa phương đó sẽ làm tốt công tác duy trì bền vững công tác PCGD THCS
- Công tác quản lý, vai trò của lãnh đạo các cấp: Khi công tác
quản lí được tổ chức, thực hiện nghiêm túc, khoa học; vai trò của lãnh đạo được phát huy thì công tác duy trì bền vững công tác PCGD THCS
sẽ thành công
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã khái quát và làm rõ những khái niệm cơ bản như: Phổ cập giáo dục, phổ cập giáo dục THCS, cộng đồng Ngoài ra, trong chương này còn luận giải cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của công tác PCGD nói chung và PCGD THCS nói riêng ở nước ta dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
Để có cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu, luận văn đã đi sâu phân tích nội dung, tính chất và xác định những tiêu chí đánh giá về PCGD THCS, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng PCGD THCS, nhất là trong điều kiện của một huyện miền núi như Đầm Hà
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PCGD THCS Ở HUYỆN ĐẦM HÀ,
TỈNH QUẢNG NINH
2.1 Khái quát tình hình phát triển
-Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Đặc điểm chung về huyện Đầm Hà:
Đầm Hà là huyện miền núi ven biển thuộc vùng Đông Bắc của tỉnh Quảng Ninh, được tách ra từ huyện Quảng Hà và tái lập theo Nghị định số 59/2001/NĐ-CP ngày 29/8/2001 của Chính phủ Huyện có diện tích 414,368 km2, trên 80% là đồi núi và được chia thành nhiều vùng khác nhau; phía Tây Bắc giáp huyện Bình Liêu, phía Đông Bắc giáp huyện Hải Hà, phía Tây Nam giáp huyện Tiên Yên và phía Nam giáp biển, với chiều dài bờ biển
là 21 km, ngoài biển là đảo Vạn Vược
Dân số của huyện năm 2016 là trên 39 nghìn người, gồm 09 dân tộc cùng chung sống, với nhiều phong tục tập quán sinh hoạt và lao động sản xuất khác nhau, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 20% Phần lớn dân cư tập trung ở vùng thấp ven biển, song vẫn còn một bộ phận là đồng bào dân tộc thiểu số, sống phân tán tại các thôn bản ở vùng cao thuộc các xã Quảng Lâm, Quảng An Hiện nay huyện có 09 xã và 01 thị trấn, với
76 thôn bản, khu phố, trong đó: có 03 đơn vị xã vùng cao thuộc Chương trình 135 (Quảng An, Quảng Lâm, Quảng Lợi); 05 đơn vị xã miền núi trung du (Quảng Tân, Đại Bình, Dực Yên, Tân Bình và Tân Lập) và 02 đơn
vị đồng bằng trung du (xã Đầm Hà và thị trấn Đầm Hà)
Tài nguyên lớn nhất của Đầm Hà là đất đai Vùng rừng núi phía bắc còn nhiều rừng tự nhiên, ở đây người Dao có truyền thống trồng quế và khai thác
Trang 40lâm sản Vùng đồi trung du được trồng thông, bạch đàn, sa mộc và đang phát triển các trang trại cây ăn quả và cây lấy gỗ Vùng thấp là nơi trồng lúa nước, lạc, đậu tương, ngô, khoai sắn, mía.Đây cũng là vùng chăn nuôi gia súc phát triển Quốc lộ 18A chạy qua huyện ra Móng Cái là trục giao lưu luân chuyển hàng hóa rất thuận lợi, nhiều xã ven biển có nghề cá và những bến thuyền (Bến Đầm Buôn, Phúc Tiến)
Đầm Hà có truyền thống văn hóa lâu đời, các nhà khảo cổ học đã phát hiện Đầm Hà có cư dân sinh sống ít nhất từ năm bảy nghìn năm nay Cư dân sớm nhất ở Đầm Hà là người Kinh sống bằng khai thác hải sản và khai phá đất đai canh tác ở vùng ven biển Về sau có thêm người từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ di cư đến Sau đó là người các dân tộc thiểu số thuộc nhóm Bách Việt, gồm người Tày, Nùng, Dao,Sán Chay, Sàn Dìu, cuối cùng là các chủng tộc người Hoa từ Quảng Tây, Quảng Đông và một số tỉnh đông nam Trung Quốc di cư sang Đầm Hà cũng là mảnh đất sản sinh ra nhiều anh hùng trong kháng chiến bảo vệ Tổ quốc
Đầm Hà là huyện nông nghiệp, xuất phát điểm thấp, năm 2000, tổng thu ngân sách của huyện đạt 11,36 tỷ đồng Từ năm 2006 được sự đầu tư mạnh
mẽ của tỉnh và sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, đặc biệt là từ khi khánh thành Hồ chứa nước đầu mối Đầm Hà Động, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của huyện ngày càng có bước phát triển Năm 2011, tổng giá trị sản xuất đạt trên 450 tỷ đồng, tổng thu ngân sách đạt gần 300 tỷ đồng Đến năm 2016, tổng giá trị sản xuất đạt 807 tỷ đồng, tổng thu ngân sách đạt gần 387 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế của huyện hiện nay là Nông nghiệp - Công nghiệp, xây dựng - Dịch vụ, thương mại, lương thực bình quân đầu người đạt 500kg/người/năm, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, tỷ lệ
hộ nghèo năm 2016 giảm còn 10,12% Đến nay 100% các xã đã có đường bê