Với những lí do cơ bản trên đây, kết hợp với nguyện vọng của cá nhân là một giáo viên hiện được phân công làm công tác quản lí tại trường mầm non, tôi chọn đề tài "Quản lí thiết bị giáo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BÙI LỆ NGÂN
QU¶N LÝ THIÕT BÞ GI¸O DôC TRONG C¸C TR¦êNG MÇM NON QUËN NG¤ QUYÒN THµNH PHè H¶I PHßNG §¸P øNG Y£U CÇU
TR¦êNG CHUÈN QUèC GIA
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quốc Trị
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn
là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Bùi Lệ Ngân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cám ơn TS Nguyễn Quốc Trị, người hướng dẫn khoa học đã hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn Qua sự hướng dẫn của thầy giáo, tôi đã học hỏi được nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý giá trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cám ơn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Khoa Quản lí giáo dục; quý thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Cảm ơn Sở GD&ĐT Thành phố Hải Phòng; Quận ủy, Ủy ban nhân dân Quận, Phòng GD&ĐT Quận Ngô Quyền và các trường mầm non trên địa bàn Quận Ngô Quyền đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành khóa học
và luận văn
Tôi xin cám ơn đồng nghiệp, bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên
để tôi có thêm nghị lực, học hỏi thêm kiến thức, kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và những người thân yêu
Sự động viên, khích lệ và ủng hộ thầm lặng của mọi người thực sự có ý nghĩa
và giá trị to lớn để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Lệ Ngân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Ở nước ngoài 7
1.1.2 Ở Việt Nam 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý giáo dục 11
1.2.2 Quản lý nhà trường 14
1.3 Thiết bị giáo dục trong trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 17
1.3.1 Thiết bị giáo dục và phân loại thiết bị giáo dục 17
1.3.2 Vai trò của thiết bị giáo dục trong trường mầm non 19
1.3.3 Nguyên tắc sử dụng thiết bị giáo dục trong trường mầm non 21
1.4 Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 22
1.4.1 Trường mầm non 22
1.4.2 Tiêu chuẩn của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 24
1.4.3 Yêu cầu về thiết bị giáo dục của Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 25
1.5 Quản lí thiết bị giáo dục ở trường mầm non 27
1.5.1 Chủ thể quản lí thiết bị giáo dục ở trường mầm non 27
1.5.2 Nội dung quản lí thiết bị giáo dục ở trường mầm non 29
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lí thiết bị giáo dục ở trường mầm non 35
1.6.1 Các yếu tố khách quan 36
Trang 51.6.2 Các yếu tố chủ quan 38
Kết luận chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA 41
2.1 Khái quát về tình hình phát triển giáo dục mầm non của Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 41
2.1.1 Về quy mô giáo dục mầm non 42
2.1.2 Về loại hình trường 42
2.1.3 Về cơ cấu đội ngũ GV 43
2.2 Giới thiệu về khảo sát thực trạng 45
2.2.1 Mục đích khảo sát 45
2.2.2 Khách thể khảo sát 46
2.2.3 Nội dung khảo sát 46
2.2.4 Phương pháp và công cụ kháo sát 46
2.2.5 Thời gian và tiến trình khảo sát 47
2.2.6 Xử lí kết quả kháo sát 47
2.3 Thực trạng thiết bị giáo dục của các trường mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 48
2.3.1 Thực trạng về trang bị thiết bị giáo dục 48
2.3.2 Thực trạng về sử dụng thiết bị giáo dục 49
2.3.3 Thực trạng về bảo quản thiết bị giáo dục 54
2.4 Thực trạng quản lí thiết bị giáo dục của các trường mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 54
2.5.1 Thực trạng nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của quản lí TBGD ở trường mầm non 54
2.5.2 Thực trạng lập kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 57
2.5.3 Thực trạng tổ chức trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 61
2.5.4 Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 64
Trang 62.5.5 Thực trạng kiểm tra, giám sát việc quản lí và sử dụng thiết bị giáo dục 67
2.5 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí thiết bị giáo dục của Hiệu trưởng trường mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 69
2.5.1 Các yếu tố chủ quan 69
2.5.2 Các yếu tố khách quan 71
2.6 Đánh giá thực trạng quản lí thiết bị giáo dục ở các trường mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 72
2.6.1 Những điểm mạnh 72
2.6.2 Những điểm yếu 73
2.6.3 Cơ hội và thách thức 74
Kết luận chương 2 74
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA 76
3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 76
3.1.1 Định hướng đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam 76
3.1.2 Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam 2011 - 2020 78
3.1.3 Định hướng phát triển giáo dục - đào tạo của Thành phố Hải Phòng và Quận Ngô Quyền đến năm 2020 78
3.1.4 Yêu cầu về thiết bị giáo dục để công nhận Trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia 79
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 80
3.2.1 Đảm bảo tính hệ thống 80
3.2.2 Đảm bảo tính đồng bộ 80
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn và khả thi 81
3.2.4 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 82
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lí thiết bị giáo dục ở các trường mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn Quốc gia 82
3.3.1 Nâng cao nhận thức, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên phụ trách thiết bị giáo dục 82
Trang 73.3.2 Đổi mới xây dựng kế hoạch và nâng cao hiệu quả công tác đầu tư, mua sắm, trang bị và hoạt động tự chế, tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục
trong cán bộ, giáo viên 84
3.3.3 Đổi mới nội dung quản lí của Hiệu trưởng trong lĩnh vực quản lí thiết bị giáo dục 88
3.3.4 Tổ chức bồi dưỡng về kĩ năng, nghiệp vụ quản lí, khái thác, sử dụng hiệu quả thiết bị giáo dục cho cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên 94
3.3.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc quản lí sử dụng thiết bị giáo dục 96
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 99
3.5 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.100 3.5.1 Mục đích khảo sát 100
3.5.2 Nội dung khảo sát 100
3.5.3 Đối tượng khảo sát 100
3.5.4 Phương pháp khảo sát: 100
3.5.5 Kết quả khảo sát 101
Kết luận chương 3 105
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý CBQLGD : Cán bộ quản lý giáo dục CSGD : Chăm sóc giáo dục CSNDGD : Chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục CSVC : Cơ sở vật chất
CQG : Chuẩn Quốc gia GDMN : Giáo dục mầm non GVMN : Giáo viên mầm non GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo HĐGD : Hoạt động giáo dục LLXH : Lực lượng xã hội QLGD : Quản lí giáo dục TBGD : Thiết bị giáo dục UBND : Ủy ban nhân dân XHH : Xã hội hóa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô giáo dục mầm non quận Ngô Quyền 42
Bảng 2.2 Cơ cấu loại hình trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng năm học 2016-2017 43
Bảng 2.3 Cơ cấu đội ngũ giáo viên, nhân viên và CBQL bậc học mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng năm học 2016-2017 43
Bảng 2.4 Thực trạng nguồn vốn trang bị thiết bị giáo dục 48
Bảng 2.5 Thực trạng các loại thiết bị giáo dục truyền thống 50
Bảng 2.6 Thực trạng các loại thiết bị giáo dục hiện đại 52
Bảng 2.7 Thực trạng đáp ứng yêu cầu bảo quản thiết bị giáo dục 54
Bảng 2.8 Nhận thức của CBQL và GV về tầm quan trọng của quản lí TBGD 55
Bảng 2.9 Thực trạng lập kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 58
Bảng 2.10 Thực trạng tổ chức trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 61
Bảng 2.11 Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 65
Bảng 2.12 Thực trạng việc kiểm tra, giám sát việc quản lí và sử dụng TBGD 67
Bảng 2.13 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lí TBGD ở các trường MN Quận Ngô Quyền 69
Bảng 2.14 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lí TBGD ở các trường MN Quận Ngô Quyền 71
Bảng 3.1 Đối tượng khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 100
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lí TBGD 101
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Vị trí của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học 18
Biểu đồ 2.1 Mức độ nhận thức tầm quan trọng của các nội dung quản lí TBGD 55
Biểu đồ 2.2 Mức độ lập kế hoạch trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 59
Biểu đồ 2.3 Mức độ tổ chức trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 62
Biểu đồ 2.4 Mức độ lãnh đạo, chỉ đạo trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD 65
Biểu đồ 3.5 Mức độ kiểm tra, giám sát việc quản lí và sử dụng TBGD 68
Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lí TBGD tại các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 102
Biểu đồ 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lí TBGD tại các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 103
Biểu đồ 3.3 Mối quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp QL TBGD tại các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng 104
Trang 11có nhiệm vụ xây dựng những cơ sở ban đầu, đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách con người Đây là giai đoạn giáo dục mấu chốt và quan trọng nhất bởi thời điểm này tất cả mọi việc đều bắt đầu: bắt đầu ăn, bắt đầu nói, bắt đầu nghe, nhìn và vận động bằng đội chân, đôi tay của mình tất cả những cử chỉ đó đều làm lên những thói quen, những nét tính cách bền vững về sau trong nhân cách của trẻ Bởi vậy, chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống
là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc
và bảo vệ, được tồn tại, được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng Vì thế giáo dục con người ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi con người đối với xã hội, đối với cộng đồng
1.2 Thiết bị giáo dục (TBGD) đặc biệt quan trọng ở bậc học mầm non trong đó có hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo Chính trong quá trình hoạt động với đồ vật huy động tất cả các giác quan trong hoạt động học tập trẻ sẽ vận động biến đổi nhận thức lĩnh hội tri thức có hiệu quả nhất Hơn nữa trong quá trình sử dụng TBGD giáo viên sẽ có điều kiện truyền đạt tốt nhất nội dung giáo dục tới người học đồng thời phát huy tính sáng tạo trong quá trình tìm tòi và
tự tạo các đồ dùng giáo dục phù hợp
Trang 12Đổi mới trường mầm non gắn liền với những yêu cầu về trang bị, sử dụng TBGD theo quan niệm tiên tiến về phương pháp dạy học, coi TBGD không phải chỉ là phương tiện minh hoạ, "trực quan hóa" điều trình bày, giảng giải của giáo viên mà chính là nguồn tri thức, phương tiện truyền tải thông tin, phương tiện tư duy, nghiên cứu học tập, tiếp cận tự nhiên và xã hội của trẻ MN, giúp trẻ MN tự tìm kiếm kiến thức Công tác quản lí trường MN quan tâm khuyến nghị giáo viên tăng cường sử dụng TBGD, giảm dần và tiến tới khắc phục tình trạng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ không có đồ dùng trực quan cho trẻ hoạt động Trong điều kiện kinh phí hạn hẹp, Nhà nước khó có thể trang bị đủ, đáp ứng tối đa nhu cầu về phương tiện dạy học cho trường MN, yêu cầu quản lí và tổ chức tìm kiếm
và tự sản xuất phương tiện dạy học tiếp tục được đặt ra
1.3 Đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng là công cuộc quan trọng, cấp bách và cần thiết, đòi hỏi đổi mới một cách đồng bộ (chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục…) hướng vào thực hiện mục tiêu chung Điều này đòi hỏi sự tham gia một cách có trách nhiệm và vững vàng về năng lực chuyên môn của lãnh đạo trường MN và của giáo viên để tất cả cùng hướng vào định hướng chung: nâng cao chất lượng giáo dục của trường mầm non nhằm hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục
Ở trường MN, quản lí các nguồn lực vật chất của trường MN góp phần quan trọng để thực hiện tốt đổi mới giáo dục Bối cảnh mới đòi hỏi trường MN phải trở thành một môi trường giáo dục đích thực, môi trường để phát triển một cách hài hoà, toàn diện nhân cách trẻ MN chứ không phải chỉ là nơi trẻ MN đến nghe giảng Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường mầm non thường gắn liền với quản lí
và sử dụng TBGD Điều này đặt ra những yêu cầu mới đối với việc trang bị cơ sở vật chất trường học, đòi hỏi phối hợp giữa đầu tư của nhà nước với đầu tư của địa phương và sử dụng kết quả của công tác xã hội hoá giáo dục Các nguồn lực vật chất cần tập trung tạo môi trường, điều kiện, phương tiện… để thực hiện tốt mục tiêu của việc đổi mới trường MN Cần hướng tới các biện pháp quản lí để khai thác,
sử dụng triệt để và có hiệu quả những TBGD hiện có, mặt khác, cần chú ý khai thác tiềm năng của giáo viên, trẻ MN, các lực lượng xã hội trong việc sưu tầm các mẫu
Trang 13vật, tranh ảnh, trong việc sản xuất các TBGD Vừa quan tâm cung cấp, đáp ứng yêu cầu TBGD, vừa chú ý quản lí, kiểm tra, ngăn ngừa tình trạng không sử dụng hoặc
sử dụng kém hiệu quả các TBGD hiện có
Trong bối cảnh đó, đổi mới giáo dục mầm non đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với các hoạt động giáo dục trong trường MN, nhiều đòi hỏi mới đối với hoạt động sư phạm của giáo viên Điều đó đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lí của người hiệu trưởng trường mầm non, đòi hỏi người hiệu trưởng trường mầm non phải “thay đổi sự quản lí” để “quản lí sự thay đổi”
1.4 Những năm qua ngành GD&ĐT Hải Phòng nói chung, Quận Ngô Quyền nói riêng đã quan tâm xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị trường học đối với các cấp bậc học Tuy nhiên, việc tạo điều kiện tối ưu nhất để trang bị cơ sở vật chất và phương tiện dạy học còn gặp nhiều khó khăn và chưa thể giải quyết xong trong thời gian ngắn Nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất còn hạn hẹp đầu tư không thường xuyên thiếu đồng bộ là một trở ngại cho nhiều trường học Bên cạnh đó trách nhiệm trong việc quản lí sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và TBGD tại các cơ sở giáo dục còn nhiều bất cập, giáo viên sử dụng chưa có ý thức bảo quản để sử dụng lâu dài Đội ngũ CBQL trường mầm non đứng đầu là Hiệu trưởng chưa thấy hết được vai trò trách nhiệm của mình trong việc quản lí
và sử dụng TBGD để nâng cao chất lượng dạy học trong trường MN
Với những lí do cơ bản trên đây, kết hợp với nguyện vọng của cá nhân là một giáo viên hiện được phân công làm công tác quản lí tại trường mầm non, tôi
chọn đề tài "Quản lí thiết bị giáo dục trong các trường mầm non Quận Ngô
Quyền Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia" làm
đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành quản lí giáo dục Qua việc thực hiện đề tài này, tôi hy vọng sẽ được trang bị thêm những tri thức lí luận và thực tiễn về khoa học Quản lí giáo dục, từ góc tiếp cận của mình, tôi cũng hy vọng góp được tiếng nói riêng vào việc tìm ra giải pháp quản lí nâng cao chất lượng giáo dục của trường MN trong bối cảnh thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lí TBGD tại các trường
Trang 14MN, luận văn đề xuất các biện pháp quản lí của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lí TBGD đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia ở các trường MN trên địa bàn Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lí TBGD của Hiệu trưởng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lí TBGD trong các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lí TBGD của Hiệu trưởng các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng
4.2 Giới hạn về khách thể khảo sát
Đề tài tiến hàn khảo sát thực trạng việc trang bị, sử dụng, bảo quản TBGD; thực trạng quản lí TBGD ở các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng trên 28 CBQL; 170 giáo viên mầm non
4.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
10 trường MN trên địa bàn Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng (mẫu giáo Sao sáng 1, Sao sáng 2, Sao sáng 3,Sao sáng 4, Trường Mầm non 8/3, Trường 20-10, Trường Sao sáng 6, Trường mẫu giáo Sao sáng 8, Trường MN Đồng Tâm, Trường MN Bông sen)
5 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác quản lí TBGD của Hiệu trưởng ở một số trường MN trên địa bàn Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng đã bước đầu có sự đổi mới
và đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần làm cho chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục được nâng cao Tuy nhiên, trong quá trình quản lí, vẫn còn có một số hạn chế Nếu vận dụng cơ sở lí luận, đồng thời căn cứ vào thực trạng quản lí TBGD của Hiệu trưởng ở một số trường MN trên địa bàn Quận Ngô Quyền thì có thể đề xuất được một số biện pháp quản lí TBGD có tính hiệu quả và khả thi
Trang 156 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận về TBGD và quản lí các TBGD đáp ứng yêu cầu
trường chuẩn quốc gia của Hiệu trưởng trường MN
6.2 Tìm hiểu thực trạng TBGD và quản lí các TBGD ở các trường MN
Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng
6.3 Đề xuất một số biện pháp quản lí TBGD của Hiệu trưởng các
trường MN Quận Ngô Quyền Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành với 3 nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đề tài thực hiện việc phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu, sách báo, tạp chí khoa học về TBGD và quản lí các TBGD, bao gồm: Các Nghị quyết, Chính sách của Đảng, Nhà nước; các văn bản, tài liệu của ngành giáo dục; các tài liệu, sách báo đề cập đến công tác TBGD và quản lí các TBGD của các nhà khoa học trong và ngoài nước; các đề tài, luận văn, tạp chí khoa học, báo cáo khoa học, các bài tham luận tại hội thảo đề cập đến TBGD và quản lí các TBGD Những nghiên cứu lý luận này nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài luận văn
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng về TBGD và quản lí TBGD trong các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng Các phiếu hỏi được xây dựng dành cho các khách thể khảo sát khác nhau (CBQL giáo dục, lãnh đạo, cán bộ ban ngành đoàn thể, giáo viên mầm non…)
7.2.2 Phương pháp quan sát
Thông qua việc quan sát các hoạt động sư phạm và các nhân tố khác có liên quan đến quản lí thiết bị GD để thu thập thông tin, những tài liệu thực tiễn ở các trường MN trên địa bàn Quận Ngô Quyền, có ghi nhật ký và biên bản quan sát
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tìm hiểu và nghiên cứu quá trình quản lí TBGD đã xảy ra ở trường MN
Trang 16để thu thập số liệu và phát hiện những vấn đề mới Bên cạnh đó, tiến hành tổng kết sáng kiến của các giáo viên tiên tiến trong việc sử dụng, quản lí TBGD
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Đề tài thu thập thông tin bằng cách tìm hiểu, phân tích sản phẩm TBGD
và quản lý TBGD ở trường MN địa bàn Quận Ngô Quyền Thông qua sản phẩm của hiệu trưởng trường MN (như bản kế hoạch quản lí TBGD), của giáo viên để biết được năng lực và sự tích cực của họ trong các hoạt động quản lí TBGD ở trường MN
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Đề tài tiến hành phỏng vấn lãnh đạo, CBQL về đánh giá công tác quản lí TBGD ở các trường MN Hỏi và trao đổi trực tiếp một số chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, lãnh đạo, CBQL, giáo viên mầm non đánh giá tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lí TBGD ở trường MN đã đề xuất
7.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học áp dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục để xử lý, phân tích và đánh giá thực trạng về TBGD và quản lí TBGD trong các trường MN Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng Đồng thời, các phương pháp thống kê toán học này cũng được sử dụng để khảo nghiệm mức độ tin cậy, sự cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí thiết bị giáo dục của Hiệu trưởng trường
mầm non
Chương 2: Thực trạng quản lí thiết bị giáo dục của Hiệu trưởng các trường
mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lí thiết bị giáo dục của Hiệu trưởng các trường
mầm non Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn Quốc gia
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ THIẾT BỊ GIÁO DỤC
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Trong quá trình dạy học, TBGD là công cụ lao động sư phạm của GV và
HS, yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, khi chúng ta sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TBGD đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học
cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm và trong triết học duy vật biện chứng Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện dạy học trực quan Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp trẻ MN không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ được bản chất của hiện tượng Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý TBGD nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu
Nhà giáo dục học vĩ đại người Tiệp Khắc J.A.Komenski (1592-1679) đã phát triển thuyết duy cảm của Bêcơn Phơranxi (người sáng lập chủ nghĩa duy vật Anh) và khẳng định: “sự nhận thức thế giới của con người bao giờ cũng bắt đầu
từ cảm giác – nhận thức thông qua các giác quan (mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, tay sờ nắm,… ” [33, 87] Và do đó “bước đầu của nhận thức, không còn nghi
Trang 18ngờ gì nữa, bao giờ cũng bắt nguồn từ cảm giác (vì không có cái gì tồn tại trong nhận thức mà lại chưa tồn tại trong cảm giác” [33, 87] Quan niệm này của ông
đã đặt nền móng đầu tiên cho dạy học trực quan, với quan điểm cơ bản là: Dạy học được bắt đầu từ quá trình quan sát sự vật hiện tượng Trái hẳn với lối dạy học kinh viện, nhồi sọ và bắt học sinh thuộc lòng còn phổ biến thời kì đó, Komenski đề cao một phương pháp dạy học khuyến khích người tự học tiếp thu tri thức bằng chính những giác quan của mình J.A Komenski đã tổng kết và phát triển kinh nghiệm về trực quan và đem áp dụng một cách có ý thức vào quá trình dạy học Nhà giáo dục học lỗi lạc người Thụy Sĩ J.H.Pestalossi (1746-1827) đã phát triển nguyên tắc dạy học trực quan của Komenski với tư tưởng chỉ
rõ mối quan hệ hữu cơ giữa tri giác cảm tính với sự phát triển tư duy Pestalossi
đã đưa ra yêu cầu tổ chức quan sát sự vật hiện tượng trong qúa trình dạy học xuất phát từ những quy luật tâm lí của trẻ em
Trong khi đó nhà hoạt động giáo dục văn hóa nổi tiếng người Nga Belinski (1811-1848) lại đi tìm sự gắn kết của việc dạy học trực quan với các đặc điểm sinh lí thần kinh của con người Dựa trên các quan điểm duy vật ông xem các giác quan và bộ não của con người là hai lực lượng cần thiết có nhau Ông nói: nhà sư phạm trong dạy học cần phải dựa trên những biểu tượng của trẻ đã thu nhận được trong quá trình qua sát thế giới hiện thực
Nhà giáo dục học người Nga Usinski (1824-1870) và các học trò của ông tiếp tục phát triển nguyên tắc dạy học trực quan dựa trên các thành tựu mới về tâm lý học và sinh lý học Ông khẳng định trực quan là cái ban đầu là nguồn gốc của tri thức Cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ Usinsski viết:
“Không có cái gì có thể giúp anh san san bằng bức tường ngăn cách giữa giáo viên và học sinh như là việc anh đưa cho học sinh xem một bức tranh và giải thích nó…đứa trẻ suy nghĩ bằng hình dạng bằng màu sắc âm thanh và bằng cảm giác nói chung”
Tuy vậy, trong lý thuyết của mình, Usinski phủ nhận bản chất của quá trình nhận thức Theo ông cái trực quan chỉ là để nhận thức hiện tượng chứ
Trang 19không phải để nhận thức bản chất, ông viết: “Bản chất của các đối tượng trong thế giới vật chất chúng ta không thể hiểu hết được”
Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lí giáo dục học
lý thuyết về dạy học trực quan cũng có những bước tiến mới Người ta đã nhận thức được rằng vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học không chỉ dừng
ở việc giúp học sinh nhận biết hiện tượng mà còn nắm bắt được bản chất suwea
sự vật hiện tượng Một trong những đại diện của tư tưởng này có thể kể đến nhà tâm lí học A.N Leontiev (1903-1979) Ông là một đại diện xuất sắc thuộc trường phái tâm lý học Xô-viết hiện đại Trong hệ thống tư tưởng của mình về hoạt động vfa hoạt động trí óc (bên trong và bên ngoài), Leonchiev đã đưa ra quan điểm về cơ sở tâm lí học của nguyên tắc trong dạy học trực quan
Sang đến thế kỉ 20, trong nhà trường phương Tây, những triết lí dạy học hướng vào người học ở phạm vi rộng đã chịu ảnh hưởng của J Dewey (Mỹ), S Frend (Áo), B Otto (Đức), R de Charm (Pháp) và mô hình trong nghiên cứu của tâm lý học và giáo dục học của C Lewin (Đức), J Piaget và Bruner, P Rele và I.D Illich (Mỹ latinh) và rất nhiều kết quả nghiên cứu cụ thể khác [53, 93] Dễ dàng nhận thấy rõ những khuynh hướng nhân văn là nét đặc trưng nhất, dễ nhận thấy nhất và được thừa nhận rộng rãi của trào lưu dạy học hướng vào người học, xoay quanh con người, vì con người, nhấn mạnh quyền tự do lựa chọn, quyền ra quyết định, ý thức trách nhiệm của người học, đề cao tính mở nói chung của môi trường học tập, trong đó kể cả cơ hội, điều kiện, quan hệ tác động qua lại; tính mềm mại, đa dạng, thích ứng với các nhân tố môi trường, trước hết là lòng tận tụy và sự tôn trọng, hiểu biết về người học của giáo viên, các phương pháp, chiến lược, phong cách và công cụ, TBGD
Vấn đề quản lí dạy - học, quản lí đổi mới phương pháp dạy học, trong đó
có quản lí phương tiện dạy học nói riêng, có nhiều tác giả nước ngoài nghiên
cứu dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau
Các nhà QLGD Nga rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục thông qua các biện pháp quản lí và cho rằng kết quả các hoạt động của
Trang 20nhà trường phụ thuộc vào việc tổ chức và quản lí của đội ngũ giáo viên Nhiều tác giả như V.P Xtrêzicodin, G.I Goócsaia, V.A.Xukhomlinxki đã đưa ra một
số công việc quản lí của hiệu trưởng nhà trường trong đó có đề cập đến việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tổ chức hội thảo khoa học trong đội ngũ giáo viên về các vấn đề đổi mới quá trình dạy học, phương pháp dạy học [57] John Dewey (1859 - 1952) - người Mỹ cho rằng việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết
kế vừa là người cố vấn [35, 52]
Công trình của David W Johnson, Roger L Johnson, Kagan về dạy học hợp tác nhóm có khả năng tốt trong việc phát huy tính tích cực, tự lực, sự tự tin, tinh thần hợp tác, những kĩ năng sống và làm việc trong tập thể Theo họ những thành tựu trong lớp học liên quan đến sự nỗ lực chung, chứ không phải nỗ lực riêng lẻ hay
sự cạnh tranh cá nhân
Từ năm 2000, tư tưởng sư phạm học tương tác đã được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam Có nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu về sư phạm học tương tác thuộc các nước Liên Xô (cũ), Đức, Pháp Điển hình là hai tác giả người Canađa là Jean - Marc Denomme và Madeleine Roy trong tác phẩm “Tiến tới một sư phạm học tương tác”, đã giới thiệu hoạt động dạy học - giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố: Người dạy - Người học và môi trường” [53, 115] Yếu tố môi trường (môi trường vật chất, môi trường tinh thần, môi trường bên trong, môi trường bên ngoài) ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động dạy học Do vậy việc quản lý dạy học, đổi mới phương pháp dạy học làm cho môi trường thay đổi chưa đề cập đến nhiều mà chỉ dừng lại ở phần lý luận chung
ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu
Trang 21về quản lý CSVC & TBTH như: Đề tài “Một số biện pháp quản lý CSVC & TBTH của hiệu trường THPT Sóc Sơn, Hà Nội” của tác giả Đỗ Hoàng Điệp Từ việc tìm hiểu thực trạng CSVC & TBTH của Hiệu trưởng trường THPT Sóc Sơn, Hà Nội trong giai đoạn 1996 – 2004, đề tài đã đề xuất một số biện pháp xây dựng và quản lý CSVC & TBTH của hiệu trưởng THPT Sóc Sơn, Hà Nội Đề tài các biện pháp CSVC & TBTH ở một số trường THCS Thanh Hóa” của tác giả
Lê Xuân Đào Đề tài các biện pháp CSVC & TBTH ở trường THPT Hải Phòng” của tác giả Vũ Văn Trà; đề tài: "Một số biện pháp quản lí cơ sở vật chất và TBTH ở trường CĐSP Bắc Ninh" của tác giả Nguyễn Thị Thu
Các công trình nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả thực tiễn ở một số địa phương trong giai đoạn hiện nay, giúp các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục có cách nhìn tổng thể, toàn diện hơn về quản lý TBDH Tuy nhiên vấn đề này ở các
cơ sở giáo dục địa phương, các vùng còn nhiều chỗ không giống nhau Việc quản lý TBDH của các trường MN còn ít được nghiên cứu
Hiện nay cơ sở vật chất và TBGD được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo, là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật cần thiết được giáo viên và trẻ MN sử dụng để hoạt động tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ MN, giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Từ những nghiên cứu tổng quan trên, có thể thấy raừng quản lí đổi mới phương pháp dạy học nói chung, TBGD nói riêng ở nhà trường các cấp là nhiệm
vụ cấp bách và lâu dài và là quá trình khó khăn, phức tạp liên quan đến sự thay đổi nhận thức, tâm lý, thói quen không chỉ của hiệu trưởng, giáo viên, học sinh
mà còn phụ thuộc vào nhiều lực lượng xã hội, nhiều yếu tố liên quan đến hoạt động giáo dục
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
Hoạt động quản lí đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm, đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động, là một hoạt động
Trang 22lao động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội, được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác trong lao động Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống nhất và cần phải
có sự quản lí C.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [32, 10]
QLGD là một quá trình diễn ra những tác động quản lí và nằm trong phạm trù quản lí xã hội nói chung Quản lí giáo dục được xem như là một hoạt động chuyên biệt để quản lí các cơ sở giáo dục Khái niệm "quản lí giáo dục" có nhiều cấp độ, ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô Cấp quản lí vĩ mô tương ứng với việc quản lí một đối tượng có quy mô lớn nhất, bao quát toàn bộ
hệ thống Nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống con này có hoạt động quản lí vi mô Sự thực, việc phân chia quản lí vĩ mô
và quản lí vi mô chỉ là tương đối Chẳng hạn, quản lí ở cấp Sở GD-ĐT, nếu đặt trong phạm vi toàn quốc thì chỉ là cấp vi mô so với Bộ GD-ĐT (cấp vĩ mô); song nếu đặt nó trong phạm vi một tỉnh, Thành phố thì nó lại là cấp vĩ mô so với quản
lí của Phòng Giáo dục (cấp vi mô) Nếu xét theo khía cạnh đối tượng của quản lí
sẽ có các cấp quản lí như: quản lí một ngành học, bậc học, cấp học đó Cũng như trên, việc phân chia các cấp quản lí này cũng mang tính tương đối Điều quan trọng là khi xét vấn đề quản lí phải xác định chủ thể quản lí đang ở cấp độ nào
Từ đó mới thấy được mối tương quan trên dưới, vi mô và vĩ mô
Khi đưa ra quan niệm về quản lí vĩ mô và quản lí vi mô trong giáo dục, sẽ
có hai nhóm khái niệm tương ứng: một, cho quản lí một nền hệ thống giáo dục (quản lí vĩ mô) và một, cho quản lí một nhà trường (quản lí vi mô)
Trang 23- Đối với cấp vĩ mô:
Quản lí giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
Quản lí giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội (emergence) của hệ thống;
sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống, sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động
Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Các khái niệm trên tương ứng với sự phát triển hệ thống giáo dục trên quy
mô cả nước hay hệ thống giáo dục của một tỉnh, Thành phố hoặc đối với hệ thống giáo dục của một ngành học, cấp học cụ thể nào đó Có thể thấy, các khái niệm đó không mâu thuẫn nhau, ngược lại bổ sung cho nhau: nếu khái niệm thứ nhất và thứ hai đòi hỏi tính định hướng, tính đồng bộ toàn diện đối với những tác động quản lí, thì khái niệm thứ ba đòi hỏi tính cụ thể của những tác động quản lí vào các đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu quản lí
- Đối với cấp vi mô:
Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống), hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường Cũng có thể định nghĩa quản lí giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lí vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Trang 24Nội dung quản lí giáo dục là quản lí quá trình giáo dục, là quản lí một hệ thống toàn vẹn bao gồm các yếu tố sau: Quản lí mục tiêu giáo dục; Quản lí nội dung giáo dục; Quản lí phương pháp giáo dục; Quản lí hình thức tổ chức giáo dục; Quản lí giáo viên, cán bộ công nhân viên; Quản lí học sinh; Quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật; Quản lí môi trường giáo dục; Quản lí kết quả giáo dục
Trên cơ sở những nội dung đã nêu, có thể hiểu:
- Quản lí giáo dục là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có
mục đích của chủ thể quản lí lên đối tượng bị quản lí Quản lí giáo dục là sự tác
động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp tác động tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt được mục tiêu đã đề ra
- Quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản
lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thực chất là
những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ MN theo mục tiêu đào tạo
- QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể, quản
lí thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra Quản lí giáo dục từ cấp vĩ mô đến tầm vi
mô đều hướng tới việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực (đầu vào) dành cho giáo dục để đạt được kết quả (đầu ra) có chất lượng cao nhất
1.2.2 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức giáo dục mang tính Nhà nước, xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, nó là tế bào cơ sở, là chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục nào từ trung ương đến địa phương Vì vậy, nhà trường nói chung vẫn là khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lí, lại vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó quản lí trường học nhất thiết phải vừa có tính chất Nhà nước, vừa có tính chất xã hội
Trang 25Quản lí trường học là một chuỗi tác động hợp lí có mục đích, tự giác, có
kế hoạch, có hệ thống, mang tính tổ chức, sư phạm của chủ thể quản lí đến tập thể cán bộ giảng dạy và học sinh - sinh viên, đến những lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường nhằm huy động học cùng công tác, phối hợp tham gia vào
sự hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến
Qua khảo cứu tài liệu chuyên ngành về quản lí giáo dục, chúng tôi thấy rằng, trong quản lí nhà trường, có nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Thứ nhất, quản lí nhà trường theo tiếp cận của quản lí hệ thống: các thành
tố của hệ thống từ mục tiêu, chức năng, nguyên tắc, phương pháp, công cụ, nội dung, hình thức quản lí, nhà quản lí, đối tượng quản lí, môi trường quản lí đều tồn tại và vận hành trong hệ thống quản lí, có mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau
Thứ hai, quản lí nhà trường là tâm điểm của quản lí giáo dục: Nhà trường
là thiết chế hiện thực hóa sứ mệnh của nền giáo dục nên quản lí nhà trường được coi là trung tâm của quản lí giáo dục
Thứ ba, quản lí nhà trường là quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô: Quản lí nhà
trường là QLGD diễn ra trong phạm vi một nhà trường, một cơ sở giáo dục ở các cấp học, các trình độ đào tạo, được coi là quản lí ở cấp độ vi mô
Thứ tư, quản lí nhà trường chuyển từ chủ yếu là quản lí hành chính sang
quản lí chất lượng: Chất lượng giáo dục là mục tiêu tối cao của nhà trường, là yếu tố quyết định sự tồn tại của nhà trường Thông qua việc xây dựng và công bố các chuẩn chất lượng, nhà trường cam kết với xã hội về sản phẩm giáo dục đào tạo đảm bảo chất lượng theo yêu cầu xã hội
Thứ năm, quản lí nhà trường theo hướng đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm xã hội: Các cơ quan cấp trên trao quyền tự chủ cho nhà trường theo quy định của pháp luật Nhà trường thực hiện tự chủ và trách nhiệm xã hội, đây là hai mặt của một thể thống nhất trong xu thế đổi mới quản lí nhà trường hiện nay
Trang 26Thứ sáu, quản lí nhà trường theo xu thế dân chủ hóa và cùng tham gia:
Ngày nay, các chủ thể quản lí nhà trường đã được mở rộng (Ban giám hiệu, tổ trưởng bộ môn, giáo viên, công nhân viên, người học, phụ huynh học sinh, các lực lượng xã hội ) cùng tham gia quản lí, mở rộng quyền dân chủ là phương thức tối
ưu trong quản lí nhà trường Trong đó, người hiệu trưởng cần phải phối kết hợp và huy động sự tham gia tích cực các nhân vật trên vào quản lí nhà trường
Tóm lại: Quản lí nhà trường là một bộ phận của quản lí giáo dục Thực
chất của quản lí nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ Người làm công tác quản lí nhà trường phải
làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành liên hệ chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn
Nội dung cơ bản của QLNT được xác định trên cơ sở phối hợp giữa những vấn đề cơ bản nhất của khoa học quản lí (áp dụng vào quản lí nhà trường), của giáo dục học và một số khoa học khác,… Vấn đề này đó có nhiều nhà khoa học đề cập tới dưới những góc độ khác nhau tùy theo mục đích tiếp cận của người nghiên cứu Tựu chung lại, có thể khẳng định nội dung cơ bản của QLNT (các hoạt động mà hiệu trưởng phải QL trong một nhà trường) bao gồm:
(1) QL quá trình sư phạm (QL quá trình dạy học và các hoạt động giáo dục người học về tri thức, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ…);
(2) QL các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện (trong đó có TBGD) cho hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục nói trên
Để QL được hai lĩnh vực hoạt động của nhà trường nêu trên, hiệu trưởng phải QL các hoạt động mang tính tổng thể sau:
(1) QL hoạt động thiết lập và thực thi luật pháp, chính sách, điều lệ, quy chế và cơ chế giáo dục;
Trang 27(2) QL bộ máy tổ chức và nhân lực nhà trường;
(3) QL việc huy động và sử dụng các nguồn tài lực và vật lực giáo dục của nhà trường (trong đó có TBGD);
(4) QL môi trường giáo dục của nhà trường (QL các mối quan hệ của nhà trường);
(5) QL hệ thống thông tin quản lí giáo dục của nhà trường
1.3 Thiết bị giáo dục trong trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
1.3.1 Thiết bị giáo dục và phân loại thiết bị giáo dục
Cơ sở vật chất trường học nói chung, TBGD nói riêng là một yếu tố không thể thiếu được của quá trình sư phạm, góp quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường Sự hỗ trợ đắc lực của TBGD sẽ là cầu nối giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Sử dụng đa dạng các giải pháp quản lí sử dụng TBGD với mục tiêu là làm cho TBGD trở thành người bạn đồng minh trung thành của
GV trong việc cải tiến chất lượng giáo dục, đồng thời làm cho TBGD trở thành công cụ chính đáng cho học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao nhận thức,
tu dưỡng đạo đức và để thực hiện mục tiêu cao nhất là nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
Theo chúng tôi, thiết bị giáo dục là tất cả các phương tiện vật chất, kĩ
thuật và sản phẩm khoa học - công nghệ được huy động vào các hoạt động giáo dục trong nhà trường Với cách hiểu như vậy thì TBGD là một phạm trù luôn
được mở rộng để thích ứng với thực tiễn phát triển giáo dục và sự phát triển của khoa học và công nghệ
TBGD là một thành tố quan trọng trong quá trình giáo dục, TBGD không chỉ minh họa hoặc trực quan hóa các nội dung dạy học mà còn chứa đựng nội dung dạy học và giáo dục, đặc biệt TBGD có mối quan hệ khăng khít với phương pháp dạy học Mặt khác, nội dung, phương pháp dạy học không những chỉ được xác định dựa trên mục tiêu dạy học mà con được xác định dựa trên thực
tế TBGD của nhà trường
Trang 28Như vậy, TBGD vừa mang tính độc lập, vừa phụ thuộc và tương tác lẫn
nhau với các thành tố khác của quá trình dạy học Chúng ta có thể thấy qua sơ đồ
sau đây:
Sơ đồ 1.1 Vị trí của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học
Theo sơ đồ, các cặp thành tố có quan hệ tương hỗ hai chiều Việc điều khiển tối
ưu các mối quan hệ của các thành tố có thể coi là một nghệ thuật về mặt sư phạm
Về phân loại thiết bị giáo dục: Có nhiều cách phân loại TBGD TBGD
bao gồm thiết bị phục vụ giảng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ MN tại lớp, thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị thể dục thể thao, thiết bị nhạc, họa và các thiết
bị khác trong xưởng trường, vườn trường, phòng truyền thống, nhằm đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ MN, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Nếu quan tâm đến tính hiện đại của TBGD thì ta có thể chia TBGD ra làm
hai loại: TBGD truyền thống và TBGD hiện đại
- TBGD truyền thống: gồm có phương tiện hai chiều và các phương tiện
ba chiều Các phương tiện hai chiều gồm hình vẽ trên bảng, tranh ảnh dạy học
các loại theo các chủ điểm khác nhau; TBGD sản xuất bằng kỹ thuật in (sách
truyện tranh, lô tô các loại, các phiếu trắc nghiệm cho trẻ tìm đúng sai) Các
phương tiện GD ba chiều gồm những vật thật, các thể loại con rối, mô hình,
makets, vật đúc khuôn
- TBGD hiện đại: gồm có phương tiện nghe và nhìn Các phương tiện nghe
Phương pháp dạy học Nội dung dạy học
TBGD Mục tiêu dạy học
Quản lí
Trang 29bao gồm truyền thanh và ghi âm Các phương tiện nhìn bao gồm hình phóng trên giấy, phim đèn chiếu, phim dương bản, rối bóng, và phim Slide Những phương tiện có cả chức năng nghe và nhìn, bao gồm băng đĩa hình, truyền hình (tivi) và máy vi tính Tuy nhiên, cũng tùy thuộc vào cách gọi mà có những tác giả lại tách
các phương tiện như mẫu vật, mô hình, hình vẽ, tranh vẽ thành phương tiện
trực quan Còn những phương tiện nghe nhìn và các máy dạy học được gọi là phương tiện kỹ thuật dạy học
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng cách phân loại TBGD theo tính hiện đại của nó để phù hợp với mục đích nghiên cứu chú trọng vào việc đổi mới phương pháp sử dụng TBGD ở trường MN
1.3.2 Vai trò của thiết bị giáo dục trong trường mầm non
TBGD là điều kiện cần thiết để chuyển tải thông tin đến người học; giúp cho GV tổ chức hoạt động nhận thức của HS, giúp HS hứng thú học tập, rèn luyện tác phong và kỹ năng, hình thành phương pháp học tập chủ động, tích cực,
góp phần hình thành nhân cách HS
TBGD là vật chất hữu hình, dưới sự điều khiển của người GV đã làm cho TBGD thể hiện được những khả năng sư phạm của nó TBGD tăng tốc độ truyền thông tin, tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn, làm cho lao động sư phạm văn minh hơn, hiệu quả hơn TBGD tạo điều kiện trực tiếp cho SV huy động mọi năng lực hoạt động nhận thức, tiếp cận thực tiễn, rèn luyện kỹ năng học tập và lao động, nâng cao tính khách quan khoa học của kiến thức TBGD góp phần đắc lực cho việc hình thành nhân cách của HS
TBGD vừa là phương tiện của việc giảng dạy, là công cụ của luyện tập vừa là đối tượng của nhận thức Nó là một nhân tố không thể thiếu được trong cấu trúc toàn vẹn của quá trình giáo dục
Đối với các hoạt động giáo dục nhằm phát triển trí tuệ, lí tưởng thẩm mĩ, cho trẻ ở trường MN, TBGD giữ vai trò đặc biệt quan trọng và được thể hiện ở các
nội dung cụ thể sau đây:
Thứ nhất, TBGD góp phần đẩy mạnh và hướng dẫn hoạt động nhận thức trẻ mầm non
Sử dụng TBGD góp phần nâng cao tính trực quan của quá trình giáo dục trẻ,
Trang 30mở rộng khả năng tiếp cận với thế giới sự vật hiện tượng bên ngoài trẻ Mỗi một loại TBGD có tác dụng khác nhau trong quá trình dạy học nói chung và từng môn học nói riêng Quá trình dạy học ở bậc học Mầm non thường bắt đầu từ việc cung cấp những hình ảnh cụ thể của sự vật, hiện tượng, trên cơ sở đó dần dần hình thành các khái niệm Có nhiều quy tắc, khái niệm thoạt tiên thấy khó truyền đạt để trẻ dễ hiểu, nhưng nếu biết sử dụng TBGD một cách hợp lý sẽ trở nên dễ hiểu hơn Nhìn chung phương pháp sử dụng TBGD trực quan là phương pháp được sử dụng nhiều ở bậc học mầm non Phương pháp đó có thể là trực quan nghe (ngôn ngữ gợi tả của giáo viên, băng ghi âm…) hoặc trực quan nhìn (tranh ảnh, mô hình, mẫu vật…) và những đồ dùng trực quan nghe nhìn (phim đèn chiếu, sách truyện, băng hình giáo khoa, đĩa CD-ROM…)
Thứ hai, sử dụng TBGD trong quá trình giáo dục trẻ sẽ giúp trẻ chiếm lĩnh tri thức khoa học, phát triển năng lực nhận thức, vận dụng điều đã biết để giải thích các hiện tượng xung quanh trẻ
Sử dụng TBGD trong quá trình dạy học là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, bằng hành động vật chất, bằng ngôn ngữ bên ngoài để chuyển thành ngôn ngữ bên trong (tư duy), từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo
Thứ ba, sử dụng TBGD góp phần kích thích hứng thú nhận thức của trẻ
Hứng thú nhận thức là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến cường độ
và hiệu quả của quá trình giáo dục trẻ Trong quá trình giáo dục, TBGD được sử dụng nhằm kích thích hứng thú học tập của trẻ, tạo ra động cơ học tập, thích
khám phá, tìm tòi, rèn luyện thái độ nhận thức tích cực
Thứ tư, sử dụng TBGD góp phần phát triển trí tuệ trẻ mầm non
Trong quá trình giáo dục, trí tuệ trẻ mầm non được phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc tạo ra các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lý: tri giác, biểu tượng, trí nhớ, Sử dụng TBGD đúng lúc và đúng chỗ, với những phương pháp và lời dẫn thích hợp của GV giúp trẻ mầm non phát triển óc quan sát, khả năng phân tích, so sánh Do vậy, sử dụng TBGD ở bậc học mầm non cần coi trọng cho trẻ
MN biết quan sát một cách có tổ chức, có kế hoạch, có suy nghĩ; biết thao tác
Trang 31với ĐDDH linh hoạt, sáng tạo, biết cách ghi nhớ một cách một cách hợp lý, khoa
học, biết tưởng tượng một cách đúng hướng, phong phú, sáng tạo
Thứ năm, sử dụng TBGD là rất cần thiết để giáo dục nhân cách cho trẻ mầm non Sử dụng TBGD giúp bồi dưỡng cho trẻ khả năng quan sát, tính cần cù,
trung thực, tính kỉ luật, tác phong ngăn nắp và các kỹ năng sống cần thiết cho bản thân trẻ
Thứ sáu, đối với GV: TBGD giúp cung cấp các kiến thức một cách chắc
chắn, làm cho việc giáo dục trở nên cụ thể hơn, nhẹ nhàng hơn Sử dụng TBGD chính là tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học hoạt động theo hướng tích cực hóa, cá thể hóa người học trong hoạt động học tập, rèn luyện phát huy hết tài năng của mỗi giáo viên và tiềm năng của mỗi trẻ MN Người giáo viên dạy giỏi là người làm cho trẻ MN hiểu được những điều mình hiểu Thực tiễn cho thấy, TBGD là một trong những điều kiện quan trọng nhất để thực hiện nội dung giáo dục và phát triển năng lực người học trong quá trình dạy
học Thực tiễn dạy học cho thấy việc “dạy chay, dạy suông” (hay “Dạy từ miệng
đến tai”) sẽ gây tổn hại lớn cho quá trình giáo dục, nó làm cho người học thụ
động, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học Sự hỗ trợ đắc lực của TBGD sẽ là cầu nối giữa người dạy và người học, làm cho hai nhân tố này gắn kết với nhau trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục và góp phần nâng cao chất lượng giảng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ MN tập
1.3.3 Nguyên tắc sử dụng thiết bị giáo dục trong trường mầm non
Để đáp ứng yêu cầu của trường MN nói chung, trường MN đạt chuẩn quốc gia nói riêng, việc sử dụng TBGD không chỉ nhằm minh họa bài giảng mà còn giúp trẻ mầm non hình thành và phát triển nhân cách Phát triển năng lực sáng tạo và kỹ năng thực hành cho trẻ nhỏ Vì vậy, nếu sử dụng TBGD tùy tiện, ngẫu hứng, mà không dựa trên những nguyên tắc chỉ đạo sử dụng thì sẽ gây ra những hậu quả nặng nề cho hoạt động giáo dục trẻ mầm non Sau đây là một số nguyên tắc sử dụng TBGD trong trường MN
Nguyên tắc 1: Coi trọng đặc trưng của TBGD mầm non TBGD mầm non
chính là đồ dùng, đồ chơi cho trẻ Đây là nguyên tắc mang tính then chốt nhằm đảm bảo tính mục tiêu GD & ĐT trong giáo dục mầm non
Trang 32Nguyờn tắc 2: Nguyờn tắc TBGD phự hợp với lứa tuổi: Trong quỏ trỡnh
trẻ vui chơi, học tập hay tham gia quỏ trỡnh giỏo dục thỡ đồ dựng, đồ chơi là phương tiện giỳp trẻ MN lĩnh hội kinh nghiệm xó hội lịch sử vỡ vậy TBGD phải phự hợp với sự phỏt triển nhận thức của lứa tuổi
Nguyờn tắc 3: Sử dụng TBGD đỳng mục đớch: Mỗi TBGD sẽ cú chức
năng riờng vỡ vậy phải sử dụng phự hợp với mục đớch của bài học
Nguyờn tắc 4: Sử dụng TBGD đỳng lỳc sử dụng thiết bị đỳng lỳc, nghĩa
là trỡnh bày đỳng lỳc cần thiết của bài học, giỳp trẻ MN hứng thỳ, ham thớch khỏm phỏ bài học
Nguyờn tắc 5: Sử dụng TBGD đỳng chỗ Khi sử dụng TBGD cần trỡnh
bày TBGD ở những nơi dễ thấy, gõy được sự chỳ ý cho trẻ MN
1.4 Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
1.4.1 Trường mầm non
Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục Mầm non là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân và là bậc học đầu tiên quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ sau này Hiện nay, Giáo dục mầm non có
hệ thống Nhà trẻ, trường Mẫu giáo, trường Mầm non trên quy mô toàn quốc
Giáo dục mầm non có mục đích là phát triển con người toàn diện ngay từ
tuổi ấu thơ Vì thế mà ông bà ta ngày xưa đã nói: Dạy con từ thuở còn thơ
Cây non không uốn,lớn vin gẫy cành Bởi vì trẻ ở độ tuổi này còn rất nhỏ,
rất cần sự dạy dỗ,chăm sóc, bảo vệ của người lớn Theo nhà giáo dục học Xô
Viết Makarenco A.X đã từng nhận xét: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục
trẻ đã được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều kiện dạy cho trẻ trong thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáo dục và đào tạo con người vẫn tiếp tục Nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, những nụ hoa thì
đã được vun trồng trong 5 năm đầu tiên
Mục tiêu của giáo dục Mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1
Nhiệm vụ của GD Mầm non là thực hiện nội dung giáo dục toàn diện và ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục trẻ theo mục tiêu, kế hoạch giáo dục
Trang 33Vì vậy, việc chăm sóc giáo dục trẻ bắt đầu từ lứa tuổi này là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đây chính là những mầm non tương lai của đất nước, nguồn nhân lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế-văn hóa - xã
hội Hồ Chủ Tịch cũng đã chỉ rõ: Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi
ích trăm năm thì phải trồng người Như vậy, giáo dục mầm non có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc đạt được mục tiêu cơ bản và phát triển chiến lược con người lâu dài của đất nước
Theo Điều 6, chương II Điều lệ trường mầm non xỏc định: "Nhà trường, nhà trẻ cú tư cỏch phỏp nhõn, cú tài khoản và con dấu riờng” Nhiệm vụ và
quyền hạn của trường mầm non là:
- Tổ chức thực hiện việc nuụi dưỡng, chăm súc, giỏo dục trẻ em từ ba thỏng tuổi đến sỏu tuổi theo chương trỡnh giỏo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giỏo dục và Đào tạo ban hành
- Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; tổ chức giỏo dục hũa nhập cho trẻ em cú hoàn cảnh khú khăn, trẻ em khuyết tật; thực hiện phổ cập giỏo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi Hằng năm, tự kiểm tra theo tiờu chuẩn quy định về phổ cập giỏo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, bỏo cỏo cấp cú thẩm quyền bằng văn bản
- Quản lý cỏn bộ, giỏo viờn, nhõn viờn để thực hiện nhiệm vụ nuụi dưỡng, chăm súc và giỏo dục trẻ em
- Huy động, quản lý, sử dụng cỏc nguồn lực theo quy định của phỏp luật
- Xõy dựng cơ sở vật chất theo yờu cầu chuẩn húa, hiện đại húa hoặc theo yờu cầu tối thiểu đối với vựng đặc biệt khú khăn
- Phối hợp với gia đỡnh trẻ em, tổ chức và cỏ nhõn để thực hiện hoạt động nuụi dưỡng, chăm súc và giỏo dục trẻ em
- Tổ chức cho cỏn bộ quản lý, giỏo viờn, nhõn viờn và trẻ em tham gia cỏc hoạt động xó hội trong cộng đồng
- Thực hiện kiểm định chất lượng nuụi dưỡng, chăm súc và giỏo dục trẻ
em theo quy định
- Thực hiện cỏc nhiệm vụ và quyền hạn khỏc theo quy định của phỏp luật
Trang 341.4.2 Tiờu chuẩn của trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Chuẩn quốc gia của trường mầm non là chuẩn do nhà nước qui định bằng
pháp luật mà trường mầm non lấy đó làm căn cứ để xây dựng
Trường mầm non được xây dựng theo chuẩn quốc gia và đạt chuẩn quốc gia là sự thể hiện một trình độ phát triển mới của nhà trường, cao hơn và rõ hơn cả tiêu chuẩn mô hình trường trọng điểm bậc học Mầm non đã được Bộ Giáo dục
và đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 thỏng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giỏo dục và Đào tạo ban hành Quy chế cụng nhận trường MN đạt chuẩn quốc gia
Quy chế cụng nhận trường MN đạt chuẩn quốc gia được ban hành kốm
theo Thụng tư số 02 /2014/QĐ-BGDĐT ngày 08 thỏng 02 năm 2014 của Bộ
trưởng Bộ Giỏo dục và Đào tạo xỏc định Trường MN đạt chuẩn quốc gia được
cụng nhận 2 mức độ: mức độ 1 và mức độ 2
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 phải đạt cỏc tiờu chuẩn
cần thiết của trường MN đạt chuẩn quốc gia đảm bảo tổ chức cỏc hoạt động chăm súc, giỏo dục trẻ cú chất lượng toàn diện phự hợp với mục tiờu giỏo dục
mầm non Cụ thể, trường MN phải đạt được 05 tiờu chớ:
Thứ nhất, về tổ chức và quản lớ: đạt được cỏc yờu cầu về cụng tỏc quản
lớ; Cụng tỏc tổ chức; Cỏc tổ chức, đoàn thể và Hội đồng trong trường MN; Chấp hành cỏc chủ trương, chớnh sỏch của Đảng, phỏp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo của cơ quan quản lớ giỏo dục cỏc cấp
Thứ hai, về đội ngũ giỏo viờn và nhõn viờn: phải đạt được cỏc yờu cầu
về: Số lượng và trỡnh độ đào tạo; Phẩm chất, đạo đức và năng lực chuyờn mụn, nghiệp vụ; Hoạt động chuyờn mụn; Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng
Thứ ba, về chất lượng chăm súc, giỏo dục trẻ:
1 100% cỏc nhúm trẻ, lớp mẫu giỏo tổ chức cho trẻ ăn bỏn trỳ
2 100% trẻ được bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần, khụng xảy ra dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm trong trường MN
3 100% trẻ được khỏm sức khoẻ định kỳ theo quy định tại Điều lệ trường MN
4 Tỉ lệ chuyờn cần của trẻ: đạt 90% trở lờn đối với trẻ 5 tuổi, 85% trở lờn đối với trẻ ở cỏc độ tuổi khỏc
Trang 355 Có ít nhất 85% trẻ phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao theo tuổi
6 100% trẻ bị suy dinh dưỡng được can thiệp bằng các biện pháp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng
7 Có ít nhất 98% trẻ 5 tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non 100% trẻ 5 tuổi được theo dõi đánh giá theo Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi 100% trẻ dưới 5 tuổi được học 2 buổi/ngày
8 Có ít nhất 80% trẻ khuyết tật học hòa nhập (nếu có) được đánh giá có
sự tiến bộ
Thứ tư, về quy mô trường, lớp, cơ sở vật chất và thiết bị, trong đó phải
đạt các yêu cầu về quy mô trường MN, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo; Địa điểm trường; Yêu cầu về thiết kế, xây dựng; Các phòng chức năng; Sân vườn
Thứ năm, về thực hiện xã hội hóa giáo dục
Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 phải đạt các tiêu chuẩn
cần thiết của trường MN đạt chuẩn quốc gia để đảm bảo tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ có chất lượng toàn diện ở mức cao hơn mức độ 1, tạo điều kiện để tiếp cận với trình độ phát triển của trường MN ở các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
1.4.3 Yêu cầu về thiết bị giáo dục của Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Theo Thông tư số 02 /2014/QĐ-BGDĐT ngày 08 tháng 02 năm 2014 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định Trường MN đạt chuẩn quốc gia
trong đó CSVC và trang thiết bị là một tiêu chuẩn để công nhận Trường MN đạt chuẩn Quốc gia Không có điều kiện CSVC, trang thiết bị thì không thể nâng cao chất lượng CSGD trẻ Xây dựng cơ sở vật chất Trường Mầm non chính là tạo ra một môi trường sư phạm có đầy đủ phòng học, phòng chức năng, phòng làm việc, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, sân chơi v v Đó chính là tạo ra môi trường
sư phạm có đủ diện tích cho trẻ hoạt động, có cảnh quan đẹp, hấp dẫn mang tính giáo dục cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay
Các yêu cầu về TBGD đối với trường chuẩn QG là có ít nhất 5 loại thiết
bị và đồ chơi ngoài trời theo Danh mục thiết bị và đồ chơi ngoài trời cho giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trang 36IV Cầu trượt
Cầu trượt đơn Cầu trượt đôi
V Đu quay / Mâm quay
Đu quay mâm không ray
Đu quay mâm trên ray
IV Cầu trượt
Cầu trượt đơn
Cầu trượt đôi
V Đu quay / Mâm quay
Đu quay mâm không ray
Đu quay mâm có ray
VI Cầu thăng bằng
Cầu thăng bằng cố định Cầu thăng bằng dao động
VII Thang leo - Cầu trượt
Thang leo Nhà leo nằm ngang
Bộ vận động đa năng (Thang leo - Cầu trượt - Ống chui)
VIII Thiết bị chơi với bóng
Cột ném bóng Khung thành Nhà bóng
IX Các loại xe
Xe đạp chân
Ô tô đạp chân
Xe lắc
Trang 37Trong trường MN, yêu cầu đối với TBGD là phải phù hợp với yêu cầu về nội dung và phương pháp của chương nình giáo dục; bảo đảm tính khoa học, tính
sư phạm; an toàn cho người sử dụng, phù hợp với sự phát triển tâm lí và sinh lí lứa tuổi trẻ MN
Căn cứ danh mục thiết bị và đồ chơi ngoài trời cho giáo dục mầm non ban hành, các cơ quan quản lí giáo dục đứng đầu là sở giáo dục và đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo việc mua sắm, trang bị, sử dụng, bảo quản thiết bị và đồ chơi ngoài trời phục vụ vui chơi tại các cơ sở giáo dục mầm non
1.5 Quản lí thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Quản lí TBGD ở trường MN là một quá trình tác động có chủ đích của
hiệu trưởng trường MN tới các bộ phận và các cá nhân trong và ngoài trường
MN để trang bị, sử dụng, bảo quản các phương tiện vật chất, kĩ thuật và sản phẩm khoa học – công nghệ được huy động vào các hoạt động giáo dục trong trường MN nhằm đạt được mục tiêu giáo dục mầm non
Quản lí TBGD ở trường MN cần có tính cộng đồng trách nhiệm, có cơ chế phối hợp và điều hành sự phối hợp cụ thể, đặt dưới sự quản lí Nhà nước về giáo dục Trong đó, có sự phân định vai trò cụ thể, quy định trách nhiệm đối với từng thành viên tham gia vào quá trình CSGD trẻ mầm non Đây là vấn đề đặt ra đối với công tác quản lí TBGD
1.5.1 Chủ thể quản lí thiết bị giáo dục ở trường mầm non
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xác định chủ thể quản lí TBGD ở trường MN là hiệu trưởng trường MN
Điều 16 (chương II) Điều lệ trường MN (Ban hành kèm theo văn bản hợp
nhất số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2015 ban hành Điều lệ Trường mầm non của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) qui định về vị trí, chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường MN: Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ
Hiệu trưởng trường MN là chủ thể quản lí giữ vai trò chủ đạo, có thẩm quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong trường MN:
Trang 38- Trong công tác điều hành, hiệu trưởng trường MN là người chịu trách nhiệm việc chỉ đạo tập trung và thống nhất mọi công việc trong trường MN nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của năm học, những kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của tập thể đặt ra
- Phê chuẩn kế hoạch hoạt động chuyên môn, chỉ đạo, tổ chức và làm trọng tài cho những hoạt động chuyên môn của trường MN Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho cán bộ giáo viên trường MN Hiệu trưởng cũng cần quan tâm bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên để họ tiếp cận nhanh chóng với những đổi mới của ngành và những thành tựu của khoa học giáo dục nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục Xây dựng một đội ngũ giáo viên giỏi làm nòng cốt cho việc chỉ đạo thực hiện chương trình Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chuyên môn, tăng cường dự giờ, thăm lớp, kiến tập thực hành, trao đổi kinh nghiệm để giáo viên có cơ hội học tập lẫn nhau Chỉ đạo việc hoàn thiện sổ sách chuyên môn Hàng năm CBQL phải tiến hành kiểm tra đánh giá chất lượng thực hiện chương trình giáo dục của từng giáo viên, trên cơ
sở đó đề ra những biện pháp chỉ đạo hiệu quả
- Quản lí việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ Ở trường MN, hiệu trưởng cần theo dõi chặt chẽ việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ của mọi giáo viên trong trường MN; Cải tiến phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức tiết học theo hướng tích cực hoạt động tìm tòi, sáng tạo của trẻ; Sử dụng trang thiết bị và các phương tiện kỹ thuật vào việc thực hiện chương trình Đây chính
là trọng tâm của đề tài Quản lí việc sử dụng TBGD trong trường MN
- Quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của trường MN, quản lí các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ em của trường MN, thực hiện dân chủ hóa trong giáo dục, phối kết hợp với các đoàn thể trong trường và các lực lượng xã hội trong quản lí và thực hiện các hoạt động xã hội hóa giáo dục để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của GDMN, phát huy vai trò của trường
MN đối với cộng đồng
- Trong quan hệ với gia đình và Ban đại diện cha mẹ trẻ MN, hiệu trưởng
Trang 39trường MN cú vai trũ là người đại diện của ngành giỏo dục, của giỏo viờn, nhõn viờn trường MN; người bảo vệ quyền lợi trẻ em; dung hũa lợi ớch chung của trường MN với nguyện vọng riờng của cha mẹ trẻ MN; tổ chức việc tham gia của cha mẹ trẻ MN vào hỗ trợ trường MN, hỗ trợ về kinh phớ, tham gia cỏc hoạt động giỏo dục, giỳp đỡ trẻ MN khú khăn; tổ chức thụng tin đến cha mẹ trẻ MN bằng cỏch tạo ra những tiếp xỳc đều đặn, thường xuyờn với cỏc gia đỡnh qua giỏo viờn chủ nhiệm, qua Ban đại diện cha mẹ trẻ MN
- Quản lớ cơ sở vật chất, tài chớnh Trường MN phải đạt được cỏc mục tiờu cơ bản là xõy dựng được hệ thống cơ sở vật chất đỏp ứng yờu cầu chăm súc, giỏo dục trẻ; sử dụng cú hiệu quả và bảo quản tốt hệ thống cơ sở vật chất của trường Cỏc nguồn kinh phớ của trường phải được quản lớ chặt chẽ, đảm bảo đỳng nguyờn tắc tài chớnh Hơn nữa kinh phớ phải được sử dụng tiết kiệm, chống lóng phớ nhưng phải mang lại hiệu quả thiết thực
Những nội dung quản lớ kể trờn của hiệu trưởng mẫu giỏo cú mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau Nếu làm tốt được một nội dung thỡ những nội dung khác cũng có điều kiện thực hiện thuận lợi và đem lại thành công toàn diện trong công tác quản lý của người hiệu trưởng
Trong quản lớ TBGD, Hiệu trưởng trường MN cú trỏch nhiệm xõy đựng
kế hoạch mua sắm, trang bị, tiếp nhận, phõn phối TBGD theo đỳng cỏc quy định hiện hành của Nhà nước phự hợp với chương trỡnh giỏo dục; thường xuyờn kiểm tra, đỏnh giỏ hiệu quả sử dụng TBGD; lập bỏo cỏo lờn cơ quan cấp tiờn mỗi năm một lần Đồng thời, căn cứ vào cỏc qui định hiện hành để chỉ đạo xõy dựng nội quy quản lớ TBGD cụ thể thớch hợp với trường mỡnh Đõy là nội dung quan trọng
và là cơ sở để luận văn xõy dựng nội dung quản lớ TBGD ở trường MN
1.5.2 Nội dung quản lớ thiết bị giỏo dục ở trường mầm non
1.5.2.1 Bồi dưỡng nõng cao nhận thức, trỡnh độ, kỹ năng nghiệp vụ cho cỏn bộ quản lớ, giỏo viờn, nhõn viờn phụ trỏch thiết bị giỏo dục
Mỗi một việc làm, hành động của con người đều xuất phỏt từ nhận thức, cú nhận thức đỳng mới cú hành động đỳng Hành động và việc làm đú thể hiện được cỏch nhỡn nhận vấn đề đú theo xu hướng tớch cực hay tiờu cực của mỗi cỏ nhõn
Trang 40Nâng cao nhận thức cho cán bộ QL, cán bộ GV về vai trò và tác dụng của việc QL và sử dụng thường xuyên TBDH, phát huy hiệu quả sử dụng TBDH trong tổ chức giáo dục là điều thiết yếu Vì vậy, nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên QL, GV sử dụng TBDH là vô cùng quan trọng
- Tạo điều kiện cho đội ngũ QL và GV được tiếp xúc với các TBDH mới, hiện đại và tiện ích Đội ngũ QL thiết bị phải cập nhật thường xuyên thông tin và các văn bản về QL thiết bị dạy học
- Tổ chức các hội thảo, hội nghị trao đổi kinh nghiệm trong công tác QL TBDH về hiệu quả của việc QL và sử dụng TBDH hiện nay
- Tập huấn nâng cao nghiệp vụ QL và sử dụng TBDH
- Tuyển chọn người có chuyên môn phù hợp với các thiết bị, có am hiểu kiến thức và kỹ năng TBDH cho đội ngũ GV và những người liên quan nhằm đưa ra quyết định kịp thời, đúng đắn trong hoạt động QL và sử dụng TBDH
1.5.2.2 Quản lí công tác đầu tư, mua sắm, trang bị và hoạt động tự chế, tự làm đồ dùng, thiết bị giáo dục trong cán bộ, giáo viên
Để có được một hệ thống TBGD hoàn chỉnh đáp ứng yêu cầu công tác sử dụng và QL TBGD trường MN phải xây dựng kế hoạch chiến lược lâu dài, ngoài TBGD được cấp thì phải đầu tư thêm kinh phí để mua sắm bổ sung những TBGD, phương tiện kỹ thuật hiện đại, phù hợp với nhân lực và điều kiện về trình độ sử dụng, QL Trong nguồn vốn cố định mà ngành giáo dục quản lí, nguồn vốn dành cho trang bị các TBGD có ý nghĩa kinh tế quan trọng Xét về mặt kinh tế trong công tác quản lí đối với TBGD cần đạt được các yêu cầu sau:
- Cung ứng bảo quản, sử dụng tuân thủ theo nguyên tắc sư phạm và nguyên tắc kinh tế Điều đó có nghĩa là nó được hình thành từ nhu cầu sư phạm Mỗi trường MN căn cứ vào kế hoạch dạy học có phương án về TBGD, phương
án này phải tính đến năng lực kinh tế tài chính mà trường MN được cung ứng theo kế hoạch đề ra
- Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch mua sắm bổ sung TBGD theo năm học hoặc từng học kỳ