1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh THPT thành phố móng cái, tỉnh quảng ninh theo quan điểm học tập suốt đời

153 318 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Đề tài sử dụng các phương pháp điều ta bằng phiếu hỏi, tọa đàm trực tiếp với giáo viên, cán bộ quản lý các trường về tình hình kỹ năng sử dụ

Trang 1

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

3.1.Đối tượng nghiên cứu 2

3.2.Khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 3

8 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH THPT THEO QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI 5

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu 5

1.1.2 Trên thế giới 9

1.1.3 Tại Việt Nam 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản 14

1.2.1.Phát triển 14

1.2.2.CNTT và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin 15

1.2.3.Phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh THPT 28

Trang 2

1.3.Quan điểm học tập suốt đời 29

1.4 Các yếu tố đảm bảo phát triển kỹ năng sử dụng CNTT thành công cho học sinh THPT theo quan điểm học tập suốt đời 30

1.5 Đặc điểm nhận thức của học sinh THPT 35

1.5.1 yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của học sinh THPT 35

1.5.2 hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ 36

1.5.3 Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của học sinh THPT 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG CNTT CHO HỌC SINH THPT TP MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH THEO QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI 42

2.1 Tổ chức khảo sát thực tiễn 42

2.1.1 Mục tiêu khảo sát thực tiễn 42

2.1.2 Nội dung khảo sát 42

2.1.3 Lựa chọn đối tượng khảo sát 42

2.1.4 Phương pháp và tổ chức nghiên cứu 43

2.2 Thực trạng phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời 43

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và giáo dục TP Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 43

2.2.2 Thực trạng cơ sở vật chất cho việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT 47

2.2.3 Thực trạng nhận thức sử dụng CNTT và kỹ năng sử dụng CNTT của học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời 51

2.2.4 Thực trạng công tác giảng dạy phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời 66

2.4 Đánh giá những mặt khó khăn, thuận lợi, nguyên nhân hạn chế trong việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT tại TP Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời 80

Trang 3

2.4.1 Thuận lợi 80

2.4.2 Khó khăn 81

2.4.3 Những tồn tại và hạn chế 81

2.4.4 Nguyên nhân của tồn tại hạn chế 82

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 83

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG CNTT CHO HỌC SINH THPT TẠI TP MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH THEO QUAN ĐIỂM HỌC TẬP SUỐT ĐỜI 84

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 84

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 84

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 84

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 85

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính chất lượng và hiệu quả 85

3.1.5 Nguyên tắc phối hợp hài hoà các lợi ích 85

3.1.6 Nguyên tắc chuyên môn hoá 86

3.2 Một số biện pháp phát triển kĩ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh 86

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, lợi ích của việc sử dụng CNTT theo quan điểm học tập suốt đời 86

3.2.2 Biện pháp 2: Lập kế hoạch chiến lược cho việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT 90

3.2.2.2.1 Công tác bồi dưỡng đội ngũ 93

3.2.2.2.2 Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên 93

3.2.2.2.3 Nâng cao trình độ Tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT giáo viên và học sinh 94

3.2.3 Biện pháp 3: Biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng thiết bị MT 96

3.2.4 Biện pháp 4: Biện pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng phần mềm để học tập 104

3.2.5 Biện pháp 5: Các biện pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng mạng Internet 121

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 131 3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của những biện pháp đề xuất 131

Trang 4

3.4.1.Mục đích thực nghiệm sư phạm 131

3.4.2 Đối tượng thực nghiệm 131

3.4.3 Nội dung thực nghiệm 132

3.4.4 Tiến trình thực nghiệm 132

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 135

3.5.1 Kết quả thực nghiệm rèn luyện các nhóm kĩ năng lớp 10A5 135

3.5.2 Kết quả thực nghiệm rèn luyện các nhóm kĩ năng lớp 11A5 140

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 145

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 147

1 KẾT LUẬN. 147

1.1 Về lý luận 147

1.2 Về thực tiễn 147

2 KHUYẾN NGHỊ 148

2.1 Với Sở Giáo dục và Đào tạo: 148

2.2 Với các trường THPT: 148

2.3 Đối với giáo viên 149

2.4 Đối với học sinh 149

Trang 5

1

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra như vũ bão, tri thức của loài người tăng lên nhanh chóng dẫn đến sự bùng nổ thông tin Trong khi đó, thời gian học tập

ở nhà trường có hạn Do đó, nhà trường ngày nay không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức mà còn phải hình thành cho học sinh phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng học tập cho họ để họ học tập tốt hôm nay và có khả năng học tập suốt đời Điều này còn xuất phát từ cơ sở tâm lý học, giáo dục học được các nhà nghiên cứu chỉ ra

là, chất lượng dạy học trong nhà trường, ở bất cứ cấp học nào, phụ thuộc không chỉ vào nội dung, phương pháp dạy học, cơ sở vật chất – thiết bị dạy học mà còn phụ thuộc vào

sự giác ngộ mục đích học tập, vốn kinh nghiệm, trình độ phát triển trí tuệ và trình độ phát triển kĩ năng học tập của học sinh Học sinh không có được những kĩ năng học tập nhất định thì không thể nói đến chất lượng, hiệu quả của dạy học Kĩ năng học tập là một hệ thống rất phong phú, đa dạng Có những kĩ năng chung cho hoạt động học tập và những

kĩ năng riêng cho từng môn học, từng dạng, từng nhóm loại hình thành chuyên biệt cho hành động học tập Những kĩ năng học tập chung bao gồm kĩ năng tổ chức học tập (kĩ năng lập kế hoạch học tập, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng học hợp tác nhóm) và nhóm kĩ năng nhận thức (kĩ năng quan sát, kĩ năng làm việc với sách giáo khoa, kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học,.v.v)

Hiện nay giáo dục phổ thông cùng với việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục

là việc ứng dụng ngày càng nhiều các phương tiện kĩ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin – truyền thông vào dạy học Khi ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông vào dạy học, trước hết là sử dụng máy tính điện tử và mạng Internet, đòi hỏi học sinh phải có những kĩ năng học tập mới (kĩ năng sử dụng máy vi tính, kĩ năng khai thác Internet) mà trước đây chưa hề có ở nhà trường truyền thống

Vào những thập niên cuối của thế kỷ 20, trên thế giới, việc ứng dụng máy vi tính vào dạy học trong các nhà trường đã trở nên phổ biến Ở nước ta, từ năm 1994 Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã có chủ trương đưa máy tính vào nhà trường để giảng dạy tin học và là phương tiện dạy học các môn học khác, đồng thời nhập một số phần mềm dạy học phù hợp với chương trình giáo dục của ta và đặc điểm tâm sinh lý học sinh Việt Nam Đặc

Trang 6

biệt những năm gần đây đã xuất hiện một số công ty sản xuất phần mềm phục vụ cho dạy học ở các cấp học Từ những năm cuối của thập niên 90 thế kỷ trước, ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng máy tính đã được sử dụng khá rộng rãi ở các trường phổ thông Riêng ở TP Móng Cái, Tỉnh Quảng Ninh nhiều trường THPT đã trang bị máy tính để học môn tin học và để hỗ trợ dạy học các môn học khác Cùng với việc trang bị máy tính là việc nối mạng Internet đến các trường Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học ở phổ thông đã làm nảy sinh một

số vấn đề cần được nghiên cứu, giải quyết như tổ chức học tập như thế nào với việc sử dụng máy tính và Internet sẽ có hiệu quả? Xây dựng môi trường học tập như thế nào? Những kĩ năng học tập gì cần phải hình thành và hình thành như thế nào cho học sinh trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học? Về việc rèn luyện hình thành kĩ năng học tập cho học sinh đã có khá nhiều công trình nghiên cứu (luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đề tài cấp trường, cấp Bộ), song việc rèn luyện kĩ năng học tập mới trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào dạy học thì còn ít được quan tâm, mới chỉ xuất hiện một số bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này

Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, xuất phát từ yêu cầu khách quan và tính cấp thiết về bài toán phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT

TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời ”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển kỹ năng

sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1.Đối tượng nghiên cứu

Phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời

3.2.Khách thể nghiên cứu

Kỹ năng sử dụng CNTT của học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

Trang 7

4 Giả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh còn nhiều hạn chế Nếu đề xuất được các biện pháp phù hợp, đặc biệt xây dựng được chương trình phát triển kỹ năng và quy trình rèn luyện kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh sẽ nâng cao được hiệu quả học tập, nâng cao năng lực tự học cho học sinh theo quan điểm học tập suốt đời

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT theo quan điểm học tập suốt đời

5.2 Khảo sát thực trạng phát triển k ỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT

TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

5.3 Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời

- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT, ở TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, mô hình hoá… các tài liệu, quan điểm khoa học, các văn bản có liên quan đến vấn đề Phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm học tập suốt đời nhằm xây dựng

cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Đề tài sử dụng các phương pháp điều ta bằng phiếu hỏi, tọa đàm trực tiếp với giáo viên, cán bộ quản lý các trường về tình hình kỹ năng sử dụng CNTT của học sinh THPT TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

- Phương pháp quan sát, dự giờ để tìm hiểu kỹ năng sử dụng CNTT của học sinh

- Phương pháp chuyên gia:

Tham khảo các ý kiến tư vấn của các chuyên gia làm công tác tin học, làm phần mềm dạy học để xây dựng chương trình phát triển kỹ năng và quy trình rèn luyện kỹ năng

sử dụng CNTT cho học sinh THPT

Trang 8

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị cấu trúc của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT theo quan điểm học tập suốt đời

Chương 2: Thực trạng phát triển kỹ năng sử dụng cntt cho học sinh thpt tp móng cái, tỉnh quảng ninh theo quan điểm học tập suốt đời

Chương 3: Một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng cntt cho học sinh THPT tại tp móng cái, tỉnh quảng ninh theo quan điểm học tập suốt đời

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG

NGHỆ THÔNG TIN CHO HỌC SINH THPT THEO QUAN ĐIỂM HỌC

TẬP SUỐT ĐỜI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu

Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức Vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD&ĐT sẽ là yếu tố sống còn và quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Việc áp dụng những công nghệ mới vào giáo dục trong đó

có CNTT chính là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản lý giáo dục là: Làm thế nào để thúc đẩy việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT ? Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu các biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh trong giáo dục đã thực sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc phát triển

kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh như: Nước Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Để phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục,

Từ lâu vẫn đề kĩ năng đã được các nhà tâm lý học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, có hai hướng nghiên cứu chính: một là, hướng nghiên cứu kĩ năng ở mức độ khái khoát; hai là, hướng nghiên cứu kĩ năng ở mức

độ cụ thể

Hướng thứ nhất, nghiên cứu kĩ năng ở mức độ khái quát Đại diện cho hướng

Trang 10

nghiên cứu này có P Ia Galperin, V A Crutexki, P V Petropxki P Ia Galprerin trong các công trình nghiên cứu của mình chủ yếu đi sau vào vấn đề hình thành tri thức và kĩ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn [14], [24] Ngoài ra, các sách tâm lý học, giáo dục học [10], [34], [40], [46], [45], [75], [80], cũng đề cập đến vấn

đề này ở dạng khái quát

Hướng thứ hai, nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể Đây là hướng nghiên cứu lớn

và bao trùm hơn cả vì khi nói đến kĩ năng bao giờ người ta cũng đề cấp đến kĩ năng trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể như kĩ năng lao động, kĩ năng học tập, kĩ năng hoạt động sư phạm Các công trình nghiên cứu về kĩ năng trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể gắn liền với tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như V V Tsebuseva, Trần Trọng Thủy trong lĩnh vực hoạt động lao động; G X Cochiue, N A Menchinxcaia, Hà Thị Đức trong lĩnh vực hoạt động học tập; X I Kixegops, Nguyễn Như An trong lĩnh vực hoạt động sư phạm; N V Cudomina, Trần Quốc Thành trong lĩnh vực hoạt động tổ chức

Như vậy, trong mỗi loại hoạt động có một loại kĩ năng tương ứng với hoạt động đó

và đã được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau Trong tâm lý học sư phạm và lý luận dạy học, kĩ năng được xem xét trên cơ sở hai tiền đề xuất phát là quan niệm về cấu trúc hoạt động học tập và quan niệm về cấu trúc quá trình học Theo quan niệm về cấu trúc hoạt động học tập, chẳng hạn những nghiên cứu của nhóm V V Davưdov, D B Elkonin, A K Markova, các nhà khoa học đã nghiên cứu những kĩ năng, kĩ xảo học tập bên trong, tức là những kỹ năng, kĩ xảo thủ thuật thao tác trí tuệ, hoạt động tư duy trong học tập như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, vận trù, mô hình hóa, hình thức hóa Theo quan niệm về cấu trúc quá trình học, chẳng hạn nhưng nghiên cứu tiêu biểu trong lý luận dạy học của Iu K Babanxki, M N Xcatlin, A V Iuedt, G G Grannik, các nhà khoa học xem xét những

kĩ năng, kĩ xảo học tập bên ngoài, tức là cách thức tiến hành các công việc học tập như đọc sách, tra cứu tài liệu, kế hoạch hóa, lập biểu đồ tính toán, thí nghiệm, tổ chức công việc [63]

Như vậy, kỹ năng là đối tượng nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học, các nhà giáo học pháp bộ môn Khi đó, đối tượng nghiên cứu có thể là kỹ năng chung hoặc kĩ năng môn học

Trang 11

* Nghiên cứu về KNHT của học sinh phổ thông đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu như A V Uxova và A A.Bobrop, Robert Fisher, Vũ Trọng Rỹ, Đặng Thành Hưng, Nguyễn Đình Chỉnh, Nguyễn Phụ Thông Thái Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả cũng đã đề cấp đến nhiều KNHT của học sinh như phân loại, mô tả các KNHT, các nguyên tắc, biện pháp hình thành chúng, đặc biệt là nghiên cứu áp dụng phương pháp hình thành kĩ năng vào việc rèn luyện KNHT cụ thể thông qua các môn học Chẳng hạn:

Các tác giả A V Uxova và A A Bobrop, trong công trình nghiên cứu của mình,

đã đưa ra một sự phân loại khá công phu hệ thống KNHT theo các dạng cơ bản của hoạt động học tập, phương pháp hình thành các KNHT chung với tư cách là các kĩ năng có tính di chuyển rộng, học sinh có thể sử dụng để giải quyết nhiều nhiệm vụ học tập khác nhau không chỉ giới hạn trong một môn học Trên cơ sở vận dụng các kiểu định hướng khái quát trong lý thuyết hình thành các hành động trí tuệ theo giai đoạn của Galperin, các tác giả đề xuất qui trình hình thành các KNHT khái quát gồm 9 giai đoạn đảm bảo sự tham gia tích cực của học sinh; các nguyên tắc của việc hình thành kĩ năng như tính vừa sức, tăng dần độ khó, tính hệ thống, liên môn, tích cực, sáng tạo, phân hóa đối với học sinh; trình bày phương pháp hình thành các KNHT có tính khái quát như kĩ năng làm việc với SGK, đo đạc, quan sát, thí nghiệm [90]

Robert Fisher khi nghiên cứu về cách dạy trẻ học cho rằng người học thành công không chỉ giàu kiến thức, mà còn phải biết học như thế nào Tác giả trình bày 10 chiến lược học có hiệu quả gắn bó nhất với thành công trong học tập, đó là tư duy để học, đặt câu hỏi, lập kế hoạch, vẽ sơ đồ nhận thức, thảo luận, tư duy đa hướng, học tập hợp tác, kèm cặp, xây dụng cộng đồng học tập Những chiến lược này có thể áp dụng cho bất kỳ lĩnh vực học tập nào và do đó cũng là những quá trình có khả năng nhất cho việc đạt mục tiêu học tập độc lập và có hiệu quả Qua cuốn sách của mình, tác giả nêu một khung hình cho một chính sách học tập tích cực cho bất kì cộng đồng học tập hoặc trường học nào Khi bàn về KNHT chung, một số tác giả Denis Chalmer, Richar Fuller, Paul Trewer, Chris Javis, Robert Fisher, Lê Khánh Bằng đã đề cập đến kĩ năng học tập theo nhóm Ngoài ra, kĩ năng học theo nhóm còn được một số tác giả khác tập trung nghiên cứu như David Johnson, John Jazolimek, Enginila David, Trần Bá Hoành, Đặng Thành Hưng

Trang 12

Chẳng hạn, David Johnson [86] đặt những học sinh không có kĩ năng trong nhóm học tập và yêu cầu họ hợp tác sẽ không thành công, vì vậy, học sinh cần được dạy các kĩ năng cần cho sự hợp tác có chất lượng và khuyến khích học sinh sử dụng chúng Theo tác giả, các kĩ năng xã hội cần dạy cho học sinh gồm hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau, giao tiếp rõ ràng, không nhập nhằng, nước đôi; chấp nhận và hỗ trợ lẫn nhau; giải quyết xung đột có tính xây dụng tác giả Đặng Thành Hưng [37] cho rằng để học tập hợp tác có kết quả cần dạy các kĩ năng xã hội, kĩ năng cộng tác cho học sinh và chỉ ra nội dung, biện háp hình thành kĩ năng này Dựa trên sự phân tích đặng trưng và cấu trúc của hoạt động học tập theo nhóm, tác giả Ngô Thị Thu Dung [12] đã chỉ ra các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh gồm ba nhóm kĩ năng nhận thức, kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp với 18 kĩ năng cụ thể

Học tập trong nhóm hợp tác có nhiều hình thức khác nhau, trong đó thảo luận là hình thức phổ biến nhất John Jazolimek [84] cho rằng để phát triển được các cuộc thảo luận một cách có hiệu quả, người tham gia phải có thái độ và kĩ năng vững chắc, những cái được giải thích như là những chuẩn mực và nguyên tắc đặc trưng cho sự thảo luận hài hòa, sáng tạo Tác giả nêu ra 12 kĩ năng và thái độ cần cho thảo luận cùng với các đề nghị cải tiến việc hướng dân thảo luận của học sinh

Theo Engilina David [84], để phát triển được một khung cảnh hỗ trợ và kích thích

có tác dụng cổ vũ học sinh thao gia thảo luận cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng tổ chức, chú ý, đòng góp, đáp lại, nghe và quan sáp, nhập vai Tác giả cũng nêu các giai đoạn học tập để rèn luyện các kĩ năng đó cho học sinh, bao gồm học cách phân phối chú ý, học cách lắng nghe và cổ vũ người khác nói, học cách thảo luận văn phẩm, học cách ứng xử trong nhóm

Theo tác giả Trần Bá Hoành[30], kĩ năng thảo luận gồm kĩ năng bám sát yêu cầu,

kĩ năng diễn đạt bằng lời, kĩ năng tranh luận với bạn, kĩ năng đề xuất kết luận

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về KNHT hợp tác nói chung Song, việc mô tả cụ thể các kĩ năng, xác định mức độ cần hình thành cho học sinh TH, từ đó thiết kế qui trình hình thành kĩ năng cho học sinh còn chưa được giải quyết

Tóm lại, từ những điều trình bày trên chúng tôi thấy, việc nghiên cứu về KNHT nói chung, kĩ năng TLN nói riêng đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu Các công trình

Trang 13

nghiên cứu đã đề cập một cách toàn diện về vấn đề KNHT cụ thể là:

• KNHT được các tác giả xem như điều kiện bên trong rất quan trọng để nâng cao kết quả học tập và dạy học, đồng thời đặt vấn đề chủ động bồi dưỡng KNHT cho người học

• Lam rõ khái niệm và bản chất của KNHT, phân loại và mô tả chúng

• Xây dựng qui trình hình thành KNHT chung và vận dụng chúng để xây dựng qui trình hình thành các KNHT cụ thể; xác định các nguyên tắc hình thành KNHT

• Nêu điều kiện cần thiết để hình thành KNHT

• Kĩ năng làm việc với sách được xem là kĩ năng nhận thức quan trọng cần phải hình thành cho người học; mô tả cấu trúc, mức độ, phương pháp hình thành kĩ năng làm việc với SGK nói chung, qua các môn học cụ thể nói riêng

• Đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của kĩ năng học tập hợp tác như thành phần cấu trúc, biện pháp hình thành kĩ năng này cho người học

Tuy nghiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trên dành sự quan tam nghiên cứu KNHT của học sinh nói chung Đó là nhưng kĩ năng học tập của dạy học truyền thống Trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu

Để năng cao chất lượng dạy học của cấp THPT, bên cạnh việc kế thừa những thành tựu lý luận trong di sản giáo dục học nói trên cần đẩy mạnh nghiên cứu về vấn đề rèn luyện KN sử dụng CNTT cho học sinh THPT

Tại Philippin: Kế hoạch CNTT Quốc gia (NTTP) của Philippin công bố năm

1989 xác định một chiến lược chung nhằm đưa CNTT phục vụ việc phát triển kinh tế

xã hội của đất nước trong những năm 90

Trang 14

Năm 1981 Singapore thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định

ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo công tác đó

Năm 1980 chính sách tin học của Đài Loan đã được công bố và “Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã đề cập đến cấu trúc tổ chức của CNTT trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm để phát triển CNTT, tiếp tục khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới

Ở Hàn Quốc, các hoạt động về chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT được phân biệt: Các dự án có liên quan đến nhiều Bộ, Ngành, địa phương được xem như là dự án chính phủ điện tử được sử dụng ngân sách tập trung Các dự án ứng dụng CNTT được tiến hành bởi từng Bộ, Ngành, địa phương sử dụng ngân sách chi thường xuyên hoặc

“Quỹ Thúc Đẩy” CNTT do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý Tương ứng, có hai

cơ quan chỉ đạo và điều phối: Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc Ban đổi mới chính phủ của Tổng thống Ban thúc đẩy tin học hóa có nhiệm vụ trông coi và khai thông các chính sách, kế hoạch và dự án để tạo điều kiện thúc đẩy Hàn Quốc thành một xã hội thông tin tiên tiến Ban này có trách nhiệm trông coi các chức năng về tin học hóa, khởi xướng và hiệu đính kế hoạch các chiến lược về tin học hóa và các kế hoạch triển khai liên quan, điều phối việc xây dựng các dự án và các chính sách, xây dựng và sử dụng siêu xa lộ thông tin quốc gia, đưa ra các biện pháp quản lý và vận hành các nguồn tài chính, đánh giá hiệu quả của các chính sách và hoạt động về CNTT

Trưởng Ban thúc đẩy tin học hóa là Thủ tướng, 24 bộ trưởng các bộ là ủy viên,

Bộ Thông tin và Truyền thông là thường trực Ban thúc đẩy tin học hóa gồm có các Ban điều hành tin học hoá gồm 24 thứ trưởng; Ban tư vấn tin học hoá gồm các chuyên gia, doanh nghiệp Hỗ trợ các vấn đề kỹ thuật, thực thi và triển khai cho Ban thúc đẩy tin học hóa là cục tin học hoá quốc gia trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Ngoài ra còn có Ban đánh giá về tin học hoá quốc gia Ban đặc biệt về chính phủ điện

tử thuộc Ban đổi mới chính chủ của Thủ tướng, gồm 18 ủy viên, trong đó có 5 Thứ trưởng của các bộ liên quan và rất nhiều chuyên gia, chủ yếu là các giáo sư đại học Thường trực là Bộ nội vụ Hỗ trợ cho Ban đổi mới chính phủ là văn phòng chịu trách

Trang 15

nhiệm về hành chính Cục tin học hoá quốc gia chịu trách nhiệm hỗ trợ triển khai các dự

án đổi mới dịch vụ công, đổi mới khung pháp lý về chính phủ điện tử; hỗ trợ kỹ thuật các bộ phận: tiểu ban chuẩn bị cho các kỳ họp của trưởng ban, tiểu ban cải cách lề lối làm việc, tiểu ban hạ tầng, nguồn lực CNTT và kiến trúc

Mặc dù ở Việt Nam cũng có 2 tổ chức tương đương là Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Ban chỉ đạo về cải cách hành chính nhưng có thể thấy ở Hàn Quốc những điểm khác biệt quan trọng đảm bảo hoạt động có hiệu quả và thực chất:

+ Có sự tham gia trực tiếp, thường xuyên và thực sự từ các cấp lãnh đạo cao cấp nhất (tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng)

+ Có bộ máy tổ chức chuyên nghiệp với chức năng rõ ràng và hoạt động thực

sự, không chỉ họp rồi chỉ đạo không có nghiên cứu chuẩn bị như ở Việt Nam

+ Có các cơ quan chuyên nghiệp mạnh như Cục Tin học hoá quốc gia hỗ trợ về

kỹ thuật và triển khai các hoạt động thực thi Sau khi các ban chỉ đạo đã có kết luận, sẽ

có người chịu trách nhiệm thực hiện và báo cáo Các nội dung kỹ thuật cần ý kiến chỉ đạo đã có một bộ máy chuyên nghiệp chuẩn bị kỹ càng Đáng chú ý là Cục Tin học hoá quốc gia tuy trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông nhưng vẫn hỗ trợ về kỹ thuật cho Bộ nội vụ, làm cầu nối cho các nội dung chính phủ điện tử và ứng dụng CNTT, đảm bảo tính thống nhất về hệ thống

+ Các vấn đề chuyên sâu đều được đưa ra nghiên cứu và thảo luận kỹ tại các tiểu ban trước khi tổng hợp xin ý kiến các ủy viên hoặc đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể

(Theo tin “Chính phủ điện tử Hàn Quốc” trên tạp chí PCWorldVN cập nhật ngày 01/4/2008)

Ở Australia vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin, đó là:

Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT và viễn thông, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của những ngành công nghệ này lên xã hội

Trang 16

Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT và viễn thông vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh, để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của việc thực tập kinh doanh của họ”

PCWorldVN)

1.1.3 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam cũng đã có chương trình quốc gia về CNTT (1996-2000) và Đề án thực hiện về CNTT tại các cơ quan Đảng (2003-2005) ban hành kèm theo Quyết định

47 của Ban Bí thư trung ương Đảng Mặt khác, tại các cơ quan quản lý nhà nước đã có

Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước (2001-2005) ban hành kèm theo Quyết định số: 112/2001/QĐ - TTg ngày 25/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về giáo dục,

Chỉ thị 58/CT - TƯ ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGD ĐT, ngày 30/7/2001, nêu rõ: “Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục (EduNet) nhằm tăn cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giai đoạn 2001-2005 Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, tìm hiểu học tập các nước về quản lý ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục để áp dụng ở Việt Nam nhưng không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu quản lý và ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam đã được được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo hay trong các đề tài nghiên cứu khoa học về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến vấn đề phát triển kỹ năng ứng dụng CNTT cho học sinh và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như:

* Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong năm 2000

* Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT 2/2003

* Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ hai về nghiên cứu phát triển và ứng dụng CNTT và truyền thông ICT 9/2004

Trang 17

* Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do viện CNTT ( Đại học Quốc gia Hà Nội) và khoa CNTT (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng trong hệ thống giáo dục đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam

* Hội thảo quốc gia về CNTT&TT lần thứ IV vừa diễn ra tại thành phố Huế với chủ đề : “CNTT và sự nghiệp giáo dục – y tế” là: làm thế nào để thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ứng dụng CNTT nhằm phục vụ một cách hiệu quả nhất cho sự phát triển của giáo dục trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế của chúng ta

* Hội thảo khoa học toàn quốc về CNTT&TT: “Các giải pháp công nghệ và quản lý trong ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học” do trường ĐHSP Hà Nội phối hợp với dự án Giáo dục đại học tổ chức từ 9-10/12/2006 Nội dung hội thảo gồm các chủ đề chính sau:

- Các giải pháp về công nghệ trong đổi mới phương pháp dạy (phổ thông, đại học và trên đại học): công nghệ tri thức, công nghệ mã nguồn mở, các hệ nền và công

cụ tạo nội dung trong e-learning, các chuẩn trao đổi nội dung bài giảng, công nghệ trong kiểm tra đánh giá,

- Các giải pháp, chiến lược phát triển ứng dụng CNTT&TT vào đổi mới phương pháp dạy học: chiến lược phát triển, kinh nghiệm quản lý, mô hình tổ chức trường học điện tử, mô hình dạy học điện tử,

- Các kết quả và kinh nghiệm của việc ứng dụng CNTT trong dạy học: xây dựng

và sử dụng phần mềm dạy học, kho điện tử,

Trong các hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy phát triển kỹ năng ứng dụng CNTT cho học sinh

Qua nghiên cứu ý nghĩa của việc phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT và vai trò quan trọng của các biện pháp Qua đó các tác giả cũng đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý như Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT trong việc triển khai một số biện pháp phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT tại các trường thuộc phạm vi quản lý

Từ các phân tích trên, tác giả nhận thấy phát triển kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh trường THPT theo quan điểm học tập suốt đời là một vấn đề cấp thiết nhưng chỉ được nghiên cứu dưới góc độ hẹp Thực tế ở Việt Nam việc đưa CNTT vào các hoạt động nhà trường nói chung và hoạt động dạy học nói riêng còn tồn tại nhiều vấn

đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết Vì thế tác giả đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này

Trang 18

trong phạm vi các trường THPT thuộc thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nhằm hy vọng đề xuất được một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong việc phát triển

kỹ năng sử dụng CNTT cho học sinh THPT ở địa phương hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.Phát triển

Thuật ngữ phát triển theo nghĩa triết học là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, đơn giản đến phức tạp Lí luận của Phép biện chứng duy vật khẳng định: mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật, hiện tượng này đến sự vật, hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển mãi mãi Phát triển là quá trình nội tại, là bước chuyển hóa từ thấp đến cao, trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội

Thuật ngữ “phát triển” xuất phát từ các cấp độ xem xét khác nhau có nhiều cách định nghĩa khác nhau Ở cấp độ chung nhất, “phát triển” được hiểu là sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của vận động hay là quá trình diễn ra có nguyên nhân, dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hoá, phân hoá, chuyển đổi, mở rộng, cuối cùng tạo ra biến đổi về chất”

Theo từ điển tiếng Việt : “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp Vì mọi sự vật, hiện tương trong thế giới khách quan không có gì là “nhất thành, bất biến” mà trong quá trình vận động luôn biến đổi không ngừng

Ví dụ: Phát triển kinh tế - xã hội, phát triển văn hoá, phát triển y tế, phát triển con người, phát triển giáo dục, phát triển giáo dục mầm non, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non,

Từ những phân tích trên khái niệm phát triển được hiểu là:

- Quá trình chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiện hơn; chuyển từ trạng thái chất lượng cũ sang tình trạng chất lượng mới, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao

Trang 19

- Phát triển là sự trải qua quá trình tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên, phân hóa

hoặc tiến hóa tự nhiên với những thay đổi liên tục kế tiếp nhau

- Phát triển là sự tăng trưởng, mở rộng, tiến hóa một cách từ từ

1.2.2.CNTT và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

1.2.2.1 Khái niệm công nghệ, CNTT

a) Khái niệm công nghệ:

Theo quan điểm truyền thống: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy

trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành

sản phẩm”

động qua lại với nhau, cùng thực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào:

- Thành phần trang thiết bị, bao gồm: các thiết bị, máy móc, nhà xưởng,

- Thành phần kỹ năng và tay nghề: Liên quan đến kỹ năng nghề nghiệp của từng

người hoặc của từng nhóm người

- Thành phần thông tin: Liên quan đến các bí quyết, các quá trình, các phương

pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế

- Thành phần tổ chức: Thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp và tiếp thị b) Khái niệm CNTT

Công nghệ thông tin: là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ

liên quan đến thông tin và quá trình xử lý thông tin Như vậy, “CNTT là một hệ thống

các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các

máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền

dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh

tế, xã hội, văn hóa,… của con người”

Công nghệ thông tin được phát triển trên nền tảng của các công nghệ Tin học -

Điện tử - Viễn thông và Tự động hóa CNTT nghiên cứu về các khả năng và các giải

Trang 20

pháp, tức là nghiêng về công nghệ theo nghĩa truyền thống Khi nói “CNTT” là hàm ý muốn nói tới nghĩa kỹ thuật công nghệ Còn Tin học thì nghiên cứu về cấu trúc và tính chất, vì thế tin học gần gũi với cách hiểu là môn khoa học, hay môn học CNTT là lĩnh vực khoa học rộng lớn nhưng có nhiều chuyên ngành hẹp Như trong toán học có các phân môn số học, đại số, hình học phẳng, hình học không gian, Trong vật lý có các phân môn nhiệt học, cơ học, điện học, quang học và lượng tử, thì tin học cũng có các phân môn là khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, công nghệ phần mềm, mạng máy tính, v.v…

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Công nghệ thông tin (tiếng Anh là: Information technology gọi tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông tin

Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết số 49/CP của Chính phủ ký ngày 04/08/1993 về “Phát triển CNTT ở nước ta trong những năm 90”: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông nhằm tổ chức, khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Theo luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 điều 4 giải thích: CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số

Theo tác giả Đặng Danh Ánh, đến nay CNTT đã phát triển qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1, từ khi máy tính ra đời năm 1943 đến những năm 60,70 của thế kỷ 20- đây

là giai đoạn khởi đầu của CNTT; giai đoạn 2 những năm 80, giai đoạn tin học hóa các ngành kinh tế quốc dân và xã hội; giai đoạn 3 của CNTT là internet hóa, được bắt đầu

từ những năm 90 của thế kỷ 20

Có thể nói, sự phát triển nhanh chóng của CNTT và đặc biệt là của mạng internet hiện nay vừa tạo ra một điều kiện hết sức thuận lợi đồng thời cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với GD&ĐT nói chung, phương pháp dạy học trong mỗi nhà trường, của mỗi thày cô giáo nói riêng phải đổi mới mạnh mẽ theo hướng tích hợp và sử dụng triệt để những thế mạnh của CNTT vào dạy học

Trang 21

1.2.2.2 Khái niệm kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

a, Khái niệm về kỹ năng

KN là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục trong và ngoài nước quan tâm Ở các góc độ khác nhau, các tác giả có những quan niệm khác nhau về KN, nhưng tổng kết lại có 2 loại quan niệm về kỹ năng như sau:

- Loại quan niệm thứ nhất: Là loại quan niệm xem xét kỹ năng nghiêng về mặt

kỹ thuật của hành động Đại diện cho loại quan niệm này là các tác giả V A Cruchetxki, V.V Tsebưseva, A.V Petrovxki… chẳng hạn, A.V Petrovxki quan niệm rằng: KN là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri thức và kỹ xảo KN được hình thành bằng con đường luyện tập, KN tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay đổi Xuất phát

từ chỗ coi KN là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này quan niệm rằng, khi nắm được kỹ thuật hành động, hành động đúng các yêu cầu kỹ thuật của nó thì sẽ đạt kết quả Muốn nắm được kỹ thuật hành động và thực hiện được hành động theo đúng kỹ thuật thì có phải qúa trình học tập và rèn luyện Như vậy, theo loại quan niệm này, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động [15]

- Loại quan niệm thứ hai: là loại quan niệm xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người Đó là quan niệm của các tác giả: N.Đ.Levitôv, X.I Kixegof, K

K Platonov, Xavier Roegiers, Kevin Barry, Ken King, Trần Quốc Thành [23], Nguyễn Quang Uẩn [29]…

Theo N.Đ.Levitov, KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định KN có liên quan nhiều đến thực tiễn, đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn Tương tự như vậy, X.I.Kixegof cho rằng, KN là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành động này Theo ông, KN bao giờ cũng diễn ra dưới sự kiểm tra của ý thức nhiều hay ít KN đòi hỏi việc sử dụng những kinh nghiệm đã thu được trước đây và những tri thức nhất định nào đó trong các hành động, thiếu những điều này, không thể có KN

Trang 22

K.K Platonov còn nhấn mạnh đến tính linh hoạt mềm dẻo của KN Theo ông, người có

KN không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt kết quả tương tự trong những điều kiện khác

Như vậy, khác với quan niệm thứ nhất, các tác giả theo quan niệm thứ hai, coi

KN không chỉ đơn thuần là kỹ thuật hành động mà nó còn là biểu hiện của năng lực,

KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo Nhờ có sự mềm dẻo mà con người có tính sáng tạo hoạt động thực tiễn Ở đây các tác giả có chú ý đến kết quả của hành động

Theo chúng tôi về thực chất hai loại quan điểm trên không phủ định nhau, sự khác biệt chỉ ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng cũng như những đặc tính của chúng Mặt khác theo chúng tôi ở con người khi kỹ năng của một hoạt động nào đó, đặc biệt là hoạt động nghề nghiệp bắt đầu hình thành, khi đó cần xem xét kỹ năng ở mặt kỹ thuật của các thao tác của hành động hay hoạt động Còn khi kỹ năng đã hình thành ổn định, con người biết sử dụng nó một cách sáng tạo trong các hoàn cảnh khác nhau, khi đó kỹ năng được xem xét như một năng lực, một vốn quý của con người Vì vậy nếu nghiên cứu sự hình thành và phát triển kỹ năng cần quan tâm đến cả mặt kỹ thuật cũng như kết quả của thao tác, hành động hay hoạt động

Trong những năm gần đây khi đề cập tới kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghề nghiệp người ta không chỉ dừng ở tiêu chí kết quả chính xác, khả năng linh hoạt, mà còn xem xét các yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có kỹ năng đó Cách tiếp cận này xem xét kỹ năng ở góc độ rộng hơn khi nó kết nối các yếu

tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) trong hành vi của một hoạt động nhất định Cho rằng, mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách mà người ta suy nghĩ, tác giả J.N.Richard (2003) coi kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ [64] I.Louise (1995) cũng khẳng định, kỹ năng là yếu tố mang tính thực tiễn và là kết quả của sự nối kết giữa lý thuyết và giá trị (thái độ, niềm tin) [55] Mặc dù ghi nhận hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng có hiệu quả, song S.A Morales & W.Sheator (1987) và M.Bartte Hariet (1970) nhấn mạnh sự lựa chọn đó chịu ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân đối với hoạt động cụ thể [58] Đây là một xu hướng khá mới về quan niệm kỹ năng Quan điểm này

Trang 23

tương đối phù hợp cho nghiên cứu những kỹ năng chuyên sâu trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn

Từ những phân tích các quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận:

Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả theo mục đích đã đề ra

- Người có KN hành động trong một lĩnh vực hoạt động được biểu hiện ở những dấu hiệu sau đây:

+ Có tri thức về hành động: nắm được mục đích hành động; nắm được cách thức thực hiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động

+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó

+ Hành động đạt kết quả cao theo mục đích đề ra

+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện thay đổi

Nghĩa là, KN đòi hỏi, trước hết con người phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết về hành động Tuy nhiên tri thức và kinh nghiệm chưa phải là KN KN chỉ có được khi con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đó vào hoạt động thực tiễn một cách có kết quả Có thể nói, tri thức và kinh nghiệm là những điều kiện cần để hình thành KN, việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra là điều kiện đủ để hình thành KN

- Khi xem xét khái niệm KN, cần phải lưu ý những điểm sau đây:

+ KN trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của hoạt động, KN bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể và được xem như một đặc điểm của hành động

+ Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển của KN Một hành động chưa thể gọi là có KN nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về, các thao tác diễn ra theo một khuôn mẫu cứng nhắc …

Trang 24

+ KN không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân, KN là sản phẩm của hoạt động thực tiễn Đó là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh nghiêm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đã đề ra

+ Xét về cấu trúc tâm lý của kỹ năng, kỹ năng có thể bao gồm các thành phần như sau:

(1) Sự hiểu biết về kỹ năng và về mục đích hình thành kỹ năng

(2) Nắm vững cách thức thực hiện tương ứng với điều kiện, phương tiện

(3) Mức độ thành thục thực hiện hành động với sự giảm dần của kiểm soát ý thức

* Quá trình hình thành kỹ năng:

Vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nước quan tâm mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thống nhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành trong hoạt động Kỹ năng được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao Mức độ thấp là những kỹ năng nguyên phát – dạng kỹ năng đơn giản, tương ứng với những thao tác của hành động nhất định Mức độ cao là các kỹ năng thứ phát – là tập hợp của nhiều yếu tố để tạo nên

kỹ năng phức hợp, nâng cao

G.Theodorson (1969) cho rằng, ban đầu kỹ năng mới chỉ là các thao tác riêng lẻ chưa được hoàn thiện, trong quá trình rèn luyện, chúng trở nên hành động nhanh chóng, chính xác, và sau đó trở thành kỹ xảo (không cần sự kiểm soát của ý thức) [70]

K.K.Platonov và G.G.Golubev đưa ra các giai đoạn phát triển kỹ năng với 5 giai đoạn bao gồm:

- Giai đoạn 1: Kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích

và tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”

- Giai đoạn 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ

- Giai đoạn 3: Kỹ năng chung, song còn mang tính riêng lẻ

Trang 25

- Giai đoạn 4: Kỹ năng ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác

kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích

- Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng tạo trong sử dụng các kỹ năng ở những điều kiện khác nhau [15]

Một số tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitôv, A.V.Petrovxki, Trần Quốc Thành [23] … cho rằng, quá trình hình thành KN gồm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu

Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đặt ra

Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành động cực kỳ quan trọng Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiến trước khi bắt tay vào hành động Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích Như vậy, đây chỉ

là bước định hướng hành động Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có KN, vì nó chỉ thể hiện mặt lý thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kỹ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra

Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạn này con người một mặt thực hiện thao tác theo mẫu để hình thành KN, một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác, hành động nhằm đạt được kết quả giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Tùy theo khả năng của từng người mà độ sai sót nhiều hay ít, giai đoạn làm thử dài hay ngắn

Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hành luyện tập để hoàn thiện KN Ở giai đoạn này các tri thức về hành động được củng cố nhiều lần, cách thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói, KN đã được hình thành Tuy nhiên, KN vẫn chưa ổn định Nhiều khi, người ta có thể đạt được kết quả cần thiết song vẫn còn những sai sót, vấp váp trong hành động KN thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau

Trang 26

Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện luyện tập, tính hệ thống của nhiều quá trình luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân

Quan điểm trên đây đã chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc hình thành KN hành động: nhận thức và triển khai nó trong thực tiễn

Chúng tôi nhất trí với quan điểm của các tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitôv, A.V.Petrovxki, Trần Quốc Thành nêu trên, như vậy quy trình hình thành kỹ năng đi từ hình thành nhận thức về mục đích, cách thức, điều kiện hành động tới việc quan sát và làm thử, cuối cùng là luyện tập để tiến hành hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra

b, Khái niệm kỹ năng sử dụng CNTT

KN sử dụng CNTT là một trong 9 năng lực chung được nhấn mạnh trong hệ thống giáo dục của nhiều quốc gia Kỹ năng sử dụng CNTT được mô tả bao gồm:

a) Sử dụng đúng cách các thiết bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết bị và trên mạng

b) Xác định được thông tin cần thiết để thực hiện nhiệm vụ học tập; tìm kiếm được thông tin với các chức năng tìm kiếm đơn giản và tổ chức thông tin phù hợp; đánh giá sự phù hợp của thông tin, dữ liệu đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; xác lập mối liên hệ giữa kiến thức đã biết với thông tin mới thu thập được và dùng thông tin đó để giải quyết các nhiệm vụ học tập và trong cuộc sống

Tại sao CNTT-TT trở thành một Kỹ năng chung, cốt lõi ?

Chỉ khoảng 10 năm trước đây việc dạy học tin học cho HS trong các trường phổ thông vẫn còn là chủ đề tranh luận của các nhà khoa học, những nhà chiến lược giáo dục trong nước cũng như quốc tế Đến nay, cuộc tranh luận đã đi đến thống nhất, khẳng định sự cần thiết phải dạy tin học cho HS phổ thông với những lí do cơ bản sau đây:

- Sau cuộc cách mạng công nghiệp liên quan đến cơ khí, điện, động cơ đốt trong,

Trang 27

con người đang ở khoảng năm thứ 40 của cuộc cách mạng tin học - thời đại máy tính

Để đáp ứng nhu cầu của thời đại công nghiệp hóa, giáo dục phổ thông (GDPT) trang bị cho HS tri thức về vật lí, hóa học Tương tự như vậy, để đáp ứng nhu cầu thời đại số hóa, thời đại của cách mạng tin học thì phải trang bị cho công dân tương lai kiến thức,

kĩ năng, Kỹ năng tin học

- Tin học trở thành một phần tất yếu của thế giới hiện đại Tin học đã thay đổi cách sống, cách nghĩ và cách làm Con người đang sống trong thế giới số hóa, máy tính hóa

và lập trình hóa Để sống trong thế giới công nghệ số và hiểu về thế giới số hóa đó, HS cần đến tin học Công dân tương lai không chỉ là người sử dụng thụ động mà phải là người sử dụng thông thái, chủ động, thậm chí còn là những nhà sáng chế, đẩy nhanh sự tiến bộ của cuộc cách mạng tin học

- Tin học là hành trang thiết yếu trên con đường nghề nghiệp: Phần lớn các ngành nghề trong xã hội hiện đại đòi hỏi hiểu biết tin học Thêm nữa, rất nhiều nghề nghiệp mới xuất hiện trong lĩnh vực tin học như: lập trình viên, quản lí mạng, thiết kế cơ sở dữ liệu, an ninh mạng

- Đối với chính ngành giáo dục, tin học là cơ sở hạ tầng của giáo dục: tin học là môi trường dạy học, công cụ quản lí giáo dục, công cụ sư phạm, thiết bị học tập cá nhân, làm việc nhóm của GV, HS; tin học tác động đến nội dung dạy học, PPDH, cách tổ chức dạy học, hình thức dạy học và đối tượng dạy học; tin học là đối tượng để dạy nhưng cũng là một cấu phần của văn hóa nhà trường

- Học khoa học máy tính là học suy luận logic, tư duy giải thuật, thiết kế và GQVĐ Những Kỹ năng này không chỉ có giá trị trong phạm vi lớp học khoa học máy tính mà còn được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh khác, từ khoa học, công nghệ đến mọi mặt của xã hội loài người

- Khoa học máy tính là nhân tố chính để đổi mới công nghệ, là nguồn lực chính để xây dựng xã hội thông tin và là chìa khóa cho nền kinh tế của mỗi quốc gia

Sự cần thiết của việc dạy học tin học cho HS phổ thông cũng được khẳng định bởi

tổ chức UNESCO qua việc đưa Kỹ năng CNTT-TT là một trong những Kỹ năng thiết yếu của công dân trong thời đại mới cùng với các Kỹ năng truyền thống khác như đọc, viết

Trang 28

Như vậy kỹ năng CNTT-TT được coi là một trong những Kỹ năng chung, cốt lõi là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thế giới cũng như đòi hỏi của thực tiễn xã hội

Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm kỹ năng sử dụng CNTT là khả năng: a) Sử dụng đúng cách các thiết bị ICT để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể; nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản; sử dụng được các phần mềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau; tổ chức và lưu trữ dữ liệu vào các bộ nhớ khác nhau, tại thiết

Các kỹ năng cụ thể chúng tôi xác định bao gồm: Kĩ năng sử dụng máy tính, Kĩ năng

sử dụng phần mềm, Kĩ năng vào mạng Internet và học tập trên mạng

*Kĩ năng sử dụng máy tính

Học sinh THPT khi sử dụng máy tính mặc dù đã được học từ cấp học dưới nhưng không chiếm đa số, vì vậy khi bắt đầu sử dụng máy tính đều phải hình thành các kĩ năng cơ bản;

- Trước hết là kĩ năng sử dụng chuột, kĩ năng nhấp chuột phải, trái, kĩ năng di chuyển chuột

- Kĩ năng sử dụng bàn phím

- Kĩ năng sử dụng một số phim cơ bản thường sử dụng như: Enter, Back, Del, shift, Escape,

- Kĩ năng bật/ tắt máy tính

- Kĩ năng thao tác trên hệ điều hành

- Kĩ năng soạn thảo văn bản

*Kĩ năng sử dụng phần mềm

Việc sử dụng phần mềm dưới nhiều dạng khác nhau Phần mềm là những chương trình là cho phần cứng của máy tính hoạt động được Thông thường phần mềm chia làm 3 loại chính sau:

- Hệ điều hành ( phần mềm hệ thống)

Trang 29

- Ngôn ngữ lập trình ( phần mềm công cụ)

- Phần mềm ứng dụng

+ Hệ điều hành (OS: operating system): là phần mềm cơ bản gồm tập hợp các chương trình điều khiển hoạt động của máy tính, cho phép người dùng sử dụng khai thác dễ dàng và hiệu quả các thiết bị của hệ thống

+ Ngôn ngữ lập trình (Programming languege): dùng để lập trình cho máy tính hoạt động Một số ngôn ngữ lập trình: Pascal, C, C++, visual basic, java

+ Phần mềm ứng dụng (Application): là các chương trình ứng dụng cụ thể vào một lĩnh vực

+ Phần mềm soạn thảo văn bản; micrisoft word

+ Phần mềm quản trị dữ liệu: microsoft access

+ Phần mềm thiết kế web: Fronpage, dreamweaver

+ Phần mềm thiết kế: Autocard cho ngành xây dựng,

+ Phần mềm ứng dụng khác, bao gồm: học tập (drawing for children, learing math, ), giải trí ( game)

Đối với học sinh THPT chúng ta giúp học sinh quan tâm đến các phần mềm ứng dụng như phần mềm soạn thảo văn bản ( microsoft word) nhưng mục đích không chỉ

để soạn thảo văn bản mà còn dùng vào việc viết thư, gửi mail; phần mềm pascal dùng

để lập trình các bài toán cơ bản tuy không mạnh bằng các ngôn ngữ lập trình bậc cao khác nhưng giúp học sinh, đặc biết là học sinh THPT hình thành được kĩ năng lập trình trên máy tính; phần mềm microsoft access là hệ quản trị cơ sở dữ liệu giúp học sinh bước đầu biết phân tích và thiết kế hệ thống, tạo những cơ sở dữ liệu đơn giản

Ngoài ra, cũng cần dạy cho các em kĩ năng sử dụng phần mềm mã nguồn mở, các phần mềm miễn phí trên mạng

Kĩ năng Download đồng thời cũng là kĩ năng sử dụng phần mềm giúp cho học sinh thu thập được nhiều phần mềm cần thiết cho việc nghiên cứu và học tập Khi tải về một chương trình hay một tài liệu trên mạng, các em vẫn có thể truy cập Web như bình thường Hơn nữa, phần lớn các trình duyệt cho các em thực hiện download đồng thời Điều này đặc biệt tiện lợi khi các em cần tải về nhiều phần mềm từ một địa chỉ cung cấp phần mềm miễn phí trên mạng

*Kĩ năng vào mạng Internet và học tập trên mạng

Máy tính nếu được kết nói mạng bằng đường truyền tốc độ cao ( cáp quang) thì giúp các em có điều kiện học tập trên mạng thông qua địa chỉ các trang web vô cùng phong phú

Trang 30

• Kĩ năng vào mạng Internet

Việc hình thành kĩ năng vào mạng Internet cho học sinh phải yêu cầu bắt buộc Nếu học sinh không có kĩ năng vào Internet thì việc học tập sẽ bị hạn cheesvif có những dữ liệu quá lơn và cực kỳ quan trọng được thiết lập online trên mạng Đối với học sinh THPT việc hình thành kĩ năng vào mạng internet trước tiên cần giúp các em hiểu tổng quan về internet là một mạng máy tính toàn cầu trong đó máy truyền thông với nhau theo một giao thức chung gọi là TCP/IP ( Transmission control Protocol/ Internet Protocol), không có máy tính nào làm chủ và điều khiển tất cả, mà thông qua các dịch

vụ khác nhau trên internet để điều khiển Các dịch vụ phổ biến thường gặp như WWW ( World Wide Web), E-mail ( Electronic mail), chatting&Conferencing

• Kĩ năng khai thác các dữ liệu điện tử

- Kĩ năng trao đổi qua mạng cục bộ:

Các hệ điều hành hiện nay điều có trang bị một chương trình chat cho phép người

ta trao đổi thông điệp với nhau rất tiện lợi, việc trao đổi có thể tiền hành nhờ chương trình kết nối qua mạng cục bộ bằng cách chọn start, programs, accessories, communications và kích chuột vào kết nối

- Kĩ năng sử dụng Google để tìm định nghĩa một từ:

Để tìm kiếm nhanh chóng trên Web định nghĩa của một thuật ngữ, hãy đánh define; tiếp theo là một ký tự trống và thuật ngữ cần định nghĩa vào công cụ tìm kiếm Google

Ví dụ, nếu đánh define: school và nhấn ENTER, Google sẽ tả về một dánh sách các định nghĩa của từ school mà nó thu thập được từ khắp nơi trên web, kĩ năng này rất hữu ích để các em tìm kiếm tài liệu học tập cần thiết cho mình

Kết nối máy tính vào mạng dễ với Network Setup Wizard

Network Setup Wizard của WinXP và các hệ điều hành mới hiện nay sẽ tự động hóa tiền trình thiết lập cấu hình máy tính để nối mạng Nó có thẻ thực hiện tự động việc chia sẻ kết nối Internet, gán địa chỉ IP, thiết lập các thư mục chia sẽ và máy in dùng chung Để khởi động Wizard, chọn start, All Program, Accessories, Communications

và Network Setup Wizard Sau đó chỉ việc thực hiện theo các hướng dẫn trên màn hình

- Kĩ năng sao chép ảnh từ trang web:

Sử dụng các trình duyệt web nổi tiếng như Internet Explorer, Firefox, Google Chrome, học sinh có thể sao chép hình ảnh từ một trang Web và lưu nó về máy tính hoặc dán nó vào một ứng dụng khác, đặc biết có thể tải trực tiếp các video trên mạng

Trang 31

bằng trình duyệt Cốc cốc Muốn vậy, kích chuột phải vào hình ảnh và lưu hình ảnh về máy sau đó có thể chèn vào ứng dụng mong muốn, để tải video trình duyệt côc côc có sẵn chức năng tải video và lưu về máy tính

- Kĩ năng in các trang web với địa chỉ:

Khi cần in trang Web ra giấy, nếu bạn không in địa chỉ của trang Web thì sau này rất khó có thể tìm lại tài liệu trên mạng Vì vậy, cần dạy cho học sinh khi in trang Web, cần in cả địa chỉ của nó

• Kĩ năng học tập trên các phần mềm

Ngày nay, ai cũng thừa nhận rằng sử dụng PMDH trong quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh sẽ làm cho quá trình dạy học đạt kết quả cao thông qua một số hần mềm ứng dụng được cài đặt sẵn trên máy, hoặc được sử dụng các phần mềm học tập được các nhà sản xuất nghiên cứu viết kịch bản vào đĩa cho từng môn học, từng cấp học, từng bậc học rất phong phú, đa dạng Phần mềm viết dưới dạng giáo khoa, dưới dạng bài tập thực hành thông dụng cho các môn Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh, khoa học Ngoài ra còn sử dụng phần mềm học tập tiếng anh, môn khoa học bằng con đường internet vào google earth để học tập tìm hiểu vòng quanh thế giới, hoặc địac chỉ các trang web, ví dụ trang web dạy tiếng anh, của hội đồng Anh, các

em có thể tự học anh văn tự làm bài tập, và tự đánh giá kết quả làm bài tập của mình đã được lập trình sẵn

Kĩ năng lựa chọ phần mềm ứng dụng rất quan trọng vì phần mềm học tập được thể hiện dưới nhiều dạng và giải trí qua trò chơi (game) đều phải được lựa chọn phù hợp với chương trình học

Qua việc sử dụng phần mềm học tập sẽ giúp học sinh hình thành một số kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng tư duy, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tìm kiếm thông tin và

xử lý thông tin, kĩ năng làm bài tập, kĩ năng tự kiểm tra và tự đánh giá

Trang 32

Linkdown: http://www.echip.com.vn/echiproot/Softwares/2004/Dothi221.zip

- Phần mềm trắc nghiệm Toán - Lý - Hóa:

1.2.3.Phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh THPT

Trong quá trình dạy - học, học sinh THPT có nhu cầu lớn trong việc khám phá những hiện tượng khoa học ứng dụng vào đời sống xã hội, đặc biệt là khoa học công nghệ về máy tính đã tạo ra một môi trường học tập mới cho các em, Tính tò mò, muốn khám phá cái mới, sự ham hiểu biết phát triển

Sự nhận thức của học sinh THPT không còn giới hạn bởi sự nhận thức các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính bên ngoài, mà các em muốn được tìm hiểu bản chất của các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng Trí nhớ của các em được hát triển trong quá trình tri giác ở lứa tuổi này hoạt động học tậ trong trường đã thúc đẩy sự phát triển của các quá trình nhận thức: chú ý có chủ định, quan sát có mục đích, có ý thực, tự giác, chính vì vậy các em xác định khả năng phân tích, tổng hợp, tư duy logic được phát triển Tuy nhiên quá trình nhận thức của các em còn chịu ảnh hưởng của tư duy trực quan cụ thể, do đó việc hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng cho học sinh luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành trên máy tính

Từ những đặc điểm tri giác, chú ý, trí nhớ, khả năng phân tích, tổng hợp của học sinh THPT, các em có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ Những kĩ năng tổ chức hoạt động tư duy của học sinh THPT giúp các em ghi nhớ những tài liệu nhất định và khi nhớ các em bắt đầu tiến hành các thao tác như so sánh,

hệ thống hóa, phân loại khả năng ghi nhớ có thể tăng lên rõ rệt, tầm hiểu biết được mở rộng dần, kĩ năng sử dụng những phương tiện kĩ thuật máy tính tốt hơn

Do đặc điểm nhận thức và điều kiện học tập của học sinh THPT trong một môi trường học tập đa phương tiện, hoạt động học tập của các em có sự phân hóa rõ nét hơn Nếu học sinh hướng dẫn biết cách học sáng tạo, thì các em sẽ chủ động trong hoạt động học tập của mình, biết chủ động trong việc tự luyện tập, tự rèn luyện kĩ năng thông qua các phần mềm trợ giúp sau khi đã được giáo viên hướng dẫn tại trường Các

em sẽ biết khai thác hiệu quả các phần mềm học tập, khai thác các trò chơi học tập bổ ích, biết khai thác các trang web, biết chủ động tìm hiểu, nghiên cứu lĩnh hội tri thức và như vậy quá trình nhận thức của học sinh trở nên tích cực hơn Riêng kĩ năng vào

Trang 33

Internet tự tìm kiếm trò chơi, đây là một hoạt động rất nhạy cảm đối với các em, do đó đòi hỏi giáo viên phải theo dõi định hướng các em vào Internet tìm kiếm những thông tin phù hợp và nội dung học tập

Giáo viên tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng CNTT trong đó chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng phần mềm học tập và khai thác thế mạnh của máy tính, kĩ năng

sử dụng công nghệ đa phương tiện ( Multimedia), kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật âm thanh để

mô phỏng, minh họa Giáo viên cần chú ý cho học sinh được tiếp cận với Internet , làm chủ Internet, tiến tới rèn luyện kĩ năng sử dụng Internet, kĩ năng vào những trang web cần thiết nhằm giúp các em tự học, cách tự tìm hiểu, tự khám phá những kiến thức khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau Các em sẽ chủ động nắm bắt thông tin, chủ động lĩnh hội tri thức khi thực hiện chủ đề nào đó

Trong đề tài này chúng tôi quan niệm: Phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh THPT là quá trình biến đổi, nâng cao các kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trong học tập và cuộc sống

1.3.Quan điểm học tập suốt đời

Hiện nay, khái niệm "học tập suốt đời" ngày càng được nhắc đến thường xuyên hơn

và có mặt trong hầu hết các chiến lược, chính sách quốc gia về giáo dục của mỗi đất nước

Theo UNESCO, "học tập suốt đời" là quá trình học tập diễn ra trong suốt cả cuộc đời, dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm việc, học để cùng nhau chung sống và học để làm người; thông qua các phương thức giáo dục chính quy, giáo dục thường xuyên; đặc biệt coi trọng tự học

Xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ chức trong xã hội đều tham gia vào quá trình giáo dục, không riêng trường học

Ví dụ, một nhà máy, trách nhiệm chủ yếu là sản xuất hàng hoá, nhưng cũng có thể

và cần phải tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề nghiệp cho công nhân và cũng có thể giáo dục cho công chúng về quá trình sản xuất, về sử dụng sản phẩm, về bảo vệ môi trường và những đóng góp của họ cho xã hội

Nhà máy phải tham gia cùng nhà trường xây dựng và cải tiến chương trình giáo dục, là nơi cho học sinh thực hành, trải nghiệm

Trang 34

Một khía cạnh khác của xã hội học tập là toàn thể công dân đều phải học tập và triệt

để tận dụng các cơ hội do xã hội học tập cung cấp

Học tập suốt đời và xã hội học tập là hai khái niệm có liên quan, gắn bó chặt chẽ với nhau Xã hội học tập là nơi mà mọi cá nhân đều theo đuổi việc học thường xuyên, học suốt đời, mọi tổ chức đều trở thành những tổ chức học tập, mọi thành phần xã hội đều tham gia và đóng góp vào việc thúc đẩy học tập và phát triển giáo dục

Học tập suốt đời và xã hội học tập là một quan điểm tổng thể, toàn diện về sự phát triển, thay đổi, hợp tác và tham gia của mỗi một cộng đồng, mỗi một quốc gia trong thế giới có sự phát triển vũ bão của khoa học - công nghệ và bùng nổ thông tin, hội nhập

và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng

1.4 Các yếu tố đảm bảo phát triển kỹ năng sử dụng CNTT thành công cho học sinh THPT theo quan điểm học tập suốt đời

Môi trường học tập ngày nay của học sinh nói chung, học sinh THPT nói riêng có nhiều thay đổi so với trước đây do sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của CNTT

Sự xâm nhập của CNTT vào mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục, làm thay đổi cơ bản cách dạy, cách học trong nhà trường, nhiều kỹ năng học tập của học sinh không còn như trước mà có sự phát triển về số lượng và chất lượng Theo tác giả Đặng Thành Hưng, ( báo cáo tổng kết đề tài cấp Viện ‘‘Cơ sở lý luận và khung chuẩn của hệ thống kĩ năng học tập hiện đại ở cấp học phổ thông, Viện chiến lược

và chương trình giáo dục, Hà Nội, 2007’’), hệ thống kĩ năng học tập hiện đại gồm có 3 nhóm kỹ năng: nhóm kĩ năng nhận thức học tập; nhóm kĩ năng giáo tiếp và quan hệ học tập’ nhóm kĩ năng quản lý học tập Nhóm kĩ năng nhận thức học tập bao gồm các kĩ năng tìm kiếm, khai thác các nguồn học tập; các kỹ năng xử lý, tổ chức, đánh giá thông tin và nội dung học tập; các kĩ năng áp dụng, biến đổi, phát triển kết quả nhận thức và học dưới các hình thức khác nhau Nhóm kĩ năng giao tiếp và quan hệ học tập bao gồm các kĩ năng trình bày ngôn ngữ giao tiếp bằng văn bản, lời nói với giáo viên và bạn bè về những vấn đề học tập; các kĩ năng giao tiếp học tập thông qua các phương tiện công nghệ thông tin – truyền thông Nhóm kĩ năng quản lý hoạch định quá trình và các hoạt động học tập; các kỹ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả học tập

Ngày nay, kĩ năng tìm kiếm, khai thác các nguồn học tập không chỉ là những kĩ năng làm việc với sách và các tài liệu ở dạng in ấn, kx năng quan sát, kỹ năng thu thập

sự kiện bằng thí nghiệm, thực nghiệm Tài liệu học tập của học sinh hiện nay không chỉ

Trang 35

là các cuốn sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo truyền thống mà còn có sách giáo khoa, sách tham khảo, tài liệu điện tử, dưới dạng đĩ CDROM, các phần mềm dạy học, các trang web Để làm việc với những loại tài liệu này, học sinh phải có các kĩ năng

sử dụng công nghệ thông tin, tức là các kỹ năng sử dụng máy tính, mạng Internet để tra cứu, tìm tài liệu, truy cập và khai thác thông tin, tư liệu trên mạng Như vậy các kĩ năng

sử dụng công nghệ thông tin vừa là một thành phần của nhóm kĩ năng nhận thức vừa là yếu tố phát triển các kĩ năng khác của nhóm kỹ năng nhận thức

Các kĩ năng sử dụng CNTT cũng là yếu tố cấu thành của một số kĩ năng giao tiếp

và quan hệ học tập như kĩ năng tham gia diễn đàn học tập trên mạng, kĩ năng làm việc cùng nhau trong nhóm hợp tác qua các hần mềm dạy học phù hợp, kĩ năng tro đổi thông tin học tập qua mạng Cũng nhờ có kĩ năng sử dụng CNTT mà các kĩ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả học tập của học sinh được phát triển Có kĩ năng sử dụng CNTT, có máy tình và phần mềm dạy học thích hợp, học sinh có thể kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của bản thân sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi chủ đề để kịp thời điều chỉnh hoạt động học tập của mình

Như vậy, nhờ có cac kĩ năng sử dụng CNTT mà kỹ năng học tập chung của học sinh nói chung, học sinh THPT nói riêng được phát triển cả về số lượng và chất lượng

Từ thập kỷ 60, các nước tiên tiền đã khẳng định rằng máy tính là phương tiện dạy học có nhiều hiệu quả vượt trội hơn hẳn so với các phương tiện dạy học truyền thống khác vì:

- Máy tính có bộ vi xử lý hàng nghìn tỷ phép tính trong 1 giây

- Có khả năng lưu trữ dữ liệu cực lớn

- Có khả năng kết nối và truyền dữ liệu nhanh với nhiều dạng khác nhau, cùng một lúc diễn ra nhiều chiều, nhiều lĩnh vực

- Có khả năng tương tác giữa người và máy

- Có khả năng biến đổi số liệu thành đồ họa, biểu đồ mà trong điều kiện bình thường không thể vẽ bằng tay được

- Khả năng đánh giá và tự đánh giá thông qua các phần mềm

- Có khả năng cũng cấp các dịch vụ cho nhu cầu đời sống xã hội thông qua các phần mềm đã được lập trình sẵn

Với những tính năng trên Máy tính đã trở thành phương tiện hữu hiệu trong quá trình dạy của thày và học của trò

Máy tính ngoài việc trợ giúp cho học tập cá nhanh, máy tính còn đóng vai trò như một môi trường học tập cộng tác lẫn nhau, máy tính hỗ trợ môi trường học tậ quốc tế

Trang 36

"Computer supported international learing Environments", viết tắt "CSILE" "CSILE" đóng vai trò như một "môi trường học tập cộng tác lẫn nhau" dạy học và học hợp tác, dạy và học cùng nhau, dạy và học độc lập, và là một cơ sở dữ liệu với cả tài liệu bằng chữ và hình ảnh, âm thanh Một môi trường được nối mạng đa phương tiện này để học sinh tạo ra những " mấu chốt"; chứa đựng một ý tưởng hoặc một mẩu thông tin liên quan đến chủ đề đang được học

"CSILE" được phát triển bởi Marlenc Scardamilia và Carl Beriter ở viên nghiên cứu giáo dục Ontario Nó được dùng trong một chương trình nghiên cứu trong những trường học của thành phố Toronto ( Canada) trong những năm qua từ những năm đầu 90 Hãng máy tính Apple cung cấp những hỗ trợ cho việc giới thiệu " CSILE" đến những trường học ở Mỹ "CSILE" được dùng trong trường tiểu học Hawthorne Oakland Califonia, những giáo viên ở trường Hawthorne tin rằng " CSILE" đã đưa đến những tác động có hiệu quả lên những kĩ năng suy nghĩ của học sinh ở trường và lên khả năng hợp tác làm đề tài; thực hiện chương trình học theo dự án

Trong môi trường học tập đa hương tiện, có máy tính hỗ trợ, máy tính có thể trợ giúp thực hiện các chức năng trong quá trình dạy học và muốn thực hiện được các chức năng trong quá trình dạy học và muốn thực hiện được các chức năng trợ giúp của máy tính giáo viên cần rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng học tập mới

Máy tính với phần mềm mô phỏng thích hợp cho dạy - học Máy tính giúp học sinh xem xét, nhận biết các mô hình, biết phân tích các sự vật và hiện tượng thông qua các đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật, hiện tượng, biết cách tìm con đường ngắn nhất để đi đến một kết luận cần thiết từ đó hình thành tư duy logic, năng lực suy luận logic

Máy tính với chức năng hoạt hình được hiển thị trực quan sinh động các hiện tượng, sự vật trong quá trình phát triển, hoặc quá trình biến đổi của một chu kỳ, sự liên kết của các quá trình mô hình, mô phỏng để cho ra kết quả cụ thể

Kĩ năng sử dụng máy tính với các phần mềm tương thích để thiết kế một giáo án điện tử dạy môn toán hình học, vật lý ( Phần mềm Cabri geomettry II dạy toán từ hình học phẳng, hình học không gian 3 chiều ) hoặc thiết kế một trang Web để dạy học theo

dự án ( Project based learing - PBL) Đối với các phần mềm đồ họa thiết kế công trình xây dựng, học sinh có thể tiến hành hoạt động thiết kế một cách độc lậ để có những sản phẩm sáng tạo, mang nét độc đáo của riêng mình

Kĩ năng sử dụng máy tính với Internet và môi trường học tập đa phương tiện Giáo viên giúp học sinh rèn luyện kĩ năng sử dụng Internet, E-mail nhằm thực hiện chức năng

Trang 37

trao đổi, liên lạc - truyền tải thông tin giữa người dạy với người học, giữu người học với người dạy, giữa người học với nhau, giữa người dạy với nhau, là phương tiện thực hiện mối liên hệ song phương, đa phương, là cách để giao tiếp giữa học sinh và giáo viên, tạo

ra một môi trường học thân thiện Từ hai người trở lên truy cập Internet cùng lúc và trao đổi với nhau về vấn đề cùng quan tâm, hoặc hai người có thể không cùng trao đổi học tập với nhau cùng một giờ nhưng trao đổi với nhau nhiều thời điểm khác nhau, nhiều cách khác nhau ( học bằng đĩa CD ROM, thư điện tử, diễn đàn trên mạng, Web hoặc Online) Học sinh có kĩ năng sử dụng máy tính với phương tiện Multimedia, mạng Internet đã giúp thầy trò làm việc mọi lúc, mọi nơi, và nhiều hoạt động có thể diễn ra đồng hành, vừa học tập, vừa làm việc, nghe điện thoại

Kĩ năng sử dụng máy tính với việc thực hiện việc lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin Máy tính có thể thay thế giáo viên ở một số khâu trong quá trình dạy học như lưu trữ, cung cấp thông tin, xử lý thông tin các văn bản, dữ liệu thống kê, những dạng tri thức khác Máy tính giúp giáo viên và học sinh có điều kiện để thu thập dữ liệu cần thiết cho giảng dạy và học tập Máy tính nối mạng với Internet giúp cho việc cung cấp kịp thời, nhanh chóng và với khối lượng thông tin bùng nổ như hiện nay Cung cấp thông tin với dạng ảnh chụp, âm thanh, phim, đồ thị, hoặc cung cấp hình ảnh thực trực tuyến Online như chương trình Google earth, Nasa Giáo viên giúp học sinh rèn luyện kĩ năng lưu trữ, xử lí thông tin, tìm kiếm, truy cập, khai thác thông tin, tải dữ liệu cần thiết để lưu trữ

và sắp xếp thông tin vào trong ngân hàng dữ liệu

Khoa học ứng dụng CNTT ngày này đã đi vào trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt trong qus trình dạy - học CNTT có thể trợ giúp giáo viên thực hiện các chức năng như chức năng điều chỉnh hoạt động học tập, chức năng luyện tập và thực hành, chức năng minh họa và trự quan hóa, chức năng hỗ trợ thiết kế, chức năng mô hình hóa

và mô phỏng, chức năng trao đổi, liên lạc, giáo tiếp, liên kết, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin, chức năng đánh giá Muốn thực hiện được các chức năng trên trong quá trình dạy học, đòi hỏi giáo viến ngoài việc rèn luyện kĩ năng học tập truyền thống cho học sinh phải rèn luyện kĩ năng sử dụng CNTT bao gồm nhóm kĩ năng sử dụng các thiết bị máy tính, nhóm kĩ năng sử dụng phần mềm, nhóm kĩ năng sử dụng Internet, do đó kĩ năng sử dụng CNTT là một bộ phận của kĩ năng học tập hiện đại trong môi trường đa phương tiện

Giáo dục và đào tạo ngày nay cần được nghiên cứu và tiếp cận một nền giáo dục hiện đại Chúng ta muốn có một môi trường học tập tốt, muốn nâng cao chất lượng giáo dục, muốn rút ngắn khoảng cách giữa giáo dục vùng nông thôn và thành phố, giữa giáo

Trang 38

dục trong nước và giáo dục của thế giới thì không thể không quan tâm đến kĩ năng học tập của học sinh và đặc biệt là kĩ năng sử dụng CNTT, giáo viên ngoài việc hình thành cho học sinh THPT những kĩ năng học tập cơ bản thì cần phải hình thành và rèn luyện

bổ sung một số kĩ năng học tập mới trên nền công nghệ hiện đại

Từ việc học thụ động, thầy giảng trò ghi trên sách vở, các em học sinh tìm kiếm thông tin chủ yếu qua sách vở thì ngày nay máy tính trợ giúp điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh; học sinh chủ động trong việc tìm kiếm thông tin, chủ động nghiên cứu lĩnh hội tri thức, hình thành kĩ năng học độc lập, tự học, hình thành kĩ năng học nhóm, học cùng nhau thông qua liên hệ thư Email - giúp học sinh phát triển khả năng tự học, phong cách tự tin qua thuyết trình, một đề tài khoa học ứng dụng có kết hợp sử dụng máy tính

Các kĩ năng học tập độc lập, tự học, học nhóm, kĩ năng báo cáo, nĩ năng thuyết trình, kĩ năng đọc, kĩ năng viết, là những kĩ năng học tập truyền thống đã có từ lâu song trong điều kiện ứng dụng CNTT vào trong hoạt động dạy - học thì kĩ năng sử dụng CNTT đã làm phát triển kĩ năng giảng dạy và học tập ở một tầm cao mới Ngoài ra máy tính giúp người học tự đánh giá và giáo viên đánh giá học sinh thông qua các phần mềm dạy học thích hợp Việc đánh giá từng mặt hay toàn diện về sự lĩnh hội tri thức, về kĩ năng tùy thuộc vào phần mềm được lập trình sẵn Tùy theo yêu cầu của người sử dụng trong việc đánh giá mà chọn phần mềm thích hợp và sử dụng máy tính theo chức năng của nó Vấn đề kĩ năng đánh giá và tự đánh giá cũng đã có từ lâu, đây là nhiệm vụ của thầy và trò trong quá trình tổ chức dạy và học, song trong điều kiện ứng dụng CNTT, kĩ năng đánh giá và tự đánh giá cũng được phát triển bằng các phần mềm được lập trình sẵn, do đó đòi hỏi phải có kĩ năng sử dụng CNTT và kĩ năng lựa chọ, sử dụng phần mềm thích hợp

Qua phân tích như trên đã cho chúng ta thấy rõ vai trò của kĩ năng sử dụng CNTT

Kĩ năng sử dụng CNTT phải được rèn luyện và phát triển trong quá trình học tập cho học sinh THPT

Trang 39

1.5 Đặc điểm nhận thức của học sinh THPT

1.5.1 yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của học sinh THPT

vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Ở tuổi này, các

em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà

nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)

Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta hay nói: “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em

Điều kiện sống và hoạt động

Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha

mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình Có thể nói rằng cuộc sống của các em trong độ tuổi này là vừa học tập vừa lao động

Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em Việc

Trang 40

gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình

Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng,các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của

xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này

Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn Thái độ đối

xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là : Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn…

1.5.2 hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ

Hoạt động học tập

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn

Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em

đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh hiểu

ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự

Ngày đăng: 14/06/2017, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w