1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người khơme huyện kiên lương, tỉnh kiên giang

131 172 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức độ cần thiết của các biện pháp đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang ... Tính khả thi của các biện pháp đào tạo ngh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

-

HỒ HOÀNG KHANH

ĐÀO TẠO NGHỀ TRỒNG CÂY LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học GS.TS TRẦN QUỐC THÀNH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang”

dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trần Quốc Thànhlà công trình nghiên cứu

khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất

cứ một nghiên cứu nào khác

Tác giả

Hồ Hoàng Khanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến GS.TS Trần Quốc Thành, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu

đề tài luận văn tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm lý – Giáo dục học, trường Đại học sư phạm Hà Nội, các đồng chí cùng công tác tại đơn vị…., gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy,

cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Hồ Hoàng Khanh

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL CSXH

: :

Cán bộ quản lí Chính sách xã hội CSVC : Cơ sở vật chất CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

ĐTN

GD

: :

Đào tạo nghề Giáo dục

HV

KH

: :

Học viên

Kế hoạch

KT – XH LTTP

: :

Kinh tế - Xã hội Lương thực thực phẩm

NQ Nxb

: : Nghị quyết Nhà xuất bản

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

3.1 Khách thể nghiên cứu 3

3.2 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 4

6.2 Giới hạn khách thể điều tra 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận 5

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 5

7.2.2 Phương pháp quan sát 5

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn 5

7.3 Phương pháp xử lý số liệu 5

8 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TRỒNG CÂY LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Nghề, đào tạo và đào tạo nghề 12

1.2.1 Nghề 12

1.2.2 Đào tạo và quá trình đào tạo 14

1.2.2.1 Đào tạo 14

Trang 7

1.2.2.2 Quá trình đào tạo 15

1.2.3 Đào tạo nghề 15

1.2.3.1 Quan niệm về đào tạo nghề 15

1.2.3.2 Trình độ đào tạo nghề 15

1.2.3.3 Chất lượng đào tạo nghề 25

1.2.4 Đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm 26

1.3 Trường trung cấp nghề 27

1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Trường trung cấp nghề 27

1.3.2.1 Nhiệm vụ 27

1.3.2.2 Quyền hạn 28

1.3.3 Vai trò của các trường Trung cấp nghề đối với sự phát triển cộng đồng……… 28

1.4 Đặc trưng đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm ở trường Trung cấp nghề 29

1.5 Một số đặc điểm của cộng đồng người Khmer 30

1.6 Tổ chức đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người khmer 31

1.6.1 Xác định nhu cầu học nghề của cộng đồng 31

1.6.2 Xác định mục tiêu đào tạo 32

1.6.3 Xây dựng chương trình đào tạo 32

1.6.4 Xác định các nguồn lực phục vụ công tác đào tạo 33

1.6.4.1 Nhiệm vụ 33

1.6.4.2 Quyền hạn 33

1.6.5 Triển khai đào tạo 34

1.6.6 Đánh giá kết quả đào tạo 34

1.7 Các yêu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer 35

Trang 8

1.7.1 Các yếu tố thuộc về nhà quản lý, lãnh đạo (Ban giám hiệu, Phòng

chức năng, Ban chủ nhiệm khoa) 35

1.7.2 Các yếu tố thuộc về giáo viên và học viên 36

1.7.3 Các yếu tố thuộc về môi trường đào tạo nghề 37

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2.THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRỒNG CÂY LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM CHO CỘNG ĐỒNGNGƯỜI KHMERHUYỆN KIÊN LƯƠNG 40

2.1 Địa bàn và khách thể khảo sát 40

2.1.1 Vị trí địa lí và lịch sử phát triểncủa huyện Kiên Lương 40

2.1.2 Tình hình kinh tế -văn hóa- xã hội trong năm vừa qua 40

2.1.2.1 Về kinh tế 40

2.1.2.1 Về Văn hóa – xã hội 42

2.2 Tổ chức và phương pháp khảo sát 43

2.2.1 Mục đích khảo sát 43

2.2.2 Nội dung khảo sát 43

2.2.3 Đối tượng khảo sát 44

2.2.4 Phương pháp khảo sát 44

2.2.5 Công cụ khảo sát 44

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng 44

2.3.1 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer 44

2.3.2.Thực hiện công tác khảo sát nhu cầu học nghề trồng cây của cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương 46

2.3.3 Mục tiêu đào tạo 48

2.3.4 Chương trình đào tạo 50

2.3.5 Địa điểm tổ chức đào tạo 53

2.3.6 Đội ngũ giáo viêntham gia đào tạo 54

Trang 9

2.3.7 Học viên học nghề của cộng đồng người Khmer 56

2.3.8 Phương pháp dạy học trong quá trình đào tạo- 56

2.3.9 Hình thức tổ chức đào tạo 57

2.3.10 Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo 58

2.3.11 Công tác huy động cộng đồng trong đào tạo nghề 60

2.3.12.Hiệu quả đào tạo 61

2.4.Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm của cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương 62

2.5 Đánh giá chung về thực trạng 65

2.5.1 Những kết quả đạt được 65

2.5.2 Những vấn đề còn tồn tại 66

Tiểu kết chương 2 67

Chương 3.BIỆN PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ TRỒNG CÂY LƯƠNG THỰC,THỰC PHẨM CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMERHUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG 69

3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 69

3.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 76

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa phương 76

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 77

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 78

3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 78

3.2.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 79

3.3 Một số biện pháp đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang 79

3.3.1.Tổ chức khảo sát để nắm vững nhu cầu học nghề của cộng đồng người Khmer 79

3.3.1.1 Mục tiêu của biện pháp 79

Trang 10

3.3.1.2 Nội dung của biện pháp 79

3.3.1.3 Cách thức thực hiện biện pháp 80

3.3.1.4 Điều kiện thực hiện biện pháp 80

3.3.2 Xác định mục tiêu đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm phù hợp với nhu cầu của cộng đồng người Khmer 80

3.3.2.1 Mục tiêu của biện pháp 81

3.3.2.2 Nội dung của biện pháp 81

3.3.2.3 Cách thức thực hiện biện pháp 81

3.3.2.4 Điều kiện thực hiện biện pháp 81

3.3.3 Xây dựng chương trình đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm phù hợp 81

3.3.3.1 Mục tiêu của biện pháp 82

3.3.3.2 Nội dung của biện pháp 82

3.3.3.3 Cách thức thực hiện biện pháp 82

3.3.3.4 Điều kiện thực hiện biện pháp 82

3.3.4 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm 83

3.3.4.1 Mục tiêu của biện pháp 83

3.3.4.2 Nội dung của biện pháp 83

3.3.4.3 Cách thức thực hiện biện pháp 83

3.3.4.4 Điều kiện thực hiện biện pháp 84

3.3.5 Huy động các nguồn lực cộng đồng trong hoạt động đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm 84

3.3.5.1 Mục tiêu của biện pháp 84

3.3.5.2 Nội dung của biện pháp 84

3.3.5.3 Cách thức thực hiện biện pháp 85

3.3.5.4 Điều kiện thực hiện biện pháp 87

Trang 11

3.3.6 Tăng cường giám sát hoạt động đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm

87

3.3.6.1 Mục tiêu của biện pháp 87

3.3.6.2 Nội dung của biện pháp 87

3.3.6.3 Cách thức thực hiện biện pháp 88

3.3.6.4 Điều kiện thực hiện biện pháp 89

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89

3.5 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90

3.5.1 Khái quát chung về khảo nghiệm 90

3.5.1.1 Mục đích khảo nghiệm 90

3.5.1.2 Nội dung khảo nghiệm 90

3.5.1.3 Đối tượng khảo nghiệm 90

3.5.1.4 Phương pháp khảo nghiệm 90

3.5.1.5 Đánh giá kết quả khảo nghiệm 91

3.5.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 91

3.5.2.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang 91

3.5.2.2 Tính khả thi của các biện pháp đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang 93

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 12

DANH MỤC CÁCBẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Nhận thức của CBQL, GV; CB và HV về tầm quan trọng của hoạt động ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 45 Bảng 2.2 Thực trạng thực hiện việc khảo sát nhu cầu học nghề trồng cây LTTP của cộng đồng người Khmer 46 Bảng 2.3 Đánh giá về mục tiêu ĐTN cho cộng đồng người Khmer của trường TCN ……… 48 Bảng 2.4 Đánh giá của CBQL, GV và HV trường TCNvề chương trình ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 50 Bảng 2.5:Thực trạng địa điểm tổ chức đào tạo nghề 53 Bảng 2.6.Đánh giá của CBQL, GV trường TCN vềĐNGV tham gia ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 54 Bảng 2.7 Đánh giá về mức độ đáp ứng yêu cầu của hệ thống CSVC, trang thiết

bị phục vụ hoạt động đào tạo 59 Bảng 2.8 Đánh giá về hiệu quả đào taọ nghề 61 Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo nghề trồng cây lương thực,thực phẩm của cộng đồng người Khmer 62 Bảng 3.1 Đánh giá về mức độcần thiết của các biện pháp 91 Bảng 3.2 Đánh giá của các chuyên gia, các CBQL và giáo viên các trường TCN tỉnh Kiên Giang về tính khả thi của các biện pháp 93

Trang 13

DANH MỤC CÁCSƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1 Cấp độ phát triển kĩ năng, kĩ xảo 20

Sơ đồ 2 Cấp độ phát triển kiến thức 20

Sơ đồ 3 Cấp độ tích hợp sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và kiến thức 21 Biểu đồ 2.1.Nhận thức của CBQL, GV; CB các Ban, Ngành, Đoàn thể và HV về tầm quan trọng của công tác ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 45 Biều đồ 2.2 Thực trạng thực hiện công tác khảo sát nhu cầu học nghề trồng cây LTTP của cộng đồng người Khmer 47 Biểu đồ 2.3 Đánh giá về mục tiêu ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer của trường TCN 49 Biểu đồ 2.4 Đánh giá về chương trình ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer của trường TCN 52 Biểu đồ 2.5 Thực trạng địa điểm tổ chức ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 53 Biểu đồ 2.6 Đánh giá của CBQL, GV trường TCN về ĐNGV tham gia ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 55 Biểu đồ 3.1 Đánh giá về mức độcần thiết của các biện pháp ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 92 Biểu đồ 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp ĐTN trồng cây LTTP cho cộng đồng người Khmer 95

Trang 14

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghề nghiệp là phương tiện đảm bảo chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của con người Có nghề nghiệp con người mới có cuộc sống ổn định, mới làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa

Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế tại Nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng"[15] là một định thứ 5 mục III - đã nhấn mạnh: "Đổi mới căn bản công tác quản lí giáo dục, đào tạo, hướng quan trọng trong công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao Thực hiện tốt vấn đề này sẽ đóng góp một vai trò quan trọng trong việc phát triển giáo dục nước nhà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước [7] Tại điều 7, Luật dạy nghề đã nêu “Đầu tư mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng dạy nghề, góp phần đảm bảo cơ cấu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông, tạo điều kiện phổ cập nghề cho thanh niên và đáp ứng nhu cầu của người lao động”[20]

Trang 15

2

Từ thực tiễn công tác đào tạo nói chung và đào tạo nghề trình độ trung cấp nghề nói riêng hiện nay, chúng ta có thể nhận thấy, chất lượng đào đạo chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực có tay nghề, cơ cấu ngành nghề được đào tạo chưa đảm bảo sự cân đối Việc phát triển đội ngũ nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và cần thiết

Kiên Giang là một tỉnh đang có tiềm năng rất lớn về phát triển kinh tế nông nghiệp Quyết định số 1255/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển- xã hội tỉnh Kiên Giang thời kỳ đến năm

2020 đã nêu rõ “Phát triển ngành trồng trọt với cây lúa là cây trồng chủ lực,

ổn định diện tích canh tác lúa, hình thành vùng lúa quy mô tập trung, có chất lượng cao; phấn đấu sản lượng lúa năm 2015 đạt 3,5 triệu tấn, năm 2020 đạt 3,7 triệu tấn Quy hoạch ổn định các vùng trồng mía, khóm, tiêu, rau sạch, hoa, cây cảnh Phát triển ngành chăn nuôi đại gia súc, nuôi lợn, gia cầm theo hướng mở rộng chăn nuôi công nghiệp tập trung kết hợp với vệ sinh phòng dịch nghiêm ngặt”[25] Do vậy, các địa phương của tỉnh Kiên Giang có nhu

cầu rất lớn về nguồn nhân lực ngành trồng cây lương thực, thực phẩm được đào tạo

Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp của các địa phương tỉnh Kiên Giang, trong những năm qua, trong địa bàn tỉnh đã thành lập được 4 trường Trung cấp nghề: Trường Trung cấp nghề vùng Tứ Giác Long Xuyên, trường Trung cấp nghề Vùng U Minh Thượng, trường Trung cấp nghề Tân Hiệp và trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú Trải qua quá trình hình thành và phát triển, các trường đã có nhiều đổi mới trong công tác đào tạo và đã đạt được những kết quả nhất định, nguồn nhân lực được đào tạo đã tăng cả về số lượng và chất lượng, từng bước đáp ứng được nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề cung cấp cho các địa phương Tuy nhiên, công tác đào tạo còn tồn tại một số vấn đề như: Công tác tổ chức đào

Trang 16

3

tạo chưa được đồng bộ về mục tiêu, nội dung chương trình, đội ngũ GV, số lượng tuyển sinh hằng năm chưa đạt kế hoạch được giao, điều kiện CSVC còn bất cập, hạn chế nên chất lượng đào tạo còn chưa đáp được được yêu cầu về nguồn lao động hiện nay

Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng số lượng, tỉ lệ người dân tộc Khmer so với các dân tộc khác chiếm tỉ lệ rất lớn Từ xa xưa, người Khmer sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tập trung vào trồng các loại cây lương thực, thực phẩm Tuy nhiên, trình độ được đào tạo của nguồn lao động người Khmer còn hạn chế, do đó, chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng cây lương thực, thực phẩm chưa cao, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng người Khmer nói riêng, của tỉnh Kiên Giang nói chung Việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho người Khmer là vấn đề có ý nghĩa

khoa học và thực tiễn

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang”

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động hỗ trợ cộng đồng người Khmer của trường Trung cấp nghề

Trang 17

4

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

4 Giả thuyết khoa học

Công tácđào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giangđã được các cấp, các đơn vị quan tâm nhưng chưa thực sự đạt hiệu quả, chất lượng đào tạo nghề chưa cao Nếu nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp tổ chức đào tạo hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer

5.2 Đánh giá thực trạngđào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

5.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chứcđào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu về lí luận, thực trạng và đề xuất cácbiện pháp đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang và dừng lại ở việc khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất

6.2 Giới hạn khách thể điều tra

Trang 18

5

Đề tài khảo sát trên 10 chuyên gia thuộc lĩnh vực khoa học Giáo dục;

30 cán bộ quản lí, giáo viên và 50 học viên người Khmerhọc nghề trồng cây LTTP; 30 cán bộ các Ban, Ngành, Đoàn thể tại các trường TCNtỉnh Kiên Giang

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Nhóm phương pháp này dùng để thu thập, xử lí các tài liệu có liên quan, trên cơ sở đó xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp lí luận; phương pháp giả thuyết, phương pháp chứng

minh

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Xây dựng và sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của các cán

bộ quản lí, GV và HV về thực trạng đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

7.2.2 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Trò chuyện, phỏng vấn sâu để lấy ý kiến của học sinh, giáo viên, cán

bộ quản lí về hoạt động đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

7.3 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý những số liệu thu được từ thực trạng đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bằng thống kê toán học Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh

Trang 19

6

giá, lí giải nguyên nhân, đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng

và hiệu quả của hoạt động này

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận về đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer của trường Trung cấp nghề

Chương 2 Thực trạng đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer của trường Trung cấp nghề huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

Chương 3 Một số biện pháp đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm cho cộng đồng người Khmer huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang

Trang 20

7

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ TRỒNG CÂY LƯƠNG THỰC,

THỰC PHẨM CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Từ ngàn xưa cha ông đã khẳng định “Ruộng bề bề không bằng nghề trong tay” Đây cũng là nguyện vọng thiết tha, chính đáng của người Việt trong quá trình xây dựng đất nước ĐTN là hoạt động gắn với lịch sử phát triển thăng trầm của dân tộc, cho nên khó có thể tóm lược lịch sử vấn đề này một cách thật đầy đủ, chi tiết,

có hệ thống từ thời lập quốc cho đến nay Vì vậy luận văn chỉ đề cập đến lịch sử

ĐTN ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 đến nay và chủ yếu là trong thời kì “Đổi mới” từ

1986-2000

Trước cách mạng tháng 8-1945, dưới chế độ phong kiến và thực dân, cùng với sự tồn tại và phát triển nền văn minh nông nghiệp lúa nước kéo dài hàng ngàn năm, người Việt cổ tất yếu cũng phải truyền nghề cho các thế hệ nối tiếp để duy trì hoạt động sản xuất, chiến đấu bảo vệ đất nước Truyền nghề được thực hiện dưới dạng bắt chước một cách tự nhiên thời tiền sử; thời

kỳ bắt chước có ý thức và truyền nghề theo phường hội (Craftsmen’s trade)

guild-Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hình thức tổ chức đào tạo chính qui bắt đầu hình thành và phát triển Đầu tiên thực dân Pháp cho xây dựng một số trường dạy nghề ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam như: trường kĩ nghệ thực hành Hà Nội (1898), trường kĩ nghệ thực hành Huế (1899) và trường

Bá nghệ Sài Gòn (1898), trường kĩ nghệ thực hành Hải Phòng (1913) Sau

đó cho xây dựng tiếp 11 trường cao đẳng kĩ thuật (Ecole Superieure Technique), 12 trường dạy nghề (Ecole Professionelle) và 10 cơ sở đào tạo ngắn hạn (Atelier- ecole và Ecole de Meties)” [1] Đồng thời hàng loạt cơ

sở dạy nghề khác được thành lập với nhiều loại hình khác nhau như: lớp

Trang 21

Từ sau cách mạng tháng 8-1945, sự nghiệp ĐTN đã chuyển sang một giai đoạn lịch sử mới Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ, ĐTN chưa có điều kiện phát triển mạnh mẽ, chưa có quy mô rộng lớn nhưng đã có những chuyển biến kịp thời nhằm đào tạo đội ngũ công nhân, cán

bộ cho quốc phòng, y tế, nông nghiệp, sư phạm… theo phương châm trường lớp nhỏ, ngắn hạn, phân tán trong chiến khu, vùng tự do, vừa làm vừa học, coi trọng thực hành, gắn với thực tiễn, phù hợp với hoàn cảnh “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 cho đến năm 1975, đất nước tạm chia làm hai miền Nam, Bắc Miền Bắc bước vào thời kì xây dựng CNXH, đấu tranh thống nhất đất nước, Miền Nam bị thống trị bởi đế quốc

Mỹ – ngụy Trong bối cảnh lịch sử đó, tại miền Bắc ngành dạy nghề đã phát triển nhanh, đặc biệt là khi có sự hỗ trợ có hiệu quả của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô cũ Ngày 9-10-1969 Chính phủ đã ban hàng Nghị định

số 200/CP về việc thành lập Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật, có thể coi đây là mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển ĐTN theo hướng chính qui, tập trung Ở Miền Nam từ 1954 đến 1975, ĐTN cũng trải qua nhiều biến động và xuất hiện sự du nhập tư bản vào các xí nghiệp ở các thành phố, các khu công nghiệp như Biên Hòa, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định đòi hỏi một lực lượng lớn lao động kĩ thuật phục vụ cho bộ máy chiến tranh và đô thị hóa với

4 nhóm ngành lớn:

- Ngành kĩ công nghệ: kĩ nghệ sắt, đúc, luyện kim, cơ khí;

Trang 22

9

- Ngành tiểu công nghệ: sơn mài, chạm trổ, trang trí, ấn loát;

- Ngành nữ công gia chánh: thời trang, nấu ăn, thêu đan, mỹ viện;

- Ngành thương mại: đánh máy chữ, kế toán, tiếp thị

Chiến thắng lịch sử của cách mạng Việt Nam ngày 30/04/1975 đã thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước tiến lên sản xuất lớn Giai đoạn này, ĐTN phát triển mạnh để góp phần đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng vẫn chịu ảnh hưởng, chi phối của nền kinh tế với cơ chế

kế hoạch hóa tập trung bao cấp

Đến năm học 1985-1986, cả nước có tới 366 trường dạy nghề chính qui với quy mô đào tạo lên đến 256.000 học sinh; 212 trung tâm dạy nghề quận, huyện đào tạo nghề ngắn hạn, các ngành nghề truyền thống của địa phương được phục hồi và phát triển Đặc biệt từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), với chủ trương “mở cửa”, thực hiện cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế có sự điều tiết của Nhà nước, đã tạo ra một giai đoạn phát triển mới của ĐTN vươn lên đáp ứng nhu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập khu vực và quốc tế

Ngày 23 tháng 5 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 33/1998/NĐ-CP về việc tái thành lập Tổng cục dạy nghề (trực thuộc Bộ Lao Động – thương binh và xã hội) Để đáp ứng mục tiêu đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập khu vực, quốc tế, trong những năm qua, hệ thống ĐTN không ngừng phát triển quy mô, số lượng trường lớp, học sinh và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, mặc dầu vậy vẫn còn rất nhiều bất cập trước yêu cầu của thực tiễn

ĐTN ở Việt Nam đã có một lịch sử phát triển lâu dài gắn bó với bao sự thăng trầm, biến đổi của đất nước Song để nghiên cứu ĐTN một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống thì chưa có một công trình nào thật sự hoàn

Trang 23

10

chỉnh Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây, do yêu cầu bức bách của thực tiễn đã xuất hiện những công trình nghiên cứu có ý nghĩa ứng dụng, đúc kết kinh nghiệm cho các cơ sở dạy nghề

Một số công trình nghiên cứu về lịch sử ngành dạy nghề như: “100 năm thành lập Trường trung học Công nghiệp I Hà Nội” của Đinh Văn Mộng (1986); “80 năm Trường kỹ thuật Cao Thắng” của Phạm Quốc Tường (1994)

và “90 năm Trường kĩ nghệ Thực Hành Huế” của Chu Quang Trứ (2000);

- “Những nét cơ bản về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thành phố

Hồ chí Minh” của Hồ Bá Tiểu (1998);

- “Nghiên cứu sự phát triển sư phạm kỹ thuật trên thế giới và trong nước để áp dụng vào trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh” của tập thể Nguyễn Thụy Ái, Đỗ Thành Long, Lê Đình Viện (1997)

Ngoài những công trình nghiên cứu ứng dụng cụ thể của một số tác giả còn có một số công trình nghiên có ý nghĩa lí luận và định hướng như:

- “Nghiên cứu đổi mới đào tạo trung học chuyên nghiệp ở Việt nam tới năm 2005” của Nguyễn Viết Sự;

- “Từ Bộ quốc gia giáo dục đến Bộ giáo dục và Đào tạo” của tác giả Lê Văn Giạng, Nguyễn Đước, Nguyễn Tùy (1995);

- “Một số xu thế về đào tạo nghề trước ngưỡng của thế kỷ XXI” của Nguyễn Minh Đường (2000)

Đối với Việt Nam, do điều kiện lịch sử, nền kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp lạc hậu kéo dài, không trải qua nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và hàng thế kỉ phải đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc nên vấn đề phát triển ĐTN cũng như các nghiên cứu khoa học về ĐTN chỉ mới xuất hiện trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là từ khi kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 24

11

Từ năm 1978 đến 1986 đã có những công trình nghiên cứu ở Viện nghiên cứu khoa học dạy nghề (Tổng cục dạy nghề) có liên quan đến đào tạo nghề đáng lưu ý:

- “Nghiên cứu, tổ chức biên soạn kế hoạch giảng dạy và chương trình môn học” của Nguyễn viết Sự;

- “Mục tiêu cơ cấu hệ thống dạy nghề” của Nguyễn Minh Đường;

- “Mô hình giáo viên dạy thực hành” của Nguyễn Hùng Sinh;

- “Nghiên cứu thực nghiệm phương pháp dạy học nên vấn đề” của Đặng Danh Ánh;

- Dự án nghiên cứu tổng thể UNDP, UNESCO và Bộ giáo dục và Đào tạo VIE/89/002;

- Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề TA 2761-VIE của Bộ giáo dục

và đào tạo và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

- Tổng kết 10 năm đổi mới ngành giáo dục chuyên nghiệp giai đoạn 1986-1995 của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục;

- “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế trong điều kiện mới” (Đề tài khoa học cấp nhà nước KX 07-14)

Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã có những tác động nhất định đối với lĩnh vực ĐTN ở các cấp độ, các bình diện khác nhau, nhưng vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu, đề án đi sâu vào việc nghiên cứu lí luật và thực tiễn ĐTN trồng cây lương thực, thực thẩm cho cộng đồng người Khmer

Vì vậy, luận văn tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau:

- Cơ sở lí luận về đào tạo nghề trồng cây lương thực thực phẩm cho cộng đồng người Khmer

Trang 25

Những vấn đề trên đây cũng chính là những vấn đề còn mới hoặc chưa được đề cập đến một cách sâu sắc, cụ thể trong các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả trước đây

1.2 Nghề và đào tạo nghề

1.2.1 Nghề

Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Dưới đây là một số khái niệm về nghề

Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: "Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn"

Khái niệm nghề ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng,

kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống"

Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: "Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật"

Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: "Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó"

Theo tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Nghề là một hình thức phân công lao động, đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định Nghề được hình thành trên cơ sở phân công lao động xã hội, mỗi nghề có những yêu cầu về kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành tương ứng, như vậy cùng với sự phát triển

Trang 26

13

nhanh chóng của kinh tế - xã hội, sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc thì đồng thời cũng xuất hiện những nghề mới và yêu cầu về kiến thức lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành cũng có sự thay đổi và phát triển nghĩa Mỗi nghề khác nhau thì có một mục tiêu đào tạo khác nhau, căn cứ mục tiêu đào tạo, Nhà Nước ban hành bản danh mục nghề đào tạo.Nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau

Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội

Theo từ điển tiếng Việt: “Nghề là công việc luôn làm theo sự phân

công lao động của xã hội[18]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc

điểm chung, gần giống nhau hoặc được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [10]

Như vậy, nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của

xã hội

Trang 27

Theo Nguyễn Minh Đường, đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích,

có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mọi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả [8]

Theo Đào Quang Ngoạn: đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích,

có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ, nhân cách… trong lí thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực cho mỗi cá nhân để thực hiện thành công một hoạt động chuyên môn nhất định Quá trình này được thực hiện chủ yếu trong hệ thống các nhà trường chuyên nghiệp (TCCN, Dạy nghề) và hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng với những chương trình, mục tiêu, nội dung, phương pháp, qui trình đào tạo cụ thể nhằm giúp người học đạt được trình độ đào tạo nhất định về một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập nghiệp Khi nói đến đào tạo là nói đến lĩnh vực cung ứng nguồn nhân lực cho các hoạt động kinh tế - xã hội [16]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản VHTT-1999 thì thuật

Trang 28

và thái độ của người lao động nhằm xây dựng nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động trong cuộc sống xã hội

1.2.2.2 Quá trình đào tạo

Quá trình đào tạo hiểu theo nghĩa hẹp, là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn bộ hoạt động của nhà trường Do đó quản lí quá trình đào tạo là bộ phận chủ yếu nhất trong toàn bộ công tác quản lí của nhà trường

Sự phân hóa của quá trình đào tạo trong nhà trường chính là nền tảng để phân hóa chức năng, xác định cơ chế tổ chức quản lí và tổ chức chỉ đạo hoạt động đào tạo trong nhà trường

Quá trình đào tạo do nhà trường quản lí nhưng nó quan hệ tương tác, liên thông với các tổ chức đào tạo khác hoặc các tổ chức, cơ quan khác mà sinh viên có điều kiện tham gia hoạt động

Quản lí quá trình đào tạo có nhiệm vụ quản lí sự hoạt động của cán bộ, giáo viên, sinh viên, … Vì vậy, có thể xem quản lý quá trình đào tạo về thực chất đó là quản lí các hoạt động của giáo viên, sinh viên trong việc thực hiện

kế hoạch và nội dung chương trình đào tạo của nhà trường

1.2.3 Đào tạo nghề

1.2.3.1 Quan niệm về đào tạo nghề

Đào tạo nghề là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp; ĐTN là nhằm hướng vào hoạt động nghề nghiệp

và hoạt động xã hội Mục tiêu đào tạo là trạng thái phát triển nhân cách được

dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và được hiểu là chất lượng

Trang 29

16

cần đạt tới đối với người học sau quá trình đào tạo Có rất nhiều định nghĩa

về ĐTN, có thể nêu một số định nghĩa cụ thể sau:

Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề[28, tr 331]

- William Mc.Gehee (1979): ĐTN là những quy trình mà những công

ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty;

- Max Forter (1979) cũng đưa ra khái niệm và ĐTN phải đáp ứng việc hoàn thành 4 điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học; phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; Tạo ra sự thay đổi trong hành vi; Đạt được những mục tiêu chuyên biệt

- Tack Soo Chung (1982): ĐTN là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc được áp dụng đối với những người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động ĐTN được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trường dạy nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cường cơ hội việc làm và cải thiện địa vị người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội;

Trang 30

17

- Leconnard Nadler (1984): ĐTN là để học được những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc hiện tại;

- Roger James (1995): ĐTN là cách thức giúp người ta làm những điều

mà học không thể làm được trước khi họ được học;

- ILO định nghĩa: ĐTN là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao

Khi tiếp cận dưới góc độ quản lí, tác giả nhận thấy các định nghĩa trên đều là kinh điển, song chưa thật đầy đủ vì chưa đề cập đến nội dung quan trọng nhất, đó là việc làm Tác giả cho rằng đào tạo nghề là quá trình giáo dục, phát triển một cách có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và khả năng tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm

Rất rõ ràng nếu người tốt nghiệp không có khả năng tìm được việc làm hoặc không biết tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường, thì ĐTN sẽ không mang lại hiệu quả, tốn kém vô ích và cũng chỉ góp phần nâng cao dân trí giống như giáo dục phổ thông mà thôi

- Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai” Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau

Đó là:

+ Dạy nghề: Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp

+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lí thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”

Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kĩ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo

Trang 31

18

nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề

Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội

Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kĩ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới

Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người lao động

có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề

Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng

cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn

Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn

Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Theo qui định của Luật giáo dục, hệ thống giáo dục bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề, giáo dục đại học và sau đại học

Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận những công việc được đáp ứng với những người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động ĐTN được thực hiện tại nơi lao động, Trường đào tạo, các trường dạy nghề, các lớp không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cường cơ hội việc làm và cải thiện địa vị cho người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh

Trang 32

19

tế - xã hội

Đào tạo nghề là để học những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc hiện tại Vì vậy có thể hiểu, đào tạo nghề là quá trình giáo dục, phát triển nhân cách, phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp và khả năng tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm

Mục tiêu đào tạo nghề là trạng thái phát triển nhân cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và được hiểu là chất lượng cần đạt tới đối với người học sau quá trình đào tạo

1.2.3.2 Trình độ đào tạo nghề

Ngay khi bắt đầu bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô, khi bàn về việc nâng cao trình độ cho người lao động và thanh niên, V.I Lênin đã nhấn mạnh: “Giáo dục nghề nghiệp không được mang dấu ấn của nền sản xuất thủ công mà phải có quan hệ với những tri thức phổ thông và kỹ thuật tổng hợp, phải dựa trên sự thống nhất giữa học tập và lao động sản xuất” Người còn chỉ ra nhiệm vụ của Nhà trường là: làm cho những người thợ đồ gỗ, thợ mộc, thợ nguội hiểu biết đầy đủ công việc của mình, có đầy đủ khả năng trở thành thợ lành nghề và thực sự phải được chuẩn bị như vậy [12,tr.230]

Tuy nhiên, đối với người học nghề nếu chỉ có sự hiểu biết là chưa đầy đủ,

họ cần phải có khả năng làm được một cái gì đó sau khi học nghề Vì vậy,

“Trình độ thành thạo, tinh thông của công nhân có tay nghề là điều quan trọng mang tính trung tâm đối với tính linh hoạt và năng suất của lực lượng lao động” [29,tr.9]

Trình độ đào tạo nghề được biểu hiện qua năng lực hành nghề (năng lực thực hiện), bởi vì theo William Blank “Năng lực của con người là khả năng thực hiện, nếu chỉ có kiến thức đơn độc thì sẽ rất ít có giá trị trong cuộc sống’

Trang 33

20

Theo ILO, năng lực nghề là “Sự vận dụng các kỹ năng, kiến thức và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn công nghiệp và thương mại dưới các điều kiện hiện hành’

* Năng lực nghề

Trình độ ĐTN được xây dựng theo năng lực thực hành nghề (kiến thức,

kỹ năng, thái độ) và bao gồm các cấp độ sau:

- Cấp độ phát triển của kỹ năng, kỹ xảo bao gồm các giai đoạn: bắt chước, vận dụng, thực hiện chính xác, ăn khớp và tự động hóa các thao tác, động tác

Sơ đồ 1 Cấp độ phát triển kĩ năng, kĩ xảo

- Cấp độ phát triển của kiến thức bao gồm các giai đoạn: Hiểu biết, thừa nhận và nhắc lại; khả năng lĩnh hội, giải thích phân tích, tổng hợp, khái quát và khả năng áp dụng vào thực tiễn trong những hoàn cảnh mới

Sơ đồ 2 Cấp độ phát triển kiến thức

Khả năng áp dụng vào hoàn cảnh mới

Trang 34

21

- Cấp độ tích hợp giữa kiến thức, kỹ xảo và kỹ năng sẽ tạo nên năng lực hành nghề của người lao động, năng lực hành nghề phát triển theo các cấp độ khác nhau thích ứng với hoạt động nghề nghiệp

Tích hợp giữa kiến thức, kỹ xảo và kỹ năng là cốt nõi năng lực hành nghề của người lao động Trong hệ thống ĐTN cần có nhiều cấp trình độ đào tạo dựa trên cơ sở năng lực nghề nghiệp Năng lực hành nghề là khả năng và sự sẵn sàng hành động một cách độc lập, phù hợp với đối tượng trong các tình huống hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội Trong cơ chế thị trường năng lực hành nghề cũng chính là khả năng tìm kiếm việc làm và tự tạo việc làm để lập thân, lập nghiệp

Sự phát triển của kỹ năng, kỹ xảo

Sơ đồ 3 Cấp độ tích hợp sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và kiến thức

Năng lực hành nghề được hình thành và phát triển trên cơ sở năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội (năng lực giao tiếp)

Khả năng áp dụng vào hoàn cảnh mới

Ăn khớp

Tự động hóa

Trang 35

22

- Năng lực chuyên môn: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến

thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp cụ thể,

có thể làm, thu thập thông tin và xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống diễn

ra trong thực tiễn;

- Năng lực phương pháp: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng các kiến

thức, kỹ năng đã tiếp thu được sao cho thích hợp với hoàn cảnh mới trong một môi trường cụ thể, có khả năng xử lý thông tin trong quá trình lao động và học tập, đưa ra các giải pháp thích ứng để giải quyết các nhiệm vụ mới xuất hiện trong công việc Có khả năng làm chủ thực tiễn để giải quyết các vấn đề nghề nghiệp và xã hội

- Năng lực xã hội: Là khả năng và sự sẵn sàng sử dụng phương pháp

học tập, đề ra chiến lược, chiến thuật trong việc tự đào tạo và bồi dưỡng Đồng thời có khả năng phối hợp với đồng nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, biết tổ chức phối hợp để làm việc theo tổ nhóm

* Yêu cầu về trình độ đào tạo nghề

Yêu cầu về trình độ đào tạo của người lao động ngày càng cao do yêu cầu của lao động để có thể tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các quá trình sản xuất và tổ chức cuộc sống xã hội

Quan niệm về ĐTN ngày nay phải được hiểu rộng hơn do những biến động của khoa học và công nghệ “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra bước ngoặt cơ bản biến đổi toàn bộ những yếu tố của lực lượng sản xuất, đề

ra những yêu cầu ngày càng cao đối với thành phần và phẩm chất lực lượng lao động, quy định tính tất yếu phải đào tạo những công nhân phát triển toàn diện, có tay nghề cao” [63,tr.40]

Người công nhân, nhân viên nghiệp vụ không chỉ biết thực hiện nhiệm

vụ, công việc đơn thuần mà còn phải có khả năng thực hiện chúng một cách sáng tạo, chỉ như vậy mới có nhiều cơ hội tìm được việc làm Vì vậy, người

Trang 36

23

học phải có năng lực thích ứng với những thay đổi, sáng tạo và có khả năng nắm bắt thông tin, năng lực sáng tạo thể hiện ở tính thích ứng với thay đổi, khả năng nắm bắt và xử lý thông tin Lĩnh vực sáng tạo luôn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bàn tay và khối óc, đặc biệt trong một số ngành nghề mới,

kỹ thuật cao, người thợ phải được đào tạo ở trình độ cao hơn Rất rõ ràng việc thiếu lao động kỹ thuật có trình độ cao là khoảng trống trong cơ cấu nhân lực hiện nay bắt nguồn từ quan điểm không đúng, không đầy đủ về ĐTN

ĐTN phải xác định rõ khả năng thích ứng linh hoạt với công nghệ trong sản xuất Việc áp dụng công nghệ tiên tiến đã làm thay đổi yêu cầu về kỹ năng nghề cũng như yêu cầu đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao cho người lao động trong quá trình làm việc Thực tế đòi hỏi phải áp dụng kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất ngày càng cao, tất yếu dẫn đến những yêu cần khắt khe, nghiêm ngặt về chất lượng Không chỉ công nghệ mà quá trình tổ chức sản xuất cũng thay đổi Sự phân chia tách bạch trong nhiệm vụ sản xuất được thay đổi bằng công việc hướng dẫn về kỹ năng xử lý thông tin nhiều hơn, nhu cầu liên ngành nghề xuất hiện như cơ – điện, điện – điện tử, kỹ thuật số… Mặt khác người lao động sẽ phải giao tiếp nhiều hơn, rèn khả năng làm việc theo nhóm và tập trung suy nghĩ về kỹ năng xử lý

Nếu ĐTN chỉ chủ yếu tập trung vào nội dung kỹ thuật thì sẽ là sai lầm nghiêm trọng, ĐTN còn phải chú trọng đến những khía cạnh năng lực phân tích và năng lực xã hội, như làm thế nào để giải quyết một vấn đề (về mặt phương pháp) và làm thế nào để lao động có hiệu quả trong một nhóm (khía cạnh xã hội) Hiện nay các nhà cung cấp và sử dụng công nghệ tiên tiến nhận thức rằng, việc thu hút công nhân, nhân viên lành nghề kỹ thuật cao ngày càng trở nên khó khăn hơn Để giải quyết vấn đề này tác giả cho rằng các cơ

sở đào tạo cần phối hợp với doanh nghiệp cùng tham gia quá trình thiết kế nội

Trang 37

24

dung và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, cùng sử dụng cơ sở vật chất

và cùng chia sẻ kết quả đào tạo

* Phân loại cấp trình độ đào tạo nghề

Trình độ đào tạo được xác định bởi mức độ phức tạp của lao động chân tay và lao động trí óc Phạm vi các kiến thức, các khả năng và kĩ năng cần có để thực hiện các công việc với các mức độ phức tạp khác nhau được phân loại như sau:

- Đối với các nước Đông Âu: Phân loại trình độ chuyên môn trên cơ sở

mức độ phức tạp của lao động chân tay và trí óc Phạm vi kiến thức, các khả năng và kĩ năng cần có để thực hiện các loại lao động với các mức độ phức tạp khác nhau được phân loại thành 4 trình độ chuyên môn như sau:

+ Trình độ I: Công nhân tiếp thu hiểu biết qua người trực tiếp chỉ đạo mình

Loại công nhân này gọi là công nhân qua kèm cặp hoặc công nhân không qua đào tạo

+ Trình độ II: Công nhân đã tốt nghiệp một khóa đào tạo của trường dạy

nghề, đã qua một kì kiểm tra chuyên môn Loại này được gọi là công nhân được đào tạo ít

+ Trình độ III: Công nhân đã đỗ kì thi tốt nghiệp khóa đào tạo công

nhân (kỳ thi để trở thành công nhân chuyên nghiệp) là công nhân đã được đào tạo hoặc công nhân có trình độ chuyên môn

+ Trình độ IV: Công nhân có trình độ chuyên môn, đã qua một khóa học đào

tạo, nâng cao trình độ Loại này được gọi là công nhân có trình độ chuyên môn cao

- Đối với các nước phát triển phân loại cấp trình độ đào tạo như sau:

+ Công nhân bán lành nghề (Semi SkilledWorker): Công nhân tại cấp độ này có một số kỹ năng cơ bản nhất định Nhiệm vụ của họ là thực hiện các hoạt động có tính lặp lại và thực hiện công việc được phân công khi có người giám sát

Trang 38

25

+ Công nhân lành nghề (SkilledWorker) : Công nhân tại cấp độ này có thể làm việc trong những điều kiện phù hợp với các tiêu chuẩn nhất quán Nhiệm vụ của họ là biết sử dụng các dụng cụ cầm tay và các thiết bị khác, hướng di chuyển hoặc xếp đặt máy móc thiết bị hoặc nguyên vật liệu, quyết định quy trình làm việc tuân theo các tiêu chuẩn hiện hành

+ Công nhân lành nghề trình độ cao (High SkilledWorker): Công nhân tại cấp độ này có thể thực hiện một phạm vi kĩ năng rộng với năng lực ở cấp độ cao

Họ có kĩ năng và trí tuệ giải quyết các vấn đề, ra quyết định, giúp đỡ các công nhân bậc thấp hơn Trong một số ngành nghề người công nhân phải có trình độ kĩ thuật viên (kiến thức tương đương bậc cao đẳng hoặc kĩ sư thực hành)

+ Kĩ thuật viên hay trình độ lành nghề, trình độ cao là yêu cầu khách quan nhằm thích ứng với những biến động nhanh chóng của khoa học, kĩ thuật, công nghệ sản xuất trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa

1.2.3.3 Chất lượng đào tạo nghề

Chất lượng là sự tồn tại và sự sống còn của các cơ sở đào tạo trong cơ chế thị trường, Có nhiều định nghĩa và cách lý giải khác nhau về chất lượng đào tạo, có ý kiến cho rằng chất lượng là sự xuất chúng, tuyệt hảo, là giá trị bằng tiền, là sự biến đổi về chất và là sự phù hợp với mục tiêu

Chất lượng trong giáo dục và trong ĐTN là vấn đề trừu tượng, phức tạp và

là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm và cảm nhận được Tuy nhiên, đánh giá và kiểm định chất lượng có thể thông qua các yếu tố gián tiếp và ít trừu tượng như thông qua chương trình đào tạo, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tìm được việc làm, cơ sở hạ tầng, môi trường…Có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng song qua nghiên cứu những khái niệm khác nhau về chất lượng trong các lĩnh vực

có thể lựa chọn cách tiếp cận theo quan điểm quản lý chất lượng: Chất lượng ĐTN được coi là sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu của thị trường sức lao động

Chất lượng ĐTN có hai phần:

Trang 39

26

+ Phần cứng: Là bộ ba kiến thức, kỹ năng, thái độ người học tiếp thu

trong quá trình đào tạo (chiếm khoảng 60%-70% giá trị)

+ Phần mềm: Là năng lực sáng tạo và thích ứng (chiếm khoảng 30% -

1.2.4 Đào tạo nghề trồng cây lương thực, thực phẩm

ĐTN trồng cây lương thực, thực phẩm là quá trình đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật có trình độ nghề làm việc trong ngành trồng trọt Học sinh có kiến thức về xác định ưu, nhược điểm của từng phương pháp chọn tạo giống cây lương thực, thực phẩm; lựa chọn được giống cây lương thực, thực phẩm, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản phù hợp trong nghề trồng cây lương thực thực phẩm; thực hiện đúng quy trình các biện pháp kỹ thuật: sản xuất cây giống, làm đất bón phân, quản lí dịch hại, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản cây lương thực, thực phẩm; sản xuất được cây lương thực, thực phẩm

Có kĩ năng về khảo sát môi trường và thành lập kế hoạch, tổ chức kinh doanh, sản xuất các sản phẩm cây lương thực, thực phẩm đạt hiệu quả; thiết kế và xây dựng được mô hình trồng cây lương thực, thực phẩm đạt yêu cầu kỹ thuật; thực hiện sản xuất cây giống, làm đất, bón phân, điều tiết sinh trưởng, phát triển, quản lí dịch hại, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm cây lương thực, thực phẩm một cách thành thạo đảm bảo hiệu quả, an toàn và bảo vệ môi trường; vận dụng sáng tạo kiến thức lý thuyết vào thực hành ngoài đồng ruộng; Sử dụng và bảo trì được một số dụng cụ, máy móc để sản xuất cây lương thực, thực phẩm đảm bảo hiệu quả và chất lượng cao; tổng

Trang 40

27

hợp và xử lí các số liệu liên quan tới sản xuất, kinh doanh cây lương thực, thực phẩm

1.3 Trường trung cấp nghề

1.3.1 Trường trung cấp nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân

Trường trung cấp nghề là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

là đơn vị sự nghiệp có thu, chịu sự quản lí nhà nước thống nhất về dạy nghề của Bộ lao động thương binh và xã hội; đồng thời chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan ra quyết định thành lập

1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Trường trung cấp nghề

1.3.2.1 Nhiệm vụ

Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ trung cấp nghề, sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng thị trường lao động

+ Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo

+ Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề

+ Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội

+ Tuyển dụng, quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên của trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật

+ Tổ chức nghiên cứu khoa học ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao

Ngày đăng: 14/06/2017, 10:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w