Hiệu trưởng quản lý việc thực hiện các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non .... Thực trạng nhận thức và sự quan tâm của gia đìn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
017
Tác giả
Phùng Thị Huệ
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Đề tài “Biện pháp phối hợp giữa nhà trường gia đình và cộng đồng trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” là một đề tài khá mới mẻ Trên cơ sở lý luận, vốn kiến thức và kinh nghiệm qua quá trình công tác bản thân cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô, sự giúp đỡ của bạn, đồng nghiệp tôi đã hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy, cô đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh đã giúp đỡ tôi nghiên cứu thành công luận văn này Xin cảm ơn Sở GD&ĐT Quảng Ninh, Lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Móng Cái, Lãnh đạo Phòng GD&ĐT thành phố Móng Cái, Ban giám hiệu, giáo viên các trường mầm non của thành phố Móng Cái, các đồng nghiệp bạn
bè, gia đình…đã giúp đỡ động viên tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song chắc chắn trong luận văn vẫn còn nhiều hạn chế, tôi rất mong nhận được ý góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả
Phùng Thị Huệ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Ở nước ngoài` 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Trường mầm non 8
1.2.2 Gia đình 9
1.2.3 Cộng đồng 10
1.2.4 Phối hợp giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng 10
1.2.5 Biện pháp phối hợp giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng 11
1.3 Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 12
1.3.1 Sự cần thiết phải phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 12
Trang 51.3.3 Mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà
trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 14
1.4.2 Hiệu trưởng quản lý việc thực hiện các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 22
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 25
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 25
1.5.2 Các yếu tố khách quan 26
Kết luận chương 1 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON, THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 30
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và giáo dục mầm non tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 30
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội của thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 30
2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 31
2.2 Thực trạng nhận thức và sự quan tâm của gia đình, cộng đồng về công tác phối hợp với nhà trường trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 35
2.2.1 Đặc trưng lao động nghề nghiệp của Cha, Mẹ và điều kiện kinh tế gia đình, cộng đồng 35
2.2.2 Nhận thức và sự quan tâm của gia đình và cộng đồng về chăm sóc giáo dục trẻ mầm non 37
2.2.3 Nhận thức của nhà trường, gia đình và cộng đồng về sự cần thiết, vai trò của phối hợp nhà trường, gia đình và cộng đồng trong nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 43
Trang 62.3 Thực trạng công tác phối hợp nhà trường, gia đình và cộng đồng trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ thành phố Móng Cái, tỉnh
Quảng Ninh 47
2.3.1 Thực trạng thực hiện công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 47
2.4 Thực trạng quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 52
2.4.1 Thực trạng nhận thức của Hiệu trưởng về mục đích phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 52
2.4.2 Thực trạng chỉ đạo lập kế hoạch công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 54
2.4.3 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 55
2.4.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong công tác CS, GD trẻ MN 56
2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS-GD trẻ MN 57
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 62
2.6.1 Những kết quả đạt được 62
2.6.2 Những hạn chế 62
2.6.3 Nguyên nhân của các hạn chế 62
Tiểu kết chương 2 64
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 65
3.1 Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu, tính thực tiễn 65
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 65
Trang 73.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 66
3.2 Các biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 66
3.2.1 Tổ chức tăng cường nhận thức về phối hợp giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 66
3.2.2 Xây dựng chương trình, nội dung và kế hoạch phối hợp nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non. 69
3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng năng lực thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non cho giáo viên 71
3.2.4 Tăng cường công tác tham mưu, đề xuất các hoạt động phối hợp giữa trường mầm non với Cha, mẹ và các tổ chức cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 73
3.2.5 Tăng cường kiểm tra, đánh giá sự phối hợp nhà trường và gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 74
3.2.6 Huy động mọi nguồn lực để đảm bảo các điều kiện phối hợp giữa nhà trường và gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 76
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 81
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 82
3.4.1 Các bước tiến hành khảo nghiệm 82
3.4.2 Kết quả khảo sát và kết luận 84
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Quy mô mạng lưới trường, lớp, trẻ mầm non thành phố Móng Cái
năm học 2016- 2017 32
Bảng 2.2: Số lượng CBQL và GVMN thành phố Móng Cái 32
Bảng 2.3: Trình độ chính trị đội ngũ CBQL, GVMN thành phố Móng Cái 33
Bảng 2.4: Trình độ đào tạo của CBQL, GVMN thành phố Móng Cái 33
Bảng 2.5: Tỷ lệ GVMN/ trẻ các độ tuổi ở thành phố Móng Cái 34
Bảng 2.6: Giáo viên dạy giỏi bậc học MN thành phố Móng Cái 34
Bảng 2.7: Khảo sát nghề nghiệp Cha, Mẹ trẻ 36
Bảng 2.8: Mức thu nhập bình quân của gia đình trẻ / tháng 37
Bảng 2.9: Ý kiến của Cha, Mẹ về các mục tiêu, nội dung CS, GD trẻ MN 38
Bảng 2.10: Ý kiến của Cha, Mẹ về các phương pháp giáo dục trẻ MN 39
Bảng 2.11: Sự quan tâm của gia đình trong CS-GD trẻ mầm non 40
Bảng 2.12: Sự quan tâm của đại diện cộng đồng, các tổ chức chính trị về chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non 42
Bảng 2.13: Mục đích của việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ mầm non 43
Bảng 2.14: Nhận thức về sự cần thiết phải phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ 44
Bảng 2.15: Nhận thức về sự cần thiết thực hiện các nội dung phối hợp giữa trường MN, Cha, Mẹ và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN 45
Bảng 2.16: Ý kiến của Cha, Mẹ về sự cần thiết thực hiện các hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong CS, GD trẻ 46
Bảng 2.17: Thực trạng thực hiện công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ mầm non 48
Trang 9Bảng 2.18: Thực trạng thực hiện các nội dung phối hợp giữa Cha, Mẹ, cộng
đồng với nhà trường trong CS, GD trẻ 49
Bảng 2.19: Thực trạng thực hiện các hình thức phối hợp trong chăm sóc, giáo dục trẻ 50
Bảng 2.20: Thực trạng thực hiện các biện pháp phối hợp của Cha, Mẹ, cộng đồng với Nhà trường 51
Bảng 2.21: Nhận thức của Hiệu trưởng về mục đích phối hợp nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN 53
Bảng 2.22: Thực trạng chỉ đạo lập kế hoạch công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN 54
Bảng 2.23: Mức độ thực hiện và hiệu quả của công tác tổ chức, chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN 55
Bảng 2.24: Thực trạng thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc CS, GD trẻ MN 56
Bảng 2.25: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác phối hợp 58
giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN 58
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của 6 biện pháp 84
Biểu đồ 3.1: So sánh tính cần thiết và tính khả thi của 6 biện pháp 85
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là thế hệ trong tương lai của đất nước Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội Trong những năm qua Đảng và Nhà nước Việt Nam có nhiều chủ trương phát triển GDMN, được thể hiện thông qua hệ thống các văn bản quan trọng Trong Chiến lược giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 xác định rõ quan điểm: GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục đào tạo, giáo dục toàn diện cho trẻ về lĩnh vực phát triển thể chất, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm kỹ năng xã hội, phát triển thẫm mỹ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ngày 4/11/2013 với mục tiêu là:
"Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo”, trong đó xác định: "
mầm no
theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục"
Các văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định về sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong thực hiện mục tiêu giáo dục các cấp Điều 93 Luật giáo dục 2005 ghi rõ "Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục" Trong Điều lệ trường mầm non, Điều 46 (thông tư số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành điều lệ trường mầm non) cũng đã nêu rõ về công tác phối hợp với cơ quan các tổ chức chính trị- xã hội và cá nhân đối với giáo dục mầm non
Trang 11Các nghiên cứu lý luận cho thấy: Phát triển GDMN, nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ MN cần có sự quan tâm đồng bộ, thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội, phải được xã hội hóa về nhiều phương diện đối với các hoạt động của trường mầm non
Thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh là một vùng đất có truyền thống hiếu học Trong những năm gần đây các điều kiện thuận lợi về kinh tế xã hội
đã giúp cho sự nghiệp GD của địa phương phát triển không ngừng Thành phố Móng Cái có 19 trường MN đủ đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trên địa bàn Được sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT, P
năm học vừa qua các trường MN thành phố Móng Cái đã thực hiện nhiều biện pháp xây dựng và duy trì nền nếp, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh Một trong các biện pháp đã được triển khai là tăng cường vai trò của các lực lượng giáo dục nhà trường và gia đình trong việc CS, GD trẻ trong trường MN, huy động sức mạnh tổng hợp, tạo ra sự thống nhất tác động tới sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ MN Tuy nhiên chất lượng GDMN của địa phương vẫn còn rất nhiều hạn chế, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, một trong những nguyên nhân đó là nhà trường, gia đình và cộng đồng chưa có biện pháp hữu hiệu trong việc phối kết hợp nhằm nâng cao chất lượng CS, GD trẻ MN
Xuất phát những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài "Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh" với mong muốn góp phần nhỏ bé
công sức của mình trong việc nâng cao chất lượng CS, GD của các trường MN thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Trang 123 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng
đồng trong CS, GD trẻ MN thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong
CS, GD trẻ MN ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thực hiện được biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng dựa trên cơ sở khoa học, có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn thì chất lượng CS, GD trẻ ở các trường MN của thành phố Móng Cái
sẽ được nâng lên
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Chủ thể phối hợp giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng được
đề cập đến trong đề tài là các Hiệu trưởng trường Mầm non
- Đề tài tập trung tìm hiểu biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và cộng đồng trong các hoạt động CS, GD trẻ ở 10 trường MN công lập trên địa bàn thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh các trường MN Trà Cổ, Bình Ngọc, Hải Xuân, Hải Hòa, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Hải Yên, Hải Tiến Hải Sơn, Hoa Mai
- Thời gian khảo sát thực trạng từ tháng 6 /2016 đến tháng 5/2017
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 137.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu và phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa và khái quát hóa để xác định cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết: Dùng các phiếu trưng cầu ý kiến thiết kế cho các đối tượng: CBQL, GVMN, CM trẻ; cá nhân và tổ chức cộng đồng ở địa phương
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi trực tiếp CBQL, GVMN, CM trẻ
và đại diện các tổ chức: Hội phụ nữ, Y tế, Đoàn thanh niên, UBND cấp phường, xã
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm về quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ
7.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu điều tra trong
nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề phối hợp giữa nhà trường, gia
đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Chương 2: Thực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và
cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Trang 14ở phổ thông và bước vào cuộc sống tương lai rất cần sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong CS, GD trẻ MN, vì tầm quan trọng đó, có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Có thể điểm qua một số nghiên cứu, đề tài,
dự án ngoài nước như:
- Dự án nghiên cứu về gia đình của trường Đại học Harvard (Harvard Family Research Project) khẳng định: Sự tham gia của gia đình, xã hội trong giáo dục mầm non nâng cao thành công của mọi trẻ trong mọi độ tuổi Dự án
đã nêu được tầm quan trọng của Giáo dục gia đình trong giai đoạn lứa tuổi mầm non, coi đó là quá trình giáo dục bao gồm thái độ, giá trị và thực hành của cha mẹ trong việc nuôi dạy trẻ Nội dung của dự án đề cập tới 4 lĩnh vực:
1 Quan hệ chăm sóc, cảm xúc và trách nhiệm giữa cha mẹ với trẻ
2 Sự tham gia của cha mẹ trẻ vào các hoạt động của trẻ ở gia đình
3 Quan hệ giữa nhà trường và gia đình
4 Trách nhiệm đối với kết quả học tập của trẻ
Trong GDMN, quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội được hiểu
là những liên hệ chính thức và phi chính thức, đa chiều giữa gia đình, cộng
Trang 15đồng và các cơ sở GDMN Sự tham gia cả gia đình vào các hoạt động ở cơ sở GDMN bao gồm các buổi họp phụ huynh, tham gia các lớp học và tham gia giúp đỡ các hoạt động giáo dục ở lớp học cũng như duy trì mối liên hệ định
kỳ giữa giáo viên và cha mẹ là các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến chất lượng giáo dục trẻ, sự chung tay của các Ban ngành đoàn thể tham gia các hoạt động của nhà trường thúc đẩy chất lượng CS, GD trẻ
- Đề tài “Những thông tin xã hội và quan niệm về các chính sách gia đình” được tiến hànhtrên 2.700 gia đình Singapore (người Trung Quốc, Ấn
Độ, Malaysia và các dân tộc khác) Tuy mục đích chính trong đề tài không nhằm nghiên cứu giáo dục trẻ nhỏ trong gia đình nhưng trên cơ sở các dữ liệu thu được nhóm tác giả đã dành hẳn 1 chương để phân tích vấn đề giáo dục của cha mẹ đối với con cái với 4 yếu tố:
1 Cách tiếp cận giáo dục của cha mẹ
2 Giáo dục các giá trị truyền thống trong gia đình
3 Phối hợp giữa gia đình và nhà trường
4 Tương tác giữa cha mẹ và trẻ
Để nêu được tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường, với câu hỏi: Những vấn đề nào trong 9 vấn đề dạy dỗ trẻ (Bổn phận trách nhiệm của con cái; Tự giác kỷ luật; Vệ sinh thân thể; Chăm chỉ làm việc; Ứng sử linh hoạt; Tính tiết kiệm; Giáo dục giới tính; Sự tôn trọng lẫn nhau; Trách nhiệm công dân) chỉ thực hiện trong gia đình? Trong trường học? Hay có sự phối hợp cả gia đình và trường học? Hay để trẻ tự học?
Kết quả thu được cho thấy: Các vấn đề dạy dỗ con cái cần có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường được nhắc đến nhiều nhất là: Sự tôn trọng lẫn nhau (51,2%); Giáo dục giới tính (44,4%) và làm việc chăm chỉ (41%); ít nhất là: Bổn phận trách nhiệm của con cái (7%); Trách nhiệm công dân (1,3%);
Trang 16Đặc biệt, Ubranxkaia trong cuốn: Giáo viên mầm non về công tác với gia đình, ngoài nêu rõ cơ sở của giáo dục trẻ trong gia đình, nội dung công việc với cha mẹ, các phương pháp và hình thức tiếp cận, phối hợp với phụ huynh, tác giả còn đề cập đến công việc của Hiệu trưởng trường mầm non với công tác phụ huynh bao gồm: công tác quản lý hoạt động phối hợp với gia đình, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để làm tốt công tác phụ huynh và cả công tác tư vấn, giao tiếp trực tiếp với phụ huynh
Các nghiên cứu trên cho thấy: Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện các phẩm chất và năng lực nhằm giúp trẻ phát triển nhân cách một cách toàn diện
là một quá trình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Vì thế, việc giáo dục nói chung và giáo dục trẻ em nói riêng luôn luôn đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng xã hội
1.1.2 Ở Việt Nam
Về những nghiên cứu ở trong nước, trong hầu hết các công bố của các nhà nghiên cứu, chuyên gia về GDMN đều nêu bật được tầm quan trọng và sự cần thiết của giáo dục trẻ MN ở nhà trường và gia đình Đơn cử: “Giáo dục mầm non Việt nam - Những vấn đề lý luận đến thực tiễn” của Nguyễn Ánh Tuyết; cuốn “Xã hội hóa giáo dục” của Võ Tấn Quang (chủ biên) “Biện pháp bồi dưỡng cho cha mẹ năng lực GD hành vi đạo đức với trẻ MG lớn” của Nguyễn Thị Bích Thủy (luận văn thạc sỹ GDH); trong Báo cáo tổng kết nhiệm vụ NCKH, Viện KHGD 2009 về “Xây dựng nội dung GD trẻ cho các bậc cha mẹ ở gia đình góp phần thực hiện chương trình GDMN mới”…chủ nhiệm Phan Thị Ngọc Anh…đều khẳng định vai trò đan xen, kết hợp giữa nhà trường và gia đình trong CS, GD trẻ MN là quan trọng Ý nghĩa sâu sắc của
việc phối hợp các lực lượng giáo dục đã được Bác Hồ chỉ ra từ lâu: "Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và
Trang 17trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (Trích bài nói tại Hội nghị
cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957)
Như vậy, điểm qua các nghiên cứu lý luận ở trong và ngoài nước đều cho thấy: sự phối hợp tốt giữa nhà trường gia đình và xã hội sẽ nâng cao chất lượng CS, GD trẻ MN Tuy nhiên chưa nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội trong CS, GD trẻ MN trên 1 địa bàn dân cư cụ thể như thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Trường mầm non
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi (Điều 21 - Luật Giáo dục, 2005)
Điều 3, chương I, Điều lệ Trường mầm non ban hành kèm theo Quyết định số 04/2015/QĐ-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ghi rõ:
Trường mầm non, trường mẫu giáo (sau đây gọi chung là nhà trường), nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức theo các loại hình: công lập, dân lập và tư thục
1 Công lập: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do cơ
quan Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
2 Dân lập: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo dân lập do
cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí hoạt động và được chính quyền địa phương hỗ trợ
Trang 183 Tư thục: Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo tư thục do tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng nguồn vốn ngoài
Ngân sách nhà nước
1.2.2 Gia đình
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau1
Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài2
Gia đình là tế bào xã hội Gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lí, văn hóa, kinh tế khiến nó không giống với bất kì một nhóm xã hội nào3
.Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người Gia đình là tế bào
xã hội, là nơi con người sinh sống, lớn lên và hình thành nhân cách của mình, gia đình là cơ sở để duy trì nòi giống và là cơ sở của việc giáo dục thế hệ trẻ Không có gia đình thì xã hội không thể tồn tại và phát triển Khả năng giáo dục của gia đình là rất to lớn vì được dựa trên những tình cảm máu
Trang 19mủ ruột thịt, tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ đối với con cái và tình cảm kính yêu, biết ơn của con cái đối với CM Bên cạnh đó, những tác động GD của gia đình còn là tác động thường xuyên, lâu dài trong các tình huống khác nhau, các loại hoạt động đa dạng trong gia đình
1.2.3 Cộng đồng
Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy (Trung tâm nghiên cứu và tập huấn Cộng đồng)
"Cộng đồng là tập thể người sống trong cùng một khu vực, một tỉnh hoặc một quốc gia và được xem như một khối thống nhất", “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chung tộc, cùng loại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm", "Cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó"4
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng cách hiểu: Cộng đồng là một nhóm người hay tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân sống chung, gần nhau, trên một địa bàn nhất định
Con người, môi trường và mối tương tác cấu thành nên cộng đồng con người có sự tương tác hỗ trợ nhau cùng phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc CS, GD trẻ MN
1.2.4 Phối hợp giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng
Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ là các hoạt động thống nhất về mục tiêu, kế hoạch, nội dung, các công việc kết hợp, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau một cách hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng CS, GD trẻ MN trên địa bàn
4
Từ điển đại học Oxford, năm 1989 NXB Macmillan
Trang 20Công tác phối hợp giữa trường MN, gia đình và cộng đồng trước hết là trách nhiệm của người quản lý nhà trường - Hiệu trưởng trường MN, sau đó mới thuộc về GVMN phụ trách các nhóm, lớp Vì thế, công tác phối hợp giữa trường MN, gia đình và cộng đồng còn được coi là hệ thống các tác động có hướng đích chủ chủ thể quản lý (Hiệu trưởng các trường MN, GVMN) đến gia đình và cộng đồng trẻ thông qua các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá) nhằm thúc đẩy các hoạt động kết hợp, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau của 3 lực lượng giáo dục hướng tới đạt mục tiêu CS,
GD và phát triển toàn diện cho trẻ MN
1.2.5 Biện pháp phối hợp giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng
Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể 5
Biện pháp phối hợp giữa trường MN, gia đình và cộng đồng là đưa ra cách phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong CS, GD trẻ nhằm hỗ trợ lẫn nhau để cùng thống nhất tìm ra những cách thức, phương pháp CS, GD trẻ một cách hiệu quả nhất
Để đạt chất lượng CS, GD trẻ MN, nhà quản lý cần phải có các biện pháp phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác CS, GD trẻ Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để tìm ra các biện pháp từ
đó tạo sự kết hợp, tác động qua lại một cách biện chứng trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo còn gia đình, cộng đồng có vai trò quan trọng hỗ trợ đắc lực cho nhà trường đặc biệt là trong việc duy trì, nối tiếp, phát huy các ảnh hưởng tích cực từ các môi trường giáo dục trẻ
5
Từ điển tiếng Việt, năm nào 2003 NXB thanh niên
Trang 211.3 Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
1.3.1 Sự cần thiết phải phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Việc CS, GD trẻ phát triển theo „mô hình nhân cách” của xã hội là một quá trình lâu dài, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều
đến các mối quan hệ xã hội phức tạp Như Bác Hồ đã dạy: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ Muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu” 6
và"Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài
xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” 7
Việc giáo dục nói chung và giáo dục trẻ Mầm non nói riêng luôn luôn đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng xã hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm đúng cách của nhà trường, gia đình và mọi người trong
xã hội
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn giáo dục, sự thống nhất tác động giáo dục từ nhà trường, gia đình và xã hội được xem là vấn đề có tính nguyên tắc đảm bảo cho mọi hoạt động giáo dục có điều kiện đạt hiệu quả tốt
Thực tiễn cho thấy, trong môi trường xã hội mà trẻ sống, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng tích cực luôn luôn tồn tại, hàm chứa rất nhiều yếu tố ảnh hưởng xấu hay có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách của trẻ Với đặc điểm hiếu động, tò mò, thích bắt chước và còn hạn chế về vốn sống, kinh nghiệm sống…trẻ em thiếu “sức đề
Trang 22kháng” với các tác động tiêu cực nói trên Vấn đề này sẽ càng trầm trọng hơn nếu thiếu sự phối hợp đúng đắn, thiếu sự thống nhất tác động giáo dục giữa nhà trường và gia đình và cộng đồng trong GD trẻ em
Để thống nhất và tập hợp được sức mạnh của toàn xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ, nhà trường vừa phải không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện vừa phải phối hợp chặt chẽ với gia đình, với cộng đồng hướng vào một số công việc cụ thể sau đây:
- Đưa mục tiêu, nội dung giáo dục trẻ trong nhà trường vào gia đình và các tổ chức xã hội trong địa phương như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi…nhằm thống nhất định hướng tác động đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
- Phát huy vai trò nhà trường là trung tâm văn hóa giáo dục của địa phương, tổ chức cho trẻ đi thăm quan các danh lam thắng cảnh của địa phương, các di tích lịch sử từ đó trẻ có ý thức bảo vệ
- Phối hợp với địa phương tổ chức cho trẻ em tham gia tích cực, vừa sức vào các hoạt động văn hóa xã hội như: xóa đói giảm nghèo, dân số kế hoạch hóa gia đình, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng gia đình văn hóa mới…nhằm góp phần cải tạo môi trường gia đình và xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
Cho dù có các vai trò, chức năng và điều kiện giáo dục trẻ khác nhau nhưng sự phối hợp chặt chẽ của 03 môi trường giáo dục nói trên, trong đó nhà trường đóng vai trò trung tâm, sẽ đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức, trong hành động cùng hướng đích, tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của trẻ
1.3.2 Yêu cầu đối với công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Công tác phối hợp giữa trường MN, gia đình và cộng đồng cần tuân thủ các yêu cầu cơ bản sau đây:
Trang 23- Công tác phối hợp phải định hướng theo các mục tiêu CS, GD trẻ MN trên địa bàn
- Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình, cộng đồng cần hướng tới đạt được mong muốn chung của 3 lực lượng GD trong CS, GD trẻ MN vừa phải đáp ứng được nhu cầu, khả năng riêng của nhóm trẻ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường, gia đình, cộng đồng…
học về vai trò của các lực lượng giáo dục và sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình, cộng đồng trong CS, GD trẻ MN, đồng thời, đảm bảo tác động giáo dục phù hợp nhất với đặc trưng và nhu cầu phát triển của trẻ MN
+ Phương pháp và hình thức phối hợp cần phù hợp với điều kiện và khả năng của các lực lượng giáo dục, từ đó đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ MN
- Để phối hợp CS, GD trẻ phát triển toàn diện đòi hỏi cả phía nhà trường và gia đình đều cần phải chủ động tham gia nhằm tương tác, hỗ trợ cho nhau trong các hoạt động
1.3.3 Mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
1.3.3.1 Mục tiêu, nội dung các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Xuất phát từ mục tiêu GDMN, mục đích của công tác phối hợp giữa trường MN, gia đình và cộng đồng chính là giúp trẻ MN phát triển hài hòa về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội, thẩm mỹ theo yêu cầu của độ tuổi thông qua các hoạt độngg giáo dục được thiết kế theo cách tiếp cận phù hợp nhất với nhu cầu, hứng thú, khả năng của trẻ, với điều kiện trường, lớp, gia đình và địa phương
Trang 24Nội dung các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ như sau:
a) Nâng cao nhận thức của Cha, Mẹ và cộng đồng về CS, GD trẻ MN
Nhà trường phối hợp với cộng đồng nâng cao nhận thức cho phụ huynh về vai trò của Cha, Mẹ và trang bị kiến thức khoa học CS, GD trẻ trong gia đình Với chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo, nhà trường là nơi tổ chức các hoạt động nhằm thông tin, tuyên truyền tới phụ huynh về đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ và các phương pháp, biện pháp CS, GD trẻ theo các lứa tuổi một cách khoa học, đồng thời cũng chứng tỏ cho phụ huynh thấy được các hoạt động CS, GD trẻ hiệu quả của nhà trường và giáo viên từ đó gây sự chú ý tin tưởng, lôi kéo sự hưởng ứng, ủng hộ của phụ huynh cùng tham gia vào hoạt động này
Nhà trường phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội cùng có một mục tiêu và nhiệm vụ chung đó là giúp trẻ khỏe mạnh, hồn nhiên, phát triển tâm sinh lý đúng với lứa tuổi
b) Xây dựng và thực hiện mục tiêu, kế hoạch CS, GD trẻ ở trường mầm non
- Nhà trường chủ động xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch CS, GD trẻ, tổ chức thực hiện kế hoạch CS, GD trẻ, gia đình và đại diện cộng đồng sẽ cùng phối hợp hỗ trợ, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch CS, GD trẻ
- Nhà trường tạo điều kiện thuận lợi để thu hút sự tham gia trực tiếp của Cha, Mẹ, các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng vào các hoạt động CS, GD trẻ của nhà trường, như tổ chức các ngày lễ hội, tổ chức đi thăm quan cho trẻ; dự giờ giáo viên, trò chuyện, giao lưu với trẻ tại lớp
- Mặt khác, đại diện nhà trường và các giáo viên có thể đến thăm gia đình trẻ
để tạo ra mối quan hệ tin tưởng thân thuộc, thông hiểu với gia đình, trẻ hoặc gọi điện, thông báo, trao đổi thông tin hỗ trợ cho công tác CS, GD trẻ…
c) Chuẩn bị và đảm bảo các điều kiện phục vụ tốt cho việc CS, GD trẻ MN
Trang 25- Phối hợp trong việc huy động, sử dụng, kiểm soát các nguồn tài trợ để tham gia cải tạo cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ CS, GD trẻ Để quản lý kiểm soát sự dụng hiệu quả nguồn tài trợ này, nhà trường sẽ chủ động lập kế hoạch triển khai thực hiện còn phụ huynh và đại diện cộng đồng ngoài việc có thể trực tiếp tài trợ ủng hộ về vật chất, tinh thần cho nhà trường còn có thể tham gia tư vấn, hỗ trợ, kiểm soát hiệu quả sử dụng nguồn tài trợ trên một cách khách quan, vì mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động CS, GD trẻ
- Phối hợp trong việc hỗ trợ, cải thiện đời sống tinh thần cho đội ngũ cán bộ giáo viên trong trường mầm non Trong trường mầm non, GVMN là những người trực tiếp CS, GD trẻ Khác với giáo viên các cấp học khác, GVMN có thời gian làm việc kéo dài 10 tiếng/ 1 ngày (suốt từ 7h sáng đến 17h chiều) nên thời gian dành cho gia đình và đời sống riêng tư không còn nhiều Chính vì thế việc hỗ trợ cải thiện đời sống tinh thần cho GVMN giúp
họ phục hồi và tái tạo sức khỏe thể chất và tinh thần, từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình là hết sức cần thiết
1.3.3.2 Phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Để đạt được mục tiêu GDMN rất cần có những phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội một cách khoa học, hiệu quả
a) Một số phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường với CM trẻ:
- Họp phụ huynh: Là hình thức phổ biến, thu hút tập trung được nhiều phụ huynh tham gia Thời gian và nội dung các buổi họp phụ huynh thường
do nhà trường ấn định Ở trường mầm non có thể tổ chức họp phụ huynh 2-3 lần trong 1 năm học, thường vào đầu năm, kết thúc học kỳ I, vào cuối năm
- Bảng thông tin, tuyên truyền: Là hình thức dùng các biểu bảng được trang trí hấp dẫn để ở những nơi phụ huynh dễ thấy dễ đọc nhằm tuyên truyền, đưa những thông tin về hoạt động của trường, về các phương pháp
Trang 26CS, GD trẻ khoa học, những nội quy, quy định trong trường cần phu huynh phối hợp thực hiện
- Mạng điện tử: Là hình thức giới thiệu về trường (thông tin, hoạt động của nhà trường, của trẻ ở các lớp cũng như những hoạt động phối hợp hỗ trợ của phụ huynh) qua những bài viết, những video clip trên Website của trường Thông qua mạng điện tử phụ huynh cũng tham gia trao đổi ý kiến phản hồi, đóng góp xây dựng của mình cho nhà trường Đây là hình thức thông tin nhanh, hiện đại, ít tốn kém song có thể do điều kiện về kinh tế hay hạn chế về cách sử dụng hay đơn giản hay đơn giản là chưa có thói quen sử dụng mạng điện tử nên tính đại trà của nội dung này chưa cao
- Trao đổi trực tiếp hàng ngày giữa giáo viên với phụ huynh: Đây là hình thức phổ biến, thường xuyên diễn ra hàng ngày vào giờ đón, trả trẻ giáo viên với phụ huynh Thông tin được truyền đi nhanh Cập nhật, tạo được sự gần gũi tình cảm giữa giáo viên với gia đình trẻ song thời gian bị hạn chế do vào thời điểm đón, trả trẻ giáo viên không thể trao đổi quá lâu với một phụ huynh vì họ còn phải quán xuyến, để mắt, quan tâm tới các trẻ khác trong lớp
- Gửi thư, thông báo, gọi điện thoại tới phụ huynh: Hình thức này được
sử dụng khi giáo viên muốn thông báo tới phụ huynh những thông tin có tính đột xuất hay mong muốn với phụ huynh cùng phối hợp để tổ chức thực hiện một hoạt động theo chủ đề mà trẻ đang học ở lớp Hình thức này thường mang tính riêng biệt trong phạm vi một lớp hay một khối lớp
- Hòm thư góp ý: là hình thức phụ huynh vì lý do tế nhị không tiện trao đổi trực tiếp nên viết ý kiến đóng góp cho nhà trường, cho giáo viên gửi đến BGH nhà trường bằng cách gửi vào hòm thư của nhà trường Hình thức này thường ít được sử dụng
- Mời phụ huynh đến lớp: Đây là hình thức giáo viên sử dụng khi muốn phụ huynh cùng tham gia vào một hoạt động nào đó có liên quan và cần có sự
Trang 27hỗ trợ của phụ huynh để đạt được hiệu quả tốt hơn Hoặc trong quá trình chăm sóc trẻ đặc biệt, giáo viên cũng có thể mời phụ huynh đến lớp làm việc vào một thời gian thích hợp do các hình thức phối hợp khác không đủ thời gian để trao đổi
- Thăm gia đình trẻ của Hiệu trưởng hoặc GVMN nhằm thể hiện sự quan tâm đến trẻ và gia đình trẻ, nắm bắt được tình hình thực tế của gia đình, tạo mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường và gia đình, từ đó cùng phối hợp thực hiện tốt công tác CS, GD trẻ
- Tổ chức lễ hội cho trẻ: Là hình thức phụ huynh đóng góp thời gian, công sức, sáng kiến cùng cô giáo, nhà trường tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động lễ hội lớn trong trường như: Khai giảng, Trung thu, Tết, Đi thăm quan, Lễ ra trường…qua đó phụ huynh hiểu thêm về công việc của nhà trường từ đó mở rộng thay đổi nhận thức về công tác CS, GD trẻ mầm non
- Đóng góp ngày công, hỗ trợ về tiền bạc hay vật chất trong các hoạt động nhằm tăng cường nguồn lực CS, GD trẻ Thường đóng góp về tiền bạc hay vật chất ở gia đình, các địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, đóng góp về ngày công và vật chất là các nguyên vật liệu rẻ tiền, có sẵn hay các vật dụng tự làm để hỗ trợ, tham gia cùng nhà trường chuẩn bị vật dụng, đồ dùng, đồ chơi phục vụ CS, GD trẻ Hoặc phụ huynh bằng mối quan hệ của mình kêu gọi tài trợ của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước cho những hoạt động CS, GD trẻ của nhà trường Đóng góp về tinh thần của phụ huynh cho nhà trường là sự hưởng ứng ủng hộ của phụ huynh trong các hoạt động của nhà trường, là sự tin tưởng, động viên, chia sẻ, khi nhà trường gặp khó khăn…Tất cả những điều đó tạo nên sự hiểu biết, cảm thông, gắn bó lâu dài, tạo động lực giúp nhà trường hoàn thành nhiệm vụ của mình là chăm sóc giáo dục các cháu khôn lớn
Hoạt động đóng góp ủng hộ về vật chất và tinh thần của phụ huynh tới nhà trường sẽ làm nảy sinh sự giao tiếp, chia sẻ tình cảm sự liên kết, gắn bó giữa gia đình với nhà trường từ đó tìm được tiếng nói, cách thức chung cho
Trang 28hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ Quản lý lý hoạt động này sẽ làm cho gia đình và nhà trường có chung một mối quan tâm, có trách nhiệm và phối hợp với nhau chặt chẽ hơn để cùng thực hiện mục đích nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
b) Một số phương pháp và hình thức phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng:
- Hội phụ nữ: Tuyên truyền tới các bà mẹ quyết định số 704/QĐ-TTg ngày 19/5/2010 phê duyệt Đề án “Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi dạy con tốt giai đoạn 2010-2015” Đề án có ý nghĩa xã hội to lớn, thông qua việc cung cấp kiến thức, kỹ năng nuôi, dạy trẻ để giúp cho 5 triệu bà mẹ có con dưới 16 tuổi nắm vững kiến thức, kỹ năng, áp dụng thực hiện nuôi, dạy con tốt nhằm giảm
tỷ lệ suy dinh dưỡng, bệnh tật, tử vong ở trẻ em Truyền thông, giới thiệu, phổ biến kiến thức về giáo dục bà mẹ nuôi, dạy con tốt trên trên đài truyền thanh của nhà trường Tuyên truyền tại các buổi sinh hoạt chi hội phụ nữ
- Đoàn thanh niên: Mời đoàn thanh niên đến dự, tham gia và đóng góp ngày công, vật chất, hay hỗ trợ nhà trương tổ chức các ngày lễ, ngày hội cho các cháu
- Y tế: Phối hợp với y tế tổ chức cân, đo và khám sức khỏe cho trẻ tại nhà trường, uống Vi ta min A, phối hợp phòng, chống các dịch bệnh cho trẻ
- Hội khuyến học: Tham gia dự các hoạt động của nhà trường nắm bắt tình hình, biểu dương khen thưởng các bé đạt danh hiệu “Bé giỏi, Bé ngoan” “Bé chăm, Bé ngoan”, giúp đỡ những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
1.4 Hiệu trưởng trường mầm non quản lý công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ MN
1.4.1.Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường mầm non
1.4.1.1 Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trường mầm non
Theo Điều lệ trường mầm non Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo; Thông tư số 05/2011/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung điểm d
Trang 29khoản 1 Điều 13; khoản 2 Điều 16; khoản 1 Điều 17 và điểm c khoản 2 Điều
18 của Điều lệ Trường mầm non ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 44/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ trường mầm non đã quy định:
- Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng CS, GD trẻ em của nhà trường, nhà trẻ
- Hiệu trưởng do Trưởng phòng GD&ĐT bổ nhiệm đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, công nhận đối với nhà trường, nhà trẻ dân lập, tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền
Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là 5 năm Sau 5 năm, Hiệu trưởng được đánh giá và có thể bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại Đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một nhà trường hoặc một nhà trẻ không quá hai nhiệm kì
Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định”
- Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
Có trình độ chuẩn được đào tạo là có bằng trung cấp sư phạm mầm non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong giáo dục Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận là Hiệu trưởng
có thể có thời gian công tác GDMN ít hơn theo quy định
Trang 30Đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý; có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực tổ chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ
Tóm lại: Hiệu trưởng trường mầm non là người đứng đầu đơn vị cơ sở GDMN, chịu trách nhiệm trước đảng bộ chính quyền địa phương và cấp trên
về quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường theo đường lối của Đảng, phương hướng nhiệm vụ của ngành
Hiệu trưởng phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận, phải đảm bảo trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thời gian công tác theo quy định, được tín nhiệm về chính trị, đạo đức năng lực tổ chức và quản lý nhà trường…
Hiệu trưởng trường MN có vị trí quyết định trong việc đưa nhà trường tiến tới các mục tiêu về CS, GD trẻ em trong độ tuổi mầm non Chịu trách nhiệm cao nhất về hành chính cũng như về chuyên môn trong nhà trường
1.4.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường mầm non
Điều lệ trường mầm non Ban hành kèm theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT,
quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường mầm non như sau:
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó…
- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại…
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường
- Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, CS,
GD trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, CS, GD trẻ em do Bộ GD&ĐT quy định
Trang 31- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia các hoạt động giáo dục…
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng
1.4.2 Hiệu trưởng quản lý việc thực hiện các hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
1.4.2.1 Chỉ đạo xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ.
Kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng một phần quan trọng của kế hoạch giáo dục Trên cơ sở phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của nhà trường Hiệu trưởng phân công nhiệm
vụ cho phó hiệu trưởng, chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch và triển khai đến từng nhóm lớp có kế hoạch phối hợp với cha mẹ học sinh để từ
đó phối hợp CS, GD trẻ một cách hiệu quả
Đối với kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch GD của nhóm lớp: Hiệu trưởng cần có sự chỉ đạo cụ thể về nội dung, quy trình xây dựng kế hoạch cho giáo viên Việc chỉ đạo việc thực hiện xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch GD nhóm, lớp đòi hỏi người hiệu trưởng cần phải thực hiện các biện pháp sau:
GDMN cho trẻ dưới 5 tuổi và GDMN 5 CS,
Trang 32GD kế hoạch GD
+ Góp ý, điều chỉnh và phê duyệt kế hoạch
kế hoạch đảm bảo chất lượng và có khả năng thực thi là một yêu cầu bắt buộc đối với người hiệu trưởng Tất cả các kế hoạch đó đều được thống nhất với nội dung kế hoạch của nhà trường, đảm bảo khả năng phối hợp cao giữa các
bộ phận với nhau và với Cha, Mẹ, cộng đồng để cùng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường Các kế hoạch xây dựng đều phải được Hiệu trưởng phê duyệt trước khi thực hiện
1.4.3.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường
và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
- Phân công cho đồng chí Phó hiệu trưởng chịu trách nhiệm quản lý, phân cấp trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm các lớp
- Ban hành quy định thực hiện về việc phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng qua đó hướng dẫn GVMN thực hiện nội dung và các hình thức phối hợp, sử dụng các phương pháp làm việc với với cha mẹ và cộng đồng trong công tác CS, GD trẻ
- Hướng dẫn trực tiếp cho GVMN (nếu cần) thực hiện các hoạt động phối hợp giữa nhóm, lớp với Cha, mẹ trong CS, GD trẻ
- Giám sát, điều chỉnh và hỗ trợ GVMN thực hiện các hoạt động phối hợp nhằm thực hiện tốt công tác CS, GD trẻ trong nhóm, lớp
Trang 331.4.2.3 C
và gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
Việc kiểm tra công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ là một việc làm hết sức quan trọng Qua kiểm tra HT
sẽ phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu, để ngăn chặn, uốn nắn những lệch
lạc của tập thể và cá nhân khi tiến hành công việc
Kiểm tra việc xây dựng các kế hoạch phối hợp nhà trường, gia đình
và cộng đồng cần căn cứ vào công tác tổ chức, chỉ đạo phân công nhiệm vụ
cụ thể cho Ban giám hiệu phụ trách, cho các GVMN thực hiện các nội dung phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
- Kiểm tra đồng chí phó hiệu trưởng phụ trách công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng về việc triển khai kế hoạch, chỉ đạo hướng dẫn các lớp xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp
- Kiểm tra trực tiếp các GVMN làm chủ nhiệm nhóm, lớp về các nội dung, phương pháp, hình thức phối hợp:
+ Kiểm tra việc thực hiện nội dung tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng: Nâng cao nhận thức của cha, mẹ và cộng đồng về CS, GD trẻ mầm non; Xây dựng và thực hiện mục tiêu, kế hoạch CS, GD trẻ; Đảm bảo các điều kiện phục vụ tốt cho trẻ
+ Kiểm tra việc thực hiện phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động phối hợp nhà trường, gia đình, và cộng đồng thông qua các cuộc họp phụ huynh, bảng thông tin tuyên truyền, trang mạng điện tử, trao đổi trực tiếp hàng ngày giữa giáo viên với phụ huynh, thông qua hòm thư góp ý, tổ chức các hoạt động ngày hội, ngày lễ, các ngày công hỗ trợ đóng góp bằng tiền bạc hay vật chất
Hình thức đánh giá thông qua các hoạt động quan sát, đánh giá bằng phiếu điều tra, thăm dò ý kiến
Trang 34Qua quá trình kiểm tra để nắm bắt được kết quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng sẽ góp phần hình thành ý thức và năng lực kiểm tra của chính bản thân mỗi cán bộ, giáo viên từ đó rút bài học kinh nghiệm trong công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng để điều chỉnh công tác phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình cộng đồng nhằm thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất lượng CS, GD trẻ MN
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non
Hiệu trưởng muốn quản lí tốt hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc CS, GD trẻ mầm non, họ phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng, đúng mục tiêu cấp học, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường cũng như các hoạt động đoàn thể ở địa phương, có khả năng huy động các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài nhà trường, quản lí giáo viên trong trường bằng chính nhân cách, năng lực của mình, tác phong mẫu mực…
Cần
Trang 35CS, GD trẻ cha mẹ trẻ và
trường, gia đình và cộng đồng trong CS, GD trẻ ở trường mầm non
b) Về điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi trong nhà trường
Theo Điều lệ trường mầm non, diện tích m2/trẻ phải đạt từ 1,2 đến 1,5m2 nhưng trên thực tế rất ít trường đạt được tỷ lệ chuẩn m2/trẻ do vẫn còn tình trạng thiếu lớp Số trẻ quá đông trên một lớp cũng ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ và chi phối nhiều khó khăn bất cập trong công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng
Với trẻ nhà trẻ hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật, trẻ mẫu giáo hoạt động chủ đạo là vui chơi vì vậy đồ dùng, đồ chơi đối với trẻ mầm non là rất quan trọng Với một trường mầm non muốn thực
-giáo viên tận dụng điều kiện CSVC, sử dụng có hiệu quả đồ dùng, đồ chơi, CNTT, ngoại ngữ như thế nào khi thực hiện công tác CS-GD trẻ Chương trình GDMN mới cũng là một định hướng để các nhà trường, địa phương từng bước tăng cường đầu tư trang thiết bị GD, tài liệu, học liệu, phương tiện cho việc CS, GD trẻ MN Và đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến biện pháp quản lý các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
CS, GD trẻ mầm non
1.5.2 Các yếu tố khách quan
a) Về phía gia đình: Sự quan tâm của gia đình, nhận thức và trình độ
văn hóa của Cha, Mẹ; điều kiện kinh tế gia đình
Để thực hiện tốt công tác phối hợp thì nhận thức, trình độ văn hóa và sự quan tâm của gia đình trẻ là vô cùng cần thiết Không ít gia đình đầy đủ về vật
Trang 36chất nên trang bị cho con cái không thiếu thứ gì nhưng kết quả trẻ vẫn suy dinh dưỡng, kém hòa nhập đó là do cha mẹ chưa thực sự quan tâm và thiếu hiểu biết trong lĩnh vực CS, GD trẻ MN Nguyên nhân có thể do Cha mẹ thiếu quan tâm, giao phó hoàn toàn việc CS, GD trẻ cho người giúp việc hay cho nhà trường MN Mặt khác, do quá coi trọng vật chất nên nhiều cha mẹ cho muốn nộp tiền mà không tham gia các hoạt động phối hợp do nhà trường, GVMN khởi xướng
Đời sống kinh tế gia đình tác động tích cực đến CS, GD trẻ ở gia đình cũng như phối hợp với nhà trường để CS, GD trẻ Có điều kiện kinh tế gia đình có thể hỗ trợ nhà trường về vật chất giúp nâng cao chất lượng CS, GD trẻ Nếu điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, họ lo làm ăn kiếm sống nên ít có thời gian dành cho con cái hay quan tâm đến các hoạt động của con ở trường lớp, dù muốn cũng không thể đầu tư, chăm sóc cho trẻ tốt
b) Về phía cộng đồng và địa phương:
b.1) Sự quan tâm của các tổ chức chính trị, xã hội ảnh hưởng tới hoạt
động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng trong CS, GD trẻ
Các tổ chức xã hội ở đây là Hội khuyến học, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Y tế Tác động của các tổ chức xã hội này vừa có tính chất bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình thông qua việc tài trợ về vật chất tinh thần, cung cấp thông tin kinh nghiệm, phương thức quản lý liên quan, vừa là điều kiện thách thức kích thích sự cạnh tranh phát triển của hoạt động phối hợp trong xã hội hiện đại
b.2) Truyền thống văn hóa, giáo dục của địa phương cũng ảnh hưởng tới hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng trong CS, GD trẻ
Truyền thống văn hóa giáo dục là cơ sở thực hiện nhiệm vụ CS, GD trẻ Trên nền tảng truyền thống: “gia đình hiếu học”, “dòng họ hiếu học” “làng văn hóa”, sự khen thưởng, động viên các cháu trong các gia đình dòng họ
Trang 37hiếu học là sơ sở để thực hiện công tác phối hợp giữa nhà trường gia đình và cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng CS, GD trẻ
Các phong trào văn hoá, xã hội địa phương tổ chức tốt sẽ lôi cuốn gia đình và nhà trường tham gia một cách tự nhiên tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp Chính phong trào “Xây dựng gia đình văn hoá”, “Giữ gìn trật tự an ninh”, “Bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp”, “Phòng chống các tệ nạn xã hội”, là điều kiện để CS, GD cho trẻ tốt và hiệu quả Như vậy, các hoạt động văn hoá tinh thần là môi trường thuận lợi cho sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong CS, GD trẻ MN
b.3) Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương cũng ảnh hưởng tới hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cộng đồng trong CS, GD trẻ
- Điều kiện kinh tế của địa phương cung cấp nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất cho nhà trường, cho học sinh ngồi trên ghế nhà trường Chính nền tảng kinh tế của địa phương đã tạo nền tảng cho các trường xây dựng trường
ra trường, lớp ra lớp Nền tảng kinh tế của địa phương tốt cũng sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể giáo dục, các thầy cô giáo có thời gian và tâm sức dành cho sự nghiệp giáo dục Điều kiện kinh tế gia đình là yếu tố chi phối sự đầu tư của Cha, Mẹ cho học tập của con trẻ
Như vậy, điều kiện kinh tế xã hội, phong tục, tập quán, lối sống và đặc điểm dân cư có tác động trực tiếp đến chất lượng CS, GD trẻ nói chung và công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc CS, GD cho trẻ ở trường mầm non nói riêng
Trang 38Kết luận chương 1
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ em, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối
đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo
và cho việc học tập suốt đời
Sự phối hợp các lực lượng GD hiệu quả sẽ giúp thực hiện thành công
mục tiêu GDMN, và nhà trường phải đóng vai trò trung tâm của sự phối hợp này để hướng dẫn và phối hợp thưc hiện mục tiêu, nội dung, các hoạt động đề
ra Thực trạng công tác phối hợp các lực lượng GD trong CS, GD trẻ trong các trường mầm non thành phố Móng Cái như thế nào sẽ được trình bày cụ thể trong chương 2 của luận văn
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON , THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội và giáo dục mầm non tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1 Tình hình kinh tế xã hội của thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Quyết định số 1226/QĐ-TTg ngày 31/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Nghị quyết 02/NQ-TU ngày 02 tháng 5 năm 2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về việc xây dựng và phát triển dịch vụ TP Móng Cái giai đoạn
2016 - 2020, định hướng đến năm 2030; thành lập Ban Chỉ đạo phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch TP Móng Cái giai đoạn 2016 - 2020, định hướng 2030; Ngoài những chủ trương, cơ chế chính sách của Đảng, Chính phủ dành cho địa phương, Móng Cái còn có tiềm năng lớn về hệ thống cảng biển nước sâu Đây sẽ là điều kiện thuận lợi trong việc trung chuyển hàng hoá giữa các nước ASEAN-Việt Nam - Trung Quốc
Với lợi thế là một thành phố biên giới cửa khẩu, có điều kiện thuận lợi, lĩnh vực thương mại - du lịch - dịch vụ được quan tâm đầu tư Chính vì vậy hoạt động thương mại - du lịch - dịch vụ trên địa bàn diễn ra sôi động và đạt được những kết quả to lớn đóng góp vào sự phát triển của Thành phố Bên cạnh đó lĩnh vực ngư nghiệp cũng tương đối phát triển
- Thương mại: Trước năm 1998, Móng Cái là một Thành phố nghèo,
hưởng trợ cấp ngân sách nhà nước Tuy nhiên, đến nay Móng Cái đã phát triển trở thành một trong hai trung tâm kinh tế, thương mại, du lịch và dịch vụ của tỉnh Quảng Ninh, đã vươn lên tự chủ về tài chính với cơ cấu phát triển kinh tế hợp
Trang 40- Văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ, từng bước tương xứng với sự phát
triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu của nhân dân Quốc phòng, an ninh được đảm bảo, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định Hoạt động đối ngoại và công tác ngoại giao nhân dân được duy trì, mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi trong hợp tác, giao lưu phát triển kinh tế - xã hội
Năm 2016, tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố tiếp tục có chuyển biến tích cực, đúng định hướng, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn tồn tại, tiến độ và khả năng hoàn thành một số chỉ tiêu kinh tế
- xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XXIII còn chậm
và khó khăn do thiếu nhiều nguồn lực như kiên cố hóa trường lớp, xây dựng trường chuẩn quốc gia, xây dựng kết cấu hạ tầng tại các xã Quảng Nghĩa, Hải Sơn, Bắc Sơn
2.1.2 Tình hình giáo dục mầm non thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của thành phố Móng Cái đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và coi trọng, quy mô,
hệ thống trường lớp bậc mầm non được củng cố và phát triển, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Đội ngũ cán bộ quản lý cơ bản đã đáp ứng được với yêu cầu, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hoá Công tác
xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh
a) Mạng lưới trường, lớp, trẻ MN
Thành phố Móng Cái có 19 trường mầm non, được phân bố hợp lý trên địa bàn đảm bảo nhân dân không phải gửi con em quá xa nhà, đáp ứng được với nhu cầu học tập của trẻ trong thành phố Quy mô mạng lưới giáo dục mầm non như sau: