Để đáp ứng yêu cầu đó, hệ thống giáo dục và đặc biệt là giáo dục bậc trung học phổ thông cần giúp các em có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, chính xác, phù hợp với khả năng, sở thích của
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số vấn đề lí luận về giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 12
1.2.1 Giáo dục hướng nghiệp 12
1.2.2 Cộng đồng doanh nghiệp 21
1.2.3 Một số đặc điểm tâm sinh lí cơ bản của học sinh trung học phổ thông 26
1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 31
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐẦM HÀ - HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH 41
Trang 22.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 41
2.2 Tóm lược về tổ chức và phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Tổ chức nghiên cứu 43
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 45
2.3 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường THPT Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh 51
2.3.1 Nhận thức của học sinh trường THPT Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh về giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp 51
2.3.2 Thái độ của học sinh trường THPT Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh đối với giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp 77
2.3.3 Kỹ năng thực hiện những công việc của học sinh trường THPT Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh trong quá trình giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp 83
Tiểu kết chương 2 94
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐẦM HÀ - HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH 97
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông 97
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích 97
3.1.2 Đảm bảo tính hiệu quả 97
3.2.3 Đảm bảo tính khả thi 98
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa 98
Trang 33.2 Đề xuất các biện pháp giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện
Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh 99
3.2.1 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức, thái độ về nghề nghiệp, về cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông Đầm Hà 99
3.2.2 Giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp thông qua các môn học cơ bản của nhà trường 100
3.2.3 Tăng cường tổ chức các buổi tham quan thực tế cho học sinh tại các cơ sở sản xuất, tại cộng đồng các doanh nghiệp 102
3.2.4 Kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nhà trường 103
3.2.5 Tăng cường đầu tư các trang thiết bị, sách, báo và tài liệu có liên quan đến giáo dục hướng nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp 105
3.2.6 Tổ chức hoạt động ngoại khóa tìm hiểu về nghề nghiệp, về cộng đồng doanh nghiệp ở địa phương 105
3.2.7 Tổ chức các hoạt động tìm hiểu về nghề phù hợp với hứng thú, nhu cầu của học sinh 107
3.3 Khảo nghiệm các biện pháp giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp đã đề xuất 108
3.3.1 Mục đích, đối tượng và nội dung khảo nghiệm 108
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 109
Tiểu kết chương 3 115
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng học sinh được điều tra theo giới tính 42 Bảng 2.2: Số lượng học sinh được điều tra theo khối lớp 43 Bảng 3.1: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về khái niệm nghề 51 Bảng 3.2: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về khái niệm cộng đồng doanh nghiệp 53 Bảng 3.3: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về các nghề trong xã hội
và thị trường lao động của địa phương 54 Bảng 3.4: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về nhu cầu thị trường lao động của địa phương (Xét theo tổng mẫu điều tra) 57 Bảng 3.5: Mong muốn được trang bị kiến thức về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động của cộng đồng doanh nghiệp ở HS trường THPT Đầm Hà 61 Bảng 3.6: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về nguồn thông tin giúp
họ có những hiểu biết về nghề, về cộng đồng doanh nghiệp (Xét theo tổng mẫu điều tra) 62 Bảng 3.7: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về những khó khăn trong quá trình tìm hiểu nghề để đi đến dự định chọn nghề dựa vào cộng đồng doanh nghiệp (xét theo tổng mẫu điều tra) 69 Bảng 3.8: Nhận thức của HS trường THPT Đầm Hà về những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề dựa vào cộng đồng doanh nghiệp (Xét theo tổng mẫu điều tra) 74 Bảng 3.9: Thái độ quan tâm đến nghề nghiệp của HS trường THPT Đầm Hà 78 Bảng 3.10: Sự định hướng nghề nghiệp tương lai của HS trường THPT Đầm Hà 79
Trang 5Bảng 3.11: Thái độ tích cực trong việc tìm hiểu kiến thức về nghề nghiệp, về cộng đồng doanh nghiệp 80 Bảng 3.12: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp GDHN dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho HS trường THPT Đầm Hà 111 Bảng 3.13: Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp GDHN dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường THPT Đầm Hà 113
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông hiện nay đang là vấn đề được nhiều người quan tâm, nó chiếm vị trí quan trọng trong việc phân công lao động xã hội, trong phát triển nguồn nhân lực của cả nước Giáo dục hướng nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối với quốc gia, mà còn có ảnh hưởng đến từng gia đình, từng cá nhân Đảng ta đã xác định là cần tăng cường, đẩy mạnh hơn nữa giáo dục hướng nghiệp, mở rộng và phát triển các trường dạy nghề và nhanh chóng xây dựng nguồn nhân lực hợp lí về ngành nghề, trình độ đào tạo Do vậy, cần coi trọng công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương, mở rộng qui mô và nâng cao chất lượng lao động
Khi cả thế giới đã và đang bước vào nền văn minh công nghệ, nền kinh
tế tri thức và xu thế toàn cầu, cả nước đang trên con đường công nghiệp hóa
và hiện đại hóa thì rất cần nguồn lao động có trình độ, có năng lực, có ý thức
tự lập, năng động sáng tạo, thích ứng với mọi điều kiện hoàn cảnh sống và làm việc của thế giới nói chung và nước ta nói riêng Mặt khác, sự chuyên môn hóa trong sản xuất ngày càng ở trình độ cao Để đáp ứng yêu cầu đó, hệ thống giáo dục và đặc biệt là giáo dục bậc trung học phổ thông cần giúp các
em có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, chính xác, phù hợp với khả năng, sở thích của bản thân và phù hợp với yêu cầu của xã hội; tránh tình trạng đào tạo lệch, lãng phí trong đào tạo, đồng thời nâng cao năng xuất lao động
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông lại càng cần hơn bao giờ hết, bởi lẽ hiện nay hầu hết học sinh trung học phổ thông đều cảm thấy khó khăn khi lựa chọn nghề nghiệp, không biết nghề mình lựa chọn
có phù hợp với khả năng và sở thích không, có phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng doanh nghiệp không
Trang 7Thực tế hiện nay ở trường trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm
Hà - Tỉnh Quảng Ninh, công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh đã thu được một số kết quả nhất định Học sinh đã có những hiểu biết sơ lược về giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp; đã có thái độ quan tâm, hứng thú, tự tin trong quá trình tìm hiểu về nghề nghiệp, về cộng đồng doanh nghiệp để đi đến dự định chọn nghề dựa vào cộng đồng doanh nghiệp;
đã thực hiện một số công việc nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế nên kết quả chưa cao
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghên cứu đề tài “Giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận và thực tiễn giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh, từ đó đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường này
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà
4 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả nhất định xong vẫn chưa đáp ứng được mục
Trang 8tiêu của giáo dục hướng nghiệp Nếu đề xuất được các biện pháp giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp phù hợp với học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà thì không những giúp các em định hướng, chọn nghề phù hợp, mà còn đáp ứng tốt hơn nhu cầu nguồn nhân lực của cộng đồng doanh nghiệp
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
5.2 Phát hiện thực trạng giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh
5.3 Đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi một số biện pháp giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trong trường học
6.2 Giới hạn về đối tượng khảo sát
Đề tài nghiên cứu trên 153 học sinh và 58 cán bộ giáo viên trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
Trang 9- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp khảo nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liêu tham khảo, phụ lục, đề tài còn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng
doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông Chương 2: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh
nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà - Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh
nghiệp cho học sinh trường Trung học phổ thông Đầm Hà -
Huyện Đầm Hà - Tỉnh Quảng Ninh
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Giáo dục hướng nghiệp lần đầu tiên được đề cập đến ở Pháp vào năm 1849 Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” đã nói về vai trò quan trọng của hướng nghiệp, coi GDHN là vấn đề không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển Những năm đầu thế kỉ XX, vấn đề hướng dẫn chọn nghề được đặt ra một cách rộng rãi ở nhiều nước với tính chất cấp thiết của nó Việc hướng dẫn chọn nghề đã trở thành nghề của một số người
Năm 1918 - 1919, V.I Lê Nin đã yêu cầu phải cho HS phổ thông làm quen với khoa học kĩ thuật, với cơ sở của nền sản xuất hiện đại Sau này N.K Crupxkaia đã làm sáng tỏ và cụ thể hóa luận điểm của V.I Lê Nin vào thực tiễn Năm 1929, bà đã chỉ rõ trong tác phẩm “Chọn nghề” ý nghĩa, tầm quan
trọng và sự cần thiết của công tác hướng nghiệp nhằm giúp cho thanh niên chọn nghề một cách chính xác hơn
Năm 1973, V.A Borodin và Z.I Procopieva đã viết trong tác phẩm “Cẩm nang hướng nghiệp trong nhà trường Minxcơ rằng: Tốt nhất nên thực hiện dần dần những biện pháp hướng nghiệp tùy theo đặc điểm lứa tuổi, trình độ kiến thức, kỹ năng thực hành và trình độ phát triển chung Ở các lớp đầu phổ thông, qua quá trình dạy học, giáo viên cần phát triển ở HS khả năng tư duy sáng tạo, mở rộng tầm nhìn, sự ham hiểu biết của HS, giáo dục lòng yêu lao động và sự kính trọng người lao động [3; tr.12]
K.K Platonov khi nghiên cứu “Những vấn đề về năng lực” đã khẳng
định vai trò của công tác hướng nghiệp, hướng nghiệp qua quá trình dạy học
Trang 11Bằng con đường này, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những thông tin giá trị về nghề nghiệp, những đặc điểm và yêu cầu của nghề, những nghề có
triển vọng trong xã hội [23]
Năm 1975, các nhà giáo dục Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục: giảm
bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp kiến thức khoa học, tăng cường cung cấp kiến thức thực hành, hướng nghiệp Nhà trường Pháp đặc biệt chú trọng đến giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho HS; đặt GD lao động, thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường; đào tạo tiền nghề nghiệp là cơ sở của việc học tập liên tục về sau và chuẩn bị cho
HS bước vào cuộc sống lao động [9; tr.42 - 43]
R.N Conhiadeva cho rằng công tác hướng nghiệp qua quá trình dạy học
cho học sinh THPT được đặc trưng bởi hứng thú và xu hướng nghề nghiệp Thông qua dạy học, giáo viên có thể đi sâu, mở rộng tri thức về nghề nghiệp; ứng dụng tri thức của bài học với thực tiễn; cho HS làm quen với vấn đề tiền
lương, bảo hộ lao động, triển vọng của một số nghề [9; tr.93 - 95]
Năm 1993, Bộ Giáo dục liên bang Nga đã giữ lại nội dung chương trình
GD lao động và hướng nghiệp tại trường THPT, trong đó tăng cường phân
hóa GD lao động cũng như GD kỹ thuật tổng hợp tại bậc THPT nhằm mục
tiêu hướng nghiệp cho HS lớn bước vào trường nghề và cuộc sống Ông B.T Likhatrov, ủy viên Đoàn chủ tịch, Viện sỹ Viện Hàn lâm Liên bang Nga cho rằng: Trong các tiêu chí đánh giá chất lượng HS thì sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn là giá trị cao nhất [4; tr.41 - 42]
Ở thế kỷ XX, nhiều nước trên thế giới đã đạt được trình độ khá cao trong công tác tư vấn và tuyển chọn nghề Họ đã có nhiều công trình nghiên cứu về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hướng nghiệp thông qua con đường dạy học và các môn văn hóa cơ bản Bước sang thế kỷ XXI, vấn đề GD nghề nghiệp, GDHN vẫn được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm
Trang 12Theo các nhà giáo dục Anh Quốc, HS phổ thông từ 11 tuổi đến 14 tuổi
và từ 14 tuổi đến 16 tuổi có thể được chọn nghề nghiệp của mình, hoàn thành chương trình hướng nghiệp này sẽ nhận được chứng chỉ làm cơ sở cho việc nhận bằng quốc gia Mục đích của GD phổ thông nước Anh là trang bị cho
HS vốn kiến thức để tiếp thu chương trình đào tạo và GD đại học ở những giai đoạn sau Tất cả các HS 16 tuổi đều phải có hai tuần thử việc tại các công
ty địa phương như là một phần đào tạo hướng nghiệp chung [18; tr.287] Các nhà giáo dục Trung Quốc cho rằng GD nghề nghiệp không những là
trụ cột quan trọng của việc xã hội hóa sản xuất và hiện đại hóa phát triển, mà còn là khâu quan trọng thúc đẩy trình độ lực lượng sản xuất không ngừng nâng cao Trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự thay thế ngành nghề nhanh chóng, GD nghề nghiệp phải không ngừng thay đổi và điều chỉnh nội dung, phương pháp, phương tiện để thích ứng với yêu cầu của sự tiến bộ
và sự điều chỉnh ngành nghề Sự phát triển của GD nghề nghiệp là sự chuyển
từ GD nghề nghiệp sơ cấp, GD nghề nghiệp trung cấp là chủ yếu sang GD nghề nghiệp cao cấp là chính; từ GD mang tính đặc thù sang GD chung; từ
GD cụ thể sang GD thông dụng [18; tr.317]
Các nhà giáo dục Hoa Kỳ đang có nhiều nỗ lực để nâng cao hơn nữa
chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục nghề nghiệp Tăng cường kết quả học tập của HS nhằm đảm bảo cung cấp một lượng lao động có trình độ, có khả năng cạnh tranh và quan trọng là thích ứng được trong điều kiện nền kinh tế
có xu hướng toàn cầu Có nhiều nội dung được tăng cường, trong đó có tăng cường mối liên hệ giữa trường trung học với doanh nghiệp, nhà sản xuất kinh doanh theo hướng chuyển dần thành trường đào tạo nghề chuyên nghiệp Một phần của chiến lược này là tạo cơ hội cho HS được tham gia làm việc tại các
xí nghiệp Đây là một hình thức GDHN trong trường phổ thông “học đi đôi với hành, học gắn liền với lao động sản xuất” [18; tr.356]
Trang 13Các nhà giáo dục Nhật Bản đã xây dựng chương trình giáo dục THPT
theo ba loại: chương trình phổ thông, chương trình dạy nghề và chương trình phối hợp toàn diện Năm thứ nhất của trường THPT được dành cho giáo dục phổ thông, năm thứ hai chương trình được chia thành dự bị đại học và dạy nghề, năm thứ ba chương trình dành cho HS sẽ lên học đại học và được chia thành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học và công nghệ Khi đủ 15 tuổi,
HS vào học THPT sẽ quyết định học theo chương trình phổ thông, chương trình dạy nghề hay chương trình phối hợp toàn diện Ngay ở năm học đầu tiên của bậc học THPT, giáo dục Nhật Bản đã quan tâm đến công tác GDHN cho
HS Tùy theo chương trình mà có môn học đặc thù để giúp HS định hướng nghề nghiệp tương lai, tăng cường năng lực thực tiễn của cá nhân cần thiết
cho vai trò của người lao động [18; tr.453]
1.1.2 Ở Việt Nam
Muốn có được đội ngũ lao động kỹ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động xã hội thì chúng ta phải hướng nghiệp cho HS trong nhà trường phổ thông Hướng nghiệp giúp HS điều chỉnh, chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với sở thích và khả năng của mình, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực có tay nghề cao, phù hợp cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở địa phương, cũng như cả nước Giáo dục hướng nghiệp nhằm mục đích đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động thật sự có ích và phù hợp với các ngành nghề, với qui mô phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước
Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn của công tác GDHN trong nhà trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS khi ra trường, nên đã quan tâm chỉ đạo việc này từ rất sớm Ngày 19/03/1981, Hội
đồng Chính phủ đã ban hành quyết định 126/CP về công tác hướng nghiệp
trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lí HS các cấp tốt nghiệp ra
Trang 14trường Quyết định nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi, trực tiếp giúp
đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lí và tiếp tục bồi dưỡng HS phổ thông sau khi ra trường
Ngày 27/4/1982, Chính phủ ra thông tư 48/TT hướng dẫn xây dựng các
trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Từ đó đến nay, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, các trường phổ thông đã cố gắng đảm bảo công tác GD lao động - kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, gắn công tác GD
và đào tạo với mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phương
Nghị quyết lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII nêu rõ:
“Mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật - tổng hợp - hướng nghiệp ở trường trung học” [11; tr.35]
Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX lại tiếp tục khẳng
định: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
Đại hội đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X cũng đã nhấn mạnh
việc đổi mới hệ thống GD và đào tạo nhằm “phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao và nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lí về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền” [12; tr.96 - 97]
Luật giáo dục năm 2007 qui định mục tiêu của GD phổ thông là “GD trung học phổ thông nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của
GD trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [25; tr.21 - 22]
Trang 15Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ ra phương hướng phát triển đất nước từ năm 2011 đến 2015 về đổi mới và phát triển toàn
diện, mạnh mẽ GD và đào tạo: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển
và nâng cao chất lượng GD và đào tạo Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt coi trọng GD lí tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong
GD thế hệ trẻ” [13; tr.58] Trước sự thay đổi nhanh chóng do ảnh hưởng của
sự tác động toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đảng ta cũng nêu ra trong các
văn kiện này chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến năm 2020
về việc nâng cao chất lượng nguồn lực, đổi mới toàn diện và phát triển nhanh
GD và đào tạo: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực , đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của các lĩnh vực ngành nghề Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội Phát triển GD phải thực sự là quốc sách hàng đầu Tập trung nâng cao chất lượng GD, coi trọng GD đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề, GD chuyên nghiệp [13; tr.34] Đến đại hội Đảng lần thứ XII, Đảng ta đã đề ra mục tiêu
tổng quát của sự nghiệp phát triển GD và đào tạo nước nhà trong những năm
tới là: “Phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả GD, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấu đến năm
2030, nền GD Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [14] Trong văn
kiện đại hội XII, lần đầu tiên Đảng ta nêu ra quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo phải gắn với phát triển nguồn nhân lực
Trang 16Vấn đề GDHN ở trường phổ thông đã được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, từ việc thiết kế mô hình đến xây dựng nội dung và phương thức triển khai Có nhiều công trình nghiên cứu về GDHN của các tác giả như: Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Tất Dong, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Văn Hộ, Phan Thị
Tố Oanh
Năm 1979, Nguyễn Ngọc Bích nghiên cứu “Động cơ chọn nghề của
thanh niên” đã kết luận: Việc chọn nghề của thanh niên được thúc đẩy bởi động cơ bên trong Đối với các em nam đó là khả năng thực hiện công việc, tính chất quan trọng của nghề, nghề liên quan đến hứng thú của hoạt động Đối với các em nữ đó là nhu cầu của nhà nước, gia đình, vị trí xã hội, khả
năng của bản thân” [8]
Người có công đóng góp rất lớn trong sự nghiệp GDHN của Việt Nam là
Phạm Tất Dong Năm 1982 và 1989, ông đã nghiên cứu rất tỉ mỉ về hứng thú
nghề nghiệp, về nội dung và phương pháp GDHN cho HS qua hàng loạt các
nghiên cứu như “Hướng nghiệp cho thanh niên” [15], “Nghề nghiệp tương lai, giúp bạn chọn nghề” [16]
Nguyễn Ánh Tuyết nghiên cứu “Nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp của
học sinh lớp 10 - 12” vào năm 1984 và rút ra kết luận: Đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm giới tính có ảnh hưởng đến nguyện vọng chọn nghề; nhận thức vị trí nghề nghiệp có ảnh hưởng đến nguyện vọng chọn nghề; ước mơ, lí tưởng có
ảnh hưởng đến nguyện vọng chọn nghề [32]
Năm 1998, Nguyễn Văn Hộ đã có những nghiên cứu sơ lược mang tính
chất minh họa về hướng nghiệp qua môn Sinh vật, Toán, Vật lí, Địa lí, Văn, Giáo dục công dân [21]
Năm 2004, Phan Thị Tố Oanh đã nghiên cứu “Vấn đề hướng nghiệp cho
học sinh qua các môn văn hóa cơ bản ở trường trung học phổ thông các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long” Nội dung của nghiên cứu đề cập đến thực trạng
Trang 17hướng nghiệp qua các môn văn hóa cơ bản, vai trò của các môn văn hóa cơ bản đối với GDHN ở trường phổ thông và đưa ra một số biện pháp hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa cơ bản [28]
Ngoài các nghiên cứu kể trên, còn các nghiên cứu khác như: Huỳnh Thị Tam Thanh với vấn đề “Giáo dục hướng nghiệp theo quan điểm phát triển
nguồn nhân lực” [35], “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho hệ bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo định hướng nhân
lực” ” [36] Bùi Việt Phú với vấn đề “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa” [31] Phạm Văn Khanh
với vấn đề “Giáo dục hướng nghiệp trong dạy học các môn khoa học tự nhiên
ở trường trung học phổ thông khu vực Nam trung bộ” [24] Trương Thị Hoa
với vấn đề “ Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông qua tham vấn nghề” [19]
Có thể thấy vấn đề hướng nghiệp và chọn nghề của HS bậc THPT không phải là vấn đề mới, mà đã được nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu, từ trung ương đến địa phương, từ các nhà quản lí GD đến cha mẹ
HS và các em HS thực sự quan tâm Tuy nhiên, hiện nay từ cấp độ quản lí, các nhà GD vẫn chưa giải quyết tốt vấn đề GDHN cho HS bậc THPT, đặc
biệt là vấn đề GDHN cho HS bậc THPT dựa vào cộng động doanh nghiệp
1.2 Một số vấn đề lí luận về giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
1.2.1 Giáo dục hướng nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm giáo dục, hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp, nghề nghiệp và dạy nghề
- Khái niệm giáo dục:
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: Giáo dục là hoạt động tác động một cách có hệ thống đến đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng
lực như yêu cầu đề ra [33; tr.349]
Trang 18Theo Phạm Viết Vượng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có
hệ thống của các nhà GD đến các đối tượng GD, thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng, với những nội dung, hình thức và phương pháp GD phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi, để hình thành cho họ những phẩm chất của
người công dân theo yêu cầu của xã hội và thời đại [38; tr.11]
Có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà GD đến các đối tượng GD, nhằm giúp họ hình thành những phẩm chất mới hay xóa bỏ những hành vi sai lệch nào đó phù hợp với chuẩn mực xã hội
- Khái niệm hướng nghiệp:
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông: Hướng nghiệp là sự giúp đỡ lựa chọn hợp lí ngành nghề [33; tr.420]
Từ điển Bách khoa Việt Nam: Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu
cầu xã hội [34; tr.420]
Về phương diện cá nhân: Hướng nghiệp là hệ thống những hoạt động dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học và nhiều khoa học khác nhằm giúp cho HS chọn một trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu xã hội, phù hợp với năng lực, sự học tập, tính cách và hoàn cảnh của bản thân HS Từ đó, HS sẽ định hướng, phát triển đến đỉnh cao của nghề nghiệp mà mình đã chọn để tạo lập được cuộc sống tốt đẹp trong tương lai và toàn tâm, toàn ý cống hiến tài năng, trí tuệ của mình cho xã hội
Về phương diện xã hội: Hướng nghiệp là một hệ thống hoạt động của xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Trang 19Về phương diện kinh tế: Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dẫn dắt, tổ chức thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nhằm sử dụng hợp lí tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng xuất lao động
Về phương diện khoa học lao động: Hướng nghiệp là hình thức giám định lao động có tính chất chuẩn đoán Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề của từng người cụ thể trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm sinh lí của họ với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động
Theo các nhà giáo dục học: Hướng nghiệp là một hoạt động của tập thể
sư phạm nhằm giúp HS chọn nghề một cách hợp lí, phù hợp với hứng thú, nguyện vọng, năng lực của cá nhân và yêu cầu của xã hội [29; tr.60]
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu hướng nghiệp là toàn bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, nhu cầu của cá nhân với yêu cầu của xã hội Hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội phải có trách nhiệm tham gia, là quyền lợi của HS Chúng ta không nên để HS chọn nghề một cách tự phát mà phải hướng dẫn HS chọn nghề theo hứng thú, sở thích và giúp các em nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra Hướng nghiệp là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó và có được cuộc sống thỏa mãn với lao động nghề nghiệp
Theo chúng tôi, khái niệm hướng nghiệp được hiểu như sau:
Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp dục của gia đình, nhà trường
và xã hội dựa trên cơ sở tâm sinh lí, y học, xã hội học để giúp thế hệ trẻ chọn nghề vừa đáp ứng nhu cầu của xã hội, vừa phù hợp với hứng thú, nguyện vọng, năng lực, tính cách và thế chất của HS, nhằm phân bổ và sử dụng lực lượng lao động một cách hợp lí và hiệu quả nhất
Trang 20- Khái niệm giáo dục hướng nghiệp:
Theo Trần Thị Tuyết Oanh: “Giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động
của tập thể sư phạm nhằm giúp HS chọn nghề một cách hợp lí, phù hợp với hứng thú, nguyện vọng, năng lực của cá nhân và yêu cầu của xã hội” [29;
tr.60] Theo Phạm Viết Vượng: “Giáo dục hướng nghiệp là những tác động
định hướng nghề nghiệp cho HS nhằm giúp các em lựa chọn một nghề phù hợp với năng lực, sở trường, nguyện vọng của cá nhân và phù hợp với yêu cầu về nhân lực của thị trường lao động” [39; tr.226]
Theo Phùng Đình Mẫn: “Giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động chuẩn
bị cho HS đi vào lao động nghề nghiệp, thông qua các buổi hoạt động GDHN, học sinh thấy được những phẩm chất tâm lí nghề nghiệp cần hình thành, từ đó các em có kế hoạch phấn đấu, tu dưỡng để có được những phẩm chất nhân cách của người lao động trong nghề mà mình yêu thích” [27; tr.25]
Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu giáo dục hướng nghiệp là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến định hướng nghề nghiệp của HS nhằm giúp các em có những lựa chọn nghề đúng đắn trên cơ
sở vừa phù hợp với năng lực, tâm lí của cá nhân, vừa phù hợp với nhu cầu nghề của xã hội
- Khái niệm nghề nghiệp và dạy nghề:
+ Nghề nghiệp:
Nghề nghiệp là một loại hoạt động đặc thù của con người, nảy sinh khi
có sự phân công lao động, hình thành cùng với sự phát triển xã hội Xã hội càng phát triển cao thì xuất hiện càng nhiều nghề mới đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của con người, của xã hội Xã hội càng nhiều nghề bao nhiêu thì sự lựa chọn của cá nhân lại càng khó bấy nhiêu
Theo E.A Klimov: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động
vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội
Trang 21(do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển” [22; tr.10]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội” [30; tr.664]
Theo Phạm Tất Dong: Nghề là những nhóm chuyên môn gần nhau Một
nghề bao giờ cũng gồm nhiều chuyên môn [16]
Qua các khái niệm trên, có thể hiểu nghề nghiệp là một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công của xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu của bản thân), trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi
để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và của cá nhân Vì vậy, nói đến nghề nghiệp, trước hết phải nói đến những yêu cầu khách quan do xã hội đặt ra Nghề nghiệp đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nhất định
Trong xã hội, nghề nghiệp rất đa dạng E.A Klimov đã dựa vào đối tượng
lao động để chia các nghề thành năm nhóm:
Nhóm nghề quan hệ trực tiếp với con người: Thầy giáo, thầy thuốc, cán
bộ quản lí, nhân viên bán hàng, cán bộ tuyên giáo
Nhóm nghề quan hệ với nghệ thuật:Họa sỹ, nhạc sỹ nhà văn, nhà thơ,
nhà điêu khắc, diễn viên điện ảnh
Nhóm nghề quan hệ với tự nhiên: Lâm nghiệp, sản xuất nông nghiệp, chăn
nuôi, trồng trọt
Nhóm nghề quan hệ với kỹ thuật: Kỹ sư nông nghiệp, kỹ sư lâm nghiệp,
kỹ sư công nghiệp, thợ cơ khí
Nhóm nghề quan hệ với tín hiệu: Kế toán, tin học, bưu chính viễn thông,
nhân viên đánh máy
Trang 22+ Dạy nghề: Dạy nghề là một quá trình đào tạo chuyên biệt nhằm giúp người học đạt được những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định Thông qua học nghề, người học có thể tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi của cá nhân và xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng và của cả nước
Luật giáo dục năm 2015 điều 4 qui định mục tiêu chung của GD nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học
có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn Tại điều này, luật giáo dục năm 2015 cũng qui định mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của GD nghề nghiệp như sau: Đào tạo trình độ sơ cấp để người học
có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề; Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm; Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề;
có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc [26]
1.2.1.2 Bản chất và vai trò, ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
- Bản chất của giáo dục hướng nghiệp:
Bản chất của giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống điều khiển động cơ chọn nghề của HS Hệ thống điều khiển này bao gồm:
Trang 23+ Chủ thể của sự điều khiển: Nhà trường, gia đình, các cơ quan đoàn thể
có chức năng của nhà nước (trong đó có cả các cơ sở sản xuất, xí nghiệp ), các tổ chức xã hội
+ Phương tiện và phương pháp điều khiển: Công tác hướng nghiệp trong nhà trường, sự GD của gia đình, sự thông tin định hướng về các nghề nghiệp của các cơ quan chuyên môn của nhà nước, tác động của các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận nhóm và dư luận xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp của các trung tâm tư vấn nghề nghiệp
+ Đối tượng điều khiển: Động cơ chọn nghề và định hướng giá trị nghề nghiệp của HS
+ Kết quả điều khiển: Là sự sẵn sàng nghề nghiệp của HS, cụ thể là chuẩn bị cho HS có khả năng định hướng và chọn nghề, chọn trường nghề phù hợp với hứng thú và nguyện vọng của bản thân, đáp ứng đòi hỏi của nghề
và yêu cầu của xã hội [2; tr.267]
- Vai trò, ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp:
Giáo dục hướng nghiệp có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội, nó được thể hiện rõ nét ở bốn mặt: Giáo dục, kinh
tế, chính trị và xã hội
+ Ý nghĩa giáo dục: Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của công tác
GD Giáo dục hướng nghiệp là công việc điều chỉnh động cơ chọn nghề của
HS, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế nhu cầu lao động xã hội và sự phân công lao động xã hội Thực tế cho thấy: sự lựa chọn nghề nghiệp một cách tự phát của HS ít khi phù hợp với hướng sản xuất, với nhu cầu lao động của xã hội, vì thế xảy ra tình trạng mất cân đối (người có trình độ đại học thì nhiều, còn công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề lại thiếu) Từ
đó nảy sinh vấn đề làm việc trái với ngành được đào tạo, người có trình độ đại học lại đi làm công việc của một công nhân kỹ thuật Như vậy, GDHN có vai
Trang 24trò và ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của xã hội Giáo dục hướng nghiệp giúp HS tự giác chọn nghề trên cơ sở biết điều hòa lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân sao cho phù hợp với hứng thú, nguyện vọng của bản thân Giáo dục hướng nghiệp còn góp phần vào việc cụ thể hóa mục tiêu GD của nhà trường phổ thông, giúp đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động trong những lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể
+ Ý nghĩa kinh tế: Giáo dục hướng nghiệp luôn hướng vào việc sử dụng hợp lí tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước, từ đó nâng cao năng xuất lao động xã hội Đồng thời, đưa HS vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy hết năng lực lao động, phát triển cao hứng thú nghề nghiệp, tăng khả năng sáng tạo trong lao động Từ đó, biến nghề nghiệp không chỉ là nơi kiếm sống đơn thuần, mà còn là nôi giúp cá nhân HS thể hiện nhân cách, phát triển năng lực, hết mình cống hiến sức lực và trí ruệ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Tuy nhiên, để đảm bảo ý nghĩa kinh tế của GDHN thì nhà trường phổ thông phải gắn mục tiêu đào tạo với những mục tiêu kinh tế xã hội Sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, đi vào sự phân công lao động trong phạm vi cả nước và từng địa phương
+ Ý nghĩa chính trị: Giáo dục hướng nghiệp góp phần cụ thể hóa mục tiêu GD của nhà trường phổ thông, điều đó có nghĩa là GDHN đã hiện thực hóa đường lối GD của Đảng và Nhà nước, hiện thực hóa đường lối GD vào trong đời sống xã hội Ngày nay, cuộc chạy đua về sản xuất đang diễn ra rất mãnh liệt, những nước bị tụt hậu phần lớn là do chưa làm tốt công tác GDHN Giáo dục hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả GD, nếu làm tốt công tác GDHN sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người lao động - yếu tố cơ bản của việc tăng năng xuất lao động xã hội,
sẽ tạo nên lớp người mới đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc
Trang 25+ Ý nghĩa xã hội: Giáo dục hướng nghiệp giúp điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân bằng trong việc phân bố lực lượng dân cư Giáo dục hướng nghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề sẽ có tác dụng làm ổn định đời sống xã hội, góp phần tạo điều kiện cho xã hội sử dụng hết lực lượng học sinh THPT ra trường trong mọi lĩnh vực kinh tế
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề
Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề có mối quan hệ mật thiết với nhau, GDHN được tiến hành trước, dạy nghề là bước tiếp theo - bước triển khai kết quả của GDHN Giáo dục hướng nghiệp không gắn với dạy nghề là giáo dục hướng nghiệp không có đích, dạy nghề không gắn với GDHN là dạy nghề thiếu những tiền đề cần thiết
Giáo dục hướng nghiệp mang tính chất tiền nghề nghiệp, giúp HS tiếp cận, làm quen với một số ngành nghề chủ yếu của địa phương, của đất nước; kích thích HS tìm hiểu nghề, hiểu rõ tầm quan trọng của nghề trong phương hướng phát triển và yêu cầu sử dụng nhân lực trong nghề đó Giáo dục hướng nghiệp sẽ trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng lao động cần thiết và làm quen với hoạt động nghề nghiệp, qua đó chuẩn bị tích cực cho các em hướng
đi, sự lựa chọn nghề nghiệp để bước vào cuộc sống sau khi tốt nghiệp THPT Dạy nghề là trang bị cho HS kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp rộng và chuyên sâu theo một qui trình đào tạo chặt chẽ; hình thành cho HS tay nghề, phát triển mạnh mẽ những tri thức, kỹ năng lao động theo một nghề nào đó Trong môi trường việc làm thay đổi ngày càng nhanh chóng thì chỉ dẫn
và tư vấn nghề nghiệp là hết sức quan trọng, nó là khâu chính trong những khâu của GDHN và góp phần nâng cao hiệu quả của dạy nghề Vì vậy, chỉ dẫn và tư vấn nghề nghiệp cần phải theo sát các yêu cầu của thị trường lao động nhằm xây dựng và phát triển kế hoạch dạy nghề sao cho phù hợp nhất
với HS
Trang 261.2.1.4 Hướng nghiệp và vấn đề phân luồng học sinh
Hướng nghiệp cho học sinh THPT là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THPT, từ đó có nguồn để phát triển nhân lực Nguồn nhân lực đã định hướng này được sử dụng hiệu quả sẽ phục
vụ tốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng và cả nước Định hướng nghề nghiệp cho HS là một nhiệm vụ rất quan trọng của công tác GDHN, nếu thực hiện việc này một cách nghiêm túc, khoa học, chính xác sẽ đem lại lợi ích cho xã hội, cho gia đình và bản thân HS Trong quá trình GDHN, học sinh được tạo điều kiện tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong xã hội để giúp cho việc định hướng nghề nghiệp, từ đó
HS thấy được sự phù hợp năng lực bản thân với yêu cầu của nghề cụ thể Hướng nghiệp và phân luồng HS có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, đó là hai mặt của một quá trình thống nhất Hướng nghiệp (mà khâu chủ yếu là tư vấn nghề) có vai trò điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của HS cho ăn khớp với nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, ăn khớp với các hướng phân luồng đã được Nhà nước định ra ở từng giai đoạn phát triển kinh tế Hướng nghiệp và phân luồng HS chính là cầu nối giữa người học với thị trường đào tạo và thị trường lao động Nếu làm tốt công tác hướng nghiệp
và phân luồng HS, chúng ta sẽ có cơ cấu đào tạo cân đối, cơ cấu nguồn nhân lực hợp lí tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh
Trang 27Theo Nguyễn Đức Vinh và Đinh Thị Vinh: Cộng đồng là một hệ thống
xã hội, một nhóm người cùng có những đặc điểm chung Nói cách khác, cộng đồng là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực nhất định, họ
có chung đặc điểm tâm lí, tác động qua lại và sử dụng các tài nguyên vốn có
để đạt được mục đích chung [37]
Theo Bách khoa toàn thư: Cộng đồng là một nhóm người theo đuổi cùng một mục tiêu Chỉ khi sống trong cộng đồng, ta mới cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa Chính cảm giác này sẽ thúc đẩy bạn bộc lộ hết khả năng và những phần chân thật ẩn sâu trong bạn, dẫn dắt để bạn biết yêu và được yêu, biết làm thế nào để quan tâm và được quan tâm trở lại Cộng đồng mang lại cho bạn chỗ ẩn náu an toàn trong những cơn giông bão của cuộc đời Vì vậy, khi một cộng đồng được xây dựng trên cơ sở của lòng yêu thương và sự cảm thông sẽ giúp mỗi thành viên tham gia có được cuộc đời tười đẹp và trọn vẹn nhất Cộng đồng gồm các thành tố cơ bản:
+ Con người: Dân cư hay một nhóm người có mối quan hệ qua lại riêng biệt do họ có những mối quan tâm chung nhằm đáp ứng nhu cầu chung của họ + Lãnh thổ: Khu vực, xét về đặc điểm tâm lí và không gian mà con người sinh sống có thể là làng, xã, huyện, tỉnh, trong một khu vực địa lí nhất định + Tương tác xã hội: Là mối quan hệ mà trong đó hành động của người này có ý nghĩa và chi phối đến người khác
+ Ràng buộc chung: Con người có văn hóa, chuẩn mực, niềm tin, truyền thống chung trong các hoạt động hàng ngày
+ Nhu cầu chung: Con người tập trung lại với nhau là do họ có cùng mối quan tâm đáp ứng nhu cầu chung cho tất cả mọi người [37]
Có thể nói, cộng đồng gồm những người có đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích chung Có cộng đồng địa lí và cộng đồng chức năng
Trang 28Cộng đồng địa lí: cùng địa bàn, cùng lợi ích hoặc mối quan tâm; chung đặc điểm văn hóa - xã hội; có mối quan hệ ràng buộc
Cộng đồng chức năng: cùng hoặc không cùng địa phương hoặc địa bàn
cư trú; có cùng lợi ích (nghề nghiệp, sở thích, hợp tác )
- Khái niệm doanh nghiệp:
+ Doanh nghiệp là một trong những chủ thể kinh doanh chủ yếu của xã hội Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm ổn định các hoạt động kinh doanh
+ Sơ đồ khái quát doanh nghiệp:
* Nơi sản xuất kết hợp với đầu vào để sản xuất của cải hoặc dịch vụ đem bán
* Nơi phân chia các thu nhập cho người lao động của chủ sở hữu, các
nhà cung ứng đầu vào
* Nơi hợp tác hoặc xử lí các xung đột giữa các thành viên của doanh
nghiệp (những người ăn lương và các nhà lãnh đạo)
* Nơi thực hiện quyền lực là chủ doanh nghiệp, các cán bộ truyền đạt tới
nhân viên thực hiện
+ Mục tiêu của doanh nghiệp: Doanh nghiệp có mục tiêu chính là kiếm lời, cung cấp hàng hóa và dịch vụ, tiếp tục phát triển, ngoài ra còn có trách nhiệm với cộng đồng xã hội Mục tiêu của doanh nghiệp bao gồm:
* Mục tiêu lợi nhuận: Doanh nghiệp cần có lợi nhuận để bù đắp lại chi phí sản xuất, những rủi ro gặp phải để tiếp tục phát triển Nếu không có lợi nhuận, doanh nghiệp không thể trả công cho người lao động, duy trì việc làm lâu dài cho họ, cũng như không thể cung cấp lâu dài hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng và cộng đồng
* Mục tiêu cung ứng: Doanh nghiệp phải cung ứng hàng hóa hay dịch vụ
để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, để thu được lợi nhuận Vì thế mục tiêu này còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với xã hội và nhờ thực hiện mục tiêu này doanh nghiệp mới có thể tồn tại
Trang 29* Mục tiêu phát triển: Trong một nền kinh tế đang mở mang, thì phát
triển là một dấu hiệu của sự lành mạnh và sự thành công trong hoạt động kinh doanh Do đó, sự phát triển của doanh nghiệp cũng có ý nghĩa góp sức vào sự phát triển mạnh của nền kinh tế
* Trách nhiệm với xã hội: Cùng với việc kiếm lời, doanh nghiệp đồng
thời có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của khách hàng, của người cung ứng đầu vào cho mình, những người làm công trong doanh nghiệp Trách nhiệm đối với xã hội còn ở chỗ hoạt động kinh doanh phải tôn trọng luật pháp và bảo vệ môi trường xung quanh Ngoài ra còn cần quan tâm đến khuynh hướng tiêu thụ trong các mục tiêu của mình
+ Các loại hình doanh nghiệp:
* Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
* Theo lĩnh vực hoạt động: Các doanh nghiệp thương mại, các doanh nghiệp công nghiệp, các doanh nghiệp dịch vụ
* Theo qui mô: Doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn
* Theo cấp hành chính: Doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương
* Theo loại hàng hóa: Doanh nghiệp dược phẩm, thực phẩm, thủy hải sản
* Theo tính chất hoạt động về kinh tế: Doanh nghiệp kinh doanh và doanh nghiệp tư vấn [42]
- Khái niệm doanh nghiệp xã hội:
Doanh nghiệp xã hội được hiểu là một tổ chức có các hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu mang tính xã hội, lợi nhuận thu được sử dụng để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng
Theo quan điểm của một số hiệp hội như Ashoka, Echoing Green, Skoll Foundation : Doanh nghiệp xã hội là mô hình phát triển các giải pháp sáng tạo, hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề xã hội trên thế giới
Trang 30Theo tổ chức OECD: Doanh nghiệp xã hội là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lí khác nhau, vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế Doanh nghiệp xã hội thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn Ngoài ra, doanh nghiệp xã hội còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng trên các lĩnh vực GD, văn hóa, môi trường
Theo Wikipedia: Doanh nghiệp xã hội là một tổ chức vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, áp dụng các chiến lược kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu từ thiện Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp xã hội, tựu chung lại doanh nghiệp xã hội có các đặc điểm chính sau đây:
+ Doanh nghiệp xã hội đặt mục tiêu, xứ mệnh xã hội rõ nét ngay từ khi thành lập
+ Sử dụng các hoạt động kinh doanh, cạnh chanh bình đẳng là phương tiện để đạt mục tiêu xã hội
+ Sử dụng phần lớn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh để đầu tư trở lại
tổ chức, cộng đồng và cho mục tiêu xã hội [43]
1.2.2.2 Cộng đồng doanh nghiệp
- Khái niệm cộng đồng doanh nghiệp:
Từ khái niệm cộng đồng và khái niệm doanh nghiệp, theo chúng tôi khái
niệm cộng đồng doanh nghiệp được hiểu như sau: Cộng đồng doanh nghiệp
là những người kinh doanh có những đặc điểm chung, có mối quan tâm chung, có lợi ích chung và nhằm mục đích sinh lời
- Cộng đồng doanh nghiệp luôn có vai trò then chốt trong hợp tác APEC, vào những thời điểm thuận lợi cũng như khó khăn Cộng đồng doanh nghiệp
sẽ tiếp tục có vai trò quan trọng sống còn trong việc giúp chúng ta vượt qua những thách thức hiện nay Chủ tịch các quan chức cao cấp APEC năm 2017
Nguyễn Thanh Sơn cho biết [43]
Trang 311.2.3 Một số đặc điểm tâm sinh lí cơ bản của học sinh trung học phổ thông
1.2.3.1 Khái niệm học sinh trung học phổ thông
Đối với đa số thanh niên, tuổi thanh niên bắt đầu từ 14, 15 tuổi đến 24,
1.2.3.2 Một số đặc điểm sinh lí cơ bản của học sinh trung học phổ thông
tương đương với người lớn
- Hệ xương được hoàn thiện, được cốt hóa, chiều cao phát triển chậm lại
- Hệ cơ phát triển rất mạnh (các em cao nhưng không gầy như HS trung học
cơ sở) Sức mạnh cơ bắp của các em trai tăng nhanh, thể tích lồng ngực tăng
- Không còn sự mất cân đối giữa tim và mạch, huyết áp cân bằng
- Hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng (thay đổi về chức năng của não bộ, còn về cấu tạo của não bộ gần như ổn định)
- Sự phát dục của học sinh THPT được kết thúc ở đầu lứa tuổi này, ở các
em phát triển khá mạnh những dấu hiệu phụ của giới tính, vì vậy cơ thể các
em cân đối và duyên dáng [20]
1.2.3.3 Một số đặc điểm tâm lí cơ bản của học sinh trung học phổ thông
- Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT
+ Đặc điểm hoạt động học tập: ý thức được hoạt động học tập là việc chuẩn bị để bước vào đời, việc võ trang tri thức cho mình là điều kiện quan trọng để các em có thể chọn được nghề Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này và nó có những đặc điểm sau đây:
Trang 32* Tính chất môn học:
em phải có tính năng động và tính độc lập cao hơn Các yêu cầu học tập cao hơn là: làm nhiều bài tập hơn, đọc thêm sách, kỹ năng trí tuệ, phương pháp học tập mới, cần nhiều thời gian
* Động cơ học tập:
nghĩa xã hội Đối với , động cơ có ý nghĩa nhất là động cơ
thực tiễn (ý nghĩa thực tiễn của môn học đối với , khả năng tiếp thu môn học của học sinh THPT, thứ hai là động cơ nhận thức (học để mở rộng hiểu biết, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo), sau đó đến ý nghĩa xã hội của môn
học, rồi mới đến động cơ cụ thể khác
Động cơ học tập của học sinh THPT thay đổi đã tạo cho các em có thái
độ học tập mới: Học tập tự giác, có ý thức; học tập mang tính chất chọn lọc và phụ thuộc vào nghề định chọn
* Hứng thú học tập:
Hứng thú học tập : Hứng thú học tập liên
quan đến việc chọn nghề; hứng thú học tập ổn định và bền vững (do có động cơ
và thái độ học tập bền vững); hứng thú học tập được mở rộng ra nhiều lĩnh vực hoạt động mới (hoạt động chính trị xã hội, đạo đức, tự nhiên ); hứng thú học
tập sâu sắc và tương đối toàn diện
+ Đặc điểm phát triển trí tuệ:
* Về tri giác: Tri giác có chủ định (quan sát) phát triển, các em quan sát
có mục đích, có hệ thống và toàn diện Tức là đã biết quan sát
có trọng tâm, có phương pháp, có kỹ năng và khối lượng quan sát nhiều hơn Tuy vậy, học sinh THPT vẫn chưa biết tích lũy sự kiện, nếu có tích lũy thì chưa biết sử dụng sự kiện, hay kết luận vội vàng
Trang 33* Về trí nhớ: Ghi nhớ có chủ định (đặc biệt là ghi nhớ ý nghĩa) tăng lên
rõ rệt, biết sử dụng trí nhớ một cách linh hoạt và đúng chỗ (các em biết làm đề cương, biết tìm ra phương pháp nhớ thích hợp) Tuy vậy, vẫn còn một số em
ghi nhớ đại khái, chung chung
* Về tư duy: Tư duy trừu tượng, tư duy lý luận phát triển khá mạnh (
THPT đã có khả năng tìm hiểu các thuộc tính bản chất, thuộc tính bên trong của
sự vật - hiện tượng); tính tích cực của tư duy phát triển khá rõ; các thao tác của tư
duy cũng phát triển Tuy vậy, vẫn còn nhiều em chưa phát huy hết tính tích cực và khả năng độc lập trong tư duy, tư duy còn vội vàng và hấp tấp
* Về tưởng tượng: Tưởng tượng của h
tưởng tượng sáng tạo phát triển mạnh hơn
* Về ngôn ngữ: Vốn từ tăng lên, ngôn ngữ bên trong của học sinh THPT phát triển mạnh, ngôn ngữ viết nhiều hơn ngôn ngữ nói
Nhìn chung trí tuệ của đã phát triển nhưng vẫn còn được hoàn thiện trong quá trình sống và hoạt động của các em
- Đặc điểm phát triển nhân cách của học sinh THPT
em đánh giá những phẩm chất của mình không dựa vào người khác, đánh giá
hướng về tương lai (thường tự đánh giá mình về các mặt: đạo đức, trí tuệ, thể lực )
tính, cùng một độ tuổi nhưng tự ý thức về xã hội của nữ thường rõ hơn nam,
Trang 34hình thức tự tu dưỡng của nữ phong phú hơn nam (nữ thường hay viết nhật ký) Nam thường đánh giá cao khả năng của mình, nữ đánh giá mình chín
chắn hơn, thận trọng hơn
đánh giá (tỏ ra tự cao, coi thường người khác)
hình thành được một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình
+ Đời sống tình cảm:
hiện rõ nhất trong tình bạn Tình bạn của sâu sắc, bền vững và
mang tính xúc cảm cao Biểu hiện: Các em có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn (sự chân thực, lòng vị tha, tin tưởng, tôn trọng và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau); tình bạn không chỉ theo nghĩa gần gũi mà còn có sự đồng cảm; n
trung học cơ sở, tình bạn chỉ trên cơ sở những hứng thú chung và trong phạm vi nhóm bạn thì ở tình bạn có được trên cơ sở sự đồng cảm Tình bạn của các em chân thành, ấm áp và các em quan tâm đến
hiện: Nhu cầu về bạn thân ở nữ xuất hiện sớm hơn nam; tình bạn mang tính
chất lý tưởng ở nữ cao hơn nam; sự khác nhau giữa các cá nhân trong tình bạn khá rõ: có người chỉ chơi với một bạn, có người chơi với nhiều bạn Tình cảm giữa bạn nam và bạn nữ xuất hiện, ở một số em đã xuất hiện tình yêu
Trang 35Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lí
cơ sở của thế giới quan được hình thành từ nhỏ nhưng đến tuổi này mới hình
thành sâu sắc, đầy đủ Biểu hiện:
riêng về xã hội, về các nguyên tắc xử thế; hình thành hứng thú nhận thức đối với các qui luật tự nhiên, qui luật xã hội; h c sinh THPT quan tâm đến các vấn đề: mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội và chú ý tới ý nghĩa cuộc sống; t
chịu ảnh hưởng của tàn dư tiêu cực, say mê những thú vui không lành mạnh hoặc sống thụ động [20]
+ Sự lựa chọn đường hướng tương lai:
Học sinh THPT đã có kế hoạch và mong ước thực hiện kế hoạch đã đặt
ra cho cuộc đời Bắt đầu nửa năm học cuối cùng của phổ thông, nhiều bạn đã
có những căng thẳng về vấn đề làm gì sau khi tốt nghiệp (đi làm, học nghề hay tiếp tục học lên bậc cao hơn)
Việc chọn nghề đã trở thành vấn đề khẩn thiết đối với học sinh THPT Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai là phụ thuộc vào sự lựa chọn nghề nghiệp có đúng hay không đúng Khi lựa chọn nghề nghiệp tương lai, học sinh THPT đã biết căn cứ vào đặc điểm thể chất, tâm lí và những yêu cầu của nghề nghiệp Tuy nhiên, nhiều em còn định hướng một cách phiến diện về việc học tập nghề ở trường đại học và chưa chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với những ngành nghề khác nhau, thị trường lao động của nghề mà mình chọn Vì vậy, công tác GDHN trong nhà trường phổ thông là rất quan trọng Trong thực tế, h
đường đời của mình trong tương lai Các em đã vạch ra kế hoạch đường đời
và xác định được để thực hiện kế hoạch đó thì phải học tập thật tốt và vượt qua kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia Tuy nhiên, việc hoạch định kế hoạch đường đời của học sinh THPT còn mang tính chủ quan, cảm tính
Trang 361.2.4 Giáo dục hướng nghiệp dựa vào cộng đồng doanh nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
1.2.4.1 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
a Mục đích của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
Mục đích của GDHN cho học sinh THPT hiện nay là nhằm bồi dưỡng, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực, năng lực, năng khiếu của cá nhân
b Nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
Nội dung công tác GDHN cho học sinh THPT bao gồm:
- Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn về nghề nghiệp, GD lòng yêu lao động, niềm tin trong lao động, thấy được lao động là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân Thông qua các giờ hướng nghiệp, giúp HS có thái
độ đúng đắn với lao động xã hội và người lao động, thấy rõ trách nhiệm của mình trong hưởng thụ và cống hiến; đánh giá đúng những khó khăn và thuận lợi của đất nước, của địa phương nhằm tạo cho mình tâm thế sẵn sàng tham gia vào mọi nghề, ở mọi nơi mà Tổ Quốc cần Ngoài ra, hướng nghiệp còn bao gồm cả việc giới thiệu những yêu cầu mà nghề nghiệp đòi hỏi cần có ở con người như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, đặc điểm tâm sinh lí Đây là cơ sở giúp HS xem xét, lựa chọn nghề phù hợp với mình
- Giải thích, tuyên truyền về các nghề trong xã hội, giúp HS có hiểu biết khái quát về cơ cấu của nền kinh tề quốc dân; về vị trí, vai trò của từng nghề đối với nền kinh tế; đặc điểm của nghề, những yêu cầu về tâm sinh lí của nghề Tuy nhiên, việc này cần phải lưu ý:
+ Định hướng chú ý của HS vào những ngành nghề mà nhà nước và địa phương đang cần
+ Kích thích HS tự giác tìm hiểu các ngành nghề trong xã hội
+ Kết hợp chặt chẽ với kế hoạch phát triển kinh tế, nhu cầu sử dụng nhân lực của địa phương và cả nước
Trang 37- Khơi dậy chí hướng và hứng thú nghề nghiệp cho HS Những mầm mống tốt, những HS có thiên hướng nghề rõ rệt cần được phát triển, duy trì và giúp đỡ phát triển
- Hình thành ở HS hệ thống tri thức khoa học công nghệ của sản xuất, lao động có văn hóa Trên cơ sở đó hình thành những kỹ năng, kỹ xảo ban đầu về nghề nghiệp, giúp giảm nhẹ mức độ căng thẳng trong quá trình tiếp xúc với nghề nghiệp sau này
- Tổ chức cho HS thực tập làm quen với một số ngành nghề chủ yếu trong
xã hội, nghề truyền thống ở địa phương để các em thử sức, từ đó tự đánh giá năng lực của mình một cách chính xác và có sự lựa chọn nghề phù hợp
- Tiến hành công tác hướng nghiệp qua các bộ môn khoa học cơ bản để tạo cho HS có điều kiện hiểu được sự vận dụng tri thức trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định, thấy rõ tiềm năng, triển vọng của địa phương, của đất nước đối với sự phát triển kinh tế và tương lai của một số ngành nghề Đồng thời hướng dẫn HS
đi vào những ngành nghề, những nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi
Tóm lại, nội dung GDHN cho học sinh THPT là: Cung cấp cho HS hiểu biết những ngành nghề khác nhau trong xã hội, ý nghĩa và vai trò của các ngành nghề đó đối với nền kinh tế quốc dân, các điều kiện lao động và những đòi hỏi của ngành nghề đó về các phẩm chất tâm sinh lí cá nhân, yêu cầu của kinh tế xã hội đối với việc phát triển của từng ngành nghề, cung cấp cho HS những hiểu biết về nhu cầu nhân lực của thị trường lao động hiện nay Như vậy, có thể khẳng định GDHN là việc làm khoa học đòi hỏi nhà GD phải được đào tạo về công việc này, đồng thời cần sự tự giác, nghiêm túc và nhiệt tình của từng HS [2; tr.268]
c Các hình thức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
- Giáo dục hướng nghiệp thông qua giảng dạy các môn khoa học cơ bản
Trang 38Một nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của trường THPT là chuẩn
bị mọi mặt cho HS sẵn sàng bước vào lao động sản xuất với những ngành nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân Nhiệm vụ này được tiến hành trên cơ sở GD toàn diện thông qua việc giảng dạy các môn khoa học cơ bản Các môn khoa học
cơ bản có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển nhân cách con người
Nó cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, những kiến thức cần thiết và tối thiểu về ngành nghề - đây là cơ sở khoa học cho việc giáo dục KTTH, giúp xây dựng và phát huy những năng lực, sở trường đa dạng của HS, chuẩn bị cho các em vào cuộc sống và lao động nghề nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp thông qua giảng dạy các môn khoa học cơ bản là một công việc hết sức khó khăn nhưng lại thiếu một sự chỉ dẫn cụ thể về phương pháp tiến hành và biện pháp thực hiện Chúng ta cần chú ý một số điểm khi triển khai GDHN thông qua các môn khoa học cơ bản :
+ Những kiến thức và kỹ năng của các môn khoa học cơ bản mà HS lĩnh hội được sẽ tạo nền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghề nghiệp, là điểm tựa
để bồi đắp dần tri thức chuyên ngành, tay nghề cho giai đoạn tiếp theo
+ Kiến thức của các môn khoa học cơ bản đã bao gồm trong đó một lượng thông tin khá phong phú về nghề nghiệp, về công cụ và phương tiện lao động, công cụ và phương tiện tư duy trong quá trình lao động
+ Không phải cứ đưa nhiều kiến thức có liên quan đến nghề nghiệp vào bài giảng các môn khoa học cơ bản là làm tốt công tác GDHN Vấn đề chủ yếu ở đây
là phải lựa chọn lượng thông tin trong mỗi môn học để phục vụ công tác hướng nghiệp, đưa thông tin này tới mỗi HS bằng con đường nào để vừa phù hợp với đặc thù của từng môn học, vừa phù hợp với hiểu biết và năng lực của HS
Trang 39+ Thông tin nghề nghiệp trong nội dung các môn khoa học cơ bản chưa hẳn đã có tính chất nghề nghiệp Trong trường hợp này, các môn khoa học cơ bản chỉ biểu hiện về mặt hướng nghiệp như phương tiện hỗ trợ trong giảng dạy lao động
- Giáo dục hướng nghiệp qua thông giảng dạy môn kỹ thuật và lao động sản xuất trong trường học
+ Giáo dục hướng nghiệp thông qua giảng dạy môn kỹ thuật: Kỹ thuật là môn khoa học ứng dụng, có nhiệm vụ cung cấp cho HS những nguyên lí cơ bản về kỹ thuật, khoa học công nghệ và tổ chức quản lí sản xuất; minh họa ứng dụng của các nguyên lí khoa học - kỹ thuật trong các quá trình sản xuất chủ yếu; tạo điều kiện cho HS tiếp cận với các hoạt động nghề khác nhau trong xã hội
Môn kỹ thuật liên quan đến nhiều ngành nghề khác nhau như: trồng trọt chăn nuôi, lâm nghiệp, cơ khí, kỹ thuật điện Quá trình giảng dạy các ngành trên đòi hỏi nội dung phải gắn với đối tượng lao động, công cụ lao động và hoạt động nghề Nghề thực tạo điều kiện thuận lợi cho GD tư tưởng, chính trị, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, giáo dục lao động, định hướng HS vào phát triển kinh tế - xã hội
+ Giáo dục hướng nghiệp thông qua lao động sản xuất trong trường học: Lao động sản xuất tổ chức theo nguyên tắc của quá trình GD là điều kiện rất cơ bản để nhà trường tiến hành GDHN Trường phổ thông nào không tổ chức lao động sản xuất thì coi như là không nói gì đến hoạt động hướng nghiệp, bởi vì sẽ không có cơ sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu để tiến hành những hình thức hướng nghiệp khác, mặt khác cũng không có nội dung cụ thể để hướng nghiệp
Thông qua lao động sản xuất ở trường học, mỗi HS đều có cơ hội để thử sức mình, có những biểu tượng đúng đắn về mặt hình thức lao động nghề nghiệp cụ thể Tham gia vào các hình thức lao động sản xuất, HS sẽ tự rút ra kết luận về sự phù hợp nghề cho bản thân, từ đó tự quyết định lựa chọn nghề
Trang 40xã hội của địa phương sẽ là điều kiện để hình thành sự sẵn sàng tâm lí cho HS
đi vào lao động nghề, đáp ứng sự phân công lao động xã hội
- Giáo dục hướng nghiệp thông qua tổ chức cho HS tham gia sản xuất ở các cơ sở sản xuất
Lao động sản xuất ở các cơ sở sản xuất là sự tham gia trực tiếp của HS vào các dạng lao động gắn liền với lĩnh vực nghề nghiệp nào đó, đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt bằng sản phẩm cụ thể cho nhà trường, cho xã hội Trong quá trình lao động sản xuất, HS hình thành được hệ thống tri thức kỹ thuật, đặc biệt là kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở mức độ ban đầu của việc nắm vững các thao tác vận hành, điều khiển phương tiện lao động, tổ chức và kiểm tra quá trình lao động, phân phối và sử dụng sản phẩm [21; tr.93] Lao động sản xuất chính là điều kiện cho HS thứ sức mình vào những nghề nghiệp nhất định, từ
đó thấy rõ năng lực của mình, vì thế đây là dạng lao động có tính hướng nghiệp
rõ nét và cụ thể
- Giáo dục hướng nghiệp thông qua chương trình GDHN bậc THPT
Chương trình GDHN bậc THPT được xây dựng trên cơ sở kế thừa những
ưu điểm của chương trình sinh hoạt hướng nghiệp trước đây Nội dung chương trình GDHN được xây dựng theo chủ đề để HS chủ động tìm hiểu các thông tin cơ bản về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước; về thị trường lao động; về thế giới nghề nghiệp và những cơ sở đào tạo Trong quá trình thực hiện chương trình GDHN bậc THPT, giáo viên phải nắm vững xu thế phát triển nghề trong xã hội hiện nay, đặc biệt là những nghề
ở địa phương để tư vấn chọn nghề cho HS; hình thành cho HS kỹ năng tìm hiểu nghề và tự xác định được nghề tương lai; động viên, khuyến khích các
em tu dưỡng, rèn luyện vương lên để tạo ra sự phù hợp nghề
- Giáo dục hướng nghiệp thông qua tổ chức cho HS học các nghề phổ thông tại các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề