BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN THU HÀ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG CÔNG TÁC CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI -
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THU HÀ
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG CÔNG TÁC CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THU HÀ
PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG CÔNG TÁC CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thị Anh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thị
Anh là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thu Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Hoàng Thị Anh người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm
lý – Giáo dục học, trường ĐHSP Hà Nội, các đồng chỉ cùng công tác tại đơn vị…., gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng
do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày 29 tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thu Hà
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ÐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Ðối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4 Giả thuyết nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Dự kiến cấu trúc của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG VIỆC CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 14
1.2.1 Phối hợp 14
1.2.2 Chăm sóc trẻ 15
1.2.3 Dân tộc thiểu số 16
1.2.4 Nhà trường 16
1.2.5 Gia đình 17
1.3 Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non 18
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường mầm non 18 1.3.2 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng trường mầm non 19
Trang 71.3.3 Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm
sóc giáo dục trẻ 5 tuổi 22
1.4 Một số lý luận về công tác chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số 26
1.4.1 Chủ trương của Nhà nước đối với công tác chăm sóc mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số 26
1.4.2 Nội dung phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc trẻ dân tộc thiểu số ở trường mầm non 26
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số 31
1.5.1 Các yếu tố khách quan 31
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 32
Kết luận chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI GIA ĐÌNH TRONG CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI 34
2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 34
2.1.1 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 34
2.1.2 Khái quát về thành phố Móng Cái 35
2.2 Thực trạng hoạt động chăm sóc trẻ mẫu giáo ở các trường Mầm Non vùng dân tộc thiểu số thành phố Móng Cái 40
2.2.1 Số lượng trường Mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái 40
2.2.2 Số lớp mẫu giáo trong các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái 41
2.2.3 Số lượng trẻ mẫu giáo trong các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái 41
2.2.4 Đội ngũ giáo viên các trường Mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái 42
Trang 82.2.5 Chất lượng chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái 46 2.2.6 Những khó khăn của công tác chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu
số tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh 47
2.3 Thực trạng phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 48
2.3.1 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 48 2.3.2 Đánh giá về mục tiêu phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 49 2.3.3 Đánh giá về mức độ phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 50 2.3.4 Thực trạng nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 51 2.3.5 Biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 52 2.3.6 Hiệu quả phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 54 2.3.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 55
Trang 92.4 Đánh giá chung về thực trạng 55
2.4.1 Những kết quả đạt được 55
2.4.2 Những vấn đề còn tồn tại 56
2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại 57
Kết luận chương 2 58
Chương 3: BIỆN PHÁP PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH TRONG CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 59
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 59
3.1.1.Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa phương 59
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 59
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 60
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 60
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống 61
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 61
3.2 Các biện pháp đề xuất 62
3.2.1.Nâng cao nhận thức cho các cán bộ quản lí, giáo viên và phụ huynh học sinh các trường Mầm non về tầm quan trọng của công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 62
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số nói riêng 64
3.2.3 Phát huy vai trò chủ đạo của Trường Mầm non trong công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 65
3.2.4 Bồi dưỡng, phát triển kĩ năng phối hợp cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên và phụ huynh học sinh trường Mầm non 66
Trang 103.2.5 Lựa chọn và vận dụng hiệu quả các hình thức phối hợp giữa nhà trường
với gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số 68
3.2.6 Đảm bảo nguồn tài chính và các điều kiện cần thiết cho công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số 70
3.2.7 Thực hiện thường xuyên việc kiểm tra, đánh giá công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số 71
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 73
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 74
3.4.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 74
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh 76
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 89
Trang 11MỞ ÐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục - Đào tạo Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục
ở cấp học tiếp theo Giáo dục mầm non có mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm
mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường
tiểu học tốt nhất Như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt, Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân
có ích”
Con người là nhân tố quyết định mọi sự thành công, bởi vậy trong nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta đã quan tâm và ban hành rất nhiều chính sách nhằm phát triển con người - nguồn lực tạo nên sự phát triển của xã hội, trong
đó đặc biệt phải kể đến các chủ trương, chính sách về Giáo dục và Ðào tạo đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số Tại văn bản triển khai nhiệm vụ năm học 2016 - 2017 của Bộ Giáo dục và Ðào tạo chỉ đạo: “Triển khai thực hiện Nghị quyết Ðại hội lần thứ XII của Ðảng; tiếp tục triển khai thực hiện nhiệm
vụ phát triển giáo dục dân tộc quy định tại Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 29-NQ/TW ban hành kèm theo Quyết định số 2653/QÐ-BGÐT ngày 25/7/2014 của Bộ GDÐT; Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15/6/2016 của Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030 Các cấp quản lí và cơ sở giáo
Trang 12dục ở vùng DTTS, miền núi tiếp tục tập trung chỉ đạo huy động tối đa trẻ em, học sinh đi học; đồng thời có các biện pháp duy trì sĩ số bảo đảm tỷ lệ học sinh chuyên cần trong năm học Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng về chất lượng, các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục trẻ em, học sinh DTTS của địa phương từ mầm non đến phổ thông, trên cơ sở đó, tăng cường các giải pháp đồng bộ, thiết thực, phù hợp thực tế để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ
em, học sinh DTTS” Đặc biệt trong văn bản hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục mầm non, Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: “Tăng cường quy hoạch, phát triển mạng lưới, cơ sở vật chất trường lớp, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho vùng khó khăn, vùng miền núi, dân tộc thiểu số; Thực hiện các giải pháp đảm bảo
an toàn tuyệt đối cho trẻ trong các cơ sở GDMN Tăng cường các điều kiện để nâng cao chất lượng và đổi mới hoạt động chăm sóc trẻ theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” Nâng cao chất lượng tổ chức bữa ăn bán trú cho trẻ Hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non ở các vùng khó khăn, tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số, quan tâm giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập Tăng tính chủ động trong quản lý chất lượng chăm sóc trẻ trong các sơ sở GDMN Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và của Bộ
về đổi mới và phát triển GDMN
Trong những năm gần đây, trước yêu cầu đổi mới, sự phát triển giáo dục mầm non đã có những bước phát triển không ngừng, nhất là giáo dục mầm non ở những vùng khó khăn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số: Cơ sở vật chất các trường mầm non ngày càng khang trang, sạch đẹp và được đầu tư tương đối đầy đủ trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục trẻ; chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được nâng cao cả về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị Bên cạnh những ưu điểm thì ở những vùng khó khăn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số cũng còn những hạn chế bất cập: chất lượng, hiệu quả chăm sóc
Trang 13giáo dục trẻ còn thấp so với yêu cầu; Phụ huynh chưa quan tâm đến con em mình, hiệu quả thực hiện công tác tuyên truyền trong nhân dân, phụ huynh và
sự phối kết hợp giữa nhà trường với gia đình trẻ còn lỏng lẻo, mang tính hình thức, vì vậy hiệu quả chưa cao, trong khi đó trẻ dân tộc thiểu số được Tổ chức EDI đánh giá là một trong số các nhóm trẻ bị thiếu hụt và có nguy cơ cao bị thiếu hụt Vì vậy, hiện nay, Nhà nước, Chính phủ và Ngành Giáo dục đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cho trẻ em dân tộc thiểu số trong giáo dục mầm non, những chính sách đó đã có tác động không nhỏ đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ
Thành phố Móng Cái giáp với đất nước Trung Quốc, là một trong 4 Thành phố của tỉnh Quảng Ninh Thành phố Móng Cái có 17 xã phường, trong đó có 02 xã là Hải Sơn và Bắc Sơn là xã biên giới, núi cao, thuộc danh mục xã đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Với đặc thù 02 xã có trên 80% dân số là người dân tộc thiểu số (dân tộc Dao, Tày, Sán chỉ, Sán Cháy), điều kiện về kinh tế, xã hội, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn Trong 3 năm gần đây, cùng với sự phát triển và tăng trưởng nền kinh tế thì các vấn đề về văn hóa - xã hội cũng bị ảnh hưởng xáo trộn, bên cạnh đó cái nghèo khó về kinh tế cộng với cái hạn chế về tư tưởng nhận thức dẫn đến hành động còn lạc hậu và chưa quan tâm đến việc chăm sóc con em mình ngay từ khi các cháu còn nhỏ
Chính vì thế, cần phải tìm ra các giải pháp phối kết hợp giữa nhà trường với gia đình trong công tác chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc trẻ, tạo cho trẻ em được hưởng thụ điều kiện và sự chăm sóc tốt nhất để trẻ có sự phát triển tổng thể các mặt về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ đều đặn liên tục Bởi vậy qua một thời gian tìm hiểu nghiên cứu tôi đã
chọn đề tài “Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh”
Trang 143 Ðối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Ðối tượng nghiên cứu
Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm sóc trẻ mẫu
giáo vùng dân tộc thiểu số
3.2 Khách thể nghiên cứu
Công tác chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non, trẻ mẫu giáo, trẻ vùng dân
tộc thiểu số
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, công tác chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số đã và đang thực hiện và ngày càng được quan tâm, tuy nhiên hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được tối đa sự chăm lo của gia đình đối với trẻ em, công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trẻ chưa thường xuyên nên trẻ chưa được hưởng thụ sự quan tâm chăm sóc một cách đầy đủ và đồng bộ ở vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình chưa thực sự tích cực, hiệu quả chưa cao, đặc biệt là nhận thức của phụ huynh còn hạn chế, đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên nhận nhiệm vụ công tác ở vùng miền núi biên giới khó khăn với kinh nghiệm còn mỏng nên đôi khi tổ chức, triển khai các hoạt động phối hợp với gia đình trẻ mang tính hình thức chứ chưa phát huy tối đa hiệu quả của mối quan hệ phối hợp này Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp tích cực hơn, phù hợp hơn sẽ phát huy tối đa sự tham gia của nhà trường và gia đình trẻ trong công tác chăm sóc trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số
Trang 155 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động chăm sóc trẻ mẫu giáo,
về công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc t rẻ mẫu giáo
5.2 Nghiên cứu thực trạng phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Các biện pháp hiện nay đang thực hiện phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
5.3 Ðề xuất một số biện pháp thực hiện phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực
trạng để đề xuất biện pháp về công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh từ năm học 2014-2015, 2015-2016
6.2 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại 02
xã vùng dân tộc thiểu số là xã Hải Sơn và xã Bắc Sơn tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
6.4 Giới hạn về khách thể điều tra: Điều tra, khảo sát các đối tượng
trong Ban giám hiệu, Giáo viên, Nhân viên, Cha mẹ học sinh các trường mầm non và cán bộ địa phương trên địa bàn thuộc xã Hải Sơn và xã Bắc Sơn, thành
phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
Trang 16(06 cán bộ quản lý trường mầm non, 22 giáo viên, 20 nhân viên và 270 phụ huynh và 20 cán bộ địa phương trên địa bàn 02 xã vùng dân tộc thiểu số
là xã Hải Sơn và xã Bắc Sơn tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa
và khái quát hóa các vấn đề về lý luận cơ bản của đề tài làm cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở để đánh giá thực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay Đối tượng khảo sát sẽ là CBQL, GV, NV, CMHS trong nhà trường và cán bộ ở địa phương
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp Hiệu trưởng, CBQL,
GV, NV, CMHS, Cán bộ địa phương nhằm tìm hiểu kỹ thực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và đánh giá kết quả đạt được, xác định nguyên nhân của vấn đề
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh được đề xuất
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để xử lý kết quả khảo sát, điều tra
Trang 178 Dự kiến cấu trúc của luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh
- Chương 3: Biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc
chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh - Kết luận, khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG
VỚI GIA ĐÌNH TRONG VIỆC CHĂM SÓC TRẺ MẪU GIÁO
VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Khoa học đã chứng minh rằng những năm đầu của cuộc đời, đặc biệt là thời kỳ trẻ từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn quan trọng trong sự phát triển thể chất tâm lý, cũng như hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản là làm cơ sở cho việc học tập sau này của trẻ
Trẻ ở lứa tuổi này nếu được chuẩn bị tốt ở trường mầm non sẽ có nhiều thuận lợi và tạo đà tốt cho trẻ khi bước vào các cấp học tiếp theo Tuy nhiên nếu chỉ trông cậy vào sự chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non thôi thì chưa đủ, để chuẩn bị cho trẻ trong cuộc sống tương lai mà thêm vào đó rất cần
sự hỗ trợ của cộng đồng đặc biệt là của gia đình trẻ Các nghiên cứu về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong chăm sóc giáo dục trẻ mầm non trong một số dự án đề tài sách báo ngoài nước như:
- Dự án nghiên cứu về gia đình (Harvard Family Research Project) của trường Đại học giáo dục Harvard khẳng định: Sự tham gia của gia đình trong giáo dục mầm non nâng cao thành công của mọi trẻ trong mọi độ tuổi Dự án
đã nêu được tầm quan trọng của Giáo dục gia đình trong giai đoạn lứa tuổi mầm non đó là quá trình giáo dục bao gồm thái độ, giá trị và thực hành của cha mẹ trong việc nuôi dạy trẻ Nội dung của dự án đề cập tới 4 lĩnh vực [28]
Quan hệ chăm sóc, cảm xúc và trách nhiệm giữa cha mẹ với trẻ
Sự tham gia của cha mẹ trẻ vào các hoạt động của trẻ ở gia đình
Quan hệ giữa nhà trường và gia đình
Trang 19Trách nhiệm đối với kết quả học tập của trẻ Trong đó đối với giáo dục mầm non, quan hệ giữa gia đình và nhà trường được hiểu là những liên hệ chính thức và phi chính thức giữa gia đìnhvà các cơ sở giáo dục mầm non Sự tham gia cả gia đình vào các hoạt động ở cơ sở GDMN bao gồm các buổi họp phụ huynh, tham gia các lớp học và tham gia giúp đỡ các hoạt động giáo dục
ở lớp học cũng như duy trì mối liên hệ định kỳ giữa giáo viên và cha mẹ là các yếu tố ảnh hưởng, tác động đến chất lượng giáo dục trẻ
- Những thông tin xã hội và quan niệm về các chính sách gia đình Đề tài đã được thực hiện trên 2.700 gia đình Singapore (người Trung Quốc, Ấn
Độ, Malaysia và các dân tộc khác) Tuy mục đích chính trong đề tài không nhằm nghiên cứu GD trẻ nhỏ trong gia đình nhưng trên cơ sở các dữ liệu thu được nhóm tác giả đã dành hẳn 1 chương để phân tích vấn đề GD của cha mẹ đối với con cái với 4 yếu tố:
Cách tiếp cận giáo dục của cha mẹ
GD các giá trị truyền thống trong gia đình
Phối hợp giữa gia đình và nhà trường
Tương tác giữa cha mẹ và trẻ
Trong đó để nêu được tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường, nhóm tác giả đã đưa ra các kết quả nghiên cứu khảo sát với câu hỏi: Những vấn đề nào trong 9 vấn đề dạy dỗ trẻ chỉ thực hiện trong gia đình? Trong trường học? Hay có sự phối hợp cả gia đình và trường học Đặc biệt trong cuốn: Giáo viên MN về công tác với gia đình, tác giả người Nga Ubranxkaia, ngoài nội dung nêu rõ cơ sở của GD trẻ trong gia đình, nội dung công việc với cha mẹ, các phương pháp và hình thức tiếp cận, phối hợp với phụ huynh, tác giả còn đề cập đến công việc của Hiệu trưởng trường MN với công tác phụ huynh bao gồm: công tác quản lý hoạt động phối hợp với gia đình, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để làm tốt công tác phụ huynh và cả công tác tư vấn, giao tiếp trực tiếp với phụ huynh [19]
Trang 20- Năm 2013 Makhmutova.R.St đã công bố kết quả nghiên cứu của mình trên tạp chí khoa học Sư phạm Nga với bài báo “ Phối hợp làm việc với phụ huynh để giáo dục trẻ mầm non thói quen, lối sống lành mạnh” đã nêu các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục trẻ mầm non [29]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Dân tộc ta cùng toàn thể nhân loại đang đứng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và những thành tựu lớn lao về kinh tế xã hội Hầu hết các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới khẳng định rằng: Giáo dục là động lực để phát triển kinh tế - xã hội, nguồn lực con người là tài sản quyết định cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, hiện đại hóa đất nước Với tầm quan trọng như vậy, ngày nay giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu Việc quan tâm, đầu tư, huy động mọi ngành, mọi nhà, mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục là sách lược lâu dài của chúng ta Thực hiện sách lược đó, tại Điều 21, 22 Luật giáo dục năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ
“Giáo dục Mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng; chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”[22] Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ (25/6/2002)
bàn về phát triển giáo dục Mầm non theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII và Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã một lần nữa khẳng định: Giáo dục Mầm non là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện Muốn phát triển con người toàn diện, thì việc tổ chức thống nhất xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, huy động thống nhất tiềm lực toàn
xã hội, hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tối đa các ảnh hưởng tích cực là một quy luật khách quan
Dân tộc Việt Nam có truyền thống rất coi trọng gia đình, đó là nơi sản sinh, nuôi dưỡng và trường học đầu tiên của mọi thành viên xã hội Từ người
Trang 21bình thường đến vị nguyên thủ quốc gia đều nhờ gia đình mà nhen nhóm lên lòng nhân ái, tính cần kiệm, hiếu học, lòng dũng cảm, đức hy sinh…, là những phẩm chất cơ bản của mọi nhân cách Vì vậy, nuôi dạy con cái là công việc thường xuyên, quan trọng nhất của mỗi gia đình Ngày nay, xã hội đang có nhiều biến đổi: loài người đang bước vào một nền văn minh mới – nền văn minh tin học, các nước trên thế giới đang hội nhập vào nhau Bên cạnh những thành tựu vĩ đại, nhân loại đang đứng trước những thách thức rất nghiêm trọng, mà đó là những hậu quả do bản thân con người, do con em của các gia đình tạo ra Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò gia đình đối với sự phát triển của xã hội
Vì vậy vấn đề phối hợp 3 lực lượng “Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc trẻ mầm non ” đã trở thành một đề tài nghiên cứu
khoa học của các nhà giáo dục Trong những năm đầu giai đoạn 1999 – 2000, Bộ văn hóa đã triển khai đề tài cấp nhà nước trong đó mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng qua lại giữa các thành viên trong gia đình nói chung và giữa cha mẹ với con trẻ trên nền văn hóa gia đình là một trong những nội dung cơ bản cần tập trung và làm sáng tỏ
Dưới góc độ khoa học giáo dục, GDMN ở gia đình đã được một số nhà khoa học đặc biệt quan tâm, thể hiện qua một số bài nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Ánh Tuyết, Mạc Văn Trang, Trần Thị Bích Trà… với sự phân tích tình huống giáo dục trong gia đình với những nguyên tắc giáo dục cơ bản, các tác giả, với những nội dung phong phú đã giúp các thành viên trong gia đình thu thêm những kinh nghiệm, những tri thức nuôi dạy trẻ mang tính khoa học, để giải quyết tình huống giáo dục thường ngày trong gia đình
Về những nghiên cứu ở trong nước, trong hầu hết các sách báo chuyên ngành, các đề tài, bài viết trong các hội thảo khoa học của các nhà nghiên cứu, chuyên gia về MN đều nêu bật được tầm quan trọng và sự cần thiết của
Trang 22giáo dục trẻ MN ở nhà trường và gia đình trong cuốn GDMN - Những vấn đề
lý luận trong thực tiễn của Nguyễn Ánh Tuyết nhận thấy: “Ở nhiều nước trên thế giới, người ta đã đặt giáo dục mầm nonxã hội và giáo dục mầm non gia đình lên ngang hàng trong việc nghiên cứu khoa học nuôi dạy trẻ nhỏ và có khi các công trình nghiên cứu giáo dục mầm non gia đình có phần phong phú hơn Thiết nghĩ, ở nước ta điều đó lại càng nên làm, như vậy để có thể tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng cho giáo dục mầm non…”[21 ,tr.76] Một trong nhiệm vụ của giáo viên mầm non là xây dựng mối quan hệ phối hợp giữa giáo viên với cha mẹ trẻ.Xây dựng mối quan hệ tốt trong sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình là một nhiệm vụ quan trọng của trường mầm non Giáo viên là người đại diện nhà trường có trách nhiệm trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này nhằm tạo ra môi trường giáo dục thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Đồng thời giúp nhà trường phát huy được thế mạnh của gia đình trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ
em tạo nên sự thống nhất giáo dục trẻ giữa hai lực lượng giáo dục
Những nhà giáo dục đã đi sâu vào đề tài này phải kể đến: GS -TS Hà Thế Ngữ, GS -TS Đức Minh, GS-TS Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò,
vị trí, ý nghĩa cực kỳ quan trọng của sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình
và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục học sinh Trong các giáo trình Giáo dục học của Phạm Cốc - Đức Minh vào những năm 70, sau đó là của
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt - Nxb giáo dục (1989) vấn đề này cũng được đưa vào một số giáo trình khác như giáo dục gia đình của PGS - TS Phạm Khắc Chương - Nxb giáo dục - (1997)
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình là vấn đề bức xúc trong công tác giáo dục mà nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu như: Tác giả Hà
Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998) với đề tài "Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội" Nhà Xuất Bản Giáo Dục, Hà Nội; Đề tài
“Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong
Trang 23điều kiện mới”, tập thể tác giả ở Trung Tâm Giáo dục học, thuộc Viện Khoa Học Giáo dục, 1993; Đề tài “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường
và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1998; Tác giả Nguyễn Thị Hoa với đề tài "Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục trẻ ở các trường Mầm non thành phố Thái Bình" Luận văn Thạc sĩ 2010; Tác giả Phạm Thị Minh Tâm với đề tài“Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục cho học sinh trường THPT” Luận văn Thạc sĩ
2012;…Các tác giả đã chỉ ra những lý luận về tính cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường với gia đình và của xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con em, việc giáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp giữa nhà trường gia đình và
xã hội
Nghiên cứu công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong chăm sóc trẻ mẫu giáo của hiệu trưởng trường mầm non trên địa bàn thành phố Móng Cái là bước tiếp tục làm phong phú thêm lý luận về giáo dục mầm non, đồng thời cũng góp phần đề ra được một số biện pháp có hiệu quả, thiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của giáo dục Móng Cái; góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục mầm non, tạo ra bước chuyển biến cơ bản về chất lượng chăm sóc giáo dục, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập của đất nước
Đề tài: “Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh”
vẫn còn là một vấn đề mới, những công trình nghiên cứu một cách đầy đủ chỉ
là từng mặt của vấn đề Do đó khi chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu
từ ban đầu đã thấy khó khăn là có quá ít tài liệu để tham khảo Hơn nữa khi nghiên cứu nó trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang rất bề bộn, nhà
Trang 24trường đang đứng trước những câu hỏi chưa có những lời giải: Có phải là sản
phẩm của cơ chế thị trường hay không? hay vẫn là bao cấp của nhà nước?
Song với tư cách là một người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, về
lý luận cũng như thực tiễn đã hướng tới đi sâu nghiên cứu đề tài trên để thấm nhuần hơn vấn đề, rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân và cho đồng nghiệp có thể vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo, phù hợp
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Phối hợp
Theo từ điển tiếng Việt: Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau trong công việc chung nhằm đạt được một hay nhiều mục tiêu nào đó
Phối hợp nhà trường và gia đình trong CS,GD trẻ MN là sự cùng bàn bạc, hỗ trợ nhau giữa nhà trường và gia đình nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức, hành động trong công tác CS,GD trẻ, trong đó nhà trường chủ động lên kế hoạch hoạt động phối hợp và có ký kết giao ước thực hiện mục tiêu, nội dung GD trẻ và xác định trách nhiệm, nhiệm vụ của nhà trường và gia đình khi tham gia các hoạt động GD trong và ngoài nhà trường theo một
về mục tiêu, về quyền lợi, quyền hạn, trách nhiệm và sát cánh bên nhau trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn hay thuận lợi Liên kết đòi hỏi tính tự giác, tự nguyện, sự nỗ lực vượt khó với nhận thức sâu sắc mục tiêu chung phải đạt được, đôi khi phải tạm gác quyền lợi cá nhân hay lợi ích bộ phận Nguyên tắc phối hợp trong việc CS, GD trẻ ở trường mầm non là để đảm bảo sự thống
Trang 25nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục đích, một tác động tổ hợp, đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của trẻ, tránh sự tách rời mâu thuẫn, vô hiệu hóa lẫn nhau gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động trong việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách Sự phối hợp gia đình
và nhà trường có thể diễn ra dưới nhiều hình thức Vấn đề cơ bản hàng đầu là tất cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ
thành những người công dân hữu
1.2.2 Chăm sóc trẻ
Chăm sóc là sự chào đón nhiệt tình, là những hành động cần thiết phải
làm để thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của người được chăm sóc theo cách mà
họ mong muốn [24,tr.38]
Công tác chăm sóc chính là những công việc cần thiết phải làm nhằm thỏa
mãn nhu cầu và sự mong đợi của người được chăm sóc về thức ăn hoặc chất dinh dưỡng và những gì cần thiết cuộc sống, sức khỏe và sự phát triển [1 3,tr.60]
Như vậy chăm sóc trẻ lứa tuổi mẫu giáo là hoạt động chăm lo đến thể chất
và tinh thần đảm bảo cho trẻ được an toàn, phát triển toàn diện đúng với tâm sinh lý lứa tuổi, chuẩn bị điều kiện và tâm thế cho trẻ bước vào trường học
Tại Điều 24 - Điều lệ trường mầm non được ban hành theo Quyết định 04/2015-VBHN-BGD&ĐT ngày 24/12/2015 của Bộ GD&ĐT có quy định về Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em:
1 Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ được tiến hành thông qua các hoạt động theo quy định của chương trình giáo dục mầm non
2 Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ bao gồm: chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toàn
3 Hoạt động giáo dục trẻ bao gồm: hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ
Trang 264 Hoạt động giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong nhà trường, nhà trẻ tuân theo Quy định về giáo dục trẻ em tàn tật, khuyết tật do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
5 Việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ còn thông qua hoạt động tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các cha mẹ trẻ và cộng đồng
1.2.3 Dân tộc thiểu số
- “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa
số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Xác định thành phần dân tộc: Mỗi dân tộc có tên gọi riêng, xác định theo tiêu chí được pháp luật công nhận, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào dân tộc Thành phần dân tộc do cơ quan có thẩm quyền quyết định và công bố theo quy định của pháp luật
1.2.4 Nhà trường
- Nhà trường là tổ chức xã hội đặc thù với tổ chức chặt chẽ về mặt cấu trúc có nhiệm vụ chuyên biệt là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, phát hiện bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, trong đó có nhiệm vụ giáo dục, hình thành nhân cách cho trẻ em theo những định hướng của xã hội”
- Quá trình thể hiện chức năng trên là quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và GD theo chương trình được hoạch định chặt chẽ, khoa học
- Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc chăm sóc, giáo dục cho học sinh vì:
+ Nhà trường có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo nhân cách + Nhà trường có nội dung và phương pháp giáo dục chọn lọc, tổ chức chặt chẽ, khoa học
Trang 27+ Nhà trường là lực lượng giáo dục của xã hội mang tính chuyên biệt + Nhà trường là môi trường giáo dục có tính sư phạm có tác động tích cực đến tâm tư, tình cảm, thái độ, nhận thức cho trẻ Nhà trường có vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng xã hội khác để chăm sóc, giáo dục cho trẻ
1.2.5 Gia đình
- Gia đình là tế bào xã hội, là nơi con người sinh sống, lớn lên và hình thành nhân cách của mình, gia đình là cơ sở để duy trì nòi giống và là cơ sở của việc giáo dục thế hệ trẻ Không có gia đình thì xã hội không thể tồn tại
và phát triển
- Giáo dục con cái trong gia đình không phải chỉ là công việc riêng tư của bố mẹ mà còn là trách nhiệm, đạo đức và nghĩa vụ công dân của người làm cha mẹ Luật hôn nhân và gia đình đã ghi rõ: “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức… Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con”
- Khả năng giáo dục của gia đình là rất to lớn vì được dựa trên những tình cảm máu mủ ruột thịt, tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ đối với con cái
và tình cảm kính yêu, biết ơn của con cái đối với cha mẹ Bên cạnh đó, những tác động giáo dục của gia đình còn là tác động thường xuyên, lâu dài trong các tình huống khác nhau, các loại hoạt động đa dạng trong gia đình
Gia đình hạnh phúc dựa trên nguyên tắc cơ bản là mọi người đều phải yêu thương quý mến nhau, giúp đỡ nhau trong công việc gia đình và xã hội giữ đúng tư cách là trách nhiệm của mình trong gia đình
Giáo dục gia đình: Gia đình là môi trường cơ sở đầu tiên, có vị trí quan
trọng và ý nghĩa lớn lao đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách
Đó là môi trường gắn bó trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân Gia đình là nơi
Trang 28tạo ra mối quan hệ gắn bó ruột thịt, huyết thống, một thứ tình cảm khó có thể chia cắt Do đó, có thể trải qua bao nhiêu biến động về mọi phương diện, con người vẫn luôn hướng về quê hương, gia đình Trong gia đình, cha mẹ là người thầy giáo, là nhà sư phạm đầu tiên giáo dục cho con cái mình những phẩm chất nhân cách cơ bản làm nền tảng cho quá trình phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, lao động theo các yêu cầu của xã hội Giáo dục gia đình có những mặt mạnh, tích cực là mang tính cảm xúc cao, gắn bó với quan hệ ruột thịt, máu mủ nên có khả năng cảm hóa rất lớn Giáo dục gia đình cũng mang tính cá biệt rõ rệt trên cơ sở huyết thống, yêu thương sâu sắc, lâu dài, bền vững và rất linh hoạt, thiết thực trên cơ sở nhu cầu, hứng thú cá nhân Mặc dù vậy gia đình không thể thay thế hoàn toàn của giáo dục nhà trường
1.3 Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non
1.3.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của trường mầm non
1.3.1.1 Vị trí
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của bậc giáo dục mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Đây là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người Trường có vị trí quan trọng: xây dựng cơ sở ban đầu cho việc hình thành,phát triển nhân cách và chuẩn bị tiền đề cần thiết cho trẻ
em bước vào trường tiểu học Chất lượng quản lý trường mầm non ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện mục tiêu giáo dục của trường
1.3.1.2 Chức năng
Trường mầm non thực hiện việc CS, GD trẻ em nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện Giáo dục trẻ ở trường mầm non mang tính chất giáo dục gia đình, quan hệ giữa cô và trẻ vừa mang tính thầy - trò vừa mang tình mẫu tử Việc giáo dục trẻ được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi trong mọi sinh hoạt và hoạt động của trẻ hàng ngày, trẻ học mà chơi, chơi mà học
Trang 291.3.1.3 Nhiệm vụ
- Tổ chức chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ theo mục tiêu chương trình giáo dục
- Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ em gửi vào trường
- Quản lý sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính của trường theo quy định phát luật
- Kết hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức xã hội và cá nhân trong hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
- Tuyên truyền hướng dẫn kiến thức nuôi dạy trẻ trong các bậc cha mẹ và cộng đồng
- Tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia vào các hoạt động
xã hội
1.3.2 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng trường mầm non
1.3.2.1 Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng (HT) trường mầm non (MN)
Theo Điều lệ trường mầm non Ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGD&ĐT ngày 24/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (Điều chỉnh, hợp nhất giữa Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường mầm non,
Thông tư số 05/2011/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1
Điều 13; khoản 2 Điều 16; khoản 1 Điều 17 và điểm c khoản 2 Điều 18 của Điều lệ Trường mầm non ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07/4/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 44/2010/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ GD&ĐT
về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ trường mầm non) đã quy định:
- Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, CS, GD trẻ em của nhà trường, nhà trẻ
Trang 30- Hiệu trưởng do Trưởng phòng GD&ĐT bổ nhiệm đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, công nhận đối với nhà trường, nhà trẻ dân lập, tư thục theo quy trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ là 5 năm Sau 5 năm, Hiệu trưởng được đánh giá và có thể bổ nhiệm lại hoặc công nhận lại Đối với nhà trường, nhà trẻ công lập, mỗi Hiệu trưởng chỉ được giao quản lí một nhà trường hoặc một nhà trẻ không quá hai nhiệm kì Sau mỗi năm học, mỗi nhiệm kì công tác, HT nhà trường, nhà trẻ được cán bộ, giáo viên trong trường và cấp có thẩm quyền đánh giá về công tác quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường theo quy định”
- Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng nhà trường, nhà trẻ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có trình độ chuẩn được đào tạo là có bằng trung cấp sư phạm mầm non, có ít nhất 5 năm công tác liên tục trong GDMN Trường hợp do yêu cầu đặc biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận là Hiệu trưởng có thể có thời gian công tác trong giáo dục mầm non ít hơn theo quy định; Đã hoàn thành chương trình bồi dưỡng cán bộ quản lý; có uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực tổ chức, quản lý nhà trường, nhà trẻ và có sức khoẻ Nói tóm lại, Hiệu trưởng trường mầm non là người đứng đầu đơn vị cơ sở của ngành GDMN, là người chịu trách nhiệm trước đảng bộ chính quyền địa phương và cấp trên về quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường theo đường lối của Đảng, phương hướng nhiệm vụ của ngành Hiệu trưởng phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyên bổ nhiệm hoặc công nhận, phải đảm bảo trình
độ chuyên môn nghiệp vụ và thời gian công tác theo quy định, được tín nhiệm
về chính trị, đạo đức năng lực tổ chức và quản lý nhà trường…Hiệu trưởng trường MN có vị trí quyết định trong việc đưa nhà trường tiến tới các mục tiêu về CS, GD trẻ em trong độ tuổi mầm non Chịu trách nhiệm cao nhất về hành chính cũng như về chuyên môn trong nhà trường
Trang 311.3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường mầm non
Điều lệ trường mầm non của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy
định nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường mầm non như sau:
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường
- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường, nhà trẻ; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó…
- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại…
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường
- Tiếp nhận trẻ em, quản lý trẻ em và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường, nhà trẻ; quyết định khen thưởng, phê duyệt kết quả đánh giá trẻ theo các nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia các hoạt động giáo dục…
- Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng [6]
1.3.2.3 Những yêu cầu về nghiệp vụ quản lý của người Hiệu trưởng trường mầm non
Trường mầm non là nơi thực hiện các mục tiêu về GDMN nên quản lý trong trường MN là một khâu quan trọng của hệ thống quản lý ngành học Chất lượng quản lý trường mầm non có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, góp phần tạo nên chất lượng quản lý của GDMN, do đó người Hiệu trưởng cần phải xác định đúng đắn và phấn đấu thực hiện những yêu cầu mục tiêu cơ bản sau:
+ Đảm bảo chỉ tiêu thu hút số lượng trẻ trong độ tuổi đến trường
+ Đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng (CSND) trẻ theo mục tiêu GD
Trang 32+ Xây dựng và phát triển tập thể sư phạm phát triển đủ về số lượng đồng
bộ về cơ cấu, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
+ Xây dựng sử dụng và bảo quản tốt cơ sở vật chất phục vụ cho yêu cầu CSND trẻ
+ Huy động, sử dụng các nguồn kinh phí một cách có hiệu quả
+ Làm tốt công tác xã hội hóa GDMN nhằm xây dựng, phát triển nhà trường + Không ngừng nâng cao, cải tiến công tác quản lý, đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động trong nhà trường Mỗi một mục tiêu đều thể hiện một nhiệm vụ đặc trưng của hoạt động quản lý và giữa các nhiệm vụ có mối liên hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một hệ thống mục tiêu hoàn diện Trách nhiệm của người Hiệu trưởng là không chỉ xác định đúng đắn các mục tiêu mà phải thực hiện các mục tiêu thông qua các nội dung cơ bản như: công tác lập kế hoạch; công tác chỉ đạo thực hiện mục tiêu QLGD; quản lý việc phát triển số lượng trẻ; quản lý chất lượng CS,GD trẻ; quản lý đội ngũ quản lý cơ sở vật chất, tài chính; quản lý các mối quan hệ trong cộng đồng… Đây được coi là khâu tạo
ra hiệu quả thực sự của hoạt động quản lý của người hiệu trưởng Người hiệu trưởng thực hiện tốt thì sẽ biến mục tiêu trở thành hiện thực
1.3.3 Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ 5 tuổi
Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong chăm sóc, giáo dục trẻ là quá trình nhà trường và gia đình trẻ cùng hoạt động hỗ trợ lẫn nhau để cùng thống nhất tìm ra những cách thức, phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ một cách hiệu quả nhất
Để chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non tốt, nhà quản lý không thể bỏ qua việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ Như Bác Hồ đã dạy: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ Muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu…[1 7, tr.263]
Trang 33Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là sự kết hợp, tác động qua lại một cách biện chứng trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo còn gia đình
có vai trò quan trọng hỗ trợ đắc lực cho nhà trường đặc biệt là trong nuôi dưỡng, duy trì nối tiếp môi trường giáo dục cho trẻ Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một trong những nội dung quản lý của người Hiệu trưởng trường mầm non bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành chỉ đạo và kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm nuôi dưỡng, giáo dục trẻ phát triển toàn diện
Nguyên tắc phối hợp
Đảm bảo sự thống nhất về quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục Tổ chức các hoạt động phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục trẻ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi bên theo quy định của pháp luật hiện hành Đảm bảo tính kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả trong các hoạt động phối hợp, nâng cao trách nhiệm của mỗi bên tham gia
Nội dung phối hợp
* Phối hợp thực hiện chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho trẻ
- Tham gia tổ chức khám sức khỏe, trao đổi kiến thức chăm sóc sức khỏe cho trẻ
- Phòng chống suy dinh dưỡng và béo phì cho trẻ, có kế hoạch và biện pháp chăm sóc đối với trẻ suy dinh dưỡng
- Đóng góp tiền ăn, hiện vật theo yêu cầu của trường
* Phối hợp thực hiện chương trình giáo dục trẻ
- Tham gia xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, của nhóm lớp
- Cha mẹ tham gia vào các hoạt động thực hiện các nội dung giáo dục phối hợp với chương trình cụ thể là:
+ Tạo điều kiện giúp trẻ được tự do tìm tòi khám phá trong môi trường
an toàn theo khả năng và sở thích của mình để trở thành đứa trẻ tò mò, sáng
Trang 34tạo, tự tin và luôn được hạnh phúc vì mọi người xung quanh yêu thương, gần gũi trẻ
+ Chú ý lôi cuốn các thành viên trong gia đình, đặc biệt các thành viên
là nam giới, ông, bố, anh, chú, bác tham gia vào chăm sóc và dạy trẻ
+ Coi trọng giáo dục giới tính cho trẻ
+ Coi trọng việc phát hiện, can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật Đối với trẻ lứa tuổi mầm non, vấn đề phát hiện sớm sự phát triển không bình thường là cực kỳ quan trọng Bởi vì chính nhờ có sự phát hiện sớm mà nhiều khuyết tật của trẻ được bù đắp và thích nghi, có khi tiến tới bình thường nếu như được sự giúp đỡ kịp thời và đúng đắn Nhà trường cần cung cấp hoặc giới thiệu cho các bậc cha mẹ trẻ biết các mốc phát triển bình thường của trẻ, và những vấn đề cần lưu ý trong sự phát triển của trẻ để có thể phát hiện và can thiệp sớm
+ Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức ngày lễ, ngày hội, tổ chức ngày sinh nhật cho trẻ…
+ Tạo môi trường an toàn về mặt tình cảm cho trẻ Phối hợp kiểm tra đánh giá công tác chăm sóc – giáo dục trẻ của nhà trường, lớp mầm non Cha
mẹ tham gia vào hoạt động đánh giá của trường, lớp MN:
+ Tham gia cùng ban giám hiệu nhà trường kiểm tra, đánh giá chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ
+ Theo dõi để phát hiện những tiến bộ, thay đổi, những biểu hiện rất bình thường của trẻ diễn ra ở nhà, trao đổi kịp thời để giáo viên có sự điều chỉnh trong nội dung phương pháp chăm sóc - giáo dục trẻ
+ Tham gia đóng góp với nhà trường về chương trình và phương pháp chăm sóc - giáo dục trẻ Đề xuất với nhà trường nội dung, hình thức hướng dẫn các bậc cha mẹ thực hiện chăm sóc, giáo dục trẻ ở gia đình có hiệu quả hơn + Đóng góp ý kiến về các mặt như: Môi trường lớp học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của nhóm, lớp, thái độ, tác phong, hành vi ứng
xử của giáo viên và nhân viên trong trường với trẻ và phụ huynh
Trang 35* Những yêu cầu để thực hiện tốt việc phối hợp nhà trường và gia đình
- Đối với gia đình:
Hoạt động tích cực trong tổ chức hội phụ huynh nhà trường nhằm góp phần xây dựng CSVC, tinh thần, sự nghiệp xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục Các bậc cha mẹ cần tham gia đầy đủ các cuộc họp phụ huynh được tổ chức vào đầu năm học hoặc từng học kỳ… nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục trẻ, tạo sự thống nhất giữa nhà trường và gia đình
Duy trì thường xuyên, đều đặn mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình bằng sổ liên lạc, phiếu đánh giá… để gia đình biết được kết quả chăm sóc, giáo dục trẻ của con em mình Ngược lại nhà trường cũng nắm bắt được tình hình học tập, sinh hoạt của trẻ tại gia đình Các bậc cha mẹ cần mạnh dạn, thẳng thắn liên lạc, phối hợp với nhà trường trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ không nên che dấu những nhược điểm của con em mình trong học tập, sinh hoạt gia đình, địa phương với nhà trường
- Đối với nhà trường: Phát huy vai trò trung tâm trong việc liên lạc, phối hợp giáo dục trẻ, nhà trường chủ động phổ biến nội dung, mục đích giáo dục đến gia đình, cáctổ chức xã hội nhằm định hướng tác động thống nhất đối với quá trình hìnhthành và phát triển nhân cách trẻ em
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ trong phụ huynh và cộng đồng có hiệu quả, tránh được những sai lầm, lệch lạc đối với quá trình phát triển nhân cách trẻ
Xây dựng, củng cố hội phụ huynh học sinh, hội đồng giáo dục tại địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp, đồng bộ, hướng vào mục tiêu giáo dục trẻ một cách thường xuyên, có tổ chức, có kế hoạch
Trang 361.4 Một số lý luận về công tác chăm sóc trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số
1.4.1 Chủ trương của Nhà nước đối với công tác chăm sóc mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số
Chính phủ, các bộ ngành đã có nhiều chính sách quan trọng dành cho đối tượng trẻ em dân tộc thiểu số Bên cạnh những chính sách chung dành cho trẻ
em về trợ cấp xã hội, y tế, giáo dục, còn có quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc nội trú; quy định miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010- 2011 đến năm học 2014- 2015
Cụ thể, trẻ mầm non dân tộc thiểu số được trợ cấp tiền ăn 120.000 đồng/tháng Trẻ em học trường nội trú được cấp học bổng bằng 80% mức tiền lương tối thiểu Trẻ học bán trú thì được hỗ trợ bằng 40% mức tiền lương tối thiểu Trẻ học bán trú phải tự lo chỗ ở sẽ được hỗ trợ thêm 100.000 đồng/tháng Theo thống kê, hiện có khoảng 800.000 học sinh và khoảng 1 triệu trẻ mầm non hưởng chế độ hỗ trợ này
1.4.2 Nội dung phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc chăm sóc trẻ dân tộc thiểu số ở trường mầm non
1.4.2.1 Công tác chỉ đạo xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường
và gia đình trong việc chăm sóc trẻ dân tộc thiểu số
Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết định chất lượng hiệu quả của quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ Trên cơ sở phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường hiệu trưởng hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch của nhóm lớp, từ đó có kế hoạch phối hợp với cha mẹ học sinh để có kế hoạch
CS, GD trẻ một cách hiệu quả và an toàn
Trang 37(CBQL, GV, CMHS, ) để phối hợp có hiệu quả trong CS,GD trẻ như việc đưa đón đúng giờ, cách CS, GD trẻ giữa nhà trường và gia đình sung,
t ới CBGV nhà trường và cha mẹ trẻ Đối với kế hoạch của tổ chuyên môn
và kế hoạch của nhóm lớp: Bao gồm kế hoạch CS, GD trẻ Hiệu trưởng cần
có sự chỉ đạo cụ thể về nội dung, quy trình xây dựng kế hoạch cho giáo viên Việc chỉ đạo việc thực hiện xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và
kế hoạch nhóm, lớp đòi hỏi người hiệu trưởng cần phải thực hiện các biện pháp sau:
+ Triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu củ ến giáo viên và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ phận, từng cá nhân phấn đấ chăm sóc trẻ dưới
5 tuổi và chăm sóc
- CS, GD ) + Hướng dẫn giáo viên, các bộ phận trong trườ ế hoạ + Phê duyệt kế hoạch Chính vì thế, việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch đảm bảo chất lượng và có khả năng thực thi là một yêu cầu bắt buộc đối với người hiệu trưởng Tất cả các kế hoạch đó đều được thống nhất với nội dung kế hoạch của nhà trường, đảm bảo khả năng phối hợp cao giữa các bộ phận với CMHS,
để cùng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường Các kế hoạch xây dựng đều phải được hiệu trưởng phê duyệt trước khi thực hiện
1.4.2.2 Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường
và gia đình trong việc chăm sóc trẻ dân tộc thiểu số
Các hoạt động thực hiện chương trình phối hợp chăm sóc giáo dục trẻ là thực hiện hoạt động CS, GD theo mục tiêu của trường Về nguyên tắc chương trình là pháp lệnh của nhà nước do bộ giáo dục và đào tạo ban hành Người hiệu trưởng cần phải thực hiện nghiêm chỉnh, tuy nhiên có thể linh động cải tiến để chương trình phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương để làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ Trong quá trình quản lý việc thực hiện chương trình, hiệu trưởng phải là người nắm vững nhất chương trình CS, GD, đặc điểm tình hình địa phương (như điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa…),
Trang 38nội dung từng công việc người thực hiện và thời gian thực hiện
Mục tiêu giáo dục trẻ năm tuổi được quy định trong chương trình GDMN, bao gồm các lĩnh vực sau:
- Phát triển thể chất của trẻ Mục tiêu này gồm:
+ Trẻ có kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ : bật xa tối thiểu 50cm; ném bắt bóng bằng hai tay từ khoảng cách 4m, trèo lên xuống thang… + Trẻ có thể kiểm soát và phối hợp vận động các nhóm cơ nhỏ: tự mặc quần áo, tô màu kín, dán các hình đúng kích thước không bị nhăn…
+ Trẻ có thể phối hợp các giác quan và giữ thăng bằng khi vận động: nhảy lò cò được ít nhất 5 bước liên tục, đổi chân theo yêu cầu, đập bắt bóng bằng 2 tay, đi thăng bằng trên ghế thể dục
+ Trẻ thể hiện sức mạnh, sự nhanh nhẹn và dẻo dai của cơ thể: chạy 18m trong khoảng thời gian 5-7 giây, chạy liên tục 150m không giới hạn thời gian, tham gia hoạt động liên tục và không có biểu hiện mệt mỏi trong khoảng 30 phút
+ Trẻ hiểu biết, thực hành vệ sinh cá nhân và dinh dưỡng: Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn, chải răng hàng ngày, che miệng khi ho, hắt hơi, giữ đầu tóc, quần áo gọn gàng, kể tên được một số thức ăn cần có trong bữa ăn, biết và không ăn uống một số thứ có hại cho sức khỏe
+ Trẻ có hiểu biết và thực hành an toàn cá nhân: Nhận ra và không chơi một số đồ vật có thể gây nguy hiểm, không nhận quà của người lạ khi người thân chưa cho phép, biết kêu cứu và chạy khỏi nơi nguy hiểm, biết hút thuốc
lá có hại và không lại gần người đang hút thuốc -Phát triển tình cảm xã hội
của trẻ Mục tiêu này gồm:
+ Trẻ biết ứng xử phù hợp với giới tính của bản thân; Nói được khả năng
và sở thích riêng của bản thân; Đề xuất trò chơi và hoạt động thể hiện sở thích của bản thân.Thể hiện sự an ủi và chia vui với người thân và bạn bè;
Trang 39+ Trẻ biết thể hiện sự thích thú trước cái đẹp; Thích chăm sóc cây cối, con vật quen thuộc;Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh; + Trẻ biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi được an ủi, giải thích Lắng nghe ý kiến của người khác; Trao đổi ý kiến của mình với các bạn; Thể hiện
sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè; Chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn; Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác…
- Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp Mục tiêu này gồm :
+ Trẻ nghe, hiểu lời nói, nhận ra sắc thái biểu cảm của lời nói khi vui buồn, tức giận…; nghe hiểu và thực hành được các chỉ dẫn liên quan đến 2,3 hành động; hiểu nghĩa một số từ khái quát chỉ sự vật, hiện tượng gần gũi; nghe hiểu nội dung câu chuyện, thơ, đồng dao, ca dao dành cho lứa tuổi + Trẻ biết sử dụng lời nói giao tiếp: nói rõ ràng; sử dụng các từ chỉ tên gọi, hành động, tính chất và từ biểu cảm trong sinh hoạt hàng ngày; sử dụng các loại câu khác nhau trong giao tiếp; sử dụng lời nói để bày tỏ cảm xúc, nhu cầu, ý nghĩ và kinh nghiệm của bản thân; sử dụng lời nói để trao đổi và chỉdẫn bạn bè trong hoạt động; kể về một sự việc, hiện tượng nào đó để người khác hiểu được, kể lại nội dung chuyện đã nghe theo trình tự nhất định; biết cách khởi xướng cuộc trò chuyện
+ Trẻ thực hiện một số quy tắc thông thường trong giao tiếp: điều chỉnh giọng nói phù hợp với tình huống và nhu cầu giao tiếp; không nói leo, không ngắt lời người khác khi trò chuyện, sử dụng một số từ chào hỏi và từ lễ phép phù hợp với tình huống, không nói tục, chửi bậy
+ Trẻ thể hiện một số hành vi ban đầu của việc đọc: biết ý nghĩa một số
ký hiệu, biểu tượng trong cuộc sống, biết kể chuyện theo tranh
1.4.2.3 Công tác chỉ đạo, điều khiển hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc dục trẻ dân tộc thiểu số
Với kế hoạch phối hợp đã được đề ra thì hoạt động chỉ đạo, điều khiển của người hiệu trưởng là rất cần thiết trong suốt quá trình phối hợp giữa nhà
Trang 40trường-gia đình Điều này giúp cho sự phối hợp tiến hành một cách thường xuyên liên tục đáp ứng cho công tác chăm sóc, giáo dục trẻ diễn ra từng ngày Hiệu trưởng đề ra những công việc cụ thể cho từng giai đoạn của quá trình phối hợp giữa nhà trường - gia đình, hướng dẫn việc thực hiện giải quyết những khó khăn vướng mắc, uốn nắn điều chỉnh những sai lệch trong quá
trình phối hợp
1.4.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
Việc kiểm tra công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong CS,
GD trẻ là một việc làm hết sức quan trọng qua kiểm tra hiệu trưởng sẽ phát hiện ra những mặt mạnh, mặt yếu, để ngăn chặn, uốn nắn những lệch lạc của tập thể và cá nhân khi tiến hành công việc Quá trình kiểm tra sẽ góp phần hình thành ý thức và năng lực tự kiểm tra công việc của chính bản thân mỗi cán bộ giáo viên Trong trường mầm non kiểm tra việc thực hiện công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình Bao gồm các nội dung sau:
- Kiểm tra hoạt động phối kết hợp với CMHS của giáo viên: Yêu cầu đi sâu vào các nội dung công việc, việc phối kết hợp với CMHS và năng lực sư phạm của từng giáo viên, giúp họ làm tốt công việc giáo dục trẻ, đồng thời xây dựng được không khí sư phạm, thực hiện mục tiêu giáo dục một cách đồng bộ Công tác tiến hành kiểm tra đó là; kiểm tra kế hoạch giáo dục trẻ, kiểm tra kế hoạch chủ nhiệm lớp (trong đó có công tác phối hợp với CMHS),
kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; kiểm tra việc triển khai thực hiện các hoạt động giáo dục
- Kiểm tra hoạt động của tổ chuyên môn: Công tác này giúp cho hiệu trưởng thấy được toàn bộ hoạt động sư phạm của tập thể giáo viên và mối tương tác của các thành viên trong tập thể Hiệu trưởng có thể kiểm tra tổ chuyên môn toàn diện hoặc theo từng vấn đề như: + Kiểm tra tổ trưởng về nề nếp quản lý của tổ trưởng, nhận định của tổ trưởng về từng tổ viên, uy tín của