1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng

107 246 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[33] Đối với trẻ khuyết tật và gia đình có trẻ khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ như: tham vấn, tư vấn các dịch vụ, y tế, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ MINH THƯỜNG

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Chuyên ngành : Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ VIỆT HẠNH

HÀ NỘI 2017

HÀ NỘI - năm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực

tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng” là hoàn toàn trung thực và

không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Phạm Thị Minh Thường

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 13

1.1 Trẻ khuyết tật: Khái niệm và đặc điểm 13

1.2 Lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật 16

1.3 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật 26

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 31 2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 31

2.2 Thực trạng nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật 35

2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với TKT 50

Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 59

3.1 Biện pháp về chính sách 59

3.2 Biện pháp nâng cao nhận thức 60

3.3 Biện pháp tuyên truyền trong cộng đồng 63

3.4.Phương thức thực hiện các hoạt động quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật 65

3.5 Biện pháp xây dựng các mô hình dịch vụ hỗ trợ trẻ khuyết tật 66

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mức độ thực hiện các nhiệm vụ QLTH đối với trẻ khuyết tật 37

Bảng 2.2: Thông tin cá nhân trẻ khuyết tật 38

Bảng 2.3: Nội dung thông tin về tình trạng khuyết tật (Tỷ lệ %) 39

Bảng 2.4: Nội dung thông tin về gia đình trẻ khuyết tật 41

Bảng 2.5:Mức độ thực hiện nhiệm vụ đánh giá nhu cầu trẻ khuyết tật 43

Bảng 2.6: Đánh giá mức độ cần thiết của các yếu tố xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ khuyết tật (%) 44

Bảng 2.7: Nội dung thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ khuyết tật (Tỷ lệ %) 46

Bảng 2.8: Nội dung lượng giá kết quả quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật (Tỷ lệ %) 48

Bảng 2.9: Các lý do kết thúc quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật 49

Bảng 2.10: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến QLTH đối với TKT 51

Bảng 2.11: Mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm về bản thân TKT 52

Bảng 2.12: Các đặc điểm của nhân viên QLTH với TKT (Tỷ lệ %) 53

Bảng 2.13: Các đặc đ iểm về năng lực của Trung tâm 54

Bảng 2.14: Các yếu tố liên quan đến nhận thức của gia đình TKT 55

Bảng 2.15: Các đặc điểm yếu tố nhận thức của cộng đồng, địa phương 56

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Hiểu biết về quản lý trường hợp 35

Biểu đồ 2.2: Tầm quan trọng của quản lý trường hợp 36

Biểu đồ 2.3: Thu thập thông tin về tình trạng khuyết tật 40

Biểu đồ 2.4: Mức độ cần thiết của kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật (Tỷ lệ %) 45

Biểu 2.5: Nội dung kế hoạch trợ giúp trẻ khuyết tật 47

Trang 6

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Theo con số của Bộ LĐ-TB&XH, tính đến tháng 6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số, người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 58% người khuyết tật là nữ, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người

nam là người khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân, hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích… Đa số trẻ khuyết tật sống với gia đình (95.85%) và có người chăm sóc Một nửa số hộ gia đình có trẻ khuyết tật gặp khó khăn lớn về tài chính, nên không thể cung cấp những điều kiện đầy đủ cho trẻ được phục hồi chức năng và học hành [33]

Đối với trẻ khuyết tật và gia đình có trẻ khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ như: tham vấn, tư vấn các dịch vụ, y tế, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tiếp cận được các dịch vụ xã hội, hưởng chính sách

xã hội, các nhu cầu của người khuyết tật không được đáp ứng, các quyền lợi cơ bản đối với trẻ khuyết tật như: việc được can thiệp, điều trị phục hồi chức năng, việc được đi học, được hòa nhập cộng đồng … còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại

Thực tế hiện nay, trên toàn thành phố Hải Phòng khoảng hơn 40% trẻ khuyết tật không có giấy xác nhận khuyết tật, với nhiều nguyên do khác nhau Khi trẻ không có giấy xác nhận khuyết tật thì việc trẻ được hưởng các chính sách, chế độ, các nhu cầu của trẻ khuyết tật không được đáp ứng theo luật khuyết tật Tại Trung Tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng hiện đang quản lý 6 mô hình xã phường

có CLB trẻ em khuyết tật tham gia sinh hoạt là 202 trẻ khuyết tật với những dạng tật như: Bại não; Down; Tự kỷ; Chậm phát triển trí tuệ; khuyết tật chân tay, Đa khuyết tật … Đối với những trẻ khuyết tật này đa phần không tự chăm sóc được, phục vụ bản thân được, trẻ không nói được …

Hoạt động công tác xã hội và nhất là quản lý trường hợp trong trợ giúp người khuyết tật tại thành phố Hải Phòng được phát triển ngày một tốt hơn nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhóm đối tượng là người khuyết tật như sau:

Trang 7

2

Người khuyết tật thuộc nhóm yếu thế do sự khiếm khuyết cơ thể, các chức năng xã hội của họ có thể bị suy giảm Vì vậy, đội ngũ nhân viên công tác xã hội có thể giúp họ tiếp cận được các nguồn lực bên ngoài, phát huy nguồn lực bên trong để

họ trở nên mạnh mẽ hơn, có khả năng sống độc lập và tham gia vào các hoạt động lao động, học tập như những người bình thường

Công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật chính là đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của đối tượng; đồng thời đóng vai trò là người quản lý trường hợp,

hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận những dịch vụ phù hợp và duy trì tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất Trong trường hợp cần thiết, nhân viên công tác xã hội cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật và gia đình của họ Như vậy, bằng những kiến thức, kỹ năng và phương pháp, nhân viên công tác xã hội đã trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng người khuyết tật, phục hồi các chức năng xã hội mà họ

bị suy giảm

Bên cạnh đó, công tác xã hội còn thúc đẩy môi trường xã hội, bao gồm: chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để giúp người khuyết tật hòa nhập xã hội và làm tốt chức năng của họ Đội ngũ này đóng vai trò là người xúc tác, biện hộ

để cá nhân, gia đình người khuyết tật được hưởng những chính sách an sinh xã hội dành cho họ Trên cơ sở đó, giúp người khuyết tật tự nâng cao chức năng của mình

Nhân viên công tác xã hội, ngoài việc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn, cung cấp kiến thức cho gia đình, người thân cách chăm sóc người khuyết tật để giúp đối tượng trở nên chủ động, có khả năng tự chăm sóc, như vậy họ sẽ tự tin hơn trong cuộc sống và sẽ tránh được những vấn đề khác có thể phát sinh Đồng thời, họ tư vấn để chính quyền có những chính sách phù hợp nhằm ngăn ngừa sự phát sinh các vấn đề xã hội Thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội như: chăm sóc sức khoẻ, cải thiện tình hình kinh tế & việc làm, hạ tầng cơ sở, nước sạch vệ sinh môi trường, hỗ trợ tâm lý tình cảm… nhân viên công tác xã hội sẽ giúp Người khuyết tật có được cơ hội tiếp cận dịch vụ để giải quyết vấn đề của bản thân, phát huy được những khả năng của mình, vượt qua khó khăn đó, vươn lên tự lập trong cuộc sống Bằng hoạt động giáo dục, cung cấp kiến thức, kỹ năng giải quyết vấn đề cho cá nhân, gia đình

Trang 8

3

và cộng đồng người khuyết tật, đội ngũ này sẽ cung cấp cơ hội cho người khuyết tật được hoà nhập cộng động – là một biện pháp giúp họ phát triển nhân cách, tăng cường giao lưu và học hỏi xã hội

Chúng ta đã có những người làm công tác xã hội như các nhân viên ở trung tâm bảo trợ xã hội, cán bộ phụ nữ làm công tác dân số trẻ em ở xã, phường… Chỉ

có điều, họ chưa được đào tạo bài bản và làm việc chưa chuyên nghiệp Phần đông

là làm trái ngành nghề, kiêm nhiệm, thiếu những kỹ năng cần thiết Tuy nhiên, hiện vẫn chỉ có đội ngũ cán bộ nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp với tỷ lệ khiêm tốn Do không có chuyên môn nên họ làm việc theo trực giác, thiếu nhận thức, hiểu biết và những kỹ năng cần thiết về công tác xã hội nên hiệu quả giải quyết các vấn đề không cao và thiếu bền vững

Cùng với đó, nhận thức về nghề công tác xã hội còn rất mới mẻ, sự phát triển

và đào tạo cán bộ, nhân viên trong lĩnh vực này chưa được hình thành một cách đồng bộ Mạng lưới nhân viên và tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội còn mỏng và thiếu tính chuyên nghiệp

Chính sách xã hội phải gắn liền với khả năng xây dựng và triển khai các dịch

vụ xã hội Việc chuyển các mô hình chính sách từ trợ cấp về mặt tài chính sang các

mô hình đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng sống, tổ chức các dịch vụ nâng cao khả năng sống độc lập của người khuyết tật là hết sức cần thiết Đồng thời, tiếng nói của người khuyết tật cần được thể hiện rõ trong tiến trình xây dựng luật và hệ thống chính sách cho chính người khuyết tật Các hoạt động nghiên cứu và thực hành về công tác xã hội cũng cần thêm chức năng và nhiệm vụ đóng góp vào việc đưa tiếng nói của người khuyết tật trong các chính sách xã hội và chương trình xã hội

Việc quan tâm tạo nguồn nhân viên xã hội cần chú trọng nhiều hơn đến khía cạnh kỹ năng và khía cạnh đạo đức nghề nghiệp Hiện các chương trình đào tạo ở các trường đại học đã có những môn học liên quan đến lĩnh vực khuyết tật, tuy nhiên chưa hình thành có hệ thống về mặt nội dung đào tạo và thực hành, nhất là thiếu các môn học và nội dung đề cập đến khía cạnh kỹ năng trong thực hành công tác xã hội ở các lĩnh vực cụ thể Đi cùng với việc đầu tư khía cạnh kỹ năng trong

Trang 9

4

vấn đề đào tạo công tác xã hội, vấn đề xây dựng hệ thống các chuẩn mực thực hành

và quy điều đạo đức trong thực hành công tác xã hội là điều rất cần thiết Đó là những yếu tố cơ bản trong việc triển khai các mô hình tác động ở các đối tượng yếu thế trong xã hội, nhất là đối tượng người khuyết tật và trẻ khuyết tật

Theo tác giả Nguyễn Quốc Anh - Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số, việc xây dựng các mô hình, trung tâm công tác xã hội nói chung từ cấp cơ

sở là một định hướng cho việc hình thành hệ thống công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt Nam Cơ cấu của các mô hình này vừa có thể ở trong hệ thống quản lý của nhà nước, vừa có thể nằm trong hệ thống các tổ chức phi chính phủ nhưng tất cả đều hưởng những tác động trực tiếp và nằm trong sự vận hành của hệ thống phúc lợi xã hội nói chung Với đối tượng khuyết tật, nhà nước và hệ thống an sinh xã hội cần phải đầu tư nguồn kinh phí tối đa cho sự vận hành các mô hình thực hành cũng như điều tiết các nguồn lực từ tài trợ, hoạt động từ thiện và đóng góp của xã hội Việc hình thành chính thức hội nhân viên xã hội, hội đào tạo công tác xã hội là hết sức cần thiết Đây là bộ máy định hướng các quy chuẩn nghề nghiệp, đánh giá kỹ năng nghề nghiệp cho người làm công tác xã hội Có bộ máy này vấn đề hoạt động công tác xã hội mới định hướng được tính chuyên nghiệp cũng như có xây dựng được các

cơ chế giúp công tác xã hội phát triển tốt hơn ở các khía cạnh đào tạo, nghiên cứu

và ứng dụng trong thực tiễn Và ngoài đội ngũ chuyên nghiệp được đào tạo bài bản, chính quy tại các bậc học từ trung cấp đến thạc sỹ, tiến sỹ thì bên cạnh đó cũng cần thiết bồi dưỡng nâng cao năng lực và kiến thức cho đội ngũ cán bộ, hội viên, tình nguyện viên ở các tổ chức xã hội nhằm trang bị cho họ kiến thức và kỹ năng công tác xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội về lĩnh vực này [1]

Chính vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu về quản lý trường hợp góp một phần trong việc định hướng cho nhân viên công tác xã hội nhận thấy thêm một vai trò nữa trong việc hỗ trợ người khuyết tật nói riêng và các đối tượng khác nói chung,

đó là quản lý trường hợp cho người khuyết tật vì trong công tác xã hội cũng có một phần quản lý trường hợp, việc quản lý trường hợp giúp cho nhân viên công tác xã hội có được sự theo dõi giám sát đối tượng thường xuyên, kết nối các nguồn lực,

Trang 10

Hiện nay, việc thực hiện QLTH cho người khuyết tật có quá nhiều biểu mẫu,

và việc thực hiện gặp nhiều khó khăn, nội dung trong biểu mẫu nhiều trùng lặp, nội dung trong biểu mẫu cứng nhắc không uyển chuyển do đối với người khuyết tật không giống nhau, từ dạng tật đến nhu cầu, điều kiện, đến các kỹ năng của người khuyết tật

Trên thực tế việc đáp ứng được nhu cầu quản lý trường hợp cho người khuyết tật cần có mội đội ngũ nhân viên QLTH có đủ kỹ năng, kiến thức và làm việc nhiệt huyết mới đáp ứng được nhu cầu hiện nay

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài : “Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết

tật tại cộng đồng từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng”

làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việt Nam là một trong những quốc gia có số người khuyết tật khá cao trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với khoảng bảy triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số

Theo ông Anthony Lake, Giám đốc điều hành UNICEF, toàn cầu hiện có khoảng 93 triệu trẻ em dưới 14 tuổi bị khuyết tật Việc quan tâm đến những khả năng và tiềm năng của trẻ khuyết tật sẽ tạo ra lợi ích cho toàn xã hội "Nhìn vào khuyết tật trước khi nhìn nhận trẻ không chỉ là hành động không công bằng mà còn làm mất đi những điều trẻ có thể mang lại cho xã hội", nhiều trẻ em khuyết tật không được thừa nhận ngay từ khi mới sinh ra, thậm chí không được đăng ký khai

Trang 11

Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cho biết, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật, tạo việc làm, xóa bỏ kỳ thị

Để hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ làm việc với người khuyết tật một cách chuyên nghiệp, Cục Bảo trợ xã hội phối hợp cùng Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Tổ chức hỗ trợ người khuyết tật xây dựng tài liệu về quản lý trường hợp với người khuyết tật đề cập tới những quan điểm về cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật và các giai đoạn của quản lý trường hợp với người khuyết tật [21]

Thời gian qua Học viện khoa học xã hội có tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Quản lý trường hợp với người khuyết tật tại Việt Nam” do Khoa Công tác

xã hội của Học viện khoa học xã hội Việt Nam tổ chức vào ngày 22/10/2015 Đây

là hội thảo khoa học mang nhiều ý nghĩa khi nội dung nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường hợp với người khuyết tật” – đây là hướng đi mới hỗ trợ người khuyết tật đang được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư 01/TT-Bộ LĐTB &XH về công tác Quản lý trường hợp với người khuyết tật nhưng còn nhiều khó khăn như khó khăn về kinh phí, nguồn nhân lực, nhận thức của chính quyền địa phương các cấp về công tác này Đồng thời, thông qua các bài báo cáo của các chuyên gia và phần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định hướng nghiên cứu cho học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề, phát triển nghiên cứu của đề tài luận văn cao học [32]

Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, phục hồi chức năng; khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác tư vấn, chăm sóc người khuyết tật Khuyến khích hoạt động trợ giúp người khuyết tật Tạo điều kiện để tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật hoạt động có hiệu quả Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích, đóng góp trong việc trợ giúp người khuyết tật

Trang 12

7

Gia đình có trách nhiệm giáo dục, tạo điều kiện để thành viên gia đình nâng cao nhận thức về vấn đề khuyết tật, thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật Gia đình người khuyết tật có trách nhiệm sau đây: Bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật; Tạo điều kiện để người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; Tôn trọng ý kiến của người khuyết tật trong việc quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống của bản thân người khuyết tật và gia đình [9]

Một số công trình nghiên cứu về người khuyết tật, trẻ em khuyết tật: Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng quát nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật, vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc với người khuyết tật.Đây là giáo trình đào tạo Công tác xã hội ở

hệ trung cấp nghề [15]

“Báo cáo về trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng” báo cáo của UNICEF Báo cáo này được thực hiện trên cơ sở điều tra các gia đình nuôi dưỡng trẻ khuyết tật, quan niệm của cộng đồng về người khuyết tật và vai trò quan trọng của mô hình xã hội về người khuyết tật dựa vào gia đình và cộng đồng trong

đó vai trò của gia đình là quan trọng hơn cả Nghiên cứu chỉ ra rằng quan niệm hiện tại của dân cư về người khuyết tật hoàn toàn có thể thay đổi được kéo theo việc có thể thay đổi được hành vi định kiến về các dạng khuyết tật đặc biệt là trẻ đa khuyết tật và chậm phát triển trí tuệ thông qua các chiến dịch truyền thông [16]

Tác giả Tạ Hải Giang, Trung tâm phát triển Sức khỏe bền vững – Viethealt với nghiên cứu “ Dịch vụ xã hội cho Người khuyết tật, thách thức và triển vọng” Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội của người khuyết tật Việt Nam là khó khăn đặc biệt trong lĩnh vực y tế và giáo dục Từ

đó tác giả đưa ra đề xuất về sự cần thiết tham gia của nhân viên công tác xã hội trong công tác hỗ trợ người khuyết tật thông qua kết nối các nguồn lực liên ngành

Trang 13

8

và đa chiều để hỗ trợ người khuyết tật một cách có hiệu quả Nghiên cứu đã chỉ ra vai trò cụ thể của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật trong lĩnh vực y tế và giáo dục là phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh, can thiệp sớm – phát hiện sớm khuyết tật, giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp và việc làm [19]

Báo cáo Người khuyết tật Việt Nam một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 của Quỹ dân số liên hợp quốc Báo cáo này đưa ra một bức tranh chung về tỷ lệ người khuyết tật ở Việt Nam; đưa ra một số đặc trưng nhân khẩu và kinh tế - xã hội cơ bản của người khuyết tật và so sánh với các đặc trưng của nhóm người không khuyết tật và đã đưa ra đề xuất về các chính sách trên cơ sở kết quả phân tích cho thấy người khuyết tật nói chung, đặc biệt người khuyết tật nặng gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ xã hội như giáo dục, việc làm Tỷ lệ đọc, viết của thanh thiếu niên khuyết tật từ 14 đến 25 tuổi thấp hơn

so với người ở độ tuổi trưởng thành nói chung mặc dù trong nhóm dân số không khuyết tật tỉ lệ biết đọc, biết viết cao hơn so với nhóm ở độ tuổi trưởng thành.Tỷ lệ người khuyết tật tham gia lực lượng lao động thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn

so với 14 người không khuyết tật Tình trạng đa khuyết tật là tương đối phổ biến Nghiên cứu cho thấy người đa khuyết tật có trình độ học vấn thấp hơn, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn [10]

Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam, tổ chức lao động quốc tế Báo cáo này cung cấp một cách nhìn tổng thể về các

tổ chức của người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho người khuyết tật Báo cáo đưa ra một số kết quả phân tích quan trọng như: tại Việt Nam, người khuyết tật ít được đào tạo nghề, hướng dẫn việc làm cũng như phát triển doanh nghiệp, cần có các dịch vụ đào tạo riêng Báo cáo đã nêu

ra một số hạn chế về cơ chế, chính sách pháp luật về người khuyết tật như: pháp luật Việt Nam chưa nêu rõ hoạt động chủ đạo và chính phủ chưa có chính sách khuyến khích đào tạo nghề hòa nhập riêng ngoài chính sách giáo dục hòa nhập Tuy

có nhiều trường nghề được thành lập nhưng chủ yếu phục vụ các khu vực thành thị, tại các khu vực nông thôn, việc tiếp cận đào tạo nghề bị hạn chế Các dịch vụ bố trí

Trang 14

9

việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo nghề Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp được việc làm sau đào tạo nghề khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại cơ sở dành riêng cho người khuyết tật không phải tại các doanh nghiệp thông thường Rất ít các dịch vụ cung cấp cho phụ nữ khuyết tật Phụ

nữ khuyết tật đang từng bước tiếp cận các dịch vụ trợ giúp thông qua Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam [12]

Qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,

có thể thấy rằng người khuyết tật luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế và của Đảng, Nhà nước Việt Nam Tuy vậy, tiếp cận từ góc nhìn quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật còn hạn chế về số lượng và chất lượng, đặc biệt tại thành phố Hải Phòng là một trong những thành phố lớn của Việt Nam, có mật độ dân số cao, tỷ lệ trẻ em khuyết tật không thấp Mặc dù vậy hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào về quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật được đề cập đến

Đó cũng là lý do chính để tôi thực hiện nghiên cứu về vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu để xác định về một số vấn đề lý luận và làm rõ thực trạng

về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm công tác xã hội thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả trong quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề tài tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng

- Tập trung phân tích đánh giá thực trạng về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng

Trang 15

10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn Trung

tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng

4.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là nhân viên quản lý trường hợp đang làm việc tại Trung tâm Công tác xã hội và cha mẹ trẻ khuyết tật đang sinh sống tại các địa phương xã Hùng Tiến; xã Hòa Bình - huyện Vĩnh Bảo; Thị trấn Tiên Lãng - huyện Tiên Lãng; xã Tân Phong – huyện Kiến Thụy; xã Đại Bản – huyện An Dương phường Đổng Quốc Bình – quận Ngô Quyền

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng nhiệm

vụ quản lý trường hợp về các nội dung: thu thập thông tin và nhu cầu của trẻ khuyết tật; đánh giá trẻ khuyết tật; xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ khuyết tật; thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ khuyết tật; lượng giá và kết thúc quản lý trường hợp với trẻ khuyết tật

Phạm vi về khách thể nghiên cứu: đề tài nghiên cứu 9 nhân viên quản lý trường hợp và 65 người giám hộ là cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ khuyết tật từ 6 tuổi đến 14 tuổi

Phạm vi về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu trên 6 xã phường có mô hình CLB trẻ khuyết tật: CLB trẻ khuyết tật tại xã Hùng Tiến và xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo; thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng; xã Tân Phong, huyện Kiến Thụy; xã Đại Bản, huyện An Dương; phường Đổng Quốc Bình, quận Ngô Quyền

Phạm vi về thời gian: Từ 18 tháng 4 năm 2012 đến nay và thực hiện quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật từ tháng 29 tháng 2 năm 2016

Về nội dung thực hiện: Quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật tại cộng đồng theoThông tư 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thông tư hướng dẫn về quản lý trường hợp với người khuyết tật

Trang 16

lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại đơn vị

Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong hệ thống lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài như: dịch vụ y tế cho trẻ khuyết tật, phục hồi chức năng, giáo dục hòa nhập đối với trẻ khuyết tật

6.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tài liệu:Thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các

nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những những nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp

gián tiếp thông qua người giám hộ (cha, mẹ hoặc ông bà, cô dì, chú bác, người chăm sóc trực tiếp cho trẻ) dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi cho người giám hộ trẻ khuyết tật, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên

Phương pháp quan sát: Quan sát thực tế từ cộng đồng tại các địa phương

quản lý các trường hợp được gửi lên tại Trung tâm theo địa chỉ chúng tôi đến gia đình có trẻ nên có thể quan sát trẻ thông qua các tri giác như: nghe; nhìn và tiếp xúc trực tiếp với trẻ hàng ngày Từ đây có thể nắm bắt được tình trạng chăm sóc, giáo dục của trẻ sự cải thiện như thế nào, kết quả đạt được ra sao

Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 3 cuộc phỏng vấn sâu của sáu nhóm

làm việc trực tiếp với trẻ khuyết tật tại địa phương: một cuộc phỏng vấn sâu với cán

bộ chính sách; giáo viên chủ nhiệm mô hình Câu lạc bộ trẻ khuyết tật; người chăm sóc trực tiếp trẻ

Phương pháp thống kê toán học SPSS

Số liệu thu được sau khảo sát thực tiễn được xử lý bằng chương trình phần mềm SPSS (viết tắt của Statistical Package for the Social Sciences) Các thông số

Trang 17

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm

hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật nói riêng và lý luận về quản lý trường hợp, về chính sách xã hội đối với người khyết tật nói chung

Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực quản lý trường hợp đối với người khuyết tật

7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật là việc cần thiết, vì đây là một việc làm cần thiết để giúp các đối tượng là trẻ khuyết tật được sự trợ giúp từ các nguồn lực khác nhau, giúp cho trẻ khuyết tật vượt qua được những khó khăn khiếm khuyết, tình trạng bệnh tật, hoàn cảnh gia đình, giúp nối kết các nguồn lực, dịch vụ như: nguồn lực kinh tế; y tế; giáo dục; chăm sóc; dinh dưỡng; hòa nhập cộng đồng

Từ đó đưa ra được một số khó khăn, thuận lợi, định hướng giải pháp thực tế để bảo đảm hiệu quả cao về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng

Giúp cho nhân viên quản lý trường hợp trẻ khuyết tật nói riêng và nhân viên công tác xã hội các ngành khác nói chung hiểu biết thêm về quản lý trường hợp đối với người khuyết tật nói chung

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật Chương 2: Thực trạng về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng

Trang 18

13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP

ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT 1.1 Trẻ khuyết tật: Khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Một số khái niệm

* Khái niệm về trẻ em

Trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh và tuổi dậy thì Định nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là một người chưa tới tuổi trưởng thành.[19]

Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ (như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuổi nào) hoặc với nghĩa ẩn dụ, hoặc thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như trong "một đứa trẻ vô tư" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi "

Công ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là

"mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn." [8]

Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi [9]

Tóm lại, trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ

tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người

* Khái niệm về trẻ khuyết tật

Theo quy định pháp luật Việt Nam định nghĩa: Trẻ khuyết tật là trẻ bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho sinh hoạt, học tập và lao động gặp nhiều khó khăn[9]

Trẻ khuyết tật là những đứa trẻ bị tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động học tập, vui chơi và lao động

Trang 19

14

Khái niệm về người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành) [7]

Theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống [20]

Tóm lại, trẻ khuyết tật là trẻ dưới 16 tuổi có những trở ngại khi thực hiện

hoạt động, công việc nào đó trong cuộc sống và trợ ngại ấy bị gây ra bởi thương tật

hay lệch chuẩn về sức khỏe thể lý, sức khỏe tâm thần

1.1.2 Biểu hiện tâm lý và nhu cầu của trẻ khuyết tật

Nhân viên QLTH để làm tốt công việc của mình cần hiểu biết về tâm lý cá nhân và gia đình, hiểu được nhu cầu, các mối quan hệ giữa các yếu tố văn hóa, xã hội kinh tế và tâm lý xã hội Mặt khác, nhân viên QLTH cũng cần phải biết về kiến thức về chính sách, chương trình của nhà nước và tại địa phương dành cho các nhóm đối tượng yếu thế cũng như kiến thức về các chương trình dịch vụ an sinh hiện có trong cộng đồng

1.1.2.1 Biểu hiện tâm lý của trẻ khuyết tật

Tâm lý của người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được - chẳng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại

hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết

cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao

Trang 20

15

lưu gặp gỡ ở chỗ đông người Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người

ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao [30]

Đối với trẻ em khuyết tật biểu hiện về mặt tâm lý của trẻ chưa rõ ràng, chỉ là những biểu hiện về bệnh lý về mặt tâm lý là chính Những vấn đề tâm lý chính từ gia đình, người thân có mặc cảm với những người xung quanh về vấn đề khiếm khuyết của trẻ, từ đó có những biểu hiện bỏ mặc trẻ, thậm chí bỏ rơi trẻ, không chăm sóc, hoặc vì khiếm khuyết của trẻ dẫn gia đình đến việc túng quẩn, khó khăn

về kinh tế, thậm chí có một số gia đình dẫn đến việc ly hôn giữa bố và mẹ của trẻ

… đây cũng là những vấn đề của xã hội hiện nay cần có những biện pháp, những

chương trình hỗ trợ tốt hơn nữa nhằm trợ giúp cho đối tượng

1.1.2.2 Nhu cầu của trẻ khuyết tật

Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm

chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày [24]

Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn

Nhân viên QLTH có trách nhiệm xác định những nhu cầu cơ bản của trẻ em khuyết tật như: Dinh dưỡng, ăn ngủ, vui chơi giải trí, được yêu thương, bảo vệ, được kết bạn, học hành, đặc biệt là được chăm sóc điều trị phục hồi chức năng Đối với trẻ em khuyết tật cũng cần có những nhu cầu cơ bản theo tháp nhu cầu của Maslow sau:

Trang 21

16

Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" (physiological) như: Thức ăn,

nước uống, nơi trú ngụ, sinh lý, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Nhu cầu an toàn (safety) cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, gia

đình, sức khỏe được đảm bảo

Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (love/belonging) muốn

được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy

Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) cần có cảm giác được tôn trọng,

kinh mến, được tin tưởng

Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) muốn sáng tạo, được thể

hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Đối với trẻ em khuyết tật cũng có những nhu cầu cơ bản, chứ không ngoại trừ, điều cần thiết thêm cho trẻ em khuyết tật là nhu cầu điều trị phục hồi chức năng, giảm thiểu những khiếm khuyết của trẻ càng nhiều càng tốt, giúp cho trẻ sớm hòa

nhập cộng đồng

1.2 Lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm quản lý trường hợp (QLTH)

Quản lý trường hợp (tiếng Anh là Case Management) còn được gọi là quản

lý ca, trong trong đề tài nghiên cứu này xin gọi chung là Quản lý trường hợp (QLTH) Ở một số nước, QLTH được sử dụng trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ

an sinh cho con người (QLTH trong y tế nhằm chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân; QLTH với người nghiện ma túy, người nhiễm HIV/AIDS ) và cả trong lĩnh vực luật pháp (luật sư tư vấn luật cho các ĐT ) [21]

Quản lý trường hợp còn được gọi là hoạt động của một nhóm người bao gồm các công việc như tổ chức, phối hợp, duy trì một mạng lưới trợ giúp để đáp ứng nhu cầu của đối tượng [21]

Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLTH Sau đây là một số định nghĩa về QLTH của các tác giả trên thế giới:

Trang 22

17

Luise Johnson (1995) cho rằng QLTH là sự điều phối các dịch vụ, trong quá trình này nhân viên xã hội làm việc với thân chủ để xác định dịch vụ cần thiết, tổ chức và theo dõi sự chuyển giao các dịch vụ đó tới thân chủ một cách hiệu quả (Social Work Practice, 1995) [23]

Moore (1990) định nghĩa QLTH là “việc hoạch định và phối hợp một gói các dịch vụ y tế và xã hội được cá nhân hóa để đáp ứng các nhu cầu đặc thù của một thân chủ” [25, Tr 444]

Ballew and Mink (1996) nhấn mạnh vào đối tượng trợ giúp của quản lý trường hợp “những người mà cuộc sống của họ không thỏa mãn hay không phong phú do gặp nhiều vấn đề cần sự trợ giúp cùng lúc của nhiều nơi giúp đỡ” [21, Tr 3]

Ogborne and Rush (1983) nhấn mạnh vào tiến trình “giám sát, theo dõi và giúp đỡ cho một thân chủ xuyên suốt tiến trình trị liệu và sau đó” [26, tr 136]

Rapp et al (1992) nhấn mạnh phương pháp can thiệp “hỗ trợ bệnh nhân tái nhận thức về các nguồn lực bên trong như sự thông minh, tài năng và khả năng giải quyết vấn đề; thiết lập và thương lượng các quy tắc làm việc và giao tiếp giữa bệnh nhân và các nguồn lực bên ngoài; và biện hộ vận động các nguồn lực bên ngoài để tăng cường tính liên tục, khả năng tiếp cận, tinh thần trách nhiệm và tính hiệu quả của những nguồn lực đó” [27, tr.83]

Đánh giá nhu cầu của thân chủ và gia đình thân chủ, sắp xếp, phối hợp, giám sát và biện hộ một gói nhiều dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu phức tạp của thân chủ cụ thể” (29, tr.5]

QLTH Là một tiến trình hợp tác trong việc đánh giá, hoạch định, tạo thuận lợi và biện hộ cho những phương án và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu sức khỏe của một cá nhân thông qua giao tiếp và các nguồn lực sẵn có để thúc đẩy những kết quả

có chất lượng và hiệu quả”(Case Management Society of America (CMSA) [28]

Tóm lại, QLTH là một quá trình trợ giúp của CTXH, bao gồm các hoạt động

đánh giá nhu cầu đối tượng (cá nhân, gia đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp đối tượng tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả

Trang 23

18

* Khái niệm về quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật (TKT)

QLTH với người trẻ em khuyết tật là một quá trình trợ giúp của công tác xã hội, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu của trẻ khuyết tật (là cá nhân, gia đình người KT), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp TKT phục hồi chức năng và các vấn đề khác Quản lý trường hợp còn là sự phối hợp giữa các dịch vụ hỗ trợ xã hội và y tế, giáo dục đặc biệt, tâm lý, nguồn lực nhằm hỗ trợ các nhu cầu cần thiết cho TKT, chủ yếu với mục đích chăm sóc, phục hồi chức năng

và hòa nhập cộng đồng

Khái niệm QLTH đối với TKT là một hoạt động chuyên nghiệp của công

tác xã hội thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ đánh giá nhu cầu của trẻ em khuyết tật và gia đình, xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp trẻ em khuyết tật và gia đình tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề

của họ một cách hiệu quả

1.2.2 Nguyên tắc trong quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật

Có rất nhiều nguyên tắc quản lý trường hợp khác nhau, tuy nhiên trong QLTH đối với TEKT thì các nguyên tắc sau cần được coi trọng hơn cả, đó là:

* Nguyên tắc tôn trọng, không phán xét

Chấp nhận trẻ khuyết tật trong mọi hoàn cảnh sẽ giúp nhân viên có được thái

độ tôn trọng và tránh sự phán xét khi làm việc với TEKT Điều này giúp thiết lập và tăng cường mối quan hệ giữa người trợ giúp và TEKT Trên cơ sở đó sẽ thúc đẩy hiệu quả giúp đỡ

* Nguyên tắc thúc đẩy và vận động xã hội tạo điều kiện để hỗ trợ đối tượng giải quyết vấn đề thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ

NVQLTH thực hiện hoạt động trợ giúp này thông qua tìm kiếm các nguồn lực, điều phối việc cung cấp các dịch vụ và nguồn lực liên quan đến nhu cầu của đối tượng

Thu hút sự tham gia của đối tượng, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp dịch vụ vào tiến trình QLTH: Thu hút sự tham gia của cá nhân đối tượng, gia đình cộng đồng và các nhà cung cấp dịch vụ, mỗi cá nhân đều có sức mạnh họ ở trong

Trang 24

19

hoàn cảnh nào; giữa các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội luôn có mối quan hệ tương tác; cá nhân có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, ngược lại, gia đình, cộng đồng và xã hội phải có trách nhiệm với mỗi cá nhân

* Nguyên tắc cung cấp các dịch vụ trợ giúp thích hợp, liên tục, toàn diện và hiệu quả

Hiệu quả trợ giúp đối tượng chỉ đạt được khi nó được thực hiện dựa trên một

kế hoạch khả thi, phù hợp với nhu cầu của ĐT Hoạt động trợ giúp các gói dịch vụ mang tính toàn diện cần được duy trì liên tục cho tới khi ĐT “phục hồi”, có khả năng tự lực trong cuộc sống Ngoài ra, khi xây dựng kế hoạch can thiệp, NVQLTH cần có trách nhiệm với cơ quan tổ chức khi lưu ý tới tính hiệu quả của dịch vụ để đảm bảo tiết kiệm tối đa chi phí nhưng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ Điều này đòi hỏi NVQLTH phải có ý thức trong việc nâng cao trình độ chuyên môn và cam

kết nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc

1.2.3 Tiến trình quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật

Quản lý trường hợp được chia làm 5 bước và cần có sự tham gia của nhiều

cơ quan chức năng và cá nhân trong quá trình tiếp nhận thông tin, đánh giá, xây dựng kế hoạch trợ giúp, thực hiện kế hoạch trợ giúp huy động nguồn lực, duy trì

một mạng lưới hỗ trợ, kết thúc QLTH

1.2.3.1 Thu thập thông tin và nhu cầu của trẻ khuyết tật

Thu thập thông tin toàn diện nhằm đánh giá toàn diện về trẻ khuyết tật trước khi xây dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ Do vậy nguồn thu thập thông tin liên quan đến TEKT từ cha mẹ, ông bà trực tiếp trong các mối quan hệ xã hội

Những thông tin cần thu thập: Thông tin về nhân khẩu, thông tin cá nhân TEKT, thông tin về gia đình, thông tin về nguồn lực cộng đồng

Các thông tin cần thu thập:

Các thông tin nhân khẩu về trẻ khuyết tật: họ tên của trẻ; tuổi; giới tính; nơi

ở của trẻ

Thông tin về gia đình môi trường chăm sóc trẻ khuyết tật: họ tên cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng trẻ; nghề nghiệp của cha mẹ; nơi ở của cha mẹ

Trang 25

20

Các dạng khiếm khuyết của trẻ: khiếm khuyết vận động; khiếm khuyết trí tuệ; thể trạng; sức khỏe; dạng khuyết tật; mức độ khuyết tật; trẻ bị bỏ rơi, sao nhãng, các nhu cầu cơ bản không được đáp ứng đầy đủ

Nguy cơ trẻ gặp phải: trẻ thiếu dinh dưỡng do không được chu cấp, trẻ bị bỏ rơi, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, trẻ bị bạo hành, người chăm sóc không biết cách chăm sóc trẻ khuyết tật

Thông tin tiền sử của trẻ khuyết tật: quá trình mẹ mang thai đến lúc phát hiện tình trạng khuyết tật của trẻ

Thông tin về quá trình điều trị phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật, các

dịch vụ nào trẻ đã sử dụng

1.2.3.2 Đánh giá trẻ khuyết tật

Dựa trên những thông tin thu thập được nhân viên quản lý trường hợp đánh giá sơ bộ mức độ khuyết tật, nhu cầu, hoàn cảnh gia đình, nguy cơ gây tổn hại đến TEKT

- Đánh giá về tình trạng của trẻ

- Đánh giá các yếu tố gây tổn hại đến trẻ

- Đánh giá môi trường chăm sóc trẻ khuyết tật

- Đánh giá về nhu cầu của trẻ khuyết tật

- Đánh giá hoàn cảnh gia đình

- Đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe và y tế

Trang 26

21

1.2.3.3 Xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật

Xây dựng kế hoạch trợ giúp là tiến trình phát triển các mục tiêu để đáp ứng nhu cầu của thân chủ và nhận biết các dịch vụ cần thiết để có thể đạt được các mục tiêu này

Xây dựng kế hoạch trợ giúp nhằm hệ thống trình tự những công việc cần can thiệp, sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên trong một thời gian nhất định, đáp ứng đúng nhu cầu cấp thiết của TEKT

Các bước trong xây dựng kế hoạch can thiệp gồm: Xác định vấn đề ưu tiên của thân chủ; xác định nhu cầu ưu tiên của thân chủ, trên cơ sở đó xác định mục tiêu trợ giúp; xây dựng các hoạt động can thiệp; tổ chức thực hiện

Xác định vấn đề ưu tiên của thân chủ như: Dịch vụ công tác xã hội cần thiết TEKT có những khó khăn thiếu thốn tình cảm, các mối quan hệ hạn chế, tổn thương tâm lý, mặc cảm, thiếu tự tin, sống khép kín, không hòa nhập cộng đồng Khó khăn

về gia đình liên quan tới các vấn đề về quyền được tham gia trong gia đình và xã hội, dễ bị tổn thương về thể chất và tinh thần, bị phân biệt đối xử TKT thường gặp phải các vấn đề như: thiếu an toàn, dễ bị xâm hại, không được bảo vệ chăm sóc về dinh dưỡng, y tế, nhận thức của gia đình, người chăm sóc còn nhiều hạn chế, thiếu

kỹ năng trong việc chăm sóc, phục hồi chức năng cho TKT Đối với TKT có vấn đề

về rối nhiễu tâm trí có nhiều hạn chế trong việc duy trì và phát triển các mối quan

hệ, tập trung chú ý kém, không tuân thủ các nội quy, quy tắc, dẫn tới việc lơ là học tập, có những hành vi phá rối, không nhận thức được sự nguy hiểm, hay có hành vi nguy hại đến bản thân và người xung quanh

Xác định nhu cầu ưu tiên của thân chủ, trên cơ sở đó xác định mục tiêu trợ giúp dựa trên các vấn đề đã được xác định và được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, NVQLTH cần tiếp tục xác định nhu cầu ưu tiên của thân chủ để từ đó đưa ra giải pháp can thiệp phù hợp Những nhu cầu cơ bản như: Chăm sóc y tế, phục hồi chức năng, dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý, giáo dục, học nghề, việc làm, kỹ năng sống, mối quan hệ gia đình và xã hội, tham gia hòa nhập cộng đồng …

Trang 27

22

Xây dựng các hoạt động can thiệp nhân viên QLTH phối hợp với người khuyết tật, gia đình hoặc người giám hộ, người có trách nhiệm liên quan để xây dựng kế hoạch trợ giúp người khuyết tật Đối với TEKT những người tham gia

từ phía gia đình như: cha, mẹ, ông, bà hoặc họ hàng hay người bảo trợ Nội dung

kế hoạch trợ giúp người khuyết tật gồm có những nội dung cơ bản: Hỗ trợ sinh

kế, chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục, học nghề, việc làm, mối quan hệ gia đình

và xã hội, các kỹ năng sống, tham gia, hòa nhập cộng đồng, tâm lý, tình cảm, nhu cầu khác

Tổ chức thực hiện được các hoạt động, cần có sự tham gia của các cá nhân

có liên quan, kể cả TKT, huy động tất cả các nguồn lực từ bản thân trẻ như việc nhận thức, hành vi, tình cảm, nguồn lực từ người thân, gia đình như cha ,mẹ, ông,

bà, cô, dì, người bảo trợ là người chăm sóc, nguồn lực từ các cơ quan chuyên môn như: cán bộ xã hội, nhân viên y tế, nhân viên tham vấn tâm lý, kỹ thuật viên vật lý trị liệu, kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu, nhân viên chăm sóc, điều trị phục hồi chức

năng, giáo viên chuyên biệt ……

1.2.3.4 Thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ khuyết tật

Nhân viên QLTH nhận trách nhiệm chính trong: triển khai và giám sát mọi hoạt động của kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch Cụ thể NVQLTH thực hiện các công việc:

Kết nối, vận động tạo mối quan hệ giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Tăng cường nguồn lực khai thác tiềm năng, phát huy nguồn lực từ các bên tham gia để đối phó với những thiếu hụt về tài chính, kỹ thuật trong quá trình giải quyết vấn đề Tăng cơ hội lựa chọn trong lập kế hoạch Khi có thêm nguồn lực

về con người và kinh phí tài chính, nhiều giải pháp sẽ được tính tới, việc quyết định giải pháp tốt nhất không lệ thuộc vào vấn đề tài chính mà dựa vào tính hiệu quả của vấn đề Thiết lập mạng lưới: cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp các dịch vụ xã hội; các cơ sở bảo trợ xã hội Các trung tâm tham vấn, tư vấn; các chương trình dự án; các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước; các tổ chức xã hội chính thức và không chính thức, …

Trang 28

23

Thiết lập mối quan hệ với TKT, gia đình, người chăm sóc, giám hộ chuẩn bị cho việc hỗ trợ NVQLTH cần tạo lập được sự gắn bó, xây dựng được mối quan hệ tốt với TKT, gia đình, người chăm sóc, giám hộ, trên cơ sở đó, triển khai tham vấn,

tư vấn một cách hiệu quả nhất Thông báo cho TKT, gia đình, người chăm sóc, giám hộ kế hoạch can thiệp nhằm giúp TKT chuẩn bị tâm thế hợp tác tốt khi thực hiện kế hoạch

Triển khai hoạt động can thiệp NVQLTH cung cấp các dịch vụ hỗ trợ như chăm sóc y tế, điều trị phục hồi chức năng, các dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng, giáo dục đặc biệt… để thực hiện hỗ trợ về tinh thần và thể chất cho TEKT Tăng cường kỹ năng tự chăm sóc, thông qua tư vấn, truyền thông giáo dục

Một số yêu cầu về thái độ và kĩ năng cần thiết: Quan tâm, sẵn lòng giúp đỡ TEKT, gia đình, người chăm sóc, giám hộ, tôn trọng không phán xét, không kỳ thị, lắng nghe

Làm việc với các thành viên trong gia đình giới thiệu vai trò của NVQLTH Tìm hiểu quan điểm, ý kiến, mong muốn của GĐ về vấn đề và kế hoạch thực hiện Phát huy nguồn lực, ngăn chặn những yếu tố tăng nguy cơ không an toàn cho TEKT trong gia đình Giữ liên lạc thường xuyên với GĐ để thông báo diễn biến các hoạt động giúp đỡ của NVQLTH Lựa chọn các thành viên trong GĐ để phối hợp quản

lý các hoạt động sinh hoạt, các hành vi bất thường của TEKT

Nâng cao năng lực: Truyền thông giáo dục thay đổi nhận thức cho TKT, gia đình, người chăm sóc, giám hộ Điều này đòi hỏi NVQLTH phải tìm hiểu sâu sắc vấn đề mà TKT, gia đình, nguyên nhân dẫn đến thái độ và hành vi nguy hiểm của TKT Từ đó, NVQLTH sẽ lựa chọn hình thức giáo dục phù hợp để giúp TKT, gia đình thay đổi tốt hơn Phối hợp cùng các nhà chuyên môn tiến hành tham vấn, tư vấn giúp TKT, gia đình thay đổi nhận thức nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi chức năng cho TKT

Làm việc với cộng đồng tìm hiểu về các nguồn lực cộng đồng thông qua đánh giá về khả năng hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể, các cơ quan có liên quan tới

kế hoạch trợ giúp TKT tại cộng đồng.Phân tích mối liên hệ giữa các hệ thống Liên

Trang 29

24

hệ các mối quan hệ với kế hoạch hỗ trợ TKT, kết nối GĐ với các dịch vụ chăm sóc,PHCN để có được sự giúp đỡ tích cực nhất với những khó khăn của TKT Tạo điều kiện để TKT, gia đình có thể tham gia vào các tổ chức đoàn thể nhằm tạo ra được một môi trường an toàn

Các cơ quan chức năng phối hợp cần có hiểu biết về cơ cấu tổ chức Tạo lập mối quan hệ công việc với các tổ chức ban ngành có liên quan Thông báo về trường hợp cho các ban ngành có liên quan Có phản hồi và nghe phản hồi về việc cung cấp dịch vụ cho đối tượng Rà soát những lĩnh vực chuyên môn cần thiết để tìm sự hỗ trợ của các cơ quan tổ chức Thảo luận với gia đình TKT về dự định hợp tác của các cơ quan khi thực hiện kế hoạch Liên hệ các cơ quan mà TKT đang cần dịch vụ để có kế hoạch giúp đỡ Kết nối TKT, gia đình tới các dịch vụ được cung cấp nhằm tăng năng lực cho TKT

Kế hoạch được xây dựng dựa trên các vấn đề nhu cầu xác định được qua quá trình tiếp cận đối tượng, được xây dựng dựa trên nguồn lực về vật chất tinh thần và những điểm mạnh mà đối tượng có Gia đình, cộng đồng, các tổ chức xã hội là những nguồn lực mang tính hỗ trợ chứ không quyết định Có như vậy, việc trợ giúp mới bền vững và hướng tới thúc đấy phát huy tiềm năng sức mạnh của đối tượng, tăng cường trách nhiệm của đối tượng khi tham gia vào tiến trình giải quyết vấn đề của bản thân

NVQLTH có trách nhiệm trình thủ trưởng đơn vị cung cấp dịch vụ công tác

xã hội phê duyệt kế hoạch trợ giúp người khuyết tật

NVQLTH phối hợp với các cơ quan các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ người khuyết tật thực hiện kế hoạch như: Tư vấn, giới thiệu người khuyết tật tiếp cận các cơ quan, đơn vị chức năng hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, việc làm, giáo dục, xã hội và cơ sở khác Chuyển tuyến, kết nối với các cơ quan, đơn vị chức năng hoặc cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, việc làm, giáo dục, xã hội và cơ sở khác đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật Hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, thụ hưởng các chính sách và chương trình trợ giúp xã hội Vận động nguồn lực thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật

Trang 30

gian thực hiện

1.2.3.5 Lượng giá và kết thúc quản lý trường hợp với trẻ khuyết tật

Đánh giá về việc thực hiện của NVQLTH đã đạt được mục tiêu chưa, và đạt được mức độ nào, hoàn thành các mục tiêu đề ra … đây là phần quan trọng để chỉ ra mức độ phục hồi của trẻ sau khi được tiếp nhận các dịch vụ can thiệp, phục hồi chức năng Sau đó đưa ra kết thúc trường hợp hay đánh giá lại để tiếp tục kế hoạch trợ giúp Quá trình đánh giá sự thay đổi dựa vào những mục tiêu đề ra ở phần đánh giá và lập kế hoạch ban đầu

Đánh giá sự thay đổi của TKT về các mặc khiếm khuyết của trẻ, về nhận thức, hành vi, tâm lý, sức khỏe đã ổn định, TKT đã được PHCN và được học hòa nhập, trẻ đủ khả năng hòa nhập cộng đồng mối quan hệ với mọi người xung quanh không còn kỳ thị, nhìn nhận trẻ như trẻ bình thường

Nhân viên QLTH theo dõi và đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật theo các nội dung sau đây: Kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật, mức độ đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật, khả năng sống độc lập và năng lực hòa nhập cộng đồng của người khuyết tật, mức độ phù hợp của các dịch vụ được cung cấp cho người khuyết tật, khả năng kết nối dịch vụ, và các nội dung khác có liên quan

Căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch trợ giúp người khuyết tật, người quản lý trường hợp đề xuất kết thúc trường hợp với người khuyết tật và trình lãnh đạo đứng đầu cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội quyết định

Trang 31

26

Kết thúc quản lý trường hợp với người khuyết tật trong các trường hợp sau: Mục tiêu đã đạt được, dịch vụ cung cấp cho người khuyết tật không phù hợp, người khuyết tật không liên hệ trong vòng 6 tháng hoặc lâu hơn, người khuyết tật được chuyển sang một cán bộ quản lý trường hợp khác, người khuyết tật chuyển khỏi địa bàn cung cấp dịch vụ, cơ sở cung cấp dịch vụ kết thúc hợp đồng với người khuyết tật, cùng đồng ý kết thúc dịch vụ, người khuyết tật được chuyển tới một chương trình với những dịch vụ hợp lý hơn, người khuyết tật không cần đến dịch vụ nữa, người khuyết tật chết, các nguyên nhân khác

Nhân viên QLTH báo cáo cấp có thẩm quyền tổ chức họp với các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, người khuyết tật, gia đình hoặc người giám hộ của người khuyết tật để thống nhất kết thúc quản lý trường hợp với người khuyết tật NVQLTH, người khuyết tật, gia đình hoặc người giám hộ của người khuyết tật và lãnh đạo trung tâm người đứng đầu cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội ký vào biên bản

kết thúc quản lý trường hợp với trẻ em khuyết tật

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật

1.3.1 Yếu tố thuộc về bản thân trẻ khuyết tật

Trẻ em khuyết tật tại cộng đồng có nhiều dạng tật khác nhau như: trẻ bại não, trẻ chậm phát triển vận động, trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ Down, trẻ tự kỷ, trẻ chậm phát triển tâm thần vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa khuyết tật

Đặc điểm trẻ khuyết tật tại cộng đồng về nhận thức của trẻ rất thấp, trẻ có hành vi bất thường, vận động yếu, có trẻ không vận động được, trẻ không có ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ kém, trẻ giao tiếp khó khăn Về phía cha, mẹ, gia đình có tâm lý mặc cảm, hy vọng trẻ sẽ được phục hồi và phát triển như trẻ bình thường, trẻ sẽ đi học và hòa nhập với trẻ cùng lứa tuổi, có một số cha, mẹ, gia đình muốn bỏ rơi trẻ,

bỏ mặc không chăm sóc…

1.3.2 Yếu tố thuộc về nhân viên làm việc với TKT

Nhân viên làm việc với trẻ có nhiều năng lực khác nhau, do trình độ chuyên môn trái ngành, chưa chuyên sâu, do đối tượng thuộc nhiều dạng khiếm khuyết khác nhau Nhưng nhân viên thường xuyên được tham gia các chương trình tập

Trang 32

27

huấn ngắn hạn hay chuyên sâu, được đào tạo chuyên môn cụ thể phục vụ cho từng

nhóm trẻ cụ thể

1.3.3 Yếu tố thuộc về năng lực đáp ứng của Trung tâm

Trung tâm đang dần có những bước tiến mới trong lĩnh vực kết nối các nguồn lực và các dịch vụ xã hội, luôn thúc đẩy năng lực cho nhân viên phát huy các

kỹ năng, thường xuyên tạo điều kiện cho nhân viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để ngày càng phục vụ đối tượng tốt hơn Tuy nhiên, về cơ sở vật chất vẫn còn nhiều hạn chế do không đủ kinh phí, trang thiết bị trong công tác xuống cộng

đồng phục vụ đối tượng

1.3.4 Yếu tố thuộc về nhận thức của gia đình TKT

Đối với cha, mẹ, người chăm sóc luôn có những suy nghĩ thiển cận không chấp nhận thực tế, mong muốn trẻ sẽ hồi phục phát triển như trẻ bình thường nhưng lại không có thời gian chăm sóc, không có kiến thức về dạng tật của trẻ, không biết cách can thiệp cho trẻ tại gia đình Ngoài ra, các chương trình hỗ trợ, các chính sách

hỗ trợ cho trẻ KT tại địa phương cha, mẹ trẻ không nắm hoặc không biết

Trung tâm Công tác xã hội thường xuyên mời các chuyên gia, bác sĩ tại Trung tâm chỉnh hình và phục hồi chức năng Kiến An – Hải Phòng tổ chức các chương trình tập huấn cho cha mẹ về cách chăm sóc, kỹ năng trong phục hồi chức năng cho trẻ tại GĐ, CĐ Tuyên truyền những quy định, chính sách hỗ trợ trẻ tại địa

phương

1.3.5 Yếu tố thuộc về nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương

Tại địa phương vẫn còn thiếu sự quan tâm đến các đối tượng trẻ KT, có một

số dạng khiếm khuyết về trí tuệ tại địa phương chưa có công cụ xác định, thiếu sự khảo sát đối tượng khuyết tật là trẻ nhỏ, việc xác nhận mức độ khuyết tật cho trẻ còn nhiều khó khăn vướng mắc, chưa thống nhất đồng bộ, mỗi địa phương áp dụng một kiểu khác nhau Chính sách hỗ trợ cho đối tượng chưa đầy đủ, chưa rõ ràng,

chưa được truyền thông rộng rãi

1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật

1.4.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến trẻ khuyết tật

Trang 33

28

Cơ sở pháp lý liên quan đến trẻ khuyết tật như sau:

Thông tư 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thông tư hướng dẫn về quản lý trường hợp với người khuyết tật

Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020

Quyết định số 1350/QĐ- LĐTBXH ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về phê duyệt Kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2015

Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-

2015

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH1116 ngày

15 tháng 06 năm 2004 của Quốc hội về việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật

Quyết định 1215/QĐ- TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020

Quyết định số 1019/QĐ- TTg ngày 05 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020

Công ước quốc tế về Quyền trẻ em

Luật người khuyết tật ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2010

Công ước quốc tế về người khuyết tật được ban hành ngày 13 tháng 12 năm

2006

Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật

Trang 34

29

1.4.2 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật

Thông tư 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thông tư hướng dẫn về quản lý trường hợp với người khuyết tật

Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật

Quyết định 1215/QĐ- TTg ngày 22/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020

Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020

Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật

Kết luận chương 1

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề chăm sóc bảo vệ trẻ em khuyết tật Trong những năm qua, trẻ em của chúng ta đã được cải thiện đáng kể về thể chất và trí tuệ, được tiếp tục tạo điều kiện tốt hơn để hưởng các quyền cơ bản của mình Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em đã góp phần bổ sung nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước và đóng góp vào sự thành công của công cuộc đổi mới

Trẻ khuyết tật được chăm sóc dưới các hình thức khác nhau tại các mô hình dựa vào gia đình và cộng đồng, các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước Nhiều chương trình được triển khai hiệu quả, nhằm trợ giúp trẻ em khuyết tật như phẫu thuật mắt, phẫu thuật tim bẩm sinh, hỗ trợ trẻ em nạn nhân của chất độc hóa học 69.750 em đã được chăm sóc, phục hồi chức năng và phẫu thuật chỉnh hình

Đề tài đã phân tích các khái niệm khác nhau như TEKT, QLTH và đặc biệt đưa ra khái niệm QLTH đối với TEKT, cụ thể là: QLTH đối với TEKT là một hoạt

Trang 35

30

động chuyên nghiệp của công tác xã hội thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ đánh giá nhu cầu của trẻ em khuyết tật và gia đình, xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp trẻ em khuyết tật và gia đình tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả

Đề tài đã xác định các nhiệm vụ QLTH của NVQLTH đó là: Thu thập thông tin và nhu cầu của trẻ em khuyết tật; đánh giá trẻ em khuyết tật; xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật; thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật; lượng giá

và kết thúc quản lý trường hợp với trẻ em khuyết tật

Có nhiều yếu tố ảnh đến QLTH, trong phạm vị đề tài xác định có 5 yếu tố đó là: Yếu tố thuộc về bản thân trẻ em khuyết tật; yếu tố thuộc về nhân viên làm việc với TEKT; yếu tố năng lực đáp ứng của Trung tâm; yếu tố nhận thức của gia đình

TEKT; yếu tố nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng Quản lý trường hợp với trẻ em khuyết tật tại cộng đồng thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Hải Phòng

Trang 36

31

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc

Bộ Đây là thành phố lớn thứ 3 cả nước[3], lớn thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội Hải Phòng còn là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ Tính đến tháng 12/2015, dân số Hải Phòng là 2.103.500 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam(theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).- có 7 quận và 8 huyện (70 phường, 10 thị trấn và 143 xã) Hải Phòng là một thành phố năng động, với những tiềm năng phát triển về cơ sở hạ tầng

và nhân sự Tuy nhiên Hải Phòng cũng là một thành phố thường xuyên gánh chịu thiên tai bão lũ, nên đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tạo ra những ảnh hưởng không nhỏ với trẻ em nhất là trong phương diện chăm sóc trẻ em khuyết tật Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy ở thành phố Hải Phòng có 2819 trẻ em khuyết tật nhiều mức độ khác nhau và có khắp ở các quận huyện Qua khảo sát tại 6 xã thuộc địa bàn thành phố Hải Phòng xã Hùng Tiến, xã Hòa Bình huyện Vĩnh Bảo, xã Tân Phong huyện Kiến Thụy, Thị trấn Tiên Lãng huyện Tiên Lãng, xã Đại Bản huyện An Dương, phường Đổng Quốc Bình quận Ngô Quyền TEKT ở đây thuộc dạng khuyết tật vận động, ngoài ra còn có các dạng khuyết tật khác như khuyết tật trí tuệ, trẻ tự kỷ, trẻ Down trẻ chậm phát triển Hầu hết các em đều được sinh ra trong những gia đình khó khăn, cha mẹ không có nghề nghiệp ổn định, trình độ học vấn thấp

Trang 37

32

Để tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng vấn đề chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật tại các gia đình của các bậc phụ huynh, tôi đã tiến hành điều tra phỏng vấn 65/202 cha mẹ trẻ khuyết tật tại các xã như đã nêu trên Đó là những nơi tập trung trẻ khuyết tật tương đối nhiều Các bậc phụ huynh ở nhiều địa bàn khác nhau, có hoàn cảnh gia đình, trình độ nhận thức khác nhau, nhưng đều có con bị KT từ (1 –

14 tuổi) là yếu tố quan trọng để đánh giá khách quan thực trạng vấn đề chăm sóc giáo dục trẻ tại gia đình và địa phương

2.1.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu

* Nhân viên quản lý trường hợp

Có thể nói, vị trí công việc của cán bộ, nhân viên là cơ sở để xác định trách nhiệm, hiệu quả của công việc mà cán bộ, nhân viên đó thực hiện

Tại địa phương cán bộ nhân viên được chia ra nhiều bộ phận khác nhau, bộ phận làm việc trực tiếp đối với TKT chiếm 64%, bộ phận không trực tiếp chiếm 36% Trong đội ngũ nhân viên làm việc trực tiếp có nhân viên QLTH và nhân viên công tác xã hội chiếm 40% còn lại là cán bộ y tế , gia đình TKT Đây là đội ngũ sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ TKT được hòa nhập cộng đồng, đối với trẻ khuyết tật khi vào tham gia vào Câu lạc bộ trẻ em khuyết tật sẽ được đánh giá xác định mức độ khiếm khuyết, cũng như kiểm tra khả năng của TKT về nhu cầu, vấn đề của TKT, cung cấp và

tư vấn các dịch vụ hỗ trợ cũng như các vấn đề liên quan đến TKT; vận động nguồn lực

hỗ trợ… Như vậy, ta có thể thấy rằng tại địa phương cũng đang dần hình thành một mạng lưới cán bộ, nhân viên hỗ trợ, kết nối các dịch vụ và nguồn lực sẳn có tại địa phương Từ thực tế này sẽ giúp TKT tiếp cận với các nguồn lực, tư vấn cho họ phát huy khả năng, trình độ để TKT trở nên mạnh mẽ hơn, tự tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội, có cơ hội được lao động, học tập như những trẻ bình thường

Trình độ chuyên môn là một trong những tiêu chí cần thiết cho việc tuyển dụng cán bộ, nhân viên Trình độ chuyên môn càng cao, đáp ứng đúng nhu cầu của lĩnh vực công việc sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn

Trang 38

33

Trình độ chuyên môn khác nhau, các lĩnh vực chuyên môn từ các cấp bậc sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học với các chuyên ngành đào tạo khác nhau như: xã hội học, kinh tế, y tế, điều dưỡng, tâm lý học, tài chính kế toán, giáo dục, công tác

xã hội, nuôi dạy trẻ, … Mặc dù nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên môn nhưng các cán

bộ lại một công việc chung đó là hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em khuyết tật, giúp trẻ sớm hòa nhập Công tác quản lý trường hợp tuy các nhân viên chưa hiểu biết nhiều nhưng về chức năng nhiệm vụ của một nhân viên quản lý trường hợp điều đã thực hiện và hiện tại đang áp dụng vào công việc trợ giúp cho trẻ em khuyết tật

* Trẻ em khuyết tật:

Trẻ em khuyết tật tại cộng đồng có nhiều dạng tật khác nhau như: Trẻ mắc hội chứng Down, trẻ tự kỷ, trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ bại não, trẻ khiếm khuyết vận động, trẻ đa khuyết tật, khiếm thính, khiếm thị… số lượng trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ chiếm hơn 85% Đa số trẻ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, người chăm sóc

đa phần là ông bà, không biết cách chăm sóc trẻ, chăm sóc không đúng dẫn đến tình trạng khuyết tật của trẻ không được cải thiện, trẻ thiếu sự quan tâm, chăm sóc từ cha

mẹ, trẻ có tâm lý thiếu tình thương, mặc cảm về bản thân, thiếu tự tin, không có khả năng tự chăm sóc, trẻ sống phụ thuộc vào gia đình và người chăm sóc

Qua khảo sát tại 6 xã thuộc địa bàn thành phố Hải Phòng xã Hùng Tiến, xã Hòa Bình huyện Vĩnh Bảo, xã Tân Phong huyện Kiến Thụy, Thị trấn Tiên Lãng huyện Tiên Lãng, xã Đại Bản huyện An Dương, phường Đổng Quốc Bình quận Ngô Quyền TKT ở đây thuộc dạng khuyết tật vận động ngoài ra còn có các dạng khuyết tật khác như khuyết tật trí tuệ, trẻ tự kỷ, trẻ Down trẻ chậm phát triển Đa phần các trẻ khuyết tật được gửi vào Câu lạc bộ trẻ em khuyết tật để được giao lưu sinh hoạt, để được hòa nhập với cộng đồng

Việc được đến trường đối với TKT là đều vô cùng khó khăn, phần lớn TKT đang sinh sống tại các gia đình đều chưa được đi học Vì đa phần các gia đình có TKT đều thuộc diện gia đình khó khăn, hoàn cảnh kinh tế cũng như cuộc sống khó khăn, không đủ điều kiện để cho TKT đi học hoặc được can thiệp phục hồi chức năng Bên cạnh đó, đa phần TKT được tham gia vào Câu lạc bộ trẻ em khuyết tật

Trang 39

34

nặng hoặc đặc biệt nặng nên việc tham gia học tập rất khó khăn, hoặc không có khả năng học tập Ngoài ra, do tâm lý của gia đình và TKT sợ bị kỳ thị, mặc cảm, thiếu tự tin, gia đình nghĩ trẻ không học được vì có khiếm khuyết nên chỉ để ở nhà chăm sóc Chính vì thế, việc tham gia học tập của TKT không có Trẻ khuyết tật đều chưa đi học, chỉ có một số ít TKT được đi học mẫu giáo nhưng chủ yếu là hình thức gửi con

ở nhóm trẻ gia đình để cha mẹ có thời gian đi làm

TKT cũng có những nhu cầu như những người không khuyết tật, cũng cần đến các chương trình chăm sóc sức khỏe như mọi người khác để họ có thể duy trì sức khỏe, cuộc sống lành mạnh, chủ động tham gia vào các hoạt động cộng đồng

Vì thế, nhu cầu của TKT được quan tâm nhiều nhất là nhu cầu chăm sóc sức khỏe, y

tế, điều trị phục hồi chức năng Sau đó, nhu cầu được giáo dục, được đi học như những trẻ em bình thường Bởi vì TKT luôn mặc cảm bản thân mình là gánh nặng cho gia đình nên họ mong ước mình được đi học, được tham gia vào cộng đồng, làm người có ít cho xã hội, sau này cũng có khả năng tự chăm sóc bản thân không phụ thuộc vào người khác Chính vì thế mà TKT cũng cần có các kỹ năng sống Bên cạnh đó, trẻ khuyết tật nhu cầu tâm lý, tình cảm cũng như nhu cầu về mối quan

hệ gia đình TKT cũng mong muốn được cải thiện hơn Như vậy, có thể thấy rằng TKT trong khảo sát có rất nhiều nhu cầu hiện tại khác nhau, bởi vậy, sự tham gia tư vấn, tham vấn, hỗ trợ của nhân viên QLTH sẽ góp phần tạo dựng niềm tin, mở ra nhiều cơ hội kết nối các nguồn lực, dịch vụ xã hội mới cho TKT

Đối với trẻ em khuyết tật, gia đình giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc

chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ Tuy nhiên, vì hoàn cảnh gia đình và tình trạng khiếm

khuyết của trẻ cần được chăm sóc và hòa nhập nên TKT được đưa vào tham gia sinh hoạt các Câu lạc bộ trẻ khuyết tật tại địa phương nên việc giao tiếp thường xuyên của gia đình đối với TKT rất tốt

Qua những phân tích về khách thể nghiên cứu là TKT, chúng ta thấy rằng: về giới tính có sự chênh lệch giữa trẻ nam và nữ; dạng khuyết tật chủ yếu là dạng khuyết tật vận động và hầu hết đều có mức độ tham gia vào các hoạt động có sự trợ giúp từ gia đình, phần lớn đều có mối liên hệ với gia đình; TKT cũng có nhu cầu

Trang 40

35

cần được hỗ trợ để có thể tự phục vụ bản thân và nuôi sống bản thân mình; có thời gian điều trị phục hồi chức năng, hòa nhập với cộng đồng Tuy nhiên, đa phần TKT

chưa được đi học

2.2 Thực trạng nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật

Để đánh giá thực trạng quản lý trường hợp trẻ khuyết tật đang tham gia tại Câu Lạc bộ trẻ em khuyết tật đề tài tiến hành nghiên cứu nhân viên đang thực hiện nhiệm vụ QLTH tại địa phương qua các tiêu chí cụ thể như: Hiểu biết của nhân viên về QLTH, quy trình quản lý trường hợp, đánh giá về tầm quan trọng của QLTH và nhiệm vụ thực hiện các bước của quy trình quản lý trường hợp Kết quả cụ thể như sau:

Hiểu biết của nhân viên tại địa phương về quản lý trường hợp

Biểu đồ 2.1: Hiểu biết của nhân viên về quản lý trường hợp

Nhìn vào biểu đồ 2.1 ta có thể thấy rõ về mức độ hiểu biết về quản lý trường hợp như sau: hiểu nhiều chiếm tỷ lệ 12%; hiểu một chút chiếm tỷ lệ 38%; chỉ biết một chút về QLTH tỷ lệ 29%; còn lại không biết gì chiếm 13% Như vậy đối với nhân viên quản lý trường hợp tại đơn vị chỉ hiểu biết một chút về quản lý trường hợp, vì trên thực tế khi làm việc đã có sử dụng các kiến thức của QLTH, nhưng không biết những hoạt động đó là QLTH Ngoài ra, theo thông tư hướng dẫn mới ban hành đầu năm 2015 áp dụng QLTH cho người khuyết tật nhân viên chưa được

Ngày đăng: 13/06/2017, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. TS. Hà Thị Thư (2012), Giáo trình trung cấp nghề Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trung cấp nghề Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: TS. Hà Thị Thư
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2012
22. Disability Discrimination Act, Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành (DDA: Disability Discrimination Act) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật
29. US National Association of Social Workers, 1992, NASW Standards for Social Work Case ManagementTài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: NASW Standards for Social Work Case Management
7. Chính phú (2012), Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật Khác
9. Quốc hội (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004 Khác
11. Quỹ dân số liên hợp quốc (2009), Báo cáo Người khuyết tật Việt Nam một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam Khác
12. Tổ chức lao động quốc tế, Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam Khác
13. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 32/2010/QĐ-TTg, ngày 25/03/2010: Phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Khác
14. Thủ tướng Chính phủ - Quyết định 1215/QĐ- TTg ngày 22/2/2011 phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020 Khác
15. Thủ tướng Chính phủ - Quyết định số 1019/QĐ- TTg ngày 05 tháng 8 năm 2012, về việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 Khác
17. UNICEF (2009), Báo cáo về trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng Khác
20. Americans with Disabilities Act of (1990), Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ Khác
24. A.H.Maslow, A Theory of Human Motivation, Psychological Review 50 (1943): 370-96 Khác
25. Moore (1990), ” A social work practice model of case management: the case management grid Khác
26. Ogborne and Rush (1983), The role of case management in substance abuse treatment: an evaluation in Belgium Khác
27. Rapp et al. (1992), Effectiveness of Different Models of Case Management for Substance-Abusing Populations Khác
28. Suzanne K.Powell and Hussein A.Tahan, Case Management Society of America (CMSA), CMSA Core curriculum for Case Management Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Mức độ thực hiện các nhiệm vụ QLTH đối với trẻ em khuyết tật - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.1 Mức độ thực hiện các nhiệm vụ QLTH đối với trẻ em khuyết tật (Trang 42)
Bảng 2.2: Mức độ thu thập thông tin cá nhân trẻ em khuyết tật - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.2 Mức độ thu thập thông tin cá nhân trẻ em khuyết tật (Trang 43)
Bảng 2.3: Mức độ thu thập thông tin về tình trạng khuyết tật (Tỷ lệ %) - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.3 Mức độ thu thập thông tin về tình trạng khuyết tật (Tỷ lệ %) (Trang 44)
Bảng 2.4: Mức độ thu thập thông tin về gia đình trẻ khuyết tật - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.4 Mức độ thu thập thông tin về gia đình trẻ khuyết tật (Trang 46)
Bảng 2.5:Mức độ thực hiện nhiệm vụ đánh giá nhu cầu trẻ khuyết tật - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện nhiệm vụ đánh giá nhu cầu trẻ khuyết tật (Trang 48)
Bảng 2.6: Đánh giá mức độ cần thiết của các yếu tố xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.6 Đánh giá mức độ cần thiết của các yếu tố xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ (Trang 49)
Bảng 2.7: Nội dung thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật (Tỷ lệ %) - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.7 Nội dung thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em khuyết tật (Tỷ lệ %) (Trang 51)
Bảng 2.8: Nội dung lượng giá kết quả quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật (Tỷ - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.8 Nội dung lượng giá kết quả quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật (Tỷ (Trang 53)
Bảng 2.9: Lý do kết thúc quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.9 Lý do kết thúc quản lý trường hợp đối với trẻ em khuyết tật (Trang 54)
Bảng 2.10: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến QLTH đối với TKT - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.10 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến QLTH đối với TKT (Trang 56)
Bảng 2.11: Mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm về bản thân TKT - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.11 Mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm về bản thân TKT (Trang 57)
Bảng 2.12: Các đặc điểm của nhân viên QLTH với TKT (Tỷ lệ %) - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.12 Các đặc điểm của nhân viên QLTH với TKT (Tỷ lệ %) (Trang 58)
Bảng 2.13: Các đặc điểm về năng lực của câu lạc bộ TKT - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.13 Các đặc điểm về năng lực của câu lạc bộ TKT (Trang 59)
Bảng 2.14: Các yếu tố liên quan đến nhận thức của gia đình TKT - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
Bảng 2.14 Các yếu tố liên quan đến nhận thức của gia đình TKT (Trang 60)
BẢNG HỎI - Quản lý trường hợp đối với trẻ khuyết tật tại cộng đồng từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố hải phòng
BẢNG HỎI (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w