1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ

101 410 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 851,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em chưa được quan tâm đúng mức, chưa có cách làm bài bản chuyên nghiệp, có thực hiện công tác quản lý trường hợp tại cơ sở nhưng theo tiến t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI ĐỨC TRUNG

QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung

tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ ” là hoàn toàn trung thực được tổng hợp từ

thực tế của địa bàn nghiên cứu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Bùi Đức Trung

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 11

1.1 Trẻ em mồ côi - khái niệm và đặc điểm 11

1.2 Lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi 15

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi 29

1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi 32

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 35

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 35

2.2 Thực trạng nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi 40

2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi 53

Chương 3 ỨNG DỤNG TIẾN TRÌNH QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 63

3.1 Ứng dụng nhiệm vụ quản lý trường hợp 63

3.2 Các biện pháp thúc đẩy hiệu quả của quản lý trường hợp 68

KẾT LUẬN 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Nội dung thông tin thu thập 42

Bảng 2.2 Đánh giá về phương pháp thu thập thông tin 44

Bảng 2.3 Đánh giá những khó khăn trong quá trình thu thập thông tin 44

Bảng 2.4 Đánh giá về thành phần tham gia đánh giá nhu cầu hỗ trợ của trẻ 46

Bảng 2.5 Các tiêu chí đánh giá cuối kỳ trong QLTH đối với trẻ em mồ côi 50 Bảng 2.6 Các tiêu chí kết thúc quy trình 51

Bảng 2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi 54

Bảng 2.8 Các yếu tố thuộc về đặc điểm trẻ mồ côi 55

Bảng 2.9 Các yếu tố thuộc về năng lực nhân viên 57

Bảng 2.10 Năng lực đáp ứng của Trung tâm 58

Bảng 2.11 Nhận thức của cộng đồng chính quyền địa phương 61

Bảng 3.1 Kế hoạch chi tiết trợ giúp cho cháu B.L.A 66

BIỂU ĐỒ Biều đồ 2.1 Nguồn cung cấp thông tin 40

Biểu đồ 2.2 Nội dung đánh giá yếu tố cá nhân trẻError! Bookmark not defined Biểu đồ 2.3 Các bước xây dựng kế hoạch trợ giúp 49

Biểu đồ 2.4: Các công việc cần làm của NVQLTH khi kết thúc quy trình QLTH 52

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trên con đường phát triển, đã và đang trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với thế giới trên nhiều phương diện và lĩnh vực Trong đó công cuộc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, giảm bất bình đẳng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng lớp dân cư, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm ưu tiên thực hiện

Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, được ra đời theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án 32) Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các cơ quan, tổ chức quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, điều đó đã góp phần hỗ trợ quan trọng cho các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng Trong các hoạt động công tác xã hội hỗ trợ cho các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương thì công tác hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như hỗ trợ trẻ em mồ côi luôn rất được quan tâm [33]

Đảng và Nhà nước ta luôn rất quan tâm tới công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Năm 1990 Việt Nam là Quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là Quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc và

đã ban hành nhiều văn bản Pháp luật trong lĩnh vực này như Bộ Luật Lao động, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Sửa đổi năm 2004), Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001 – 2010 và giai đoạn 2010 – 2020 [31]

Theo báo cáo tổng kết năm 2015 của Cục Bảo trợ xã hội – Bộ Lao động Thương binh và xã hội, cả nước có khoảng 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong đó có khoảng 350.000 trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi không nơi nương tựa [12]; Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được các cơ quan ban ngành, các tổ chức xã hội và cộng đồng thực hiện với nhiều hoạt động, đã góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc và bảo vệ cho các em, trong đó có nhóm trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

Hiện nay, trẻ em mồ côi trên địa bàn thành phố Cần Thơ là 1302 trẻ, chiếm 48,29% trong tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Trong số đó có 93 trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Công tác xã hội Như vậy phần

Trang 7

2

lớn các em sống tại cộng đồng, cùng với đó bản thân các em gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống như: các quyền cơ bản của trẻ em không được đảm bảo cũng như bản thân các em gặp phải rất nhiều các vấn đề về tâm, sinh lý và đặc biệt là gặp phải các vấn đề xã hội như vi phạm pháp luật hoặc bị lạm dụng [40]

Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ có chức năng, nhiệm vụ là vừa thực hiện công tác xã hội trên địa bàn Thành phố vừa tiếp nhận chăm sóc nuôi dưỡng tập trung các đối tượng trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi, tại đây các em được nuôi dưỡng chăm sóc cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, nhân viên xã hội tại Trung tâm chính là cầu nối để các em có cơ hội để tiếp cận với cộng đồng và có cơ hội để phát triển Tuy nhiên trong thời gian qua theo phương pháp cũ, truyền thống, Trung tâm chủ yếu chú trọng công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhằm đảm bảo cho trẻ em được ăn no, ngủ ấm, được đến trường Riêng công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em chưa được quan tâm đúng mức, chưa có cách làm bài bản chuyên nghiệp, có thực hiện công tác quản lý trường hợp tại cơ sở nhưng theo tiến trình 5 bước chưa thực hiện đầy đủ, nhân viên CTXH chưa kết nối trẻ em với các nguồn lực bên ngoài, chưa đánh giá được nhu cầu đích thực của trẻ em như nhu cầu đi học, nhu cầu vui chơi giải trí, nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nhu cầu học nghề, nhu cầu việc làm, nhu cầu về tình cảm … để từ đó kết nối một cách có hiệu quả những nhu cầu và nguồn lực đó [39]

Trong khi đó, quản lý trường hợp là một dịch vụ có thể giúp đối tượng đáp ứng nhu cầu để giải quyết vấn đề khó khăn một các bền vững và toàn diện nhất cho từng trường hợp mà hiện nay Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ đang hướng tới và từng bước thực hiện cung cấp dịch vụ này cho các đối tượng trên địa bàn Thành phố và các vùng lân cận Bên cạnh đó từ trước tới nay ở Cần Thơ chưa

có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý trường hợp trong hoạt động quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Từ những lý do trên tôi chọn đề tài về: “Quản lý trường hợp đối với trẻ em

mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ” làm luận văn

tốt nghiệp thạc sĩ của mình

Trang 8

3

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ lý luận và thực tiễn cho thấy, việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục và tạo những điều kiện tốt và thuận lợi nhất cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em

mồ côi nói riêng phát triển, trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới là rất cần thiết Vấn đề này là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Nhận thức được tầm ảnh hưởng sâu sắc của vấn đề bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em tới sự ổn định và phát triển xã hội, các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đã có nhiều cuộc khảo sát, đánh giá, đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này

Trong thời gian qua có một số tài liệu, công trình nghiên cứu khá tổng quát

đề cập đến tình hình, nguyên nhân, cũng như đánh giá các hoạt động mô hình hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam như: Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 và giai đoạn 2016-2020;

Kế hoạch hành động Quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014-2020; Đề án chăm sóc trẻ em khó khăn dựa vào cộng đồng; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2016-2020; Báo cáo Tình hình trẻ

em tại Việt Nam năm 2010, Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2015” của UNICEF tại Việt Nam và một số tài liệu quan trọng khác

Tài liệu, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:

“Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015” đã chỉ ra những

nỗ lực của địa phương trong việc triển khai thí điểm các hoạt động cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em theo 3 cấp độ: cấp độ I là phòng ngừa; cấp độ II là phát hiện, can thiệp sớm để loại bỏ nguy cơ; cấp độ III là trợ giúp, phục hồi hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng cũng được nhiều địa phương quan tâm Việc tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em cũng rất chú trọng tới việc “kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ em liên tục” nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và bảo đảm an toàn của trẻ em Các hoạt động tư vấn, vận động, giáo dục đến tận gia đình, cộng đồng; tư vấn tại Trung tâm Công tác xã hội, thực hiện quy trình “quản lý trường hợp có nguy cơ cao” tại cộng đồng đã được triển khai thí điểm

Trang 9

4

ở các địa phương, góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu các nguy cơ dẫn đến trẻ

em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, nguy cơ thất học, bỏ học, nguy cơ lang thang, lao

động sớm kiếm sống [6]

Báo cáo “Tình hình trẻ em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF đã thừa nhận “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi Tài liệu này cũng cho thấy những hạn chế của Việt Nam trong bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: chưa xây dựng được một hệ thống bảo trợ xã hội mạnh mẽ và hiệu quả; thiếu một hệ thống “dịch vụ chăm sóc liên tục”; chưa có một phương pháp tiếp cận mang tính hoạch định; thiếu các cơ chế cụ thể để phát hiện sớm và xác định trẻ em dễ bị tổn thương; chưa xây dựng được hệ thống can thiệp sớm và chuyển tuyến tới các dịch vụ chuyên sâu; các chương trình hỗ trợ tại trường học và cộng đồng dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn hạn chế [41]

Báo cáo tình hình trẻ em thế giới năm 2015” của UNICEF tại Việt Nam với chủ

đề “Hình dung mới về tương lai: Đổi mới sáng tạo cho mọi trẻ em” đã ghi nhận nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền của trẻ em, đặc biệt là nâng cao chất lượng sống của trẻ Báo cáo kêu gọi cộng đồng cùng chung tay đưa ra những ý tưởng, giải pháp mới

để đối phó với các vấn đề nổi cộm mà trẻ em đang phải đối mặt [43]

"Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020" với mục tiêu tổng quát là: Mọi trẻ em đều được bảo vệ để giảm nguy cơ rơi vào HCĐB, chú trọng bảo vệ trẻ em để không bị xâm hại; trẻ em có HCĐB được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển [7]

Tài liệu “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: đánh giá pháp luật

và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”

của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và UNICEF [4]

Nghiên cứu“Đánh giá nhu cầu giáo dục của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”

của Bùi Thế Hợp, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam Đánh giá nhu cầu giáo dục của các nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc ra quyết định, các chiến lược, chương trình và kế hoạch hành động đáp ứng nhu cầu

Trang 10

5

được học tập của các trẻ em này Qua khảo sát nhu cầu giáo dục của trẻ em mồ côi không nơi nương tựa cho thấy đa số các trẻ em này có mong muốn học nghề và đi làm sớm trước khi học hết Trung học cơ sở hoặc học bổ túc văn hóa, đồng thời học nghề hoặc đi làm Rất ít trẻ mong muốn học hết phổ thông và học lên Nguyên nhân chính là do sự thiếu chỗ dựa về tinh thần và vật chất Mức trợ cấp hiện thời hoàn toàn không đảm bảo điều kiện tối thiểu cho việc học tập của các em [19]

Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của tác

giả Nguyễn Hải Hữu cho thấy thực tế ở Australia, Thụy Điển, Hồng Kông, việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành Một trong những điểm mới trong bài viết là khái niệm

“tư pháp thân thiện với trẻ em” [16]

Bài nghiên cứu “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với

việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả

Đỗ Thị Ngọc Phương nhận định tại Anh, Mỹ, Úc, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các

bộ phận và cơ quan nhà nước Tại các quốc gia này, cán bộ xã hội vẫn thực hiện chức năng tham vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép đánh giá các nhu cầu phúc lợi

xã hội và quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ đa dạng khác nhau [26]

Với chuyên đề “Đánh giá tình hình chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi

tại Việt nam trong thời gian qua” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng, tác giả đã nêu

lên được thực trạng tình hình trẻ em mồ côi ở nước ta hiện nay và các chính sách hỗ trợ cho trẻ em mồ côi và những định hướng cụ thể cho hoạt động chăm sóc trẻ mồ côi ở nước ta hiện nay [15]

Tác giả Nguyễn Ngọc Thơ, học viên Học viện Khoa học Xã hội, với nghiên cứu “Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng” Trong nghiên cứu của mình tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng, chỉ ra và đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng [34]

Trang 11

6

Trong quá trình công tác cũng như chuẩn bị chọn đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã nhận thấy ở thành phố Cần Thơ còn hiếm gặp những nghiên cứu, khảo sát có liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng, chỉ có tài liệu Báo cáo kết quả 10 năm thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trên địa bàn thành phố Cần Thơ và Kế hoạch thực hiện Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em bị khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 – 2020 của UBND

thành phố Cần Thơ Các tài liệu này đều chưa đề cập sâu đến các dịch vụ công tác

xã hội cung cấp cho trẻ; chưa nói đến vai trò, các quy trình nghiệp vụ mà nhân viên công tác xã hội sử dụng để hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giải quyết khó khăn, hòa nhập cộng đồng một cách chuyên nghiệp

Mặc dù vậy, những tài liệu, nghiên cứu nói trên là những tài liệu cần thiết

quan trọng để chúng tôi tham khảo để thực hiện nghiên cứu “Quản lý trường hợp đối

với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng về quản lý trường hợp trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ, từ đó có những đề xuất thực hiện ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp và các giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động này đối với nhóm trẻ em mồ côi nhằm đưa ra những cách thức

tổ chức thực hiện có hiệu quả nhất để làm tốt công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp, quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi;

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại thành phố Cần Thơ;

- Phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi;

- Ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp vào một thân chủ cụ thể

Trang 12

7

- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động quản lý trường hợp đối với nhóm trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác

xã hội thành phố Cần Thơ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng về

nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

- Phạm vi khách thể: Đề tài nghiên cứu 35 nhân viên quản lý chăm sóc trẻ

(được gọi tắt là nhân viên quản lý trường hợp) và nghiên cứu 40 trẻ em mồ côi, độ tuổi từ 09 đến 16 tuổi

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng, từ việc đánh giá thực trạng về trẻ em mồ côi, thực trạng công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội để rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Nghiên cứu dựa trên quan điểm hệ thống và nhu cầu Xem xét hệ thống nào tác động đến trẻ em mồ côi để từ đó đưa ra cách thức can thiệp, trợ giúp cho phù hợp Tiếp cận theo nhu cầu của trẻ là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của trẻ Đây là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của trẻ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là phương pháp phân tích tài liệu, Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, thảo luận nhóm và phương pháp quan sát:

*Phương pháp phân tích tài liệu

Đây cũng là một phương pháp được tôi áp dụng trong thực hiện đề tài bằng cách: đọc các công trình nghiên cứu trước, đọc và tìm hiểu các giáo trình, các tài

Trang 13

8

liệu có liên quan đến công tác xã hội với trẻ em, các giáo trình, bài viết về quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi Trên cơ sở đó phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội và đánh giá nhu cầu của trẻ em mồ côi Thu thập đọc, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện nhiệm vụ cũng như các báo cáo kết quả hoạt động, kết quả thực hiện hoạt động quản lý trường hợp đối với trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi của Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ, các báo cáo công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em của Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ, đồng thời trong thực tiễn khi triển khai nhiệm vụ tại Trung tâm là những cơ sở quan trọng giúp tôi thực hiện nghiên cứu này

* Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Thực hiện phương pháp bằng hình thức hỏi, đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gởi lại cho điều tra viên

Với phương pháp này, chúng tôi sẽ phát bảng hỏi dành cho 35 nhân viên quản lý chăm sóc nhằm đánh giá trình độ, khả năng, phương pháp trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

* Phương pháp phỏng vấn

Để có thêm nhiều thông tin chất lượng phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tôi thực hiện phương pháp phỏng vấn bao gồm: phỏng vấn đối tượng (07 trẻ mồ côi), người nuôi dưỡng đối tượng (05 nhân viên CTXH) được đưa vào diện quản lý trường hợp

* Phương pháp thảo luận nhóm

Tổ chức thảo luận nhóm nhân viên CTXH và nhóm trẻ mồ côi nhằm thu thập thông tin qua những câu chuyện từ thực tế hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc trẻ tại Trung tâm

* Phương pháp quan sát

Là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trang 14

9

Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập thông tin định tính Cụ thể là quan sát về môi trường, không gian sống của trẻ, quan sát thể chất, tinh thần, thái độ giao tiếp, trạng thái tâm lý, các biểu hiện, các hoạt động của trẻ em mồ côi, nhằm xác định xem trẻ có gặp phải những vấn đề khó khăn về sức khỏe, tâm lý hay không; Quan sát hoạt động can thiệp, trợ giúp của nhân viên CTXH đối với trẻ em mồ côi của Trung tâm Công tác xã hội Quá trình này được thực hiện trong suốt thời gian nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận

Luận văn sẽ xác định khung lý thuyết nghiên cứu quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi để làm rõ thêm các khái niệm, mục đích, nguyên tắc, trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi, các quy trình quản lý trường hợp và vai trò, nhiệm vụ của NVCTXH trong quản lý trường hợp

Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Nghiên cứu cũng muốn làm rõ thêm về phương pháp trợ giúp trẻ em mồ côi

dễ bị tổn thương dưới cách tiếp cận công tác xã hội trong việc quản lý trường hợp

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Kết quả luận văn cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ; qua đó sẽ đề xuất giải pháp về thực hiện ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em

mồ côi tại Trung tâm CTXH thành phố Cần Thơ nói riêng và trong các trung tâm Công tác xã hội, trung tâm Bảo trợ xã hội nói chung

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của nghề công tác xã hội, của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động quản lý trường hợp; Những phân tích và đề xuất sẽ làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, kế hoạch, cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc

biệt, trẻ em mồ côi tại thành phố Cần Thơ trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Trang 15

10

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi Chương 2: Thực trạng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ

Chương 3: Ứng dụng tiến trình quản lý trường hợp và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm CTXH thành phố Cần Thơ

Trang 16

11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP

ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI

1.1 Trẻ em mồ côi - khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Một số khái niệm

* Khái niệm trẻ em

Khái niệm trẻ em theo luật pháp quốc tế

Theo Điều 1, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [23, tr.28]

Khái niệm trẻ em theo luật pháp Việt Nam

Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 quy định trẻ em là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [22, tr.35]

Trong luật tố tụng hình sự sử dụng khái niệm “người chưa thành niên” là

“người đủ 14 tuổi đến 18 tuổi”

Từ các quy định trên, trên phương diện pháp lý có thể thống nhất khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam là “Trẻ em là người chưa thành niên dưới 16 tuổi”

Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm Trẻ em theo Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Trên cơ sở đó nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu

là những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa từ 09 đến dưới 16 tuổi tại Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ

Như vậy chúng ta có thể hiểu trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi chưa phát

triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ, giáo dục

* Khái niệm trẻ em mồ côi

Theo Sở di trú Mỹ: “Trẻ em mồ côi là trẻ dưới 16 tuổi, không có sự chăm sóc của cả cha lẫn mẹ”

Theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, việc xếp trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi vào một nhóm là vì đặc điểm của nhóm trẻ em này không có

cha mẹ hoặc vì lý do nào đó không được sống cùng cha mẹ “Trẻ em tạm thời hoặc

hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến

Trang 17

12

lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình

sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” [23, tr.3]

Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh như sau [22, tr.134]:

- Mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt (ông bà nội, ngoại, cha mẹ, anh, chị hợp pháp) để nương tựa

- Mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại cải tạo), không có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa

Như vậy trẻ em mồ côi là: Trẻ em từ 0-16 tuổi bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, hoặc

bị mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng nuôi dưỡng, không

có nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích để nương tựa

1.1.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em mồ côi

* Đặc điểm tâm lý trẻ em mồ côi

Điều nhận thấy rõ trong tâm lý trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi đó là cảm giác

cô đơn, buồn bã, trống trải, trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng, mặc cảm với số phận Một số trẻ em thì hay lo lắng sợ hãi, xa lánh ít muốn có sự quan hệ, tiếp xúc với mọi người, hoài nghi, thiếu tin tưởng, đôi khi căng thẳng quá trẻ thường hung hăng và phá phách, số khác lại trở nên gan lỳ, mánh khóe sao có tiền để kiếm cơm tồn tại qua ngày, không nói thật trong thời gian tiếp xúc ban đầu [15]

Trẻ luôn khao khát tình thương, luôn ước mơ có một gia đình có cha, có mẹ Trẻ thèm được cha mẹ đưa đi học, đi chơi và được chăm lo như bao đứa trẻ khác, nhưng những ước mơ này vẫn chỉ là ước mơ đối với trẻ em mồ côi Chính vì thế, trẻ

em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi hay có tâm lý ghen tỵ với những đứa trẻ có gia đình

và có cả cha và mẹ

* Nhu cầu của trẻ em mồ côi

Nhu cầu có tầm quan trọng rất lớn và cần thiết, chúng là những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của con người Khi giúp đỡ trẻ em mồ côi cần xác định được nhu cầu xuất phát từ bản thân của trẻ

Trang 18

13

- Trước hết đó là nhu cầu về mặt vật chất phục vụ cho việc ăn, ở, vệ sinh, đảm bảo cho sự phát triển về thể chất của trẻ [15]

+ Về dinh dưỡng: Dinh dưỡng là những chất cung cấp cho cơ thể nguồn sống

và năng lượng để cơ thể hoạt động Với cơ thể trẻ em còn non nớt, để phát triển cân đối và đảm bảo có đủ sức khỏe cơ thể các em cần được cung cấp đủ các chất dinh dưỡng Các em cần được ăn đủ no, đủ bữa và đủ các chất dinh dưỡng như đạm, chất béo, đường, chất khoáng, vitamin và nước

Tại Thông tư số 04/2011/BLĐTBXH-TT, Ngày 25/02/2011 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở bảo trợ xã hội Trong đó có một số tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho trẻ em tại cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng tập trung [3, tr.33]: Cung cấp ít nhất ba bữa ăn sáng, trưa và tối mỗi ngày; bảo đảm dinh dưỡng

đủ calo, có chất đạm (thịt, cá, đậu nành, chất bột đường, ngũ cốc, rau quả ); có chế

độ dinh dưỡng đặc biệt cho những trẻ có nhu cầu đặc biệt như trẻ sơ sinh, trẻ khuyết tật, trẻ nhiễm HIV

+ Nhu cầu vệ sinh, nước sạch và đồ dùng sinh hoạt: Cũng theo Thông tư số

04 của Bộ lao động – Thương binh và xã hội có quy định một số tiêu chuẩn liên quan đến hoạt động bảo vệ, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho trẻ em tại

cơ sở bảo trợ xã hội Trong đó nhấn mạnh tới yếu tố chăm sóc về vệ sinh, nước sạch

và đồ dùng sinh hoạt: Cung cấp đầy đủ nước sạch và bảo đảm vệ sinh tắm, giặt hàng ngày cho đối tượng; Cung cấp đồ dùng vệ sinh cá nhân, gồm xà phòng tắm, khăn tắm, khăn mặt, kem đánh răng và bàn chãi đánh răng riêng Việc chăm sóc trẻ

về vệ sinh, nước sạch và đồ dùng sinh hoạt tại các cơ sở bảo trợ xã hội luôn đặc biệt được quan tâm

+ Về chăm sóc y tế: Điều 15, Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em quy định: trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trẻ đưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Điều 27 của Luật này cũng quy định: cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám chữa bệnh cho trẻ em

Trang 19

14

Theo quy định của luật về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, thì mọi trẻ em đều

có quyền được chăm sóc như nhau, không phân biệt đối xử Hoạt động chăm sóc về

y tế là nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ em, bởi chính các em là đối tượng còn non nớt về thể chất, trí tuệ, bản thân các em còn nhỏ và cơ thể đang trong quá trình phát triển Vì vậy việc chăm sóc sức khỏe về y tế là một hoạt động rất quan trọng và cần được thực hiện thường xuyên hoặc định kỳ, đặc biệt đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở nuôi dưỡng tập trung

- Nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dựa về vật chất và tinh thần của trẻ Gia đình đóng vai trò rất quan trọng, đây là môi trường xã hội hóa đầu tiên và cũng là mạnh nhất của đứa trẻ Các trẻ em mồ côi rất cần có một mái ấm gia đình dù đó là gia đình thay thế

- Nhu cầu chăm sóc về tâm lý, tình cảm: Đối với trẻ em mồ côi, tình cảm là

nguồn cổ vũ, động viên các em vượt qua mặc cảm về sự thiệt thòi, vượt qua những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, thiếu hụt của hoàn cảnh sống để vươn tới cuộc sống tốt đẹp, bản thân các em có nghị lực, có ước mơ, hoài bão để các em đứng vững chính đôi chân của mình

Vì vậy với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Công tác xã hội, Trung tâm Bảo trợ xã hội việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc tâm lý, tình cảm càng quan trọng và cần thiết hơn hết

- Nhu cầu vui chơi giải trí: Với trẻ em mồ côi là những người chịu thiệt thòi

hơn cả nên việc đáp ứng nhu cầu về vui chơi, giải trí càng trở nên quan trọng và không thể thiếu đối với các em Thông qua các hoạt động vui chơi, các em cảm thấy tinh thần được thoải mái, cảm thấy cuộc sống có ích và gần gủi với mọi người hơn

Do vậy, tại các Trung tâm nuôi dưỡng tập trung, ngoài việc thiết kế khu vực ăn, ở của trẻ, việc thiết kế các khu vực vui chơi giải trí là không thể thiếu Nhân viên công tác xã hội tại các Trung tâm CTXH, cơ sở bảo trợ xã hội luôn là người tạo điều kiện cho trẻ tham gia vui chơi, giải trí, tổ chức cho trẻ đi tham quan, đi chơi tại các khu vui chơi, công viên trong và ngoài địa bàn

- Nhu cầu được đi học: Trẻ em mồ côi cần được học tập như bao trẻ em

khác Đối với các em học tập không chỉ là một quyền mà đó còn là cơ hội cho tương

Trang 20

15

lai Đi học đối với các em cũng không chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức mà đó là môi trường quan trọng để trẻ em hoà nhập xã hội Vì vậy, người chăm sóc và các ban ngành có liên quan cần tạo mọi điều kiện để trẻ em mồ côi được đến trường

- Nhu cầu tham gia hoạt động xã hội: tham gia hoạt động xã hội đặc biệt có ý

nghĩa đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng, hoạt động này giúp trẻ thấy mình được hòa nhập, được mọi người đồng cảm, được chia sẻ và được quan tâm Chính vì thế mà nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm cần quan tâm và tổ chức cho các em tham gia các hoạt động xã hội, khuyến khích các em tham gia một cách tự nguyện, tôn trọng quyền được tham gia của trẻ, không ép trẻ tham gia nếu trẻ không có nhu cầu

- Nhu cầu được tôn trọng: Đối với trẻ em mồ côi thì nhu cầu được tôn trọng

là nhu cầu không thể thiếu, nhằm giúp các em nhận ra giá trị của bản thân, phát hiện

ra tiềm năng của mình, tự thấy mình là người có ích, từ đó có thái độ hợp tác nhằm giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách hiệu quả nhất

- Nhu cầu cao nhất của trẻ đó là tự khẳng định mình, chứng minh rằng mình

có năng lực, mình có thể làm được mọi việc

1.2 Lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm quản lý trường hợp

Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLTH Sau đây là một số định nghĩa về QLTH của các tác giả trên thế giới:

- Johnson (1995) cho rằng quản lý trường hợp là sự điều phối các dịch vụ trong việc hỗ trợ thân chủ Nhân viên quản lý trường hợp làm việc với thân chủ để xác định dịch vụ cần thiết, tổ chức và theo dõi sự chuyển giao các dịch vụ đó tới thân chủ một cách hiệu quả (Johnson, 1995)

- Theo Ballew và Mink (1996) là: “giúp đỡ những người mà cuộc sống của

họ không thỏa mãn hay không phong phú do gặp nhiều vấn đề cần sự trợ giúp cùng lúc của nhiều nơi giúp đỡ” (Ballew và Mink, 1996, tr.3)

- Rapp (1992) cung cấp thêm khái niệm quản lý trường hợp: “hỗ trợ bệnh nhân tái nhận thức về các nguồn lực bên trong của thân chủ như sự thông minh, tài năng và khả năng giải quyết vấn đề; thiết lập và thương lượng các quy tắc làm việc

và giao tiếp giữa bệnh nhân và các nguồn lực bên ngoài; và biện hộ vận động các

Trang 21

- Theo cuốn Case Management Society of Americe (1990): “Quản lý trường hợp là tiến trình hợp tác trong việc đánh giá, hoạch định, tạo thuận lợi và biện hộ cho những phương án và dịch vụ đáp ứng nhu cầu sức khỏe của một cá nhân thông qua giao tiếp và các nguồn lực sẵn có để thúc đẩy những kết quả có chất lượng và hiệu quả”

Tóm lại, QLTH là một quá trình trợ giúp của công tác xã hội, bao gồm các

hoạt động đánh giá nhu cầu đối tượng (cá nhân, gia đình, xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp đối tượng tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả [17, tr 6]

* Khái niệm quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Từ các khái niệm trên, quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi được hiểu

như sau: là quá trình trợ giúp của công tác xã hội, bao gồm các hoạt động đánh

giá nhu cầu của trẻ, xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp trẻ xác định đúng nhu cầu, nhận biết vấn đề của mình Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi còn là sự phối hợp giữa dịch vụ hỗ trợ xã hội chủ yếu vì mục đích bảo vệ và chăm sóc dài hạn cho trẻ

1.2.2 Nguyên tắc trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

* Nguyên tắc chuyên biệt trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Nguyên tắc chấp nhận trẻ

Trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi, đây là người có hoàn cảnh

và nhu cầu chưa được đáp ứng Đối với trẻ em mồ côi vẫn có nhân phẩm và giá trị riêng và có quyền được tôn trọng, bình đẳng Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, nhân viên quản lý trường hợp cần có thái độ tôn trọng và chấp nhận trẻ, không được phê phán hay áp đặt ý kiến của mình đối với trẻ em [34]

Trang 22

17

Nguyên tắc về tính cá thể hóa

Nguyên tắc cá thể hóa tin rằng mỗi trẻ có tính khác biệt khác nhau và những mong muốn nguyện vọng cũng không giống nhau, mỗi trẻ có những đặc điểm riêng

và nhu cầu riêng

Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp trẻ thể hiện ở việc tìm hiểu và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không giải quyết cách giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho các trường hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ

có [1, tr.11]

Nguyên tắc về tính bảo mật thông tin cho trẻ

Giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc không chỉ ngành công tác xã hội sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng Nó được thể hiện qua sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của trẻ và không được chia sẻ những thông tin của trẻ với người khác khi chưa có sự đồng ý của trẻ Bảo mật các thông tin cá nhân của trẻ

sẻ làm tăng sự tin cậy và tạo đều kiện cho việc thu thập thông tin cũng như các hoạt động can thiệp trong tiến trình quản lý trường hợp mọi thông tin của trẻ luôn cần được giữ kín, không được tiết lộ

Việc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ sẽ giúp cho họ tin tưởng vào nhân viên quản lý trường hợp, từ đó họ sẳn sàng chia sẻ và hợp tác Bên cạnh đó việc đảm bảo bí mật cho thân chủ còn là yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con người và quan hệ đồng nghiệp [34]

Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của trẻ

Nhân viên quản lý trường hợp không quyết định thay cho trẻ, không áp đặt

mả chỉ đóng vai trò là người xúc tác và giúp trẻ đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh của chúng Nếu trẻ không tự quyết định được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, nhân viên quản lý trường hợp cần lấy ý kiến từ người bảo trợ cho trẻ

Trẻ tự đưa ra quyết định giúp trẻ có trách nhiệm với lựa chọn của mình, không lệ thuộc vào sự trợ giúp của NVQLTH Thực hiện nguyên tắc này cũng là cách mà NVQLTH giúp cho trẻ trở nên tự tin, nâng cao khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc sống [1, tr.12]

Nguyên tắc tự ý thức về bản thân của nhân viên quản lý trường hợp

Trang 23

18

Trong các hoàn cảnh khác nhau, NVQLTH phải tuân thủ tốt các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, tăng cường trao dồi chuyên môn và phát triển năng lực tự nhận thức bản thân để có khả năng kết nối, điều hành, giám sát và trực tiếp cung cấp các dịch vụ chất lượng cho thân chủ [1, tr.13]

Nhân viên quản lý trường hợp luôn phải chứng tỏ năng lực, sự hiểu biết, tính chuyên nghiệp trong công việc Nắm rõ vai trò, nhiệm vụ của mình trong từng lúc từng nơi và trong từng trường hợp cụ thể, luôn phải giữ gìn phẩm chất, đạo đức và nhân cách

Nguyên tắc trao quyền

Dành quyền tự quyết định cho trẻ, xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của trẻ, tạo cơ hội tham gia và khả năng tự đáp ứng của trẻ Để làm tốt nguyên tắc này NVQLTH cần đảm bảo sự tham gia của trẻ trong cả tiến trình từ thu thập thông tin, đánh giá, xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch cũng như đánh giá dịch vụ [1, tr.14]

1.2.3 Nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

1.2.3.1 Thu thập thông tin của trẻ em mồ côi

Trước khi thu thập thông tin và đánh giá nhu cầu của trẻ em mồ côi, NVQLTH cần thiết phải lập mối quan hệ đối với trẻ em mồ côi

NVQLTH phải gặp trực tiếp trẻ em mồ côi để tìm hiểu và hỗ trợ NVQLTH cần thiết lập mối quan hệ với trẻ mồ côi để tìm hiểu rõ hơn những khó khăn và nhu cầu cần trợ giúp của trẻ NVQLTH cần tạo sự tin tưởng ở trẻ, cần thể hiện sự tôn trọng và chấp nhận trẻ, để trẻ biết rằng trẻ được chấp nhận [1, tr.19]

* Nguồn thu thập thông tin [1, tr.19-20]

Thu thập thông tin toàn diện để đánh giá toàn diện về trẻ em mồ côi trước khi xây dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ Do vậy nguồn thu thập thông tin cần liên quan tới trẻ em mồ côi và những người có liên quan đến trẻ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng và trong các mối quan hệ xã hội như: bản thân của trẻ; anh, chị, em, ông

bà, chú, bác, cô, dì, …; bạn bè tại trường học; các nhân viên chăm sóc trẻ và các bạn cùng sống với trẻ tại Trung tâm

Trang 24

* Phỏng vấn thu thập thông tin

- Ý nghĩa của phỏng vấn thu thập thông tin: Thông tin thu được chuẩn xác và

có giá trị sẽ đảm bảo cho chất lượng của bản kế hoạch

- Yêu cầu của phỏng vấn thu thập thông tin: Lựa chọn thời gian phỏng vấn phù hợp để mang lại hiệu quả cao, nên là những lúc mà người tham gia phỏng vấn thấy thoải mái nhất về tâm lý

- Kỹ năng đặt câu hỏi: là khả năng sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau để thu thập thông tin cũng như hỗ trợ thân chủ bày tỏ cảm xúc, qua đó nhà chuyên môn

sẽ giúp thân chủ thay đổi được các cảm xúc và suy nghỉ tiêu cực bằng cảm xúc và suy nghỉ tích cực để cải thiện vấn đề hiện tại của mình Như các loại câu hỏi:

+ Câu hỏi đóng/mở; câu hỏi khai thác cảm xúc, suy nghỉ, hành vi; câu hỏi định hướng, tập trung vào chủ đề; câu hỏi khẳng định lại thông tin

1.2.3.2 Đánh giá thân chủ trẻ em mồ côi

Sau khi thu thập thông tin của trẻ em mồ côi, nhân viên QLTH tiến hành các

bước đánh giá toàn diện về trẻ em mồ côi để làm cơ sở xây dựng kế hoạch can thiệp trợ giúp Nhân viên QLTH cần tập trung đánh giá các nội dung sau [20, tr.125]:

* Nhu cầu của trẻ mồ côi

Sau khi có các bước thu thập thông tin thì nhân viên QLTH cùng với trẻ hoặc người giám hộ tiến hành xem xét các nhu cầu của trẻ để làm cơ sở xây dựng kế hoạch trợ giúp Nếu trường hợp trẻ không có khả năng cung cấp đầy đủ thông tin thì nhân viên QLTH có trách nhiệm phối hợp với người giám hộ xác định nhu cầu của trẻ Bao gồm các nhu cầu :

- Môi trường, hoàn cảnh trẻ đang sinh sống

- Chăm sóc sức khỏe và y tế

- Tâm lý, tình cảm của trẻ

Trang 25

- Thái độ, hành vi và lòng tin của trẻ đối với những người xung quanh: xem các em thường có thái độ tự ti, mặc cảm, không thân thiện, hay lo lắng sợ sệt khi tiếp xúc với mọi người xung quanh không, hành vi trẻ thay đổi liên tục các em dễ bị kích động hoặc ngược lại thờ ơ lãnh đạm; các em sống ít tin tưởng vào người khác, sống nghi ngờ hoặc tỏ ra bất cần

- Nhận thức của trẻ: Trẻ có được đi học không, nhận thức của trẻ đối với mọi

sự việc xung quanh, mức độ hiểu biết của trẻ đến đâu

- Khả năng tự khẳng định bản thân của trẻ

- Khả năng tự chăm sóc và tự bảo vệ bản thân của trẻ: trẻ mồ côi thường hay thụ động nên việc tự chăm sóc và tự bảo vệ bản thân thường gặp những hạn chế nhất định

- Khả năng tiếp cận đến các dịch vụ bảo vệ trong trường hợp cần thiết, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: trẻ em mồ côi có cuộc sống vật chất và tinh thần rất chật vật, khó khăn, nên cản trở trẻ trong việc tiếp cận các dịch vụ bảo vệ cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản

- Các vấn đề trẻ em mồ côi đang gặp phải: thiếu thốn tình cảm, các em rất hụt hẩng trong cuộc sống, cảm thấy cô đơn, phải lao động sớm để kiếm sống, vướng vào các tệ nạn xã hội, ít được học hành, môi trường sống không an toàn…

* Đánh giá thông tin liên quan đến vấn đề của trẻ

- Môi trường trẻ em mồ côi đang sống: xem trẻ sống có tốt, có an toàn không? nhu cầu chăm sóc của trẻ có được đáp ứng không?

Trang 26

21

- Các mối quan hệ xã hội của trẻ: xem các mối quan hệ của trẻ gồm những ai, gia đình, họ hàng, thầy cô, bạn bè, hàng xóm, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội

- Các tổ chức đã hỗ trợ cho trẻ em mồ côi: Những hỗ trợ của cộng đồng hay những chính sách, chương trình, dịch vụ xã hội mà trẻ đang được thụ hưởng

1.2.3.3 Xây dựng và thực hiện kế hoạch trợ giúp

* Xây dựng kế hoạch trợ giúp [1, tr.25]

Bước 1: Xác định vấn đề ưu tiên của trẻ em mồ côi

Từ những thông tin đã thu thập được ở các bước trên, cần phải xác định vấn

đề ưu tiên của trẻ để dựa vào đó có thể xây dựng kế hoạch trợ giúp, cụ thể:

+ Trẻ em mồ côi cần có các dịch vụ CTXH: khi trẻ gặp các vấn đề liên quan tới sự thiếu thốn tình cảm, thiếu các mối quan hệ và có những tổn thương tâm lý trước đó, thì trẻ em mồ côi thường sống khép kín dẫn đến hạn chế trong giao tiếp

+ Trẻ em mồ côi gặp vấn đề về giới và gia đình: có thể liên quan đến quyền được tham gia trong gia đình và xã hội, trẻ dễ bị tổn thương về thể chất lẫn tinh thần, bị phân biệt đối xử, nhận thức hạn chế…

+ Trẻ em cần được bảo vệ: thường gặp phải các vấn đề thiếu an toàn: dễ bị xâm hại, bạo hành và bị bóc lột, không được đảm bảo chăm sóc về dinh dưỡng, y tế, không được học hành, có nguy cơ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, không có người chăm sóc, nuôi dưỡng đúng mức, nhận thức hạn chế, không có các kỹ năng tự bảo

- Được chăm sóc y tế trước mắt và lâu dài

- Được cung cấp dinh dưỡng

- Được hỗ trợ tâm lý

- Được cung cấp thông tin, trang bị kiến thức, kỹ năng

- Được hỗ trợ việc làm, hỗ trợ pháp lý

- Được quan tâm theo dõi và duy trì những thay đổi tích cực

Bước 3: Xây dựng các hoạt động can thiệp

Trang 27

22

Từ những thông tin thu thập được và đánh giá vấn đề cũng như các mục tiêu

đã được xác định ở các bước trên, nhân viên QLTH cùng với trẻ em mồ côi và người có trách nhiệm tham gia thảo luận có thể đưa ra các hoạt động can thiệp

Mục tiêu trợ giúp Các hoạt động cụ thể

Hỗ trợ phục hồi tâm lý

cho trẻ

- Gần gũi chia sẻ với trẻ

- Tham vấn, động viên khích lệ trẻ Thay đổi thái độ đối với

Trang bị kiến thức và kỹ

năng cần thiết giúp trẻ hòa

nhập với mọi người

- Tạo điều kiện để trẻ em mồ côi tham gia vào các hoạt động của nhóm

-Kết nối đôi bạn thân để trẻ dễ dàng hơn trong việc chia sẻ tâm tư nguyện vọng của mình

Đảm bảo sự an toàn cho

trẻ trước nguy cơ bị lôi

kéo bởi những phần tử xấu

- Trang bị cho trẻ những hiểu biết về pháp luật, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục hiểu biết về tâm lý lứa tuổi

- Tăng cường cho trẻ tham gia vào các hoạt động lành mạnh

-Theo dõi, giám sát các biểu hiện bất thường của trẻ để

có những can thiệp kịp thời

Hỗ trợ tái hóa nhập cộng

đồng cho trẻ em mồ côi

- Tìm hiểu, liên lạc với các thành viên trong gia đình

mở rộng và đề nghị đón trẻ về gia đình, (khi trẻ có mong muốn được ở cùng họ)

- Trường hợp không có thành viên trong gia đình mở rộng

+ Làm việc với trẻ để tìm hiểu nguyện vọng của trẻ + Tìm kiếm người đỡ đầu hoặc nuôi dưỡng thay thế tùy theo nguyện vọng của trẻ

Trang 28

* Thực hiện kế hoạch trợ giúp [1, tr 40]

Bước 1: Kết nối, vận động

- Tạo mối quan hệ giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ

- Tăng cường nguồn lực: khai thác tiềm năng, phát huy nguồn lực từ các bên tham gia

- Tăng cơ hội lựa chọn trong việc lập kế hoạch: khi có thêm nguồn lực về con người và kinh phí tài chính, nhiều giải pháp sẽ được tính tới

- Thiết lập mạng lưới: cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp các dịch vụ xã hội, các trung tâm tham vấn, tư vấn, các chương trình dự án, các tổ chức phi chính phủ

Bước 2: Cung cấp dịch vụ

* Cung cấp dịch vụ cho trẻ em mồ côi

- Thiết lập mối quan hệ với trẻ em mồ côi chuẩn bị cho việc hỗ trợ: nhân

viên QLTH giới thiệu cho trẻ biết mình là người có thể giúp trẻ trong hoàn cảnh khó khăn ; tạo sự gắn bó, xây dựng mối quan hệ tốt với trẻ em, trên cơ sở đó triển khai

tư vấn, tham vấn cho trẻ em Bên cạnh đó tìm ra nguyên nhân vấn đề mà trẻ phải đối mặt, thông báo cho trẻ biết kế hoạch can thiệp

- Triển khai kế hoạch can thiệp: nhân viên QLTH tìm kiếm hệ thống dịch vụ

hỗ trợ như các cơ sở y tế, các dịch vụ tham vấn… để hỗ trợ về tinh thần và thể chất cho trẻ Tăng cường kỹ năng tự chăm sóc, bảo vệ cho trẻ em mồ côi; khuyến khích trẻ tham gia vào các hoạt động nhóm tại cộng đồng; tư vấn cho trẻ để hỗ trợ về tâm

lý, thay đổi cảm xúc và nhận thức

Trang 29

* Làm việc với cộng đồng

Hiểu biết về cộng đồng để thực hiện các bước trợ giúp trẻ em mồ côi liên quan đến huy động nguồn lực cộng đồng Tìm hiểu các mối quan hệ của trẻ em mồ côi trong cộng đồng nhằm thu hút sự giúp đỡ tích cực, tạo ra môi trường hỗ trợ đảm bảo sự an toàn cho trẻ

Tìm hiểu các nguồn lực cộng đồng thông qua việc đánh giá khả năng hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể, các cơ quan, tổ chức có liên quan đến kế hoạch trợ giúp cho trẻ Phân tích các mối liên hệ giữa các hệ thống; Tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào các tổ chức đoàn thể nhằm tạo ra được một môi trường an toàn

* Làm việc với các ban, ngành, tổ chức có liên quan

Làm việc với các Ban, ngành, tổ chức nhằm tìm kiếm nguồn hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần và tình cảm cho trẻ em mồ côi

- Các cơ quan chức năng phối hợp: cơ quan Nhà nước như Trung tâm Công tác xã hội, Trung tâm Bảo trợ xã hội, cơ quan tư pháp, nhà trường … Các tổ chức đoàn thể: Đoàn đội, Hội Phụ nữ… các tổ chức xã hội

- Những việc cần làm: Rà soát những lĩnh vực chuyên môn cần thiềt để tìm

sự hỗ trợ của các cơ quan tổ chức; Liên hệ với các cơ quan mà trẻ đang cần dịch vụ

để bàn về kế hoạch giúp đỡ; Tổ chức buổi chia sẻ về trường hợp với sự tham gia của tất cả các cơ quan, tổ chức, ban ngành liên quan; Kết nối trẻ em mồ côi với các dịch vụ mà các cơ quan này có thể cung cấp; Lập kế hoạch kết nối, phân công công việc cho từng tổ chức

Trang 30

- Đánh giá sự thay đổi của trẻ trên các mặt:

+ Nhận thức về vấn đề: trẻ đã hiểu rõ nguyên nhân của vấn đề chưa? Đã có suy nghĩ mới, tích cực trước những khó khăn mình gặp phải chưa?

+ Tâm lý của trẻ còn lo âu sợ sệt hay tự ti không, hay đã tự tin đối diện với các vấn đề, tâm lý trẻ đã thật sự ổn định chưa?

+ Hành vi trẻ đã có những hành vi tích cực, tiêu cực nào liên quan đến cách thức giải quyết vấn đề của mình?

+ Sức khỏe của trẻ đã được cải thiện hơn so với trước khi can thiệp chưa? Đã được cải thiện ở điểm nào?

+ Mối quan hệ với mọi người xung quanh đã cởi mở hòa đồng chưa? Sự hòa nhập đã được cải thiện như thế nào?

- Đánh giá sự thay đổi từ môi trường cộng đồng:

Hàng xóm, những người quen có thay đổi gì về suy nghĩ, thái độ và cách ứng

xử với trẻ; Các tổ chức, cơ quan, ban ngành đã tham gia vào các hoạt động trợ giúp chưa? Những hoạt động gì? Mức độ tham gia? Nhận thức của họ như thế nào về vấn

đề của trẻ?

- Đánh giá sự phát triển chuyên môn của nhân viên quản lý trường hợp

+ Tự nhận thức: Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của nghề công tác xã hội Tự nhận thức về chính mình và tự nhận thức về công việc mình đã

hỗ trợ cho trẻ, phải ý thức thật sự về thái độ, kiến thức, năng lực chuyên môn và phương pháp làm việc đối với mỗi trường hợp cụ thể

+ Đánh giá sự phát triển của chuyên môn: Luôn luôn xem xét lại quá trình triển khai các hoạt động đã tuân thủ tốt các yêu cầu hay chưa, các hoạt động mình thực hiện vì sao tốt, vì sao còn hạn chế Nhân viên QLTH cũng cần học hỏi từ chính

Trang 31

26

các hoạt động mình đang thực hiện với thân chủ và học hỏi từ người quản lý và giám sát mình, qua đó cũng rút ra bài học, các kết luận và từ đó lên kế hoạch thực hiện nó trong tương lai

* Kết thúc quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi [1, tr 53]

Khi kết thúc quy trình quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi cần có các tiêu chí sau:

- Khi trẻ em mồ côi đã đạt được mục tiêu

- Môi trường sống của trẻ đảm bảo an toàn

- Các vấn đề của trẻ đã được giải quyết

Có một số trường hợp không kết thúc khi: Cần đánh giá lại trường hợp của

trẻ, lập kế hoạch trợ giúp khác; Khi các yếu tố nguy hại đến trẻ vẫn còn; Trẻ vẫn còn cần sự hỗ trợ khác từ bên ngoài

- Nhắc lại về việc kết thúc mỗi lần đánh giá tiến độ

- Tài liệu hóa những cuộc đối thoại có liên quan

- Sự sẳn sàng của thân chủ

- Các công việc cần làm khi kết thúc

+ Lên kế hoạch kết thúc

+ Rà soát các kế hoạch và ghi nhận những gì đã đạt được

+ Xem xét các vấn đề còn tiếp diễn và cách thức giải quyết chúng

+ Thảo luận về sự tham gia của các cơ quan có liên quan cũng như với các nhân viên chăm sóc

+ Phải có sự đồng thuận của trẻ, phải thông báo cho những người chủ chốt có liên quan việc kết thúc mối liên hệ làm việc với trẻ

+ Xác định những vấn đề của trẻ trong tương lai

Trang 32

27

1.2.4 Các lý thuyết ứng dụng và các cách tiếp cận trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

1.2.4.1 Lý thuyết ứng dụng trong quản lý trường hợp đối với trẻ em

* Lý thuyết về nhu cầu con người của A Maslow

Abraham Maslow (1908- 1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ Ông đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần

Theo Maslow, nhu cầu của con người được chia thành 5 thang bậc khác nhau

từ thấp đến cao, phản ảnh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người, bao gồm: Nhu cầu sinh học; Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu về xã hội; Nhu cầu về được quý trọng; Nhu cầu được thể hiện mình [24]

Vận dụng lý thuyết về nhu cầu con người của Maslow giúp thực hiện việc xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch can thiệp hỗ trợ và triển khai thực hiện các hoạt động can thiệp hỗ trợ thì nhu cầu nào là nhu cầu ưu tiên giải quyết trước, nhu cầu nào giải quyết sau, từ giải quyết đáp ứng nhu cầu cơ bản về thể chất (ăn uống, mặc, ở) trước thì mới thực hiện giải quyết được nhu cầu tiếp theo

* Lý thuyết về hệ thống sinh thái

5

khẳng

Tự đinh

4

Đƣợc tôn trọng

Các mối quan hệ Gia đình/Xã hội

3 Tình yêu và sự phụ thuộc

2 An toàn và an

ninh Sinh học/Sinh lý học

1

Trang 33

28

Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau [24]

Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng

ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết

về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái

Vận dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái giúp phân tích thấu đáo sự tương tác giữa và trong môi trường sống của trẻ và có thể đánh giá được những tác động này

có ảnh hưởng như thế nào đến trẻ Lý thuyết Hệ thống chỉ ra được sự tác động mà các yếu tố tồn tại xung quanh trẻ tác động đến trẻ mà bản thân trẻ được xem như bị lôi cuốn vào sự tương tác liên tục với nhiều các yếu tố khác nhau trong môi trường sống của trẻ để từ đó các cấp các ngành, và trực tiếp là nhân viên quản lý trường hợp tác động vào các mối tương tác này để can thiệp hỗ trợ và đó sẽ là điểm mấu chốt để giúp trẻ giải quyết vấn đề khó khăn

1.2.4.2 Các cách tiếp cận trong làm việc với trẻ em

* Tiếp cận theo nhu cầu [24]

Tiếp cận theo nhu cầu của trẻ là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt nhất của các dịch vụ công tác xã hội đối với các nhu cầu của trẻ em mồ côi Đây là những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển thể chất của trẻ Tiếp theo là nhu cầu cần được sự bảo vệ an toàn, ngăn ngừa những nguy cơ gây tổn thương cho trẻ cả về thể chất, tinh thần và tình cảm Nhu cầu thứ ba là nhu cầu được vui chơi, giải trí và học tập Thông qua những hoạt động này, trẻ em sẽ được phát triển, được hòa mình vào

xã hội, được gắn bó và dần tự khẳng định mình Nhu cầu thứ tư là nhu cầu được tôn trọng như tất cả mọi người

* Tiếp cận vì lợi ích tốt nhất của trẻ

Tiếp cận theo tôn chỉ đem lợi ích tốt nhất cho trẻ là cách tiếp cận với việc cung cấp các dịch vụ đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em mồ côi Tiếp cận theo nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất cho trẻ có ý nghĩa là ở bất cứ tình huống nào nhân viên quản lý trường hợp phải đặt lợi ích tốt nhất cho trẻ lên hàng đầu

* Tiếp cận dựa trên quyền

Tiếp cận dựa trên đảm bảo các quyền của trẻ em là cách tiếp cận cung cấp các dịch vụ đảm bảo trẻ em được thực hiện đầy đủ bốn nhóm quyền của trẻ em đó là

Trang 34

29

quyền được sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia và quyền được phát triển Đây là cách tiếp cận phổ biến và được rất nhiều nhà chuyên môn sử dụng trong quá trình làm việc giúp đỡ trẻ em Về cơ bản, cách tiếp cận này thực hiện việc giúp đỡ dựa trên tôn chỉ các nhóm quyền của trẻ em

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

1.3.1 Yếu tố thuộc về bản thân trẻ em mồ côi

Trẻ em hiện nay, phần lớn đều được hưởng đầy đủ quyền lợi của mình như được đi học, được sống trong sự yêu thương của gia đình, được chăm sóc y tế… nhưng trong xã hội vẫn còn những nhóm trẻ em không được hưởng những quyền lợi

ấy trong đó có trẻ em mồ côi Có nhiều lý do phức tạp khiến các em lâm vào tình cảnh éo le, có trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc mồ côi cha hoặc mẹ người còn lại bỏ đi nơi khác do điều kiện kinh tế quá khó khăn, chính vì bị hụt hẩng không có cha mẹ làm cho các em dễ bị tổn thương hơn, cuộc sống mưu sinh đối với các em khó khăn hơn Chỉ có một số ít các em được nuôi dưỡng và chăm sóc ở các Trung tâm hoặc được nhận làm con nuôi (tìm được gia đình thay thế) cuộc sống đảm bảo hơn và các

em có ý thức tự vươn lên trong cuộc sống, nhưng đa số các em đều trong tình trạng sức khỏe không tốt, suy dinh dưỡng do trước đó các em bị thiếu ăn, suy nhược về thể chất đó là hệ quả của cảnh nghèo khó Song song đó còn rất nhiều trẻ em khác phải tự bươn chải để kiếm sống [34]

Điều nhận thấy rất rõ trong tâm lý trẻ mồ côi đó là cảm giác cô đơn, trống trải, trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng, mặc cảm với số phận Một số trẻ thì hay lo lắng sợ hãi, xa lánh không muốn quan hệ với mọi người, số khác trở nên gan lỳ

Trẻ luôn khao khát tình thương, luôn mơ ước có một gia đình có cha, có mẹ Trẻ thèm được cha mẹ đưa đi học, đi chơi như bao đứa trẻ khác, tuy ước mơ rất bình thường như vậy, nhưng đối với trẻ mồ côi thì ước mơ vẫn chỉ là mơ ước, nó rất

xa vời đối với trẻ Chính vì thế, trẻ em mồ côi thường có tâm lý ghen tỵ với những đứa trẻ có hoàn cảnh tốt hơn mình

Tuy nhiên, cũng có một số trẻ em mồ côi do ý thức được hoàn cảnh của mình

vì thế nổ lực không ngừng Các em rất cố gắng, chịu khó trong học tập, rèn luyện để

tự vươn lên Bên cạnh đó do hoàn cảnh đưa đẩy, các em lại có những trãi nghiệm cuộc sống nhiều hơn các bạn cùng trang lứa, nên các em này có kỹ năng và kinh

Trang 35

30

nghiệm sống để tránh được tác động xấu ở một mức độ nhất định Nhưng nó không định hướng cho sự phát triển bền vững của các em

1.3.2 Yếu tố thuộc về năng lực, trình độ của nhân viên quản lý trường hợp.

Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi là một phương pháp cung cấp dịch

vụ nhằm hướng dẫn và tổ chức tiến trình cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em một cách hiệu quả Phương pháp này giúp đáp ứng toàn diện nhu cầu cần giúp đỡ của trẻ Do

đó để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề CTXH thì việc phát huy năng lực, trình độ vai trò của nhân viên CTXH trong quản lý trường hợp là yêu cầu hết sức cần thiết

- Cán bộ quản lý là những người có tầm nhìn, ảnh hưởng nhiều nhất tới các hoạt động của Trung tâm Công tác xã hội, Trung tâm Bảo trợ xã hội, họ là những người hiểu biết rõ nhất về các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan tới quyền lợi của trẻ em mồ côi Họ cũng chính là những người tìm kiếm các cơ hội, nguồn lực, biết cách kết nối cơ sở bảo trợ của mình với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, nhằm học hỏi kinh nghiệm quản lý, chăm sóc trẻ, cũng như kêu gọi sự tài trợ phục vụ cho đời sống trẻ em mồ côi cũng như trang bị cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động chung của Trung tâm

- Nhân viên CTXH là những người có kiến thức, kỹ năng, họ là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội và là người có trách nhiệm kết nối với việc làm của các phòng ban có liên hệ với đối tượng để có được sự thống nhất nhằm đạt hiệu quả tối đa của nguồn lực hỗ trợ cho đối tượng Chính vì thế nhân viên CTXH có vai trò rất to lớn trong hoạt động kết nối nguồn lực, hỗ trợ xã hội cho đối tượng

Tuy nhiên nhân viên CTXH tại Trung tâm còn hạn chế về số lượng và chất lượng chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành CTXH chỉ được tập huấn ngắn hạn, nên chưa nắm bắt được hết tâm lý, tâm tư nguyện vọng cũng như nhu cầu của trẻ, chưa thực sự có phương pháp, kỹ năng chuyên nghiệp trong công công tác quản

lý trường hợp, hơn nữa lại kiêm nhiệm nên chưa thật sự tập trung vào công tác chuyên môn, do đó hiệu quả công việc chưa được như mong muốn

Bên cạnh đó do năng lực, trình độ còn hạn chế nên việc nhân viên CTXH kết nối với các nguồn lực bên ngoài với nhu cầu của trẻ còn gặp nhiều khó khăn như: phối hợp với các cơ quan đơn vị dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp trẻ phát triển lành mạnh cả về thể chất, trí tuệ và nhân cách Chưa có mạng lưới dịch vụ toàn diện để có thể kết nối nhu cầu của trẻ với các dịch vụ bất cứ khi nào cần thiết

Trang 36

31

1.3.3 Yếu tố thuộc về năng lực đáp ứng của trung tâm

- Về cơ sở vật chất : Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ với diện

tích đất là trên 3000 m2, trong đó xây dựng cơ sở hạ tầng là 2/3 diện tích Trung tâm có 01 khu nhà văn phòng, 01 khu chức năng nuôi dưỡng đối tượng và được chia phòng thành các nhóm trẻ gồm: Nhóm trẻ sơ sinh, nhóm trẻ mẫu giáo, nhóm bại não, nhóm tâm thần mãn tính, nhóm người nhiểm chất độc màu da cam/Dioxin

và nhóm trẻ lớn tự phục vụ được cho bản thân Hiện nay Trung tâm đã được xây dựng nâng cấp tương đối khang trang thoáng mát

Khu nuôi dưỡng và Phòng Y tế Trung tâm từng bước được trang bị tương đối đầy đủ dụng cụ về y tế, dụng cụ phục hồi chức năng và các trang thiết bị khác dùng

để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng trẻ mồ côi tại đơn vị

Để các hoạt động chăm sóc trẻ được thuận lợi và đạt yêu cầu, thì yếu tố cơ sở vật chất không thể thiếu, nó là điều kiện tiên quyết để giúp trẻ mồ côi được đáp ứng các nhu cầu

- Dịch vụ : chăm sóc sức khỏe ban đầu, phục hồi chức năng, trị liệu tâm lý

cho trẻ, tại Trung tâm và kết nối với các cơ sở y tế tuyến trên đảm bảo chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh cho trẻ; kết nối với với các trường học trên địa bàn cho trẻ đi học văn hóa phù hợp với sức khỏe và độ tuổi của trẻ; kết nối với các tổ chức, ban, ngành, đoàn thể, tranh thủ sự hỗ trợ để phát huy các nguồn lực đã góp phần cải thiện môi trường sống an toàn, ngăn ngừa và giảm thiểu các yếu tố nguy cơ dẫn đến tổn thương cho trẻ

- Về tài chính: Kinh phí dành cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi,

cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, trả lương cho nhân viên đảm bảo từ ngân sách Nhà nước Ngoài nguồn kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp, Trung tâm còn nhận được nguồn trợ giúp, ủng hộ của các tổ chức và cá nhân hảo tâm trong nước

và nước ngoài đến thăm, trợ giúp cho Trung tâm góp phần nâng cao đời sống cho đối tượng cả về vật chất lẫn tinh thần, nguồn tài chính cơ bản được đảm bảo

1.3.4 Yếu tố nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương

Trẻ em mồ côi là những trẻ chịu nhiều thiệt thòi, thiếu mất tình yêu thương của cha mẹ, thiếu đi sự ấm áp của gia đình và phải đương đầu với rất nhiều khó

Trang 37

32

khăn trong cuộc sống Vì vậy thường có những mạnh thường quân quan tâm trợ giúp về vật chất và tinh thần, thăm hỏi, động viên, khuyến khích trẻ trong cuộc sống cũng như trong việc học tập của trẻ, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, quần áo cho trẻ

em mồ côi góp phần đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho những trẻ em vốn chịu nhiều thiệt thòi này Bên cạnh những người thật sự quan tâm, chăm sóc, thương yêu chia sẻ, động viên trẻ thì vẫn còn nhiều người chưa thật sự quan tâm, họ đến Trung tâm mang tính chất từ thiện nhưng thực chất để thỏa mãn tính hiếu kỳ của mình hoặc với mục đích tư lợi khác Sự nhận thức không đúng đắn của những người này không chỉ ảnh hưởng đến trẻ em mồ côi mà nó còn ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động của Trung tâm trong việc trợ giúp cho trẻ

Chính quyền địa phương có xây dựng các chương trình, kế hoạch và triển khai các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong việc trợ giúp các trẻ em mồ côi, tổ chức thăm hỏi trong các dịp lễ, tết, tạo điều kiện cho trẻ được đến trường, miễn giảm học phí… Tuy nhiên chính quyền địa phương chưa có kế hoạch hoặc giải pháp cụ thể để hỗ trợ tốt nhất cho trẻ em mồ côi trong thời gian lâu dài và mang tính bền vững

1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

1.4.1 Cơ sở pháp lý về trẻ em mồ côi

Trẻ em mồ côi là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi và mất mát hơn cả, các em không được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình, thiếu đi sự chăm sóc yêu thương của cha mẹ; điều kiện, môi trường, hoàn cảnh sống không được như các trẻ

em bình thường khác Do đó Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến các em thể hiện qua các văn bản pháp lý, các chế độ chính sách hỗ trợ, ưu đãi về giáo dục, y tế, tài chính cho các cơ sở bảo trợ xã hội và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ

em mồ côi nói riêng bao gồm:

- Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội; Thông tư số 07/2009/TT-BLĐTBXH ngày 30/3/2009 của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 68/CP

- Thông tư số: 04/2011/TT-BLĐTBXH, ngày 25 tháng 02 năm 2011 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở Bảo trợ xã hội

Trang 38

- Quốc Hội (2010) Luật số: 52/2010/QH12, ngày 17 tháng 06 năm

2010 Luật Nuôi con nuôi; Nghị định số 19/CP qui định, hướng dẫn thi hành Luật

Nuôi con nuôi

1.4.2 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi là một trong những phương pháp can thiệp của công tác xã hội lựa chọn để trợ giúp trẻ em và gia đình Phương pháp này nhấn mạnh đánh giá nhu cầu của trẻ, xác định các nguồn lực từ trẻ, gia đình trẻ

và từ cộng đồng, điều phối kết nối nguồn lực, tổ chức thực hiện và giám sát tiến trình trợ giúp Mục đích của hoạt động này là cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội giúp trẻ vượt qua khó khăn mà trẻ gặp phải trong cuộc sống, đồng thời giúp tăng cường năng lực, phát triển tiềm năng bản thân để hòa nhập cộng đồng và xã hội

Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi Dựa trên cơ sở pháp lý các văn bản quy phạm pháp luật được chính phủ và các bộ, ngành ban hành

như sau :

- Thông tư liên tịch số 32/2009/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 21/9/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Nộ vụ hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và định mức cán bộ, nhân viên của cơ sở bảo trợ xã hội công lập

- Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020

- Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH, ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về hướng dẫn quản lý trường hợp đối với người khuyết tật (có trẻ em khuyết tật)

Trang 39

34

- Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ Nội vụ quy định chức danh, mã số ngạch viên chức công tác xã hội đối với công tác xã hội viên chính, công tác xã hội viên và nhân viên công tác xã hội

- Thông tư số 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV, ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội – Bộ Nội vụ, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội công lập

Ngoài ra còn rất còn nhiều văn bản quy định về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

Kết luận chương 1

Trong chương 1 tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi, các khái niệm về trẻ em, về trẻ em mồ côi, về quản lý trường hợp, về quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi Những khái niệm này đã làm

rõ khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đồng thời trong chương 1 tác giả cũng xác định các nguyên tắc và các nhiệm

vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi, gồm các nhiệm vụ: thu thập thông tin của trẻ em mồ côi, đánh giá thân chủ trẻ em mồ côi, xây dựng và thực hiện kế hoạch trợ giúp, đánh giá cuối kỳ và kết thúc quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi

Đề tài cũng đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi gồm các yếu tố: yếu tố thuộc về bản thân trẻ em mồ côi, yếu tố thuộc về năng lực, trình độ của nhân viên QLTH, yếu tố thuộc về năng lực đáp ứng của trung

tâm, yếu tố nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương Cơ sở pháp lý liên quan

đến trẻ em mồ côi, cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc

nghiên cứu đề tài “Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm

Công tác xã hội thành phố Cần Thơ”.

Trang 40

35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Khái quát về trung tâm Công tác xã hội

Trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ, trụ sở đóng tại số 251/1 đường Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ Có vị trí địa lý phía Bắc giáp Nhà trẻ Sao Mai và đường Trần Ngọc Quế; phía Đông và phía Nam giáp Tu viện Chúa Quan Phòng; phía tây giáp Trường Trung học cơ sở Lương Thế Vinh

Trung tâm Công tác xã hội là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ, được thành lập trên cơ sở xáp nhập giữa Trung tâm Nuôi trẻ Mồ côi và Nhiễm chất độc Dioxin và Trung tâm Công tác xã hội Trẻ em theo Quyết định số 3189/QĐ-UBND ngày 11 tháng 10 năm

2013 của Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng

* Chức năng, nhiệm vụ :

Có chức năng hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội (người khuyết tật, người

nhiễm HIV/AIDS, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân của bạo lực gia đình và phân biệt đối xử về giới, người nghiện ma túy, người bán dâm; người sau cai nghiện), đối tượng khác có nhu cầu sử dụng những dịch vụ

công tác xã hội

Cung cấp các dịch vụ khẩn cấp: Tiếp nhận đối tượng/thân chủ cần sự bảo vệ

khẩn cấp, gồm: trẻ em bị bỏ rơi; nạn nhân của bạo lực gia đình; nạn nhân bị xâm hại tình dục; nạn nhân bị buôn bán; nạn nhân bị cưỡng bức lao động Đánh giá ban đầu các nhu cầu của đối tượng; sàng lọc và phân loại đối tượng Trường hợp cần thiết thì chuyển gửi đối tượng tới các cơ sở y tế, cơ quan công an, tư pháp hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội khác Hướng dẫn, cung cấp dịch vụ điều trị y tế, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý cho đối tượng; Các biện pháp ngăn chặn, loại bỏ các nguy

Ngày đăng: 13/06/2017, 17:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Tài liệu Quản lý trường hợp , Nxb. Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Quản lý trường hợp
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 2015
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, UNICEF (2000), Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, UNICEF
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
Năm: 2000
11. Công ước Quốc tế (1989), Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền trẻ em
Tác giả: Công ước Quốc tế
Năm: 1989
14. Đại học mở bán công TP. Hồ Chí Minh (2005), giáo trình công tác xã hội với trẻ em và gia đình của khoa Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình công tác xã hội với trẻ em và gia đình
Tác giả: Đại học mở bán công TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
17. Nguyễn Thị Thanh Hương (2012), Quản lý trường hợp, Đại học Lao động Xã hội – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trường hợp
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 2012
18. Vũ Thị Kim Hoa (2011), Chăm sóc trẻ em mồ côi, bỏ rơi thông qua chăm sóc thay thế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc trẻ em mồ côi, bỏ rơi thông qua chăm sóc thay thế
Tác giả: Vũ Thị Kim Hoa
Năm: 2011
19. Bùi Thế Hợp, Đánh giá nhu cầu giáo dục của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu giáo dục của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
21. Nguyễn Xuân Huy (2016) Quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Quảng Ninh
24. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
25. MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF (2012), Khóa đào tạo công tác xã hội cho các nhà quản lý công tác xã hội, chủ đề công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa đào tạo công tác xã hội cho các nhà quản lý công tác xã hội, chủ đề công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt
Tác giả: MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF
Năm: 2012
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015, Thông tư số 01/2015/TT- BLĐTBXH, ngày 06 tháng 01 năm 2015 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về hướng dẫn quản lý trường hợp đối với người khuyết tật (có trẻ em khuyết tật) Khác
3. Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội (2011), Thông tư số 04/2011/TT- BLĐTBXH, ngày 25 tháng 02 năm 2011, quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại các cơ sở Bảo trợ Xã hội Khác
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, UNICEF (2009), Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt nam Khác
6. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2010), Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 Khác
7. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2015), Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020 Khác
8. Bộ Tư Pháp (2014), Thông tư số: 15/2014/TT-BTP, ngày 20 tháng 5 năm 2014 của Bộ Tư Pháp, hướng dẫn tìm gia đình thay thế ở nước ngoài cho trẻ em mồ côi khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, trẻ em từ 5 tuổi trở lên cần tìm gia đình thay thế Khác
9. Chính Phủ (2013), Nghị định số: 136/2013/NĐ-CP, ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ, quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Khác
10. Chính Phủ (2008), Nghị định số 68/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội Khác
12. Cục Bảo trợ xã hội (2015), Báo cáo Tổng kết công tác bảo trợ xã hội năm 2015 Khác
13. Đại học Lao động xã hội, UNICEF (2012), Hướng dẫn Quản lý trường hợp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Nội dung thông tin thu thập - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.1 Nội dung thông tin thu thập (Trang 47)
Bảng 2.3. Đánh giá những khó khăn trong quá trình thu thập thông tin - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.3. Đánh giá những khó khăn trong quá trình thu thập thông tin (Trang 49)
Bảng 2.2. Đánh giá về phương pháp thu thập thông tin - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.2. Đánh giá về phương pháp thu thập thông tin (Trang 49)
Bảng 2.5. Các tiêu chí đánh giá cuối kỳ trong QLTH đối với trẻ em mồ côi - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.5. Các tiêu chí đánh giá cuối kỳ trong QLTH đối với trẻ em mồ côi (Trang 55)
Bảng 2.6. Các tiêu chí kết thúc quy trình - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.6. Các tiêu chí kết thúc quy trình (Trang 56)
Bảng 2.7.  Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với  trẻ em mồ côi - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi (Trang 59)
Bảng 2.8. Các yếu tố thuộc về đặc điểm trẻ mồ côi - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.8. Các yếu tố thuộc về đặc điểm trẻ mồ côi (Trang 60)
Bảng 2.9. Các yếu tố thuộc về năng lực nhân viên - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.9. Các yếu tố thuộc về năng lực nhân viên (Trang 62)
Bảng 2.10. Năng lực đáp ứng của Trung tâm - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.10. Năng lực đáp ứng của Trung tâm (Trang 63)
Bảng 2.11. Nhận thức của cộng đồng chính quyền địa phương - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 2.11. Nhận thức của cộng đồng chính quyền địa phương (Trang 66)
Bảng 3.1. Kế hoạch chi tiết trợ giúp cho cháu  B.L.A - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng 3.1. Kế hoạch chi tiết trợ giúp cho cháu B.L.A (Trang 71)
BẢNG KHẢO SÁT  (Bảng hỏi dành cho nhân viên quản lý trường hợp) - Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm công tác xã hội thành phố cần thơ
Bảng h ỏi dành cho nhân viên quản lý trường hợp) (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w