1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội

97 370 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRỊNH THỊ NGUYỆT DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ VÀ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN CÁC VĂN PHÒNG THAM VẤN VÀ T

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ NGUYỆT

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ VÀ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN CÁC VĂN PHÒNG THAM VẤN VÀ TRỊ LIỆU TÂM LÝ TRẺ EM, QUẬN ĐỐNG ĐA,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành : CÔNG TÁC XÃ HỘI

Mã số : 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THÁI LAN

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ

tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” này là công trình nghiên cứu của

riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Thái Lan

Đề tài này chưa được công bố ở đâu và không trùng lặp với bất cứ đề tài nào đã được công bố

Các nội dung có liên quan đến các số liệu, trích dẫn đều được ghi rõ ở phần tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./

Hà Nội, tháng 3 năm 2017

Học viên

Trịnh Thị Nguyệt

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ VÀ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ 15

1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ 15

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ 17

1.3 Hệ thống pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ trẻ tự kỷ 23

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ VÀ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ TẠI CÁC VĂN PHÒNG THAM VẤN VÀ TRỊ LIỆU TÂM LÝ TRẺ EM, QUẬN ĐỐNG ĐA, TP HÀ NỘI 27

2.1 Giới thiệu về cơ sở tham gia nghiên cứu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 27

2.2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn ba cơ sở nghiên cứu trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội 31

2.3 Thực trạng nhu cầu dịch vụ công tác xã hội của trẻ tự kỷ 41

2.4 Thực trạng nhu cầu dịch vụ công tác xã hội của gia đình trẻ tự kỷ 44

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các dịch vụ CTXH đối với TTK và gia đình TTK tại ba cơ sở tư vấn, trị liệu TTK thuộc quận Đống Đa 52

Chương 3 TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ VÀ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ 56

3.1 Tiến trình công tác xã hội với cháu Nguyễn Xuân H 56

3.2 Một số nhận xét về quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ tại Văn phòng tham vấn, trị liệu tâm lý trẻ em 65

3.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội tại văn phòng tham vấn, tư vấn và trị liệu tâm lý 66

3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ 68

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1 Bảng số liệu trẻ tham gia khám sàng lọc, đánh giá mức độ phát triển đối với

TTK tại ba cơ sở năm 2016 32

Bảng 2.2 Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ kết nối, giới thiệu nguồn lực 38

Bảng 2.3 Đánh giá mức độ cần thiết của việc tư vấn, tham vấn cho cha mẹ TTK 45

Bảng 2.4 Đánh giá mức độ cần thiết của việc truyền thông cộng đồng về tự kỷ 48

Bảng 2.5: Đánh giá mức độ cần thiết của việc cung cấp dịch vụ trợ giúp TTK tại cộng đồng 52

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng tham vấn, trị liệu tâm lý trẻ em 27

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm SHARE 29

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Gia An 30

Sơ đồ 2.4 Quy trình trị liệu trẻ tự kỷ 33

Biểu đồ 2.1 Đánh giá mức độ hài lòng của cha mẹ khi sử dụng dịch vụ khám sàng lọc, đánh giá, trị liệu đối với trẻ tại ba cơ sở nghiên cứu 35

Biểu đồ 2.2: Đánh giá mức độ được cung cấp dịch vụ tư vấn, tham vấn 36

Biểu đồ 2.3 Đánh giá mức độ hiệu quả khi sử dụng dịch vụ tư vấn, tham vấn 37

Biểu đồ 2.4 Đánh giá mức độ cần thiết của việc cung cấp thông tin, kiến thức, 47

kỹ năng can thiệp trợ giúp trẻ tự kỷ của gia đình trẻ tự kỷ 47

Biểu đồ 2.5: Đánh giá mức độ cần thiết của việc kết nối, giới thiệu dịch vụ 50

trợ giúp trẻ tự kỷ 50

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ sinh thái của cháu Nguyễn Xuân H 58

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ phả hệ của Nguyễn Xuân H 58

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là những mầm non cần được quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hàng ngày và cũng là niềm vui, hạnh phúc, niềm hi vọng của mỗi gia đình và toàn xã hội Tuy nhiên, trong cuộc sống có nhiều vấn đề đã và đang làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của các em, trong đó có rối nhiễu phổ tự kỷ với trẻ em trong độ tuổi đến trường Tự kỷ hay còn được gọi là rối loạn tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển có thể được phát hiện ở các lứa tuổi khác nhau, đặc biệt là

ở độ tuổi trẻ nhỏ Một số trẻ có thể xuất hiện sớm các dấu hiệu của trẻ tự kỷ trong khi một số trẻ khác vẫn phát triển bình thường cho đến khoảng từ 15-30 tháng mới bắt dầu bị suy giảm các kỹ năng có được trước đó Trẻ em mắc chứng

tự kỷ thường không có giao tiếp, tương tác xã hội với những người khác Do vậy, sự phát triển về mọi mặt tâm lý, tình cảm và xã hội của các em đều hạn chế

Ở Việt Nam hiện chưa có số liệu thống kê toàn diện hay điều tra khảo sát nào về tự kỷ nhưng theo nhận định của các chuyên gia thì số trẻ bị tự kỷ được phát hiện có xu thế ngày một gia tăng so với các bệnh và dạng khuyết tật khác thường gặp ở trẻ em Tuy chưa có số liệu thống kê chính xác về vấn đề này nhưng nghiên cứu mô hình tàn tật ở trẻ em của Khoa phục hồi chức năng, Bệnh viên nhi trung ương (giai đoạn 2000-2007) cũng minh chứng cho thực trạng này

Số lượng trẻ mắc bệnh tự kỷ đến khám năm 2007 tăng gấp 50 lần so với thời điểm 7 năm trước Xu thế mắc cũng tăng nhanh từ 122% đến 268% trong giai đoạn 2000-2007 so với năm 2000 [72]

Tự kỷ không những gây khó khăn cho chính bản thân trẻ mà còn có tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến gia đình của trẻ tự kỷ Khi trong gia đình có trẻ tự

kỷ thì chính gia đình đó diễn ra những biến đổi lớn theo hướng tiêu cực Đây là một cú sốc lớn cho các bậc cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình Vì vậy, các gia đình có trẻ tự kỷ thường trải qua những lo lắng, căng thẳng và khủng hoảng với nhiều mức độ khác nhau Họ thường không biết phải làm gì hoặc không biết làm thế nào để tìm kiếm các nhà chuyên môn trợ giúp Bên cạnh

đó, thái độ thương hại hay tội nghiệp của những người thân quen, người xung quanh đối với trẻ và gia đình có trẻ tự kỷ lại càng làm cho gia đình suy nghĩ hơn

Trang 8

Những mâu thuẫn căng thẳng trong gia đình có trẻ tự kỷ có thể xảy ra giữa vợ với chồng, giữa bố mẹ với con cái xoay quanh bệnh tình và việc chăm sóc trẻ tự kỷ… Thêm vào đó, gánh nặng về kinh tế, thời gian chăm sóc trẻ tự kỷ cùng với những mâu thuẫn, những khó khăn tâm lý sẽ trở thành nguy cơ đe dọa hạnh phúc gia đình nếu gia đình không tìm ra được cách giải quyết vấn đề cho trẻ kịp thời

Hà Nội là một thành phố với đông dân cư sinh sống và có số lượng trẻ em lớn, vì vậy cũng gặp không ít những vấn đề về chăm sóc và bảo vệ trẻ em Liên quan đến chăm sóc và hỗ trợ trẻ tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội, hiện vẫn chưa có một khảo sát hay nghiên cứu cụ thể nào đi sâu vào nghiên cứu dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ nhằm mang đến cho các em

có một cuộc sống tươi đẹp hơn, gia đình các em có thêm động lực để chiến thắng căn bệnh của thời hiện đại Theo những thống kê gần đây cho thấy số trẻ em đến khám và điều trị tự kỷ khá đông Chính vì vậy, các Trung tâm tư vấn, trị liệu tâm

lý và phục hổi chức năng cho nhóm trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ đã được hình

thành trước nhu cầu của xã hội Theo điều tra của “Hội cứu trợ trẻ em tàn tật thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2014” tại địa bàn quận Đống Đa, với tổng số

trẻ khuyết tật là 293 trẻ, trong đó trẻ chậm phát triển trí tuệ là 126 trẻ (16% trẻ tự kỷ) [62] Chính vì vậy, các cơ sở tư vấn và trị liệu tâm lý trẻ em tại quận Đống

Đa như Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, Công ty cổ phần Tham vấn, Nghiên cứu và Tâm lý học cuộc sống (Trung tâm SHARE), Trung tâm Tư vấn và Giáo dục Gia An góp phần vào giải quyết các nhu cầu cần trợ giúp của trẻ

tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tại những cơ sở này, ngoài việc tạo điều kiện cho các em là trẻ tự kỷ được nâng cao năng lực hành vi của chính mình, các cơ sở còn tổ chức các lớp tư vấn, tham vấn cho các bậc cha mẹ có con em bị bệnh tự kỷ, giúp gia đình các em có cách nhìn tích cực và có kiến thức, kỹ năng đến gần hơn với con em mình, họ chính là những giáo viên đồng hành trong cuộc sống hàng ngày giúp các em hoà nhập cộng đồng và đã đạt được những kết quả nhất định Việc nắm vững hệ thống chính sách trợ giúp xã hội và các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trẻ em tự

kỷ và gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội sẽ là nền tảng quan trọng

Trang 9

trong quá trình can thiệp và giải quyết vấn đề cũng như trợ giúp nhóm đối tượng đặc biệt này có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ trợ giúp xã hội hiện có Ngoài việc tạo điều kiện cho các em nhận biết cơ bản về các hiện tượng, sự vật xung quanh mình, tô vẽ được thế giới quan như những trẻ em khác, các em còn

có cơ hội được hoà nhập vào môi trường học tập tại các trường học; các cơ sở tư vấn và trị liệu tâm lý còn tham vấn, tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ các kiến thức,

kỹ năng nhằm giúp trẻ tự kỷ hoà nhập cộng đồng

Tuy nhiên, trong quá trình trị liệu, giáo dục chuyên biệt, giúp các em hoà nhập cộng đồng gặp những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức gì sẽ đến với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ? Khả năng hoà nhập cộng đồng của trẻ tự kỷ tại các trường học như thế nào? Vai trò của nhân viên công tác xã hội ở các cơ sở này ra sao? Các chính sách trợ giúp xã hội của Đảng và Nhà nước đã thực sự đáp ứng hết nhu cầu của các em chưa và các tổ chức, cá nhân trong xã hội đã hỗ trợ

gì cho các em để từng bước tạo điều kiện và trợ giúp các gia đình có con bị tự kỷ thoát khỏi khó khăn về kinh tế, có thêm nhiều cơ hội để trị liệu cho trẻ Chính vì

lý do trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự

kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội”.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Việc nghiên cứu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và về TTK,

GĐTTK nói riêng đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm Trên thế giới, một số nước có mạng lưới cơ sở cung cấp DVCTXH cho TTK tương đối đa dạng và phát triển là Anh, Mỹ, Úc, Pháp Tổng quan các nghiên cứu tóm tắt dưới đây đưa ra bức tranh phân tích về thực trạng tiếp cận và cung cấp dịch vụ cho TTK

Nghiên cứu "Tiếp cận các dịch vụ, chất lượng chăm sóc, và tác động gia đình nuôi trẻ tự kỷ, các khuyết tật phát triển và vấn đề về sức khỏe tâm thần khác" của nhóm tác giả: Rini Vohra, Suresh Madhavan, Usha Sambamoorthi,

Claire St Peter, Đại học West Virginia, Hoa Kỳ (2013) chỉ ra rằng khi tiếp cận

Trang 10

dịch vụ thường gặp những khó khăn như: khó sử dụng dịch vụ, khó khăn trong việc được cung cấp thông tin liên tục và bảo hiểm không đầy đủ, chất lượng chăm sóc (thiếu sự phối hợp chăm sóc, thiếu việc ra quyết định chia sẻ, và không được kiểm tra thường xuyên), và tác động gia đình (tài chính, việc làm và gánh nặng thời gian) [57]

Cũng nghiên cứu của nhóm tác giả Rini Vohra, Suresh Madhavan, Usha Sambamoorthi, Claire St Peter, Đại học West Virginia, Hoa Kỳ (2013) với chủ đề

“Tiếp cận các dịch vụ, chất lượng chăm sóc và ảnh hưởng gia đình của những người chăm sóc trẻ em từ 3-17 tuổi bị chứng tự kỷ” Kết quả nghiên cứu cho thấy

TTK và GĐTTK gặp khó khăn khi tiếp cận với các dịch vụ (khó khăn trong việc

sử dụng dịch vụ, khó tiếp cận, thiếu nguồn chăm sóc Không đủ điều kiện chăm sóc, thiếu quyết định chia sẻ, và không kiểm tra định kỳ) và ảnh hưởng của gia đình (việc làm, tài chính, việc làm và thời gian) Người chăm sóc trẻ tự kỷ cũng gặp những khó khăn trong việc sử dụng dịch vụ, thiếu chăm sóc, bảo hiểm không đầy đủ, thiếu quyết định chia sẻ và phối hợp chăm sóc và ảnh hưởng xấu đến gia đình so với người chăm sóc trẻ khuyết tật phát triển khác [58]

Bài viết “Dịch vụ hỗ trợ xã hội và chi phí cho trẻ em bị tự kỷ” của tác giả

Bebbington A, Beecham J (2001) cung cấp thông tin về TTK được hỗ trợ bởi các phòng dịch vụ xã hội Anh dựa trên Khảo sát Nhu cầu Trẻ em trong 119 cơ quan,

6310 trẻ em được ghi nhận là có chẩn đoán về chứng tự kỷ và các vấn đề liên quan thì có khoảng ¼ số trẻ em bị chẩn đoán và khoảng một nửa số trẻ được hỗ trợ thực sự Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí hỗ trợ xã hội trung bình cho trẻ

tự kỷ có xu hướng khá cao, đặc biệt là so với trẻ khuyết tật khác [51]

Một tổ chức chuyên nghiên cứu về biện pháp can thiệp giúp cải thiện nhận thức ở TTK đã ghi nhận hiệu quả của phương pháp tương tác xã hội đối với TTK Nghiên cứu này được thực hiện tại một trường đại học ở Washington, nằm trong chuỗi chương trình chuyên biệt nhằm tìm hiểu về các phương pháp cải thiện nhận thức và phản ứng của bộ não trẻ tự kỷ Trưởng nhóm nghiên cứu, bà Geraldine Dawson cho rằng đối với những đứa trẻ mắc chứng tự kỷ thì sự can thiệp sớm của cộng đồng sẽ giúp các bé nhận được sự tương tác, quan tâm của

Trang 11

cộng đồng Bà Geraldine khuyên các nhà giáo dục và cha mẹ không nên chỉ chú trọng và một biện pháp can thiệp chuyên sâu đối với TTK mà quên đi sự tương tác xã hội, tương tác lẫn nhau của trẻ Các biện pháp này đều có tác dụng tích cực, can thiệp sớm có thể cải thiện sự phát triển của cả não bộ và hành vi ở trẻ tự

kỷ [73]

2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam có khá nhiều ấn phẩm, công trình nghiên cứu liên quan đến TTK và GĐTTK Phần dưới đây tác giả sẽ trình bày tổng quan nghiên cứu ở Việt Nam dưới hai dạng Thứ nhất, các đề tài nghiên cứu về đặc điểm, khó khăn tâm lý của TTK Thứ hai, các DVCTXH vai trò của CTXH đối với GĐTTK

Năm 2008, Bộ Y tế biên soạn bộ tài liệu Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, trong đó có cuốn “Phục hồi chức năng trẻ chậm phát triển trí tuệ” đây là một trong 20 cuốn hướng dẫn thực hành về “Phục hồi chức năng” các dạng tật thường gặp ở trẻ Cuốn tài liệu cung cấp kiến thức cơ

bản nhất về khái niệm, triệu trứng, cách phát hiện, các biện pháp chăm sóc

và “Phục hồi chức năng” cho trẻ chậm phát triển trí tuệ Ngoài ra tài liệu

còn cung cấp một số thông tin cơ bản về những nơi có thể cung cấp dịch

vụ cần thiết mà gia đình trẻ có thể tham khảo [49]

“Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Tp HCM” của Ngô Xuân Điệp

(2009) nghiên cứu nhận thức của TTK về một số sự vật và hiện tượng liên quan đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhằm xác định đặc điểm và mức độ nhận thức của TTK về một số sự vật và hiện tượng liên quan đến cuộc sống sinh hoạt đởi thường và đề xuất phương pháp tác động nhằm nâng cao khả năng nhận thức cho TTK [15]

“Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36 tháng tuổi” của Nguyễn Thị Hương Giang (2010) thực hiện tại Bệnh viện nhi

trung ương trong giai đoạn từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2010 bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang 251 TTK từ 18 tháng đến 36 tháng tuổi (i) Đặc điểm lâm sàng: Nam gặp nhiều hơn nữ với tỷ lệ Nam/ Nữ = 6,4/1 Tỷ lệ trẻ tự kỷ

Trang 12

ở mức độ nặng cao (85,7%) Trẻ tự kỷ thường có: Khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội như: Không giao tiếp bằng mắt (86,9%); Không biết gật đầu hoặc lắc đầu khi đồng ý hoặc phản đối (97,6%); Thích chơi một mình (94,8%); Không biết khoe khi được đồ vật (97,6%); Không đáp ứng khi được gọi tên (96,8%) Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp: Phát ra một chuỗi âm thanh khác thường (82,1%); Không biết chơi giả vờ (98,4%)) Có các mẫu hành vi bất thường:Thích quay bánh xe (70.1%); Thích đi nhón chân (61%) (ii) Các bất thường cận lâm sàng gồm: Nồng độ can xi trong máu giảm (56,8%); Điện não đồ có sóng bất thường (55,7%) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Dấu hiệu hay gặp của trẻ tự kỷ

từ 18 đến 36 tháng gồm: Chậm nói, phát âm từ vô nghĩa, không đáp ứng gọi tên, không giao tiếp mắt, thích chơi một mình, thích quay bánh xe, thích đi nhón chân; Giảm nồng độ can xi trong máu, điện não đồ có sóng bất thường [17]

“Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ của trẻ tự kỷ 5-6 tuổi” của tác giả

Đào Thị Thu Thủy (2012) đã mô tả thực trạng hành vi ngôn ngữ của trẻ tự

kỷ tuổi mẫu giáo nhằm giúp giáo viên hỗ trợ, chuyên gia giáo dục TTK… xác định được mức độ thực hiện hành vi ngôn ngữ của TTK góp phần nâng cao chất lượng giáo dục TTK, giúp TTK tham gia học hòa nhập Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức độ tự kỷ có ảnh hưởng đến hành vi ngôn ngữ, mỗi TTK khác nhau thì hành vi ngôn ngữ cũng khác nhau, hành vi ngôn ngữ có thể hình thành cho TTK được thông qua rèn luyện và củng cố; TTK có kỹ năng yêu cầu và bắt chước tốt là những tiền đề nòng cốt để dạy kỹ năng hành vi ngôn ngữ Ngoài ra tác giả còn đưa ra một số khuyến nghị trong việc can thiệp hành vi ngôn ngữ cho TTK về giáo dục, những điều cần thiết khi can thiệp hành vi ngôn ngữ cho TTK, những chú ý về môi trường học tập và phát triển kỹ năng vui chơi; thông qua các buổi tập huấn để giúp giáo viên, cha mẹ hiểu về tầm quan trọng của việc dạy hành

vi ngôn ngữ cho TTK để giúp TTK có khả năng hòa nhập cộng đồng ngay

từ lứa tuổi mầm non [42]

Cuốn sách “Trẻ tự kỷ - Những thiên thần bất hạnh” của tác giả Lê Khanh

(2004) được xem như một cuốn cẩm nang giúp các nhà tâm lý, giáo dục và các

Trang 13

bậc phụ huynh tìm hiểu về tình trạng tự kỷ, một hội chứng về tâm lý khiến trẻ sống khép kín, từ chối quan hệ với những người xung quanh, qua đó có thể tìm

ra một định hướng tốt hơn trong việc chăm sóc, giáo dục TTK [22]

Cuốn sách "Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ" của tác giả Phạm Toàn và Lâm

Hiếu Minh (2014) cung cấp những kiến thức bổ ích để có thể điều trị kịp thời và góp phần nuôi con trẻ tốt hơn Trong đó, phần quan trọng nhất là phần thực hành điều trị bệnh tự kỷ, trong phần này tác giả không chỉ hướng dẫn các kỹ thuật điều trị, kỹ thuật huấn luyện TTK về khả năng chú ý, về ngôn ngữ, về động cơ phát triển… mà còn đưa ra những thông tin và hướng dẫn người điều trị trực tiếp cho trẻ là cha mẹ hay người chăm sóc [28]

Nguyễn Hải Hữu (2016) nghiên cứu về “Công tác xã hội với trẻ em - Thực trạng và giải pháp”, đã chỉ ra nhu cầu tiếp cận DVCTXH của trẻ em, theo ước

tính cứ 5 trẻ em Việt Nam thì có 1 em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc có vấn đề

về sức khỏe tâm thần, cần được trợ giúp và cung cấp DVCTXH và nghiên cứu này cũng chỉ ra 20 loại dịch vụ CTXH với trẻ em [20]

Phùng Thị Thơm (2016), Luận văn thạc sỹ CTXH với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em bị tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên” đã phân tích thực trạng dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ, đề

xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối với trẻ tự kỷ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên [37]

Tuy nhiên, tiếp cận từ góc nhìn CTXH đối với TTK và gia đình TTK được nghiên cứu từ thực tiễn các cơ sở tham vấn, tư vấn và hỗ trợ tâm lý đang hoạt động trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội về việc làm thế nào để giúp các em (TTK) và gia đình TTK được tiếp cận sớm nhất với các dịch vụ CTXH nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và hòa nhập cộng đồng bền vững thì hầu như không có công trình nghiên cứu nào chính thức đề cập tới Đây là một trong những lý do thúc đẩy tác giả lựa chọn thực hiện nghiên cứu vấn đề này

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ công tác xã hội cho trẻ tự

kỷ và gia đình trẻ tự kỷ, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả triển khai dịch vụ công tác xã hội cho trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên đề tài hướng vào giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ CTXH cho TTK và GĐTTK đang sử dụng dịch vụ tại các cơ sở tư nhân và phương pháp CTXH cá nhân với việc can thiệp hỗ trợ TTK và GĐTTK

- (Khảo sát thực trạng) Nghiên cứu, đánh giá việc cung cấp DVCTXH với TTK và gia đình TTK tại ba cơ sở trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

- Xác định những yếu tố căn bản ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các DVCTXH tại các cơ sở tư vấn tham vấn và trị liệu tâm lý cho TTK

- Đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm tăng cường chất lượng DVCTXH cho TTK và gia đình TTK Các em (TTK) và gia đình cần, mong muốn những gì để nâng cao chất lượng cuộc sống, vượt qua những khó khăn và rào cản không chỉ về kinh tế mà còn giúp TTK hoà nhập cộng đồng một cách bền vững

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các

văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

4.2 Khách thể nghiên cứu

- 60 Trẻ em tự kỷ và Gia đình trẻ tự kỷ

Trang 15

- 6 cán bộ quản lý, nhân viên của ba cơ sở nghiên cứu và 12 cha/mẹ TTK đã/đang sử dụng dịch vụ tại ba cơ sở này

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề về

lý luận và thực trạng tiếp cận các DVCTXH cho TTK và GĐTTK, các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ CTXH đối với TTK và GĐTTK của ba cơ sở nghiên cứu trên các nội dung cơ bản: đảm bảo được tham vấn tư vấn và trị liệu tâm lý cho TTK và GĐTTK nhanh, chính xác, kịp thời và an toàn; Phương pháp CTXH cá nhân với việc can thiệp hỗ trợ TTK để giúp các em có cơ hội dần hoà nhập cộng đồng

- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên địa

bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2016 đến tháng 02/2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; quan

điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về chăm sóc giáo dục trẻ em Để hỗ trợ

cho TTK cần có sự kết hợp giữa các nhà chuyên môn thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau như Tâm lý học, Công tác xã hội, Giáo dục đặc biệt, Y tế Vì vậy, đề tài còn nghiên cứu theo hướng tiếp cận liên ngành

Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng hai lý thuyết nền tảng quan trọng thường được áp dụng trong công tác xã hội: lý thuyết nhu cầu và lý thuyết hệ thống

a) Lý thuyết nhu cầu:

Abraham Maslow (1908-1970), là nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người phát triển lý thuyết về nhu cầu của con người Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc

Trang 16

Nguồn: contacxahoi.net (1) Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về "thể lý" (physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi ; (2) Nhu cầu an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo; (3) Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy, muốn nhận được nhiều sự yêu thương từ gia đình, người thân, bạn bè; (4) Nhu cầu được quý trọng, tôn trọng (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng; (5) Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-actualization) - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, phát triển, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt

Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow trong nghiên cứu, tác giả tìm hiểu nhu cầu của TTK và gia đình TTK theo năm bậc thang về nhu cầu Với mỗi nấc thang nhu cầu đó, TTK và gia đình TTK mong muốn được đáp ứng những gì? Đáp ứng như thế nào? Bên cạnh đó vận dụng thuyết nhu cầu để đánh giá về việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản và nhu cầu nâng cao của TTK và gia đình TTK của ba cơ sở trợ giúp trẻ tự kỷ tại quận Đống Đa, từ đó đưa ra những kiến nghị

đề xuất để cải thiện dịch vụ của ba cơ sở này

Trang 17

b) Lý thuyết hệ thống:

Thuyết hệ thống được ứng dụng rộng rãi trong thực hành công tác xã hội Thuyết được nhà sinh vật học Ludwig von Bertalanffy (1901-1972) đề xuất vào năm 1928 Lý thuyết này nói lên mối liên kết tất yếu trong mạng xã hội giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với nhóm và ngược lại; bởi vì các cá nhân không thể tồn tại riêng lẻ mà phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ như môi trường gia đình, nhà trường, bạn bè, tổ chức xã hội… Vì vậy, CTXH chú trọng tới những hệ thống như vậy để giúp đỡ các cá nhân, nhóm

có vấn đề Các hệ thống luôn có sự tác động lên cá nhân, có thể đó là sự tác động tiêu cực hoặc tích cực Bên cạnh đó không phải tất cả mọi người đều có khả năng tiếp cận sự hỗ trợ như nhau về nguồn lực có từ các hệ thống tồn tại xung quanh

Tác giả vận dụng thuyết hệ thống để thấy rằng TTK và gia đình TTK chịu

sự tác động của nhiều hệ thống và mỗi cá nhân có khả năng tiếp cận khác nhau NVCTXH sẽ nhìn nhận xem TTK liên hệ chặt chẽ với yếu tố nào trong môi trường mà trẻ sinh sống từ đó ứng dụng vào việc rà soát, đánh giá các chính sách

hỗ trợ và các hoạt động trợ giúp TTK Song song với quá trình can thiệp với từng vấn đề cụ thể, NVCTXH có thể kết hợp, huy động được các nguồn lực trợ giúp có sẵn, những chính sách cần thiết để giúp cho quá trình vận động và thực hiện các chính sách trợ giúp TTK và gia đình TTK được hiệu quả

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu

Thu thập các tài liệu, thông tin, các công trình nghiên cứu từ các nguồn thông tin chính thống như sách, báo, tạp chí, mạng internet và các công trình nghiên cứu liên quan đến TTK, GĐTTK Đây là cơ sở cho việc xây dựng phương pháp khảo sát (điều tra), phân tích tâm lý TTK đang trong độ tuổi đến

trường, tìm hiểu thực trạng khó khăn của TTK tại ba cơ sở khi hoà nhập cộng đồng

5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với 60 gia đình TTK tại

03 cơ sở cung cấp DVCTXH cho TTK và gia đình TTK tại quận Đống Đa để

Trang 18

đánh giá nhu cầu cần trợ giúp và mức độ hiệu quả của các DVCTXH trong trợ giúp TTK và GĐTTK để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Để có kết quả nghiên cứu chính xác, khách quan toàn diện, tác giả trực tiếp phỏng vấn sâu dành cho 6 cán bộ quản lý và nhân viên của ba cơ sở nghiên cứu và 12 cha/mẹ TTK đã/đang sử dụng dịch vụ tại cơ sở nhằm tìm hiểu về nhu cầu cần trợ giúp DVCTXH, thực trạng các DVCTXH tại cơ sở nghiên cứu này

5.2.4 Phương pháp quan sát thực địa (đến thực tế địa bàn nghiên cứu)

Là phương pháp thu thập thông tin về TTK và gia đình TTK bằng cách quan sát các cơ sở tham gia vào nghiên cứu, đã được sự đồng ý của các khách thể nghiên cứu và các cơ sở Tác giả đi thực tế tại cơ sở tham dự các buổi trị liệu của trẻ để quan sát về các hoạt động tương tác giữa giáo viên với trẻ, với gia đình trẻ; quan sát sự tương tác giữa các TTK với nhau; sự tương tác giữa NVCTXH/cán bộ trị liệu với TTK và gia đìnhTTK tại cơ sở để đánh giá chất lượng dịch vụ đối với TTK; quan sát sự tiến bộ của trẻ qua các buổi trị liệu

5.2.5 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

Luận văn sử dụng các phương pháp CTXH cá nhân để nghiên cứu sâu một trường hợp TTK và GĐTTK đã sử dụng DVCTXH tại Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em để hiểu rõ hơn về quy trình và hoạt động cung cấp DVCTXH của cơ sở nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài nghiên cứu đã áp dụng hệ thống lý thuyết và phương pháp CTXH vào thực tiễn can thiệp trợ giúp TTK và GĐTTK tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, giáo dục cho TTK đặc biệt là ý nghĩa của việc TTK có nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng cuộc sống và có nhiều cơ hội để hoà nhập cộng đồng

Bên cạnh đó luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho nhân viên công tác xã hội (NVCTXH); sinh viên chuyên ngành CTXH; các cơ quan đoàn thể liên quan tới nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ; Nhân viên CTXH nắm vững hệ thống chính sách trợ giúp và các DVCTXH hỗ trợ TTK và GĐTTK

Trang 19

là nền tảng quan trọng trong quá trình tiến hành can thiệp và giải quyết vấn đề cũng như trợ giúp các em có cơ hội tiếp cận tới các dịch vụ hiện có nhanh nhất

và đầy đủ nhất

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Khi các tài liệu hướng dẫn thực hành về TTK và gia đình TTK còn hạn chế thì đề tài nghiên cứu này chính là tài liệu tham khảo, có ý nghĩa thực tiễn và hiệu quả trong thực hành nghề CTXH đối với TTK và gia đình TTK Sinh viên khoa CTXH các trường Đại học có thể tham khảo nghiên cứu này nhằm cung cấp DVCTXH hiệu quả cho TTK và GĐTTK tại cơ sở và cộng đồng

Bên cạnh đó, nghiên cứu góp phần thay đổi nhận thức của nhân viên đang làm CTXH tại các cơ sở tham vấn, tư vấn và hỗ trợ tâm lý cho TTK Nghiên cứu giúp họ nhận thức đúng về hoạt động CTXH chuyên nghiệp, ý thức được vai trò của mình trong các hoạt động đó Đó là nhân tố quyết định đảm bảo cho hoạt động trợ giúp xã hội có tính bền vững; đối tượng yếu thế có thêm cơ hội hòa nhập cộng đồng bền vững

6.3 Ý nghĩa đối với khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu giúp cho ba cơ sở tham gia nghiên cứu đánh giá lại kết quả cung cấp DVCTXH một cách khách quan, dựa trên nhu cầu và hệ thống các chính sách, dịch vụ liên quan Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu giúp cho các

cơ sở nhìn nhận và đưa ra những thay đổi trong việc cung cấp các dịch vụ cho TTK và GĐTTK ngày một tốt hơn hướng tới mở rộng và phát triển các cơ sở này theo hướng dịch vụ đạt chất lượng cao có vị thế trong lĩnh vực

Hơn nữa, nghiên cứu còn góp phần giúp cho bản thân TTK và gia đình các

em được nâng cao nhận thức, được tham gia vào đánh giá, đóng góp ý kiến cho DVCTXH mà mình sử dụng Nghiên cứu cũng giúp cho TTK và GĐTTK có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ hiện có để nâng cao chất lượng cuộc sống và hòa nhập cộng đồng

Trang 20

6.4 Ý nghĩa đối với tác giả nghiên cứu

Thông qua quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả nghiên cứu có thêm cơ hội học hỏi, trau dồi kỹ năng nghiên cứu khoa học Đây cũng là cơ hội tốt để tác giả tích lũy thêm các kiến thức về tự kỷ, những vấn đề mà TTK và GĐTTK đang gặp phải, thực trạng dịch vụ trợ giúp xã hội đối với TTK và GĐTTK hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ

Chương 2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ, gia đình trẻ tự kỷ tại các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

Chương 3: Tiến trình công tác xã hội cá nhân với trẻ tự kỷ và giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ

Trang 21

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI

VỚI TRẺ TỰ KỶ VÀ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ 1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ

1.1.1 Khái niệm trẻ em

Khái niệm trẻ em đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu khác nhau, tùy

theo mục đích sử dụng, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 1, Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của trẻ

em: “Trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn” [13]

Tại Điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định

“Trẻ em là người công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”[32]

Khái niệm “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” đã được Luật trẻ em quy định

Vì vậy, luận văn lựa chọn và sử dụng thống nhất khái niệm này

Quan niệm của Bleuler năm 1911: “Tự kỷ là khái niệm dùng để chỉ những người bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa mà sống với thế giới của riêng mình, bệnh nhân chia cắt với thực tế bên ngoài và lui

về thế giới bên trong, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn”

Quan niệm của Kanner: “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, là

sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống”

Trang 22

Theo tác giả Ngô Thanh Hồi: "Chứng tự kỷ ở trẻ em dùng để chỉ một chứng bệnh (ngày nay gọi là rối loạn) biểu hiện bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phương diện: Các chức năng tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng; Chức năng ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thường; Hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình, lặp đi lặp lại; Bệnh phát trước 36 tháng tuổi" [74]

Từ tháng 5 năm 2013, với sự ra đời của Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần phiên bản 5 (DSM-V) [19], tất cả các loại rối loạn tự

kỷ như rối loạn tự kỷ điển hình, rối loạn phân rã tuổi thơ, các rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu và hội chứng Asperger được tích hợp vào một ô chung tên là “rối loạn phổ tự kỷ”

Khái niệm trẻ tự kỷ trong luận văn này được tác giả đưa ra như sau: “Trẻ

tự kỉ là trẻ em dưới 16 tuổi bị mắc một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, trẻ bị tự kỷ có những rối loạn về nhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ

nhất là rối loạn về giao tiếp, quan hệ xã hội và hành vi”

1.1.3 Những dấu hiệu nhận biết của rối loạn tự kỷ

Theo Hội tâm thần nhi khoa Mỹ, những dấu hiệu báo động đỏ của rối loạn tự kỷ bao gồm:

1 Không bập bẹ trước 9 tháng

2 Không chỉ ngón trỏ trước 12 tháng

3 Không nói từ đơn lúc 16 tháng

4 Không nói từ đôi lúc 2 tuổi

5 Thoái lùi ngôn ngữ và kỹ năng xã hội ở bất kỳ thời điểm nào Thiếu giao tiếp mắt phù hợp tuổi

6 Thiếu biểu lộ niềm vui tình cảm

7 Thiếu chia sẻ quan tâm hay thích thú

8 Thiếu đáp ứng với tên gọi

9 Thiếu giao tiếp cử điệu

10 Nói chuyện nhịp, ngữ điệu bất thường

Trang 23

11 Hành vi rập khuôn như xoay tròn, vẫy tay, chơi tay không có ý nghĩa tương tác

12 Bận tâm dai dẳng về đồ chơi hoặc đồ vật [75]

1.1.4 Khái niệm gia đình trẻ tự kỷ

Khái niệm gia đình trẻ tự kỷ trong luận văn này chỉ gia đình hoặc cá nhân đang chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tự kỷ

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm Công tác xã hội

Theo Hiệp hội nhân viên Công tác xã hội quốc tế (IFSW, 2000), “Nghề CTXH thúc đẩy biến đổi xã hội, giải quyết vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người với con người và tăng cường năng lực, tự do của con người nhằm cải thiện điều kiện sống nói chung Bằng việc vận dụng các lý thuyết hành

vi của con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm con người giao tiếp với môi trường của mình Các nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là nền tảng cơ bản của nghề công tác xã hội” [21]

Theo Luật CTXH của Philippine “CTXH là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và

sự điều chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp”,

pháp luật của Philippine cũng đã quy định về điều này

Gần đây nhất, tháng 7/2014, Đại hội đồng Hiệp hội nhân viên CTXH quốc

tế và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo CTXH đã thống nhất

toàn cầu về định nghĩa nghề CTXH: “Công tác xã hội là một ngành khoa học và

là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi

xã hội và phát triển Nguyên tắc chủ đạo của CTXH là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội Trên nền tảng lý thuyết CTXH, khoa học xã hội, kiến thức bản địa và nhân văn, CTXH kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống” [76]

Từ những khái niệm trên, ta thấy rằng CTXH được tiếp cận theo những

hướng sau:

Trang 24

Thứ nhất, CTXH là một nghề, một khoa học ứng dụng, một dịch vụ xã hội

cung ứng cho các cá nhân, gia đình, nhóm người, cộng đồng khi họ gặp khó khăn mà bản thân họ chưa tìm được hướng giải quyết

Thứ hai, CTXH với quan điểm và trọng tâm là làm giảm bớt các vấn đề

khó khăn trong quan hệ giữa con người với nhau, làm phong phú thêm cho cuộc sống của họ thông qua mối quan hệ tương tác tích cực, giúp các cá nhân thực hiện các chức năng của bản thân, chức năng xã hội và giúp cá nhân, nhóm, cộng đồng có vấn đề có thể tự đứng vững được trên chính đôi chân của họ

Thứ ba, CTXH cung cấp các dịch vụ ở các cấp độ khác nhau Các hoạt

động ở cấp vi mô là hỗ trợ trực tiếp cá nhân, gia đình, nhóm; ở cấp trung mô là mang đến các dịch vụ hỗ trợ phát triển các nhóm lớn và cộng đồng nhằm tạo ra

sự thay đổi tốt hơn cho cộng đồng; ở cấp vĩ mô, CTXH tham gia xây dựng chính sách và tạo ra những thay đổi về cấu trúc thể chế, chính sách xã hội hướng tới đảm bảo công bằng xã hội và an sinh xã hội

1.2.1.2 Công tác xã hội cá nhân

Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp trợ giúp trong CTXH thông qua mối quan hệ tương tác trực tiếp 1-1 nhằm giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những thay đổi của môi trường xung quanh [14]

Mỗi cá nhân có sự độc lập riêng của cá thể đó với người khác, có đặc điểm riêng, mong muốn riêng và các nhu cầu riêng biệt Từ tính đặc trưng này

mà mục đích CTXH cá nhân là hướng tới giúp cá nhân thỏa mãn nhu cầu, tăng cường chức năng xã hội thông qua các biện pháp can thiệp Điều này có nghĩa là không chỉ tác động để cá nhân thay đổi, mà làm thay đổi tương tác giữa cá nhân

và môi trường để thích nghi, phù hợp với môi trường Khi cá nhân rơi vào tình huống khó khăn, gặp phải những vấn đề trong cuộc sống và họ không có khả năng tự giải quyết được vấn đề của mình khi đó họ cần đến sự giúp đỡ của xã hội Mục tiêu của CTXH cá nhân là hướng tới tạo nên sự tương tác tích cực của con người với môi trường xã hội, giúp cá nhân và gia đình tiếp cận được những nguồn lực trong cộng đồng, phát huy những nội lực và ngoại lực để tăng cường sự tương tác giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng với môi trường Quy trình DVCTXH trong trợ giúp cá nhân gồm: Tiếp cận thân chủ, thu thập thông tin, đánh giá, lập kế hoạch can thiệp, thực hiện kế hoạch can thiệp, lượng giá và kết thúc

Trang 25

1.2.1.3 Dịch vụ công tác xã hội

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013), dịch vụ công tác xã hội có thể được coi là một loại hình dịch vụ xã hội do các nhân viên công tác xã hội cung cấp [27].Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế được tác giả Hà Thị

Thư (2016) định nghĩa là "việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa

- khắc phục rủi ro và hoà nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội" [40,tr195] Như vậy, dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH do NVCTXH cung cấp thông qua việc sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường thực hiện chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội

1.2.1.4 Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ

Trên cơ sở phân tích những khái niệm về trẻ tự kỷ, khái niệm công tác xã hội, khái niệm dịch vụ công tác xã hội, tác giả đưa ra khái niệm về dịch vụ công tác xã hội đối với TTK như sau:

Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ là hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH mà ở đó NVCTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn nhằm trợ giúp trẻ bị tự kỷ, GĐTTK và xã hội nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường thực hiện chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ liên quan tới việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ tự kỷ

1.2.1.5 Dịch vụ công tác xã hội đối với gia đình trẻ tự kỷ

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm về DVCTXH đối

với GĐTTK như sau: Dịch vụ công tác xã hội đối với gia đình trẻ tự kỷ là hoạt động dịch vụ chuyên nghiệp trong lĩnh vực CTXH mà ở đó NVCTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng, phương pháp chuyên môn để trợ giúp, kết nối gia đình trẻ bị tự kỷ và xã hội nhằm nâng cao năng lực cho gia đình TTK trong việc trợ giúp trẻ tự kỷ thực hiện các quyền cơ bản của mình

Trang 26

1.2.1.6 Nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội dịch từ tiếng Anh (social worker) được hiểu là những người làm công việc xã hội và có trình độ được đào tạo từ cử nhân trở lên

Theo cuốn sách "Thuật ngữ Lao động - Xã hội" (2014), NVCTXH là những người được đào tạo chuyên môn về CTXH để hỗ trợ cá nhân và cộng đồng tiếp cận các chính sách và dịch vụ xã hội Nhiệm vụ của NVCTXH là tư vấn cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với cộng đồng, nghiên cứu xã hội, thiết kế chính sách xã hội NVCTXH còn đảm nhiệm vai trò khác nhau như khuyên bảo, người hỗ trợ, người tuyên truyền, người trung gian và người tạo điều kiện [3]

1.2.2 Các loại hình dịch vụ công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ

1.2.2.1 Dịch vụ khám sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá

Đây là loại hình dịch vụ rất quan trọng trong can thiệp trợ giúp TTK và

GĐTTK giải quyết vấn đề của trẻ Vì thông qua chẩn đoán, đánh giá sẽ xác định được mức độ phát triển của trẻ theo từng lứa tuổi và các rối loạn cũng như các vấn đề có liên quan để đánh giá nhu cầu toàn diện, khả năng của TTK cũng như gia đình trẻ, từ đó làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch can thiệp trợ giúp hiệu quả Dịch vụ này được cung cấp theo tiến trình sau:

Sơ đồ 1.1 Tiến trình khám sàng lọc, đánh giá nhu cầu, can thiệp trị liệu

trợ giúp trẻ tự kỷ

1.2.2.2 Dịch vụ can thiệp/ trị liệu

Trên cơ sở kế hoạch can thiệp tổng thể của trẻ, NVCTXH xây dựng kế

hoạch trị liệu từng tuần, từng tháng, 03-06 tháng cho từng trẻ dựa trên kết quả đánh giá nhu cầu toàn diện của mỗi trẻ, xác định mục tiêu, hoạt động, phương

Trang 27

pháp, thời gian và người thực hiện Căn cứ kế hoạch can thiệp/trị liệu, NVCTXH xây dựng giáo án trị liệu hàng ngày cho trẻ Hiện nay, tại các cơ sở trị liệu áp dụng một số phương pháp trị liệu cho TTK như sau:

(i) Phương pháp phân tích ứng dụng hành vi (ABA), mục tiêu cuối cùng là để giúp mỗi trẻ hình thành các kỹ năng cơ bản, giúp trẻ về lâu về dài, sống độc lập

và thành công ở mức có thể;

(ii) Phương pháp TEACCH - trị liệu và giáo dục TTK về giao tiếp;

(iii) Phương pháp PECS - hệ thống giao tiếp trao đổi hình;

(iv) Phương pháp câu chuyện xã hội;

(v) Phương pháp hoạt động trị liệu;

(vi) Phương pháp trò chơi không định hướng;

(vii) Phương pháp trị liệu ngôn ngữ và lời nói;

(viii) Phương pháp trị liệu nước;

(ix) Phương pháp trị liệu bằng âm nhạc, mỹ thuật, động vật;

(x) Phương pháp phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho TTK (more than words)

Như vậy có rất nhiều phương pháp trị liệu cho TTK, tuy nhiên NVCTXH cần phải đánh giá tình hình của trẻ để có thể chọn các phương pháp phù hợp nhất cho trẻ Có một số trẻ có những đặc điểm khác nhau nhưng mỗi trẻ đều có những nét đặc biệt riêng, trong trợ giúp TTK cần dựa vào tình trạng, mức độ, đặc điểm, khả năng và nhu cầu của mỗi trẻ để xây dựng kế hoạch trợ giúp trẻ được hiệu quả nhất

1.2.3 Cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho gia đình trẻ tự kỷ

1.2.3.1 Truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức

Nhân viên CTXH tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao

nhận thức đối với GĐTTK thông qua các cuộc thảo luận nhóm, cá nhân, tập huấn, chuyên đề và các phương tiện thông tin đại chứng như đài, báo, TV, internet, tờ rơi… nhằm giúp GĐTTK hiểu được những kiến thức, kỹ năng cơ bản trong việc trợ giúp trẻ

Trong các giai đoạn từ khi tiếp nhận thông tin đến khi chấp nhận, cùng con vượt qua những khó khăn của bản thân, cha mẹ có con tự kỷ có nhu cầu trợ

Trang 28

giúp về những thông tin hữu ích cho con và gia đình họ Những thông tin phụ huynh cần cung cấp có thể là những thông tin liên quan đến các triệu chứng, nguyên nhân, hậu quả, quá trình can thiệp cho trẻ… những thông tin về địa chỉ chuẩn đoán, can thiệp cho trẻ Thông tin về nơi có thể giao lưu, trao đổi dành cho các bậc phụ huynh, thông tin liên quan đến sự hỗ trợ, chính sách cho TTK cũng rất cần thiết với họ

1.2.3.2 Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp

Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động vận động, kết nối nguồn lực cơ

bản, các cơ sở cung cấp DVCTXH để trợ giúp gia đình trẻ được tiếp cận các dịch

vụ xã hội hiệu quả, các cơ quan, tổ chức đoàn thể tại địa phương Việc kết nối hiệu quả sẽ giúp gia đình giảm đi gành nặng về mặt tinh thần và vật chất trong quá trình trợ giúp trẻ hòa nhập cộng đồng, giúp TTK và gia đình TTK tiếp cận được chính sách của nhà nước, dịch vụ trợ giúp xã hội để giúp họ có thêm động

lực trong cuộc sống

1.2.3.3 Biện hộ, tiếp cận chính sách

Nhân viên CTXH cần giúp cho gia đình TTK nói ra được tiếng nói, quan

điểm hoặc đại diện cho cha mẹ có con bị tự kỷ đưa ra tiếng nói và cố gắng đảm bảo rằng quyền của TTK luôn được tôn trọng và nhu cầu của TTK luôn được đáp ứng cũng như mang lại những dịch vụ tốt nhất cho các em Ngoài ra, điều đó

sẽ góp phần thúc đẩy các cơ quan tổ chức cung cấp các dịch vụ đáp ứng quyền

và lợi ích hợp pháp cho các em, ví dụ như quyền đảm bảo học tập, được hòa nhập với cuộc sống, quyền được chăm sóc sức khỏe

1.2.3.4 Tham vấn/tư vấn cho gia đình trẻ tự kỷ

Dịch vụ tham vấn/tư vấn cho GĐTTK là một trong những dịch vụ quan

trọng, quyết định đến chất lượng trợ giúp TTK vì GĐTTK là người thường xuyên tiếp xúc, gần gũi với trẻ, giúp trẻ về cả vật chất và tinh thần Trong hoạt động tư vấn, NVCTXH cung cấp các thông tin về nguyên nhân, các dấu hiệu triệu trứng, các cách thức trị liệu đối với vấn đề TTK và GĐTTK đang gặp phải, cung cấp địa chỉ các cơ sở y tế và các lĩnh vực khác có liên quan tới việc giải quyết vấn đề của TTK Trong hoạt động tham vấn, NVCTXH sử dụng các kỹ

Trang 29

năng lắng nghe, khích lệ, đặt câu hỏi, tóm tắt phản hồi để giúp gia đình họ chia

sẻ mối quan tâm, sự lo lắng băn khoăn để giải tỏa được những lo lắng, bức xúc NVCTXH có thể sử dụng các liệu pháp hợp lý để giúp GĐTTK nâng cao nhận thức, thay đổi tư duy trong các hoạt động trợ giúp TTK

Để việc can thiệp cho TTK có kết quả tốt nhất rất cần có sự kết hợp của gia đình trẻ trong quá trình làm việc với TTK Đối diện với tình trạng của con mình, cha mẹ rất lo lắng vì chưa có nhiều kiến thức, kinh nghiệm để trợ giúp con Sự hỗ trợ của NVCTXH, các nhà giáo dục đặc biệt, nhà tâm lý sẽ giúp gia đình trẻ tích cực hơn trong việc dạy trẻ trực tiếp tại nhà cũng như tại các cơ sở trị liệu

1.3 Hệ thống pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ trẻ tự kỷ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc chăm

lo đời sống cho các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội và người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là với nhóm trẻ em cần sự bảo vệ, góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội bền vững Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

XI xác định: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân” [29]

Đến nay, nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến việc trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đã được xây dựng và ban hành

Luật chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em năm 2004 nêu rõ:

Điều 12: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức

Trang 30

Điều 41: Trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phải coi trọng việc phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; kịp thời giải quyết, giảm nhẹ hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em; kiên trì trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phục hồi sức khỏe, tinh thân và giáo dục đạo đức; phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được thực hiện chủ yếu tại gia đình hoặc gia đình thay thế [32]

Luật Người khuyết tật:

Tại Điều 4, Luật Người khuyết tật năm 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, trong đó ghi rõ người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; Được chăm sóc sức khỏe, phục hổi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao,

du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật

Tại Điều 5 về “Chính sách của Nhà nước về người khuyết tật” đã khẳng định: Hàng năm, Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chính sách về người khuyết tật Phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật Bảo trợ xã hội; trợ giúp người khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệ thông tin, tham gia giao thông; ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợ người khuyết tật là trẻ em, người cao tuổi Lồng ghép chính sách về người khuyết tật trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, PHCN Khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác tư vấn, chăm sóc người khuyết tật Khuyến khích hoạt động trợ giúp người khuyết tật Tạo điều kiện để tổ chức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật hoạt động [33]

Trang 31

Luật Giáo dục nghề nghiệp:

Tại Điều 27 về chính sách đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật nêu rõ: Nhà nước khuyến khích các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển người khuyết tật vào học hòa nhập; Khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập cơ

sở giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật Cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và được Nhà nước hỗ trợ về tài chính để đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; Được giao đất, cho thuê đất để xây dựng công trình sự nghiệp ở nơi thuận lợi cho việc học của người khuyết tật [35]

Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020, với mục tiêu phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Các hoạt động chủ yếu của Đề án là: xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội; củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội; xây dựng, hoàn thiện chương trình khung, giáo trình đào tạo cử nhân, sau đại học về công tác xã hội

Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 - 2020, nhằm huy động sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình, cộng đồng trợ giúp về vật chất, tinh thần, phục hồi chức năng cho

Trang 32

người tâm thần để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa người rối nhiễu tâm trí bị tâm thần góp phần bảo đảm an sinh xã hội

Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 - 2020, nhằm huy động sự tham gia của xã hội, gia đình, cộng đồng trong việc chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộc sống, có cơ hội thực hiện các quyền của trẻ em và hòa nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật; phát triển các hình thức chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng; từng bước thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với trẻ em bình thường tại nơi cư trú

Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020, nhằm hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân, tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội

Các văn bản nêu trên là những cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để các Bộ, Ngành và địa phương xây dựng và phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã trình bày và phân tích những khái niệm cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu như trẻ em, TTK, GĐTTK, CTXH, DVCTXH với TTK và GĐTTK Đồng thời cũng trong chương này, tác giả cũng đã giới thiệu bốn DVCTXH cơ bản cần được cung cấp trong trợ giúp TTK và GĐTTK bao gồm: Dịch vụ chẩn đoán, đánh giá, phát hiện sớm, can thiệp sớm, can thiệp trị liệu; Dịch vụ tham vấn, tư vấn cho GĐTTK; Dịch vụ kết nối nguồn lực trợ giúp, biện hộ, tiếp cận chính sách trợ giúp TTK và GĐTTK; Dịch vụ truyền thông, giáo dục, nâng cao nhận thức cho GĐTTK và cho cộng đồng để chống phân biệt kỳ thị với TTK và GĐTTK Căn cứ trên việc thao tác hoá những khái niệm cơ bản, DVCTXH với TTK và GĐTTK, chính sách xã hội trong quá trình

hỗ trợ TTK, tác giả sẽ thực hiện phân tích những dịch vụ mà ba cơ sở đã trợ giúp TTK và GĐTTK tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ, GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ TẠI CÁC VĂN PHÒNG THAM VẤN VÀ TRỊ LIỆU TÂM LÝ TRẺ EM, QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu về cơ sở tham gia nghiên cứu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

2.1.1 Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em

2.1.1.1 Thông tin chung

Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em thuộc Hội Khoa học tâm giáo dục Việt Nam Văn phòng đặt tại nhà số 5 ngõ 26 Trần Quý Cáp, quận

lý-Đống Đa, thành phố Hà Nội

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng tham vấn, trị liệu tâm lý trẻ em

Từ Sơ đồ 2.1 ta thấy, cơ cấu tổ chức của Văn phòng gồm có Ban giám

đốc (01 giám đốc, 01 phó giám đốc) và 04 phòng chuyên môn (Phòng Quản lý; Phòng Hành chính Tổng hợp; Phòng Trị liệu can thiệp và Phòng Đào tạo)

2.1.1.3 Đội ngũ cán bộ, nhân viên

Cán bộ, nhân viên tại Văn phòng là 11 người Trong đó, NVCTXH và giáo viên trực tiếp tham gia cung cấp DVCTXH trợ giúp TTK là 8 người

Trang 34

Các giáo viên của văn phòng tốt nghiệp đại học chính quy chuyên ngành Giáo dục đặc biệt, tâm lý học, tâm lý giáo dục, CTXH, và một số tình nguyện viên đến từ các trường Đại học Lao động Xã hội, Đại sư phạm Hà Nội

2.1.1.4 Nhiệm vụ

Nhiệm vụ chủ yếu của văn phòng là: Đánh giá, tư vấn, trị liệu tâm lý trực tiếp cho TTK, trẻ tăng động giảm chú ý, trẻ bị trầm cảm, trẻ chậm phát triển trí tuệ, chậm phát triển ngôn ngữ và các rối nhiễu tâm lý khác

Ngoài ra văn phòng còn mở các lớp phát triển kỹ năng sống, kỹ năng tư duy sáng tạo cho các bé lứa tuổi mẫu giáo và tiểu học vào các dịp nghỉ hè

2.1.1.5 Số lượng trẻ tự kỷ đang được trợ giúp

Số lượng trẻ tự kỷ đang được trợ giúp tại văn phòng là 60 em

2.1.2 Công ty CP Tham vấn, Nghiên cứu và Tâm lý học cuộc sống (gọi tắt là SHARE)

2.1.2.1 Thông tin chung

SHARE là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, can thiệp, hỗ trợ tâm lý nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, tinh thần cho cá nhân, tổ chức và cộng đồng SHARE được thành lập ngày 9/7/2008 theo Quyết định số: 0103025742 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội Văn phòng được đặt tại số 31, ngõ 84 Trần Quang Diệu, Đống Đa, Hà Nội SHARE được đánh giá là một trong những tổ chức năng động và có tính chất chuyên nghiệp trong lĩnh vực tâm lý học ở Việt Nam

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức

SHARE được tổ chức hoạt động theo cơ cấu gồm: Hội đồng quản trị (05 người), Ban giám đốc (01 Giám đốc và 02 Phó giám đốc) và 03 phòng nghiệp vụ (phòng Hành chính - Nhân sự; phòng Chuyên môn và phòng Truyền thông)

Trang 35

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm SHARE

2.1.2.3 Đội ngũ cán bộ, nhân viên

Cán bộ nhân viên làm việc hiện tại gồm 07 người với trình độ 02 cử nhân,

04 thạc sỹ và 01 nghiên cứu sinh Ngoài ra, SHARE còn nhận được sự hỗ trợ, tư vấn về tổ chức, chuyên môn từ các chuyên gia trong nước và quốc tế có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tâm lý lâm sàng, điều trị về lo âu, trầm cảm, trẻ

tự kỷ, trẻ chậm phát triển trí tuệ và lĩnh vực chỉnh âm trong trợ giúp TTK

2.1.2.4 Nhiệm vụ chủ yếu

SHARE cung cấp các dịch vụ tham vấn tâm lý cá nhân và nhóm, trong đó

có dịch vụ hỗ trợ TTK và GĐTTK; ngoài ra cơ sở còn thực hiện các nghiên cứu,

tổ chức các chương trình đào tạo trong các lĩnh vực như: Rối nhiễu tâm lý; Phát triển cá nhân; Mâu thuẫn, lạm dụng và tổn thương tâm lý; Tái hòa nhập xã hội; Vấn đề khuyết tật và nhóm yếu thế; Những vấn đề của vị thành niên; Những vấn

đề trong mối quan hệ gia đình; Những vấn đề về giáo dục

2.1.2.5 Số lượng trẻ tự kỷ đang được trợ giúp

Số lượng trẻ tự kỷ đang được trợ giúp tại SHARE là 45 em

2.1.3 Trung tâm Tư vấn và Giáo dục Gia An

2.1.3.1 Thông tin chung

Trang 36

Trung tâm tư vấn và giáo dục Gia An (gọi tắt là Trung tâm Gia An) được thành lập tháng 12/2015 trực thuộc Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam, ra đời trên ý tưởng thành lập một doanh nghiệp xã hội, hướng tới cộng đồng của một nhóm các chuyên gia và giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm làm việc với

trẻ có nhu cầu đặc biệt

2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Gia An

Trung tâm được tổ chức hoạt động theo cơ cấu gồm: Ban giám đốc (01 Giám đốc, 01 Phó giám đốc) và 04 phòng nghiệp vụ (Phòng hành chính; Phòng chuyên môn, Phòng can thiệp trị liệu; Phòng đào tạo)

2.1.3.3 Đội ngũ cán bộ, nhân viên

Hiện nay trung tâm có 12 cán bộ nhân viên, trong đó có 06 cán bộ là cử nhân giáo dục đặc biệt, 02 cử nhân tâm lý học, 01 chuyên viên trị liệu, 01 giáo viên mầm non và 02 chuyên gia tâm lý học

2.1.3.4 Nhiệm vụ

Trung tâm Gia An thực hiện các nhiệm vụ trong trợ giúp trẻ em có nhu cầu đặc biệt, gồm: Phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ, tăng động, chậm phát triển trí tuệ; Can thiệp giúp trẻ chậm nói, chỉnh ngọng; Phát hiện và trị liệu cho trẻ có khó khăn về tâm lý, tư vấn tâm lý; Đánh giá về sự phát triển của trẻ;

Trang 37

Tư vấn cho các phụ huynh về các phương pháp giáo dục trẻ; Liên kết với các trường mần non trong việc can thiệp hỗ trợ cho trẻ; Chăm sóc, giáo dục kỹ năng cho nhóm trẻ đặc biệt; Kết hợp với các đơn vị tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức xã hội về nhóm trẻ này; Tư vấn cho các bậc phụ huynh về cách chăm sóc trẻ em nói chung và TTK nói riêng; Là cơ sở thực hành, đào tạo cho sinh viên về trẻ em; Nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu khoa học trong công tác hỗ trợ trẻ em

2.1.3.5 Số lượng trẻ đang được trợ giúp

Số lượng trẻ tự kỷ đang được trợ giúp tại Trung tâm là 30 em

2.2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự

kỷ từ thực tiễn ba cơ sở nghiên cứu trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội

2.2.1 Thực trạng dịch vụ khám sàng lọc, đánh giá, can thiệp trị liệu đối với trẻ tự kỷ

Qua trao đổi và chia sẻ với cán bộ quản lý của ba cơ sở về dịch vụ khám sàng lọc, đánh giá đối với TTK thì dịch vụ này đều được thực hiện tại cơ sở Bà Nguyễn Vân A cho biết:

“Hàng năm cơ sở đều phối hợp với các trường mầm non trên địa bàn để tổ chức chẩn đoán, đánh giá mức độ phát triển của trẻ, dựa vào các kết quả đánh giá này Trung tâm sẽ xây dựng kế hoạch can thiệp trị liệu phù hợp cho từng em”

(Nguyễn Vân A (nữ), CBQL-Trung tâm Gia An)

Ngoài ra, một nhân viên của cơ sở khác cũng chia sẻ “Việc chẩn đoán, đánh giá mức độ phát triển của trẻ rất được cha mẹ trẻ quan tâm, nhiều cha mẹ còn khuyết khích cơ sở tổ chức đánh giá hai lần/năm” (Nguyễn Thị H (nữ), nhân

viên trị liệu-VP Tham vấn, trị liệu Tâm lý Trẻ em)

Như vậy, việc nắm bắt được nhu cầu của gia đình trẻ cũng như tầm quan trọng của việc chẩn đoán, đánh giá mức độ phát triển đối với TTK là rất cần thiết Chính vì thế, các cơ sở cần kết hợp với các trường mẫu giáo, trường tiểu học để tổ chức cung cấp dịch vụ chẩn đoán, đánh giá, can thiệp đối với các em

có triệu chứng mắc bệnh tự kỷ Ngoài ra, đối với bất kỳ TTK nào trước khi bước vào giai đoạn được xây dựng kế hoạch trị liệu phù hợp thì đều phải được kiểm

Trang 38

tra, chẩn đoán, đánh giá mức độ và phân loại bệnh Dựa trên các kết quả đánh giá đó cán bộ trị liệu sẽ thực hiện các quy trình can thiệp cụ thể

1 Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em 200

(Nguồn: Số liệu điều tra của nghiên cứu, 2017)

Bảng 2.1 Bảng số liệu trẻ tham gia khám sàng lọc, đánh giá mức độ phát triển

đối với TTK tại ba cơ sở năm 2016

Kết quả thống kê trên cho thấy trong năm 2016, các cơ sở nghiên cứu đã khám sàng lọc, chẩn đoán và đánh giá với nhiều trẻ Cụ thể với Văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em khám sàng lọc cho 200 trẻ; SHARE khám sàng lọc cho 234 trẻ và Trung tâm Gia An khám sàng lọc cho 285 trẻ Theo đánh giá từ phía chuyên gia và kết quả quan sát thực địa đều ghi nhận việc thực hiện các quy trình khám sàng lọc, chuẩn đoán, đánh giá, can thiệp trị liệu đã được thực hiện theo những tiến trình cơ bản sau:

Bước 1: Phát hiện trẻ có dấu hiệu nghi ngờ: Những trẻ bình thường hoặc

trẻ có nguy cơ bị tự kỷ được sàng lọc phát triển bằng công cụ sàng lọc

Bước 2: Xác định trẻ tự kỷ: Xác định trẻ có dấu hiệu bị tự kỷ đồng thời

xác định nhu cầu can thiệp y tế, giáo dục và xã hội Những trẻ bị nghi ngờ tự kỷ hoặc trẻ bình thường cần được hẹn để sàng lọc lại vào mốc phát triển kế tiếp sau

Bước 3: Can thiệp phù hợp: Sau khi xác định mức độ của trẻ tự kỷ,

chuyên gia thiết lập mục tiêu, xây dựng kế hoạch can thiệp riêng cho từng trẻ tùy thuộc vào khả năng tương tác của từng trẻ Tuy nhiên, ba cơ sở trên luôn hướng dẫn các gia đình cho trẻ đi khám và trị liệu trong độ tuổi từ 0-3 tuổi, đây là độ tuổi vàng để trẻ có thể phục hồi tốt, dễ hòa nhập hơn khi trẻ bước qua giai đoạn này

Ba cơ sở đều áp dụng quy trình quản lý trường hợp vào quy trình can thiệp trị liệu cho TTK tại cơ sở, gồm: Tiếp nhận thân chủ Đánh giá vấn đề Lập kế hoạch can thiệp Triển khai kế hoạch can thiệp Lượng giá và kết thúc

Trang 39

Sơ đồ 2.4 Quy trình trị liệu trẻ tự kỷ

Qua quan sát và đánh giá tác giả thấy rằng cả ba cơ sở đều có điểm chung

là có quy trình tiếp nhận, can thiệp rõ ràng đối với TTK, điều này giúp gia đình các em nắm được từng giai đoạn trị liệu của trẻ một các cụ thể để có thể phối hợp một cách tốt nhât Điểm nổi bật của ba cơ sở này là cả ba cơ sở đều có đội ngũ cố vấn chuyên môn có kinh nghiệm để tư vấn trong quá trình trị liệu cho trẻ Trên thực tế, mỗi một cơ sở đều có một thế mạnh khác nhau trong quá trình hoạt động của mình Văn phòng tư vấn và trị liệu tâm lý cho trẻ có thế mạnh trong thực hiện trị liệu PHCN cho TTK, rất nhiều trẻ đã được trị liệu hiệu quả tại

cơ sở Chia sẻ với tác giả, bà cháu T đang trị liệu tại cơ sở có nói: “Cháu T đã được khám và theo điều trị tại rất nhiều nơi trong hai năm qua nhưng chưa có nhiều tiến triển,, từ khi cháu T được trị liệu ở đây tôi thấy cháu tiến bộ rõ rệt, cháu đã nói được những từ đơn, bớt tăng động nhiều hơn cô ạ!” (Phạm Thị N

(nữ), 56 tuổi, Sơn La)

Bên cạnh đó, Trung tâm Gia An có thế mạnh về khám sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá mức độ phát triển của trẻ tự kỷ Lãnh đạo Trung tâm trực tiếp tham gia kiểm tra, đánh giá mức độ phát hiện trẻ và hỗ trợ xây dựng kế hoạch can thiệp trị liệu đối với từng trẻ nên rất thuận lợi cho trẻ và gia đình trẻ

2 Đánh giá vấn đề

4 Thực hiện can thiệp

3 Lập kế hoạch Can thiệp

5 Lượng giá,

kết thúc

1 Tiếp nhận/tiếp cận thân chủ

Trang 40

“Việc tham gia trực tiếp để khám sàng lọc, chuẩn đoán, đánh giá mức độ cho trẻ tự kỷ rất thuận lợi cho đối tượng khi có chúng tôi Bởi chúng tôi có chuyên môn và thâm niên lâu năm làm việc trong lĩnh vực này Chúng tôi sẽ là người phát hiện, có phác đồ trị liệu nhanh, chính xác và đưa ra những quyết định kịp thời khi các em và gia đình cần hỗ trợ về nhiều mặt” (Nguyễn Vân A

(nữ), CBQL,Trung tâm Gia An)

Trong khi đó, SHARE có lợi thế hơn các cơ sở khác khi có sự hỗ trợ chuyên môn từ những chuyên gia nước ngoài, điều này giúp Trung tâm có những

kỹ thuật trị liệu cập nhật và được chuyên gia nước ngoài hỗ trợ trong quá trình đánh giá, trị liệu cho trẻ, đặc biệt SHARE có cung cấp dịch vụ can thiệp cho trẻ

em nước ngoài sống tại Việt Nam Chị Lê Hồng H ở Phố Hào Nam, Hà Nội cho

biết:“Gia đình chị đã đưa cháu K đến nhiều cơ sở khám và điều trị trong đó có

cả các cơ sở công lập nhưng chị rất thích dịch vụ khám và trị liệu ở đây, vì đến đây được đón tiếp chu đáo, thủ tục nhanh, gọn lại có sự hỗ trợ chuyên môn từ các chuyên gia nước ngoài nên chị và gia đình rất yên tâm về phác đồ trị liệu Kết quả, sau 03 tháng cháu K đã có thể thể nói rõ được những từ “Bố, mẹ, ông,

bà, chị” và biết thể hiện đồng ý hay không đồng ý việc gì ” (Lê Hồng H (nữ),

Mẹ cháu K (nam, 4 tuổi), Hà Nội)

Tuy nhiên, không phải gia đình nào có con bị bệnh tự kỷ cũng có cơ hội để

sử dụng các dịch vụ tư nhân như các cơ sở này vì thời gian điều trị bệnh lâu dài, giá thành cao so với mức thu nhập của lao động bình thường Qua tìm hiểu các gia đình đến khám sàng lọc lúc ban đầu thì không phải 100% các gia đình có thể

tiếp nhận dịch vụ từ các cơ sở này Anh Cao văn Th chia sẻ: “Tôi thấy mọi người mách đến đây khám và điều trị cho những cháu giống như con tôi rất hiệu quả Tôi đã thấy như vậy khi đến đây, nhưng gia đình tôi không thể đủ kinh phí để cho cháu điều trị lâu dài ở đây được”(Cao văn Th (nam) , 35 tuổi, Ba Vì - có

con trai 5 tuổi bị tự kỷ)

Dịch vụ khám sàng lọc, chẩn đoán, đánh giá và can thiệp trị liệu của ba cơ

sở nhìn chung đều được các gia đình đánh giá cao

Ngày đăng: 13/06/2017, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Cục Bảo trợ xã hội, Học viện Xã hội châu á, Unicef (2014), “Công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình”, chương trình đào tạo cán bộ quản lý công tác xã hội cấp cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình”
Tác giả: Cục Bảo trợ xã hội, Học viện Xã hội châu á, Unicef
Năm: 2014
15. Ngô Xuân Điệp (2009), Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Tp. HCM, Luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhận thức của trẻ tự kỷ tại Tp. HCM
Tác giả: Ngô Xuân Điệp
Năm: 2009
16. Nguyễn Minh Đức (2009), Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ con của trẻ có nét tự kỷ ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khoảnh khắc lóe sáng trong tương tác mẹ con của trẻ có nét tự kỷ ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Năm: 2009
17. Nguyễn Thị Hương Giang (2010), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36 tháng tuổi, Đề tài nghiên cứu, Bệnh viện Nhi Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ từ 18 đến 36 tháng tuổi
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Giang
Năm: 2010
18. Vũ Bích Hạnh (2004), Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu, Nxb Y học – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hành âm ngữ trị liệu
Tác giả: Vũ Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Y học – Hà Nội
Năm: 2004
19. Vũ Thị Bích Hạnh (2012), Giáo trình trung cấp nghề: Công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trung cấp nghề: Công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ
Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2012
20. Nguyễn Hải Hữu (2016), “Công tác xã hội với trẻ em - Thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác xã hội với trẻ em - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Năm: 2016
21. Trần Văn Kham (2008), Hiểu về quan niệm công tác xã hội, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu về quan niệm công tác xã hội
Tác giả: Trần Văn Kham
Năm: 2008
22. Lê Khanh (2004), Trẻ tự kỷ - Những thiên thần bất hạnh, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trẻ tự kỷ - Những thiên thần bất hạnh
Tác giả: Lê Khanh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2004
23. Võ Thị Khoái, Đặc điểm, nhu cầu của trẻ chậm phát triển trí tuệ hay trẻ khuyết tật trí tuệ, Tài liệu tập huấn, trường chuyên biệt Gia Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm, nhu cầu của trẻ chậm phát triển trí tuệ hay trẻ khuyết tật trí tuệ
24. Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Lê Trang, Nguyễn Thị Thái Lan (2009), Nhập môn Công tác xã hội, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Lê Trang, Nguyễn Thị Thái Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động- Xã hội
Năm: 2009
25. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2010
26. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2012
27. Bùi Thị Xuân Mai (2013), Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội, Đề tài khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2013
28. Lâm Hiểu Minh, Phạm Toàn (2014), Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ, Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ
Tác giả: Lâm Hiểu Minh, Phạm Toàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2014
31. Lê Văn Phú (2005), Nhập môn Công tác xã hội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
33. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số 51/2010/QH12: Luật Người khuyết tật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 51/2010/QH12
13. Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em. https://www.unicef.org/vietnam/ Link
63. International Federation Association of Social Workers (2014). Global Definition of Social Work. http://ifsw.org/policies/definition-of-social-work Link
75. International Federation Association of Social Workers (2014). Global Definition of Social Work. http://ifsw.org/policies/definition-of-social-work Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Tiến trình khám sàng lọc, đánh giá nhu cầu, can thiệp trị liệu - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Sơ đồ 1.1. Tiến trình khám sàng lọc, đánh giá nhu cầu, can thiệp trị liệu (Trang 26)
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Văn phòng tham vấn, trị liệu tâm lý trẻ em - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Văn phòng tham vấn, trị liệu tâm lý trẻ em (Trang 33)
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm SHARE - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Sơ đồ 2.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm SHARE (Trang 35)
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Gia An - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Sơ đồ 2.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Gia An (Trang 36)
Sơ đồ 2.4. Quy trình trị liệu trẻ tự kỷ - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Sơ đồ 2.4. Quy trình trị liệu trẻ tự kỷ (Trang 39)
Bảng 2.2. Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ kết nối, giới thiệu nguồn lực - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Bảng 2.2. Đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ kết nối, giới thiệu nguồn lực (Trang 44)
Bảng 2.4: Đánh giá mức độ cần thiết của việc cung cấp dịch vụ trợ giúp TTK - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Bảng 2.4 Đánh giá mức độ cần thiết của việc cung cấp dịch vụ trợ giúp TTK (Trang 58)
Sơ đồ 3.1:  Sơ đồ sinh thái của cháu Nguyễn Xuân H  Chú thích: - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ sinh thái của cháu Nguyễn Xuân H Chú thích: (Trang 64)
Hình bé - Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ từ thực tiễn các văn phòng tham vấn và trị liệu tâm lý trẻ em, quận đống đa, thành phố hà nội
Hình b é (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w