1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh quảng nam

117 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi thực hiện Luận văn “Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễntỉnh Quảng Nam”thông qua những trải nghiệm của tôi, từ cuộc sống gia đình tôi: ba, mẹ, các

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THỊ HOÀI NHI

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THỊ HOÀI NHI

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN HỮU MINH

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội về “Quản lýCông tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các

đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi thuộc thế hệ may mắn được sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, không phải chứng kiến cảnh bom rơi, máu đổ, nhưng tôi lớn lên, trưởng thành từ môi trường gia đình và quê hương đi qua chiến tranh với vô vàn những hy sinh, mất mát nhưng cũng rất đỗi anh hùng,bất khuất… Tôi càng thấu hiểu hơn những hy sinh, những điều tốt đẹp, vinh quang và hết sức tự hào đó khi được học về công tác tác xã hội trong đó có công tác xã hội đối với người có công với cách mạng Hiện nay, công tác xã hội, quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng vẫn còn là vấn đề rất mới với nhiều người, kể cả đối với người làm chuyên môn và đối với người có công với cách mạng, bởi vì một mặt đất nước ta đi qua chiến tranh không giống hoàn toàn với các quốc gia khác, mặt khác hệ thống lý luận, lý thuyết

về công tác xã hội, quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng của thế giới và nước ta còn rất ít; đội ngũ con người làm chuyên môn về các công tác liên quan đến người có công với cách mạng đa số đều là những người đi ra từ chiến tranh nên chuyên môn, nghiệp vụ được hình thành từ thực tiễn, từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ít dựa trên những lý thuyết, lý luận nền tảng

Tôi thực hiện Luận văn “Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễntỉnh Quảng Nam”thông qua những trải nghiệm của tôi, từ cuộc sống gia đình tôi: ba, mẹ, các bác, cô, chú, cậu, dì của tôi là những người tham gia hoạt động cách mạng, có công giúp đỡ cách mạng, tham gia chiến đấu giải phóng quê hương, đất nước; từ những trải nghiệm trong quá trình công tác của tôi tại ngành lao động, thương binh và xã hội tỉnh Quảng Nam về công tác quản lý công tác xã hội, quản lý và thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng và trên cơ sở kết quả điều tra, phân tích

Quá trình thực hiện nghiên cứu, làm Luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi đã gặp không ít khó khăn, trở ngại về tài liệu nghiên cứu, thời gian, xử lý số liệu mẫu thống kê, kỹ thuật phân tích số liệu, phương pháp phỏng vấn, hoạt động trao đổi thông tin, đi lại; vừa làm Luận văn vừa phải hoàn thành nhiệm vụ do cơ quan, tổ chức phân công Tuy nhiên, được sự hướng dẫn, giúp đỡ, phối hợp chu đáo, tận

Trang 5

tình, sự hỗ trợ, động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi của quý thầy cô, gia đình, đồng chí, đồng nghiệp,bạn bè và nhất là các bác, các cô, các chú- những người có công với cách mạng, các tập thể, tổ chức liên quan đến người có công với cách mạng trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi đã hoàn thành Luận văn của mình

Với tình cảm trân trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến quý thầy cô, gia đình, đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè, các bác, các cô, các chú những người có công với cách mạng, các tập thể, tổ chức liên quan đã hỗ trợ tôi hoàn thành Luận văn này

- Tôi trân trọng và chân thành cảm ơn GS.TS Nguyễn Hữu Minh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

- Tôi chân thành cảm ơn các thầy cô, các nhà khoa học đang công tác tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện về thời gian cũng như hỗ trợ các tài liệu học tập cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

- Tôi trân trọng biết ơn các bác, các cô, các chú là người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh, các anh, chị em đang công tác tại Trung tâm Nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công Quảng Nam, các anh chị Trưởng phòng LĐ- TB và XH các huyện, thị xã, thành phố; đội ngũ nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội đã tạo điều kiện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện Luận văn

- Trân trọng cảm ơn các bác, các cô, các chú người có công với cách mạng

đã tin tưởng, hỗ trợ, hợp tác phỏng vấn

- Tôi chân thành cảm ơn gia đình tôi, lãnh đạo Sở Lao động-Thương binh và

Xã hội tỉnh Quảng Nam, đồng chí, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, khích lệ, nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn Luận văn này không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học để Luận văn của tôi được hoàn chỉnh, có thể đóng góp một phần tích cực cho quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng trong thời gian tới

Trân trọng cảm ơn./.

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 10

1.2 Nhu cầu và đặc điểm của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 11

1.3 Nội dung quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 14

1.4 Các yếu tố chi phối quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 26

Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 28

2.1 Thực trạng và nhu cầu của Người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam 28

2.2 Thực trạng quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 43

2.3 Đánh giá quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam 51

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 60

3.1 Giải pháp về xây dựng chương trình hỗ trợ công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 60

3.2 Giải pháp về tổ chức quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 61

3.3 Giải pháp về tổ chức công tác nhân sự trong công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng 62

3.4 Giải pháp về tổ chức các hoạt động hỗ trợ Người có công với cách mạng 63

3.5 Giải pháp về ra các quyết định trong việc hỗ trợ 66

3.6 Giải pháp về lưu trữ sổ sách hồ sơ, lập các báo cáo 67

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LĐ-TB và XH Lao động – Thương binh và Xã hội

PL – UBTVQH Pháp lệnh - Ủy ban Thường vụ Quốc hội

VBHN-VPQH Văn bản hợp nhất- Văn phòng Quốc hội

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.2 Thu nhập ngoài trợ cấp ƣu đãi của NCCVCM 34 Biểu đồ 2.3 Những khó khăn gia đình NCCVCM đang gặp phải 36

Biểu đồ 2.6 So sánh mức độ hiểu biết về đặc trƣng cơ bản của tổ

chức giữa Nhà quản lý và Nhân viên CTXH

49

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Do hậu quả chiến tranh, hiện nay cả nước ta có trên 8,8 triệu đối tượng người

có công với cách mạng (NCCVCM), chiếm gần 10% dân số; trong đó có trên 1,5 triệu NCCVCM đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng của Nhà nước Tuy vậy, vì những nguyên nhân khách quan và chủ quan, vẫn còn một số trường hợp chưa được xác nhận và giải quyết chế độ; khoảng 4% NCCVCM và gia đình vẫn còn khó khăn trong cuộc sống

Quảng Nam là địa phương chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhất là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; là tỉnh có số lượng đối tượng chính sách người có công với cách mạng đông (chiếm trên 20% dân số) Trong 41 năm qua, cùng với nỗ lực phấn đấu, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sau 20 năm trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, Đảng bộ, chính quyền tỉnh Quảng Nam luôn xác định công tác Thương binh liệt sĩ, người có công là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên và đã chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người có công, góp phần thực hiện tốt công tác Đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước Những việc làm thiết thực như tạo điều kiện để NCCVCM tiếp cận chính sách vay vốn phát triển sản xuất; xây dựng, sửa chữa, tặng nhà tình nghĩa, chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện tốt chính sách ưu đãi giáo dục…và những việc làm này có thể nói ít nhiều mang hơi hướng của công tác xã hội Mức sống của NCCVCM, gia đình người có công ở địa phương bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú Song, với điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, cộng thêm vào đó là các hoạt động trợ giúp còn mang nặng tính hình thức, tính phong trào…, bởi vậy, việc chăm sóc, giúp đỡ mới chỉ có thể đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của NCCVCM mà chưa thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác

Bên cạnh những thành tựu đó, trong thời gian qua, một số NCCVCM đến nay vẫn chưa nhận được sự hỗ trợ nào của Nhà nước, vì mất giấy tờ, vì không am hiểu thủ tục hành chính, vì một số thủ tục cần người làm chứng, cần người phân công,

Trang 10

biết sự tham gia của NCCVCM người còn người mất; phần lớn những người đã từng tham gia kháng chiến và thân nhân của họ đều tuổi cao, trí nhớ không còn minh mẫn Mặt khác, do tuổi cao, sức khoẻ hạn chế, nên các cô, chú đã từng tham gia kháng chiến hiện nay ngại đi lại, ngại va chạm, tính tình khảng khái, không được sự hướng dẫn nhiệt tình của cán bộ chuyên trách, một số trường hợp bỏ mặc không lập hồ sơ thụ hưởng chính sách, thiệt thòi rất lớn

Thực tế Đảng, Nhà nước đã quan tâm, ban hành nhiều Nghị quyết, nhiều văn bản pháp luật về chính sách ưu đãi đối với Người có công và thực hiện chính sách

ưu đãi đối với Người có công Vào những dịp Lễ, Tết, ngày truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày Thương binh-liệt sỹ, những ngày địa phương tổ chức những sự kiện đặc biệt … người có công được thăm hỏi, tôn vinh Tuy nhiên, việc

tổ chức công tác xã hội đối với Người có công vẫn chưa được quan tâm, thậm chí

NCCVCM, chính sách đối với NCCVCM có được đưa vào chương trình hoạch định của các địa phương; công tác tổ chức thực hiện chính sách đối với NCCVCM

có được chuyên môn hóa hay vẫn chỉ là kiêm nhiệm, nhân viên làm công tác thực hiện chính sách đối với NCCVCM tại các địa phương, các nhà quản lý các địa phương đã đủ quỹ thời gian quan tâm đến công tác xã hội tại địa phương hay chỉ là vấn đề còn bỏ ngõ; thái độ, tinh thần phục vụ vẫn chỉ là quan hệ nhận trả hay thái độ tôn vinh, xem NCCVCM là khách hàng của một dịch vụ do nhân viên công tác xã hội cung cấp; nhân sự làm công tác xã hội tại các địa phương có ổn định hay vẫn còn chắp vá, thiếu tính chuyên nghiệp; lưu trữ hồ sơ NCCVCM có đảm bảo hay không… đó là những băn khoăn của những người làm công tác quản lý công tác xã hội như chúng tôi cũng như những nhà nghiên cứu về công tác xã hội cần định hướng sau này

Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “ Quản lý công tác xã hội đối với người

có công với cách mạng từ thực tiễntỉnh Quảng Nam”làm luận văn thạc sỹ của

Trang 11

mình Với đề tài này, tôi muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong việc đưa ra một số giải pháp nâng cao hoạt động quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM để nhằm giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của NCCVCM, thân nhân của NCCVCM ngày một phong phú hơn, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của Đề án phát triển nghề công tác xã hội mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt, ban hành

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thực hiện chính sách ưu đãi đối với NCCVCM trong những năm qua, Đảng

và Nhà nước luôn quan tâm, có nhiều chủ trương chính sách nhằm tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện để từng bước nâng cao đời sống NCCVCM Các ngành các cấp, luôn xem đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên trong việc xây dựng triển khai các chiến lược trung hạn, dài hạn và các giải pháp có tính lâu dài cũng như trước mắt Tuy nhiên, trong các khâu xây dựng, triển khai thì lại chưa gắn được các hoạt động trợ giúp của công tác xã hội đối với NCCVCM vào thực tiễn quản lý

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học cũng đã có một số đề tài khoa học liên quan đến NCCVCM như:

Đề tài „„Công tác xã hội đối với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk‟‟ của học viên Cao học Vũ Thị Vân Anh thuộc Học viện Khoa học xã hội Đề tài chỉ ra được có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với thương binh như: yếu tố về địa hình, về kinh tế - xã hội của địa phương, yếu tố về trình độ học vấn, dân tộc và đặc biệt là các yếu tố từ chính những đặc điểm, nhận thức của thương binh, từ chính những năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội tại địa phương, từ nhận thức của cộng đồng, chính quyền địa phương các cấp Các yếu tố này

có thể ảnh hưởng tích cực, giúp thúc đẩy sự phát triển các hoạt động công tác xã hội một cách sâu rộng và lan tỏa rộng khắp trong cộng đồng, nhưng ngược lại, các yếu tố này cũng có ảnh hưởng không tốt đến các hoạt động công tác xã hội, nó kìm hãm sự phát triển cũng như hiệu quả của các hoạt động

Đề tài “Quản lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễntỉnh Ninh Thuận” của học viên Cao học Đặng Thị Phấn thuộc Học viện Khoa học xã hội Đề tài đã nêu khái quát các vấn đề lý luận của quản lý công tác xã hội

Trang 12

đối với NCCVCM ; thực trạng quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận, trong đó công tác xã hội nói chung và quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM nói riêng đang được thực hiện ở dạng giải quyết chính sách, công tác thăm hỏi, công tác truyền thông…;giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận Tuy vậy, một số vấn đề về quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM chưa được làm rõ, nhất là về xây dựng tổ chức, đội ngũ nhân viên công tác xã hội; lưu trữ hồ sơ; một số giải pháp tính khả thi chưa cao…

Bài viết “Còn nhiều việc phải làm trong tổng rà soát việc thực hiện chính sách

ưu đãi đối với người có công” của tác giả Nguyên Vũ nêu rõ: có đối tượng hưởng nhiều loại chế độ chính sách trong khi cán bộ, ban rà soát chưa nắm chắc các chính sách đối với từng nhóm đối tượng người có công, cho nên việc triển khai tại một số địa bàn còn chậm và còn lúng túng khi xử lý một số trường hợp cụ thể, giải đáp cho người dân về chính sách người có công chưa thỏa đáng; trình độ cán bộ phụ trách công tác thương binh xã hội cấp xã ở một số nơi còn hạn chế;một số nơi cấp ủy, chính quyền chưa vào cuộc tích cực, mới dừng ở việc ban hành văn bản, khâu kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo cũng chưa được chú trọng; hoạt động thông tin, tuyên truyền

về cơ bản là tốt song ở một số địa bàn hiệu quả chưa cao Qua đó tác giả xác định những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, cụ thể là: tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước và kết quả thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công; thông tin rõ các chế độ chính sách được thụ hưởng của từng nhóm đối tượng Tiếp nhận các thông tin phản ánh từ nhân dân, nhất là những trường hợp trước đây chưa phát hiện hoặc do một lý do khách quan

mà người dân chưa phản ánh về các đối tượng hưởng sai chính sách đối với người

Trang 13

Trên trang thông tin công tác xã hội (congtacxahoi.molisa.gov.vn) cũng vậy,

có rất nhiều tài liệu công tác xã hội các lĩnh vực khác nhau, phục vụ công tác nghiên cứu, tập huấn,… tuy nhiên, tài liệu công tác xã hội về lĩnh vực NCCVCM hầu như không có

Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực công tác xã hội với NCCVCM của tỉnh Quảng Nam nói riêng, của ngành công tác xã hội của nước ta nói chung, thông qua đề tài này tác giả không chỉ muốn tìm hiểu thực trạng về đời sống vật chất tinh thần của người có công, thực trạng công tác xã hội đối với NCCVCM trên địa bàn mà còn muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM trong thời gian đến

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực trạng của quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM trên địa bàn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội, công tác xã hội đối với NCCVCM

- Đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá thực trạng đời sống của NCCVCM, thực trạng công tác xã hội, quản lý công tác xã hộiđối với NCCVCM cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý công tác xã hộiđối với NCCVCM trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

- Dựa trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng nói trên để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hộiđối với NCCVCM trên địa bàn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn của hoạt động quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM tại tỉnh Quảng Nam

Trang 14

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu 3 hoạt động của quản lý công tác xã hội là xây dựng chương trình hỗ trợ đối với NCCVCM, tổ chức hoạt động, tổ chức nhân sự công tác xã hội tại địa phương, các hoạt động hỗ trợ xã hội đối với NCCVCM để từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý công tác

xã hội đối với NCCVCM

- Phạm vi nghiên cứu về khách thể: NCCVCM tại 18 huyện, thị xã, thành phố; nhân viên công tác xã hội cấp cơ sở và cán bộ quản lý có liên quan đến công tác xã hội đối với NCCVCM; cán bộ quản lý có liên quan đến tổ chức, kiểm tra và quản lý đối với NCCVCM

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: 18 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ

hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCCVCM, hệ thống chính sách ưu đãi đối với NCCVCM

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp sử dụng các kỹ thuật

chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:

+ Đọc và tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến công tác xã hội như: Nhập môn công tác xã hội, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết công tác xã hội, Quản lý công tác

xã hội …

Trang 15

+ Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề công tác xã hội đối với người có công như đề tài „„Công tác xã hội đối với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk‟‟ ; đề tài “Quản

lý công tác xã hội đối với người có công với cách mạng từ thực tiễntỉnh Ninh Thuận”; các bài báo có liên quan của các nhà khoa học đăng trên các tạp chí, trang thông tin điện tử có liên quan

+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của UBND tỉnh Quảng Nam, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam

+ Phân tích Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, Kế hoạch ngành, báo cáo năm của Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố, của một

số địa phương

+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư liên quan đến chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với Người có công và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, giúp đỡ họ

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp

gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên

Với phương pháp này, đề tài sẽ phát 118 bảng hỏi dành cho 48 đối tượng là NCCVCM và 20 cán bộ quản lý CTXH, 40 nhân viên làm CTXH, 10 cán bộ làm công tác liên quan đến quản lý CTXH (thanh tra, tổ chức, cán bộ phòng Người có công thuộc Sở) đối với NCCVCM trên địa bàn để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng quản lý CTXH trên địa bàn, thực trạng CTXH đối với NCCVCM, thực trạng đời sống của NCCVCM như điều kiện về nhà ở, kinh tế gia đình, các nhu cầu của NCCVCM …, tìm hiểu về thực trạng hoạt động CTXH đối với NCCVCM trên địa bàn

- Phương pháp phỏng vấn sâu: là một phương pháp thu thập thông tin xã hội

học thông qua việc tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu

Trang 16

Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu về thực trạng quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM; thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với NCCVCM trên địa bàn cũng như việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với NCCVCM

- Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã

hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin

từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ, thể trạng của người được điều tra Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội hoặc các hoạt động mang tính chất công tác xã hội Quan sát về môi trường, không gian sống của NCCVCM Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo sát với người điều tra, nhằm xác định xem họ có gặp phải những vấn đề khó khăn về sức khỏe, tâm lý hay không…

Thông qua phương pháp này, tác giả đối chiếu giữa thông tin nhận được với các báo cáo của địa phương về quản lý CTXH đã đầy đủ chưa, có gì bất hợp lý, chưa ổn …

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu, thông tin thu thập được từ luận văn có thể bổ sung cho những kiến thức chuyên ngành về quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM, sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu về quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM ở góc độ là nhân viên công tác xã hội và

ở góc độ là nhà quản lý công tác xã hội.Các hoạt động để chuyển đổi việc thực hiện chính sách xã hội thành dịch vụ cho NCCVCM và từ hoạt động dịch vụ có thể tham mưu điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tế cuộc sống

Trang 17

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM là một việc làm hết sức mới, giá trị và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng thể hiện tính nhân văn sâu sắc Quá trình tổ chức, thực hiện, công tác này gặp rất nhiều khó khăn, bất cập ở nhiều địa phương Với luận văn này, tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng quản lý công tác xã hội đối với NCCVCM trên địa bàn; gợi mở một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác xã hội đối với NCCVCM Đồng thời, cũng như

là một thông điệp hướng sự quan tâm và chung tay góp sức của cộng đồng, của các Hội Đoàn thể ở địa phương để cùng thực hiện có hiệu quả hơn quản lý công tác xã hội cho NCCVCM

Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành khác nói chung hiểu biết thêm về các chính sách, chế độ ưu đãi, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCCVCM, hiểu về công tác hoạch định, tổ chức quản lý, tổ chức nhân

sự, cách thức ra quyết định và công tác lưu trữ, bảo quản hồ sơ, dữ liệu; về tổ chức quản lý ca của nhân viên công tác xã hội đối với NCCVCM

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận của quản lý công tác xã hội đối với Người

có công với cách mạng

Chương 2 Thực trạng Người có công với cách mạng vàthực trạng công tác

xã hội đối với Người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Trang 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Người có công với cách mạng

Theo Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM số 01/VBHN-VPQH ngày 30/7/2012 định nghĩa Người có công với cách mạng là:

a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;

b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

c) Liệt sĩ;

d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;

e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

h) Bệnh binh;

i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

m) Người có công giúp đỡ cách mạng

1.1.2 Công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Khái niệm về CTXH được Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo

CTXH quốc tế (2011) thống nhất như sau: CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải

quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận

về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống[12, tr.7]

Trang 19

CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội

CTXH đối với NCCVCM là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp NCCVCM và thân nhân của họ, cộng đồng nơi họ sinh sống nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội; tìm kiếm, biện hộ và kết nối họ với các nguồn lực hỗ trợ về vật chất, tham vấn tâm lý cho NCCVCM khủng hoảng tinh thần, tổ chức kết nối giao lưu giữa NCCVCM với các tổ chức xã hội, với đồng đội nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần, đồng thời góp phần hoàn thiện chính sách ưu đãi

xã hội cũng như truyền thông đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc, tôn vinh NCCVCM

1.2 Nhu cầu và đặc điểm của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

1.2.1 Nhu cầu của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Kể từ ngày hoà bình lập lại, đất nước ta thống nhất đến nay đã hơn bốn thập

kỷ, nhưng những hậu quả, mất mát và nỗi đau do chiến tranh gây ra vẫn chưa chấm dứt mà vẫn còn hiển hiện khắp nơi Do chiến tranh, hàng triệu người đã hy sinh, ra

đi mãi mãi không trở về; để lại hàng triệu gia đình cha mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha…; hàng triệu người trở thành thương binh, bệnh binh; hàng triệu người tham gia hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học

Các gia đình, thân nhân liệt sĩ; các thương binh, bệnh binh, người tham gia hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học, các gia đình và đối tượng có công với cách mạng luôn phải đối mặt với những đau đớn, khó khăn, thiệt thòi, trở ngại về nhiều mặt nên họ cần có chính sách ưu đãi đặc biệt của Nhà nước Tuy được Nhà nước ta quan tâm trợ cấp nhưng hầu hết gia đình NCCVCM đã

sử dụng khoản trợ cấp ưu đãi đó cho việc đáp ứng nhu cầu tối thiểu: ăn, mặc,…; cho việc chăm sóc, điều trị cho thương bệnh binh, nhất là các trường hợp thương, bệnh binh nặng sức khoẻ hạn chế, luôn đau ốm Bên cạnh đó, bản thân NCCVCM

vì phải mang trên người dị dạng, dị tật cũng như gia đình họ thường tự ti, mặc cảm với những khiếm khuyết ngoài mong muốn,… Cho nên NCCVCM không chỉ cần

Trang 20

sự giúp đỡ của Nhà nước ở việc trợ cấp ưu đãi mà còn muốn được tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi để họ có thể hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống và tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội Tiếp cận ở góc độ quản lý CTXH là chuyển chính sách thành dịch vụ cụ thể thì đây là nhu cầu cấp thiết của NCCVCM ở nước ta nói chung

và tại tỉnh Quảng Nam nói riêng

Về thuật ngữ quản trị và quản lý: Rino J Patti sử dụng hai thuật ngữ quản trị

và quản lý như nhau Ông ta lưu ý rằng quản lý được nhân viên xã hội sử dụng ngày càng nhiều để mô tả công việc mà họ làm; đã có nhiều cố gắng phân biệt hai thuật ngữ nhưng những khác biệt này không được chấp nhận hoàn toàn Do vậy trong Luận văn này có thể hiểu quản trị là quản lý

Quản lý là những hoạt động cần thiết được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung

Các hoạt động quản lý không những phát sinh khi con người kết hợp thành tổ chức, mà còn cần thiết, bởi vì nếu không có những hoạt động quản lý thì trong tổ chức sẽ dẫn tới tình trạng mạnh ai nấy làm, lộn xộn theo kiểu "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" Ví như 2 người cùng khiêng một khúc gỗ hay cùng bơi một chiếc thuyền, thay vì hai người cùng bước hay cùng đưa mái chèo về cùng một hướng thì mỗi người lại bước hay đưa đẩy mái chèo về mỗi hướng khác nhau Những hoạt động khiến hai người cùng bước hay đẩy mái chèo về cùng một hướng là những hoạt động quản lý

Trong thực hiện chính sách đối với NCCVCM cũng vậy, nếu chúng ta không khéo kết hợp sẽ dễ xảy ra tình trạng mạnh ai nấy làm, sẽ có trường hợp một đối tượng có rất nhiều cá nhân tổ chức quan tâm và ngược lại có những đối tượng chỉ

“đến hẹn lại lên” vào những dịp Lễ tết, hàng tháng đến nhận tiền trợ cấp là xong Quản lý CTXH đối với NCCVCM là sự kết hợp để đạt được mục tiêu công bằng trong chăm sóc, hỗ trợ, nâng cao mức sống cho NCCVCM, tạo điều kiện để NCCVCM tham gia góp ý chính sách, đóng góp xây dựng quê hương, xây dựng chính quyền Bên cạnh đó, quản lý CTXH đối với NCCVCM nhằm đưa công tác hoạch định, tổ chức nhân sự, tổ chức hoạt động CTXH đối với NCCVCM vào chương trình hoạt động cụ thể, làm cơ sở cho công tác kiểm tra, đánh giá mức độ thực hiện chính sách đối với NCCVCM trên địa bàn

Trang 21

1.2.2 Đặc điểm của quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Chúng ta biết rằng, Quản lý CTXH là phương pháp quan trọng để tối đa hóa tính hiệu quả của các chương trình hoạt động CTXH để giải quyết các vấn đề xã hội

và cải thiện điều kiện xã hội tốt hơn

Quản lý CTXH cung cấp nền tảng để thực hành CTXH liên quan đến các chức năng của cơ sở xã hội Chất lượng thực hành CTXH phần lớn phụ thuộc vào cách quản lý ngành CTXH Quản lý CTXH có những đặc điểm sau:

Đặc điểm 1 Sử dụng các nguyên tắc và kỹ thuật của quản lý tổng quát Đó là

các nguyên tắc: phân chia công việc để chuyên môn hóa lao động; nguyên tắc về quan hệ quyền hành; nguyên tắc về kỷ luật trong tổ chức; nguyên tắc về thống nhất chỉ huy (thống nhất mệnh lệnh), thống nhất lãnh đạo; nguyên tắc lợi ích của cá nhân dựa trên cơ sở lợi ích chung; nguyên tắc thù lao tương ứng giữa cấp quản lý và cấp thừa hành; nguyên tắc tập trung thẩm quyền; phát huy sáng kiến cá nhân và tinh thần tập thể; nguyên tắc trật tự công bằng, nguyên tắc ổn định nhiệm vụ… nhằm phát huy sáng kiến cá nhân của người điều hành, nhân viên thừa hành, của thân chủ nhằm đạt được mục tiêu của quản lý CTXH đối với NCCVCM

Đặc điểm 2 Sử dụng triết lý, mục đích và các chức năng của CTXH, các

phương pháp chẩn đoán xã hội, phân tích và tổng hợp các nhu cầu của cá nhân, nhóm hay cộng đồng và sử dụng việc tổng quát hóa nhằm thay đổi và phát triển các mục đích và chức năng của cơ sở

CTXH sử dụng triết lý con người là mối quan tâm hàng đầu của xã hội; giữa

cá nhân và xã hội có sự phụ thuộc tương hỗ; cá nhân và xã hội phải có trách nhiệm với nhau; mỗi người cần được phát huy tiềm năng của mình và thực hiện nhiệm vụ của mình đối với xã hội thông qua sự tích cực tham gia và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để cá nhân khắc phục trở ngại, phát huy tiềm năng bởi chính những trở ngại đó làm mất cân bằng trong quan hệ cá nhân và môi trường xã hội Vậy để NCCVCM vơi bớt các nỗi đau, mất mát, thiệt thòi, CTXH giúp NCCVCM vượt qua nỗi đau, phát huy tiềm năng, tham gia đóng góp cho xã hội, cho cộng đồng và cộng đồng xã hội tạo điều kiện về nhân lực, chính sách vay vốn, hỗ trợ nhà ở, phát triển sản xuất… giúp NCCVCM khẳng định được mình, đưa ra quyết định thay đổi thái

độ đối với cuộc sống

Trang 22

CTXH với mục đích hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế, NCCVCM CTXH thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hoà giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội Với các chức năng phục hồi, phòng ngừa, phát triển và biến đổi nhằm mục đích đưa NCCVCM về trạng thái bình thường yêu con người, yêu hòa bình, yêu quê hương đất nước, chia sẻ với khó khăn chung của đất nước, của ngân sách quốc gia, giúp NCCVCM sử dụng tối đa tiềm năng và năng lực của mình đồng thời tăng cường hiệu quả các nguồn lực xã hội của cộng đồng sẵn có

Đặc điểm 3 Trọng tâm chủ yếu là tiến trình giúp đỡ cá nhân, nhóm và cộng

đồng Đó là quá trình đánh giá xác định vấn đề mà NCCVCM đang gặp phải, phân tích vấn đề, xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề, thực hiện kế hoạch để giải quyết vấn đề và lượng giá, kết thúc

Đặc điểm 4.Quản lý CTXH là làm việc với con người dựa vào kiến thức

và hiểu biết hành vi con người, các mối quan hệ nhân sự và các tổ chức phục

vụ con người

Đặc điểm 5 Các phương pháp CTXH không chỉ được sử dụng để cung cấp

dịch vụ mà còn trong tiến trình quản lý và các mối quan hệ với nhân viên

1.3 Nội dung quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Quản lý CTXH là một tiến trình hành động liên tục của nhân viên xã hội trong việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng quản lý để chuyển đổi các chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội sao cho các chính sách xã hội đó có ý nghĩa và hiệu quả, tạo nên sự phù hợp của chính sách xã hội với nhu cầu thực tiễn của người dân trong cộng đồng Nó bao gồm hoạt động của những người lãnh đạo tổ chức và tất cả những nhân viên trong tổ chức để hoàn thành mục đích chung của tổ chức

Quản lý CTXH phân theo nhiều cấp độ: quản lý CTXH ở cấp độ cá nhân và quản lý xã hội ở cấp độ tổ chức

Ở cấp độ cá nhân, mỗi nhân viên CTXH xét tới các khía cạnh mang tính thừa hành, tác nghiệp của nhân viên xã hội về quản lý ca, điều phối các nguồn lực trong

Trang 23

quá trình giúp đỡ trường hợp cụ thể Trong công tác quản lý, nhân viên xã hội cần

có kỹ năng ghi chép phúc trình, quản lý lưu trữ hồ sơ theo đúng nguyên tắc nghề nghiệp Bên cạnh đó, nhân viên xã hội cũng cần biết tự bảo vệ bản thân, biết cách

xử lý những căng thẳng thần kinh do tính chất công việc luôn bị áp lực của nghề nghiệp gây ra; có như vậy mới đảm bảo trạng thái thần kinh ổn định nhằm trợ giúp đối tượng một cách khách quan và không bị chi phối bởi những áp lực khác

Quản lý CTXH ở cấp độ tổ chức xét tới việc thực hiện chức năng quản lý của nhà quản lý ở vị trí người lãnh đạo, quản lý tổ chức Vai trò của nhà quản lý ở cấp độ

tổ chức thực hiện chức năng quản lý nghiêng về các khía cạnh liên quan đến vận hành hoạt động của tổ chức, bao gồm việc hoạch định các chính sách và các khía cạnh liên quan đến cấu trúc của tổ chức, công tác quản lý nhân lực, kiểm soát xung đột, kiểm huấn, tìm kiếm nguồn lực (nhân lực, tài chính) cũng như điều phối nguồn lực (nhân lực, tài chính) trong tổ chức sao cho sử dụng các nguồn lực đó có hiệu quả

1.3.1 Xây dựng chương trình hỗ trợ công tác xã hội đối vớiNgười có công với cách mạng

Xây dựng chương trình hỗ trợ CTXH đối với NCCVCM là việc xác định trước xem phải làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm, nghĩa là phải đưa

ra kế hoạch trước khi các hoạt động cụ thể được tiến hành sao cho chương trình hỗ trợ CTXH đối với NCCVCM đạt hiệu quả cao nhất, lập chương trình phải xem xét trên phương diện tình cảm, tâm lý, hoàn cảnh sống của NCCVCM, điều kiện ngân sách và các khoản hỗ trợ khác mà đưa ra các phương án trợ giúp phù hợp

Theo James H Donnelly, JR., James L.Gibson và John M I vancevich thì

"chức năng hoạch định bao gồm những hoạt động quản lý nhằm xác định mục tiêu trong tương lai và những phương tiện thích hợp để đạt tới các mục tiêu đó Kết quả của chức năng hoạch định là một bản Kế hoạch, một văn bản xác định những phương hướng hành động mà đơn vị sẽ thực hiện" [17, tr.2]

Xây dựng chương trình hỗ trợ CTXH đối với NCCVCM nhằm mục tiêu nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho NCCVCM, là việc nhân viên CTXH trên cơ

sở điều kiện đặc điểm tự nhiên, hoàn cảnh sống, tình trạng sức khỏe, tâm lý của

Trang 24

NCCVCM, trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước, của cộng đồng, năng lực của NCCVCM để phân tích vấn đề, đưa ra phương án giải quyết phù hợp nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất, đồng thời thực hiện được mục tiêu của tổ chức

Bảy bước đi và các hoạt động liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng chương trình hỗ trợ CTXH đối với NCCVCM Đó là:

- Chọn lọc mục tiêu: Nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho NCCVCM, tạo động lực cho NCCVCM để họ có thể cùng với nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, của xã hội, vươn lên làm chủ cuộc sống, không trông chờ ỷ lại vào sự trợ giúp của cộng đồng;

- Xem xét các tài nguyên cơ sở: nguồn trợ cấp ưu đãi, các nguồn lực khác (nhân viên CTXH, mối quan hệ gia đình, cộng đồng, công tác huy động các quỹ của địa phương, các quy định có liên quan đến NCCVCM của địa phương, của Trung ương…);

- Liệt kê các phương án: đối với từng trường hợp cụ thể sử dụng phương án nào là phù hợp Ví dụ: nhà ở NCCVCM còn tạm bợ, thiếu kiên cố, cần ưu tiên xây mới; các hộ gia đình NCCVCM có điều kiện làm kinh tế nên có phương án hỗ trợ vay vốn; gia đình NCCVCM có người bị khuyết tật, bị nhiễm chất độc hóa học cần

hỗ trợ về mặt y tế, điều dưỡng có thể kết nối với nguồn lực nào?

- Dự báo thành quả của mỗi phương án: dự kiến sẽ xây bao nhiêu nhà cho NCCVCM từ nguồn tài trợ của ngân sách, từ nguồn huy động cộng đồng, Doanh nghiệp; sẽ tư vấn tâm lý, đưa vào quản lý bao nhiêu trường hợp cần trợ giúp đặc biệt Và ở góc độ tổng thể, góp phần ổn định chính trị, giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn

- Quyết định phương án tốt nhất: trong các phương án đã đưa ra, chọn phương án chung tốt nhất cho NCCVCM, phù hợp với điều kiện ngân sách, khả năng thực hiện của địa phương;

- Hoạch định một chương trình hành động cụ thể: để thực hiện tốt phương án trên cần có chương trình hỗ trợ cụ thể; thời gian thực hiện; đơn vị, cá nhân thực hiện; thực hiện như thế nào, ưu tiên thực hiện ở cộng đồng, hộ NCCVCM nào?

Trang 25

- Sẵn lòng thay đổi: quá trình thưc hiện sẽ có những nội dung, những chính sách khi đưa vào thực hiện có thể sẽ chưa phù hợp; thực tiễn quản lý giúp chúng ta

có kiến nghị, điều chỉnh bổ sung để chính sách được thực hiện phù hợp hơn

Trong quản lý CTXH, hoạch định cần thiết ở tất cả các cấp tác vụ và là bộ phận trong công việc thường ngày của mỗi nhân viên Nó là một bộ phận chủ yếu của CTXH thực hành và được xem là quan trọng trong tác vụ điều hành của các cơ

sở xã hội và trong cung ứng các dịch vụ xã hội

Đối tượng của hoạch định chính là những hoạt động, những lực lượng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định và tổ chức thực hiện các mục tiêu Muốn cho công tác hoạch định đạt được kết quả mong muốn thì hoạch định phải đáp ứng được các đòi hỏi sau: khoa học, khách quan, hệ thống, nhất quán, khả thi, cụ thể, linh hoạt

và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn

1.3.2 Tổ chức trong quản lý công tác xã hội đối vớiNgười có công với cách mạng

Tổ chức có 2 ý nghĩa chính:

- Cấu trúc của cơ sở;

- Tiến trình làm cho cơ sở được/trở thành có tổ chức

Chesley Irving Barnard, nhà khoa học về quản lý và là nhà doanh nghiệp người Mỹ đưa ra quan điểm: Tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức nhằm hoàn thành mục tiêu chung [29, tr.1]

Những yếu tố của một tổ chức (theo Barnard):

- Sự giao tiếp (thông đạt, truyền thông);

- Quyết tâm phục vụ;

- Vì một mục đích chung

Định nghĩa về tổ chức là một việc phức tạp Hầu như mỗi nhà nghiên cứu

về quản lý đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình dựa theo các lý thuyết tiếp cận khác nhau

Theo Chesley Irving Barnardthìtổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức.

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ thì "tổ chức" có các nghĩa sau đây:

Trang 26

- Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng nhất định

- Làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được một hiệu quả lớn nhất

- Làm công tác tổ chức cán bộ v.v

Như vậy, tổ chức là một trong những chức năng của quản lý, liên quan đến các hoạt động thành lập nên các bộ phận trong tổ chức, bao gồm các khâu (các bộ phận chức năng) và các cấp (cao, trung và cơ sở) để đảm nhận những hoạt động cần thiết, xác lập các mối quan hệ và nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm giữa các bộ phận đó Hay nói một cách tổng quát thì tổ chức là một hoạt động bao gồm việc tổ chức cơ cấu tổ chức bộ máy, tổ chức nhân sự và tổ chức công việc Tổ chức trong quản lý CTXH đối với NCCVCM là việc hình thành các phòng ban có liên quan đến quản lý CTXH đối với NCCVCM từ Trung ương (Cục Người có công, Cục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ LĐ- TB và XH, Cục chính sách thuộc Bộ Quốc phòng ) đến địa phương (phòng Người có công, phòng Bảo trợ xã hội thuộc Sở LĐ- TB và XH, Ban Chính sách thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh), công chức, viên chức làm CTXH, nhà quản lý CTXH cấp huyện, cấp xã

- Khái niệm cơ cấu tổ chức quản lý:

Phạm trù "cơ cấu" phản ánh sự cấu tạo và hình thức bên trong của hệ thống

Cơ cấu tạo điều kiện duy trì trạng thái ổn định của tổ chức

Cơ cấu tổ chức quản lý là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục tiêu chung đã xác định

Cơ cấu tổ chức trong quản lý CTXH đối với NCCVCM đó là việc tổ chức thực hiện, là sự kết hợp trong giải quyết hồ sơ, giải quyết các vấn đề cho NCCVCM của cơ quan Quân sự, Hội Cựu thanh niên xung phong, Đoàn Thanh niên cộng sản

Trang 27

Hồ Chí Minh, cơ quan LĐ- TB và XH, Sở Nội vụ, Bảo hiểm xã hội, UBND các cấp trong việc giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp ưu đãi, tổ chức thăm hỏi, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho NCCVCM, tạo động lực, giúp NCCVCM bằng nội lực của mình tự vươn lên, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần, cùng cộng đồng nơi sinh sống quyết định các vấn đề có liên quan của chính họ và của cộng đồng

1.3.3 Tổ chức công tác nhân sự trong công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

Công tác nhân sự là một tiến trình quản lý quan trọng bao gồm tìm được nhân sự, duy trì và làm việc với nhân viên và kết thúc công việc của họ khi cần thiết Hiệu quả và kết quả hoạt động của một cơ sở có liên quan trực tiếp với nhân

sự Tổ chức nhân sự trong CTXH đối với NCCVCM đó là tiến trình tuyển chọn nhân viên CTXH tốt nghiệp ngành nghề phù hợp qua thi tuyển hoặc xét tuyển, kiểm huấn nhân viên CTXH, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng các nghiệp vụ về thủ tục hồ

sơ trong giải quyết chính sách ưu đãi đối với NCCVCM, các nguồn lực của cơ sở, nguồn lực có thể kết nối trong thực hiện CTXH đối với NCCVCM, vận dụng các kỹ năng của CTXH để làm việc với thân chủ là NCCVCM, trên cơ sở đó đánh giá hiệu quả công việc, hiệu quả quản lý CTXH của cá nhân, của cơ sở

Mỗi cơ sở thường có chính sách nhân sự và phương thức tuyển chọn riêng Việc này trước hết bao gồm soạn một bảng mô tả công việc sau khi đã phân tích công việc Ray Johns cho rằng một bản mô tả công việc bao gồm:

Mô tả vị trí công việc, vị trí gì và chịu trách nhiệm với ai;

Nhiệm vụ và trách nhiệm;

Yêu cầu về năng lực chuyên môn;

Các mối quan hệ

Tiến trình chủ yếu của công tác nhân sự bao gồm: Tuyển mộ; Tuyển chọn;

Bổ nhiệm; Định hướng; Thăng thưởng; Đánh giá; Chấm dứt công việc

Tuyển mộ: Tuyển dụng nhân viên giỏi bằng các hình thức: Quảng cáo, thông

báo, gửi thư đến trường đào tạo chuyên ngành CTXH, website của Bộ/Sở LĐ- TB

và XH và các đơn vị trực thuộc Bộ/Sở

Trang 28

Tuyển chọn: Bằng cách phỏng vấn vòng loại, xem xét đơn xin việc, kiểm tra

hồ sơ lý lịch, trắc nghiệm, phỏng vấn toàn diện, phân tích và quyết định

Bổ nhiệm: nhân sự qua tuyển chọn sẽ được phân công làm một vị trí việc làm

nào đó ứng với trình độ chuyên môn đào tạo, năng lực sở trường, trách nhiệm,

quyền hạn, nghĩa vụ và chế độ lương thưởng, đào tạo cũng như cơ hội thăng tiến

Định hướng: Giới thiệu nhân viên mới với cơ sở, dịch vụ của của cơ sở hiện

có và cộng đồng; giải thích chính sách cơ bản của cơ sở, cơ cấu tổ chức, dịch vụ, ban điều hành, các mối quan hệ cộng đồng; lịch sử cơ sở và các dịch vụ; những chính sách, quy định và thủ tục cơ bản; cơ cấu tổ chức của cơ sở, bao gồm cả cấp bậc, chức vụ của nhân viên mới; thông tin cơ bản về lương, giờ giấc làm việc, các

kỳ nghỉ phép, nghỉ ốm

Thăng thưởng bao gồm cơ hội thăng tiến, cơ hội được đào tạo nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ

Đánh giá thành tích công việc: nhằm giúp cho cấp dưới biết họ làm việc như

thế nào; Quyết định tăng lương xứng đáng với hiệu quả công việc; khám phá nhu cầu huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng; xác định ứng viên thăng thưởng; nhận rõ những trở ngại với thành tích công việc; cải thiện thành tích cá nhân và đơn vị

Kết thúc công việc

1.3.4 Tổ chức các hoạt động hỗ trợNgười có công với cách mạng

Chúng ta biết rằng, quản lý CTXH có các chức năng sau: (i) là phương tiện giải quyết các nhu cầu xã hội được nhận diện thông qua các dịch vụ xã hội công hoặc tư; (ii) là hành động xã hội để cải tiến hoặc đưa ra các dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu của các nhóm thân chủ cụ thể hay của một cộng đồng; (iii) ra quyết định ở mọi cấp quản lý

Để thực hiện tốt các hoạt động hỗ trợ NCCVCM trong bối cảnh CTXH còn

là một lĩnh vực mới mẻ không chỉ đối với các tầng lớp nhân dân, đối tượng yếu thế

mà lạ lẫm cả đối với các Nhà quản lý ở các lĩnh vực khác, cần tập trung tuyên truyền để CTXH thực sự đến đúng địa chỉ, giúp đối tượng tự nhận thức, tự quyết định phương thức giải quyết vấn đề cho riêng mình và bằng kinh nghiệm giải quyết vấn đề của mình có thể gợi ý cách giải quyết vấn đề tương tự của cộng đồng mình

Tuyên truyền trong quản lý CTXH đối với NCCVCM tập trung vào hai nhóm đối tượng:

Trang 29

Nhóm đối tượng vận động ủng hộ về chủ trương, chính sách tạo môi trường thuận lợi cho thực hiện các hoạt động truyền thông về CTXH ở cộng đồng Nhóm này gồm lãnh đạo Đảng và chính quyền ở xã và thôn, bao gồm cả trưởng thôn, công

an thôn, và các chức sắc tôn giáo

Nhóm đối tượng huy động cộng đồng tham gia tạo môi trường hỗ trợ thuận lợi cho duy trì hành vi như các dịch vụ hỗ trợ cho nhu cầu thay đổi hành vi bền vững, cộng đồng cùng tham gia tạo môi trường sống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, thân thiện, và an toàn Đối tượng truyền thông trong nhóm này gồm lãnh đạo các tổ chức quần chúng, xã hội, ban ngành đoàn thể, các doanh nghiệp, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn,…

- Phát triển cộng đồng

Cuộc sống luôn tồn tại các vấn đề và nhu cầu cần giải quyết các vấn đề đó Tương tự cộng đồng cũng luôn có các vấn đề cần giải quyết Đó là một điều tất yếu Nếu biết phân tích các vấn đề cộng đồng, chúng ta sẽ tìm được các giải pháp hiệu quả giải quyết các vấn đề đó

Đứng trước một vấn đề chúng ta nên phân tích tại sao vấn đề đó xảy ra thay

vì chỉ đơn giản bắt tay ngay vào giải quyết vấn đề Phân tích tốt sẽ giúp chúng ta có được giải pháp chiến lược lâu dài

Năm 2010, nghề CTXH ở nước ta mới được công nhận chính thức là một nghề chuyên nghiệp cùng với các hoạt động hỗ trợ để phát triển nghề Các hoạt động an sinh xã hội cũng được thực hiện như hỗ trợ cho NCCVCM, hỗ trợ chế độ cho trẻ em khuyết tật, người tâm thần, thương binh…

Phát triển cộng đồng là lĩnh vực rộng do tùy từng hoàn cảnh khác nhau mà

“cộng đồng” được định nghĩa khác nhau Vai trò của cán bộ CTXH trong phát triển cộng đồng được gói gọn trong một số vai trò sau:

Hướng dẫn: Xác định các nguồn lực cộng đồng có lợi cho thân chủ, và tận

dụng nguồn lực đó để hỗ trợ các nhóm yếu thế trong cộng đồng

Người hỗ trợ: Cán bộ CTXH hỗ trợ cộng đồng bằng cách tìm ra các thế

mạnh của cộng đồng, tháo bỏ các rào cản để thực hiện mục tiêu đề ra

Trang 30

Tư vấn: Dựa trên kinh nghiệm và chuyên môn, cán bộ CTXH cần cung cấp

thông tin và đưa ra các lời khuyên trực tiếp để giải quyết vấn đề của cộng đồng

Điều phối: Cán bộ CTXH nên điều phối và lồng ghép các hoạt động khác

nhau để giải quyết vấn đề xã hội Điều này giúp tránh trùng lặp dịch vụ trong cùng một cộng đồng và hỗ trợ cộng đồng tự phát triển kế hoạch

Tổ chức: Thiết lập các mối quan hệ, hợp tác, điều phối và lồng ghép giữa bên

cung cấp dịch vụ, tổ chức xã hội, khách hàng nhằm đạt được mục tiêu của cộng đồng

Thúc đẩy: Bao gồm hỗ trợ nhằm giúp cộng đồng tự quyết định, tăng tự tin và

năng lực trong giải quyết các vấn đề của cộng đồng

Giáo dục: Cung cấp các thông tin cần thiết để đương đầu với các tình huống

mới, hỗ trợ cộng đồng thực hành các kỹ năng và hành vi mới có lợi thông qua việc tận dụng các chuyên gia tại cộng đồng

Nghiên cứu: Đây là vai trò cần thiết nhằm thu thập thông tin, đánh giá nhu

cầu, xác định các giải pháp nhằm phát triển kế hoạch can thiệp hiệu quả

Vận động: Với vai trò đại diện cho quyền lợi của cá nhân, cộng đồng, cán bộ

CTXH cần phải thương lượng để đảm bảo quyền lợi của thân chủ, đặc biệt là với nhóm yếu thế, NCCVCM

Trung gian: Nỗ lực giải quyết tranh chấp giữa thân chủ và cá nhân và tổ chức

khác, tìm ra các điểm tương đồng để hai bên có thể tìm được giải pháp giải quyết xung đột

Quản lý: Cán bộ CTXH được ví như là một nhà quản lý các nhiệm vụ và

chức năng sao cho có thể thực hiện kế hoạch hành động, kiểm soát các vấn đề liên quan không chỉ của cộng đồng mà cả cá nhân

Thương lượng: Là quá trình hai bên cùng bàn bạc, thảo luận để đạt được sự

đồng thuận mà không ảnh hưởng đến quyền lợi mỗi bên, đặc biệt trong quá trình tận dụng các nguồn lực của cộng đồng

Tổ chức các hoạt động hỗ trợ NCCVCM đó là việc Nhà quản lý CTXH xây dựng chương trình hỗ trợ, tổ chức, bố trí nguồn lực thực hiện chương trình (truyền

Trang 31

thông, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, phụng dưỡng, chăm sóc NCCVCM) sao cho đạt hiệu quả cao nhất- tùy theo nhu cầu mà NCCVCM đang hướng đến Vai trò của nhân viên CTXH thì khác hơn: vừa là tác nhân chính thực hiện chương trình hỗ trợ, vừa thông qua việc lập hồ sơ quản lý ca, thực hiện hỗ trợ, trao quyền, kiểm tra, lượng giá để chương trình đạt được sự đồng thuận của NCCVCM, của cộng đồng nơi NCCVCM sinh sống mà không ảnh hưởng đến quyền lợi mỗi bên, đặc biệt trong quá trình tận dụng các nguồn lực của cộng đồng

1.3.5 Ra quyết định trong quản lý công tác xã hội

Ra quyết định là việc làm rất quan trọng trong quản lý, đặc biệt trong CTXH, nơi mà các quyết định hằng ngày ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều cá nhân,

nhóm và cộng đồng, nhân viên cũng như thân chủ

Quản lý đã được định nghĩa như là tiến trình ra quyết định và thực thi chúng Nhà quản lý ra nhiều quyết định hằng ngày, mỗi một quyết định làm thay đổi dịch vụ của cơ quan trực tiếp hoặc gián tiếp

Kể về mặt lượng và chất thì việc ra quyết định là một bộ phận chính của quản lý Ra quyết định là quan trọng trong CTXH bởi vì nó ảnh hưởng đến đời sống của nhiều cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng Nó cũng là một bộ phận chủ yếu của tiến trình trị liệu Trong quản lý, ra quyết định cũng quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tinh thần của nhân viên và sự phân phối các dịch vụ xã hội

Những khó khăn trong việc ra quyết định

Carlisle đề ra một số hạn chế trong giải quyết vấn đề trong quản lý, 4 hạn chế hết sức quan trọng là:

1- Con người có sự hạn chế về tính luận lý và kiến thức;

2- Việc thiếu thời gian thường ngăn cản phân tích sâu;

3- Các mục tiêu tìm kiếm thường không tối đa;

4- Sức ép do người khác tác động thường có ý nghĩa hơn là “các dữ kiện” thu lượm được để ủng hộ mỗi phương án

Các nguy hiểm và khó khăn trong tiến trình ra quyết định[18, tr.6]:

Sự chần chừ;

Quá đơn giản hóa;

Hành vi không hợp lý;

Sai lầm làm nản lòng

Trang 32

Những hướng dẫn ra quyết định

Xác định tình huống hoặc vấn đề: Cần thiết phải hiểu vấn đề thực sự là gì

và am hiểu bối cảnh của nó

Thu thập thông tin và khảo sát các dữ kiện: Thu thập dữ kiện chỉ là một

sự tương đối gần đúng bởi vì thường khó có thể thu thập tất cả những thông tin chính xác đang có Những dữ kiện căn bản cần được tìm hiểu chắc chắn để có thêm

ý nghĩa trong việc ra quyết định Dữ kiện cần được nghiên cứu cẩn thận và khách quan và đo lường tầm quan trọng của nó Khảo sát và phân tích thông tin giúp cho việc thiết lập các ưu tiên

Đưa ra các lựa chọn: Quan trọng là nhận diện và am hiểu các phương án

khác nhau và mỗi phương án cần được nắm vững và làm sáng tỏ

Dự đoán các kết quả có thể có được của các lựa chọn: Mỗi phương án cần

được cân nhắc xem xét về những gì có thể xảy ra nếu một phương hướng nào đó được lựa chọn Về trách nhiệm mà nó sẽ làm lợi cho cơ sở và cá nhân Việc quản lý thời gian là quan trọng

Xem xét cảm nghĩ: Các quyết định được đưa ra dựa trên một cơ sở hợp lý

sau khi xem xét cẩn thận những dữ kiện, các phương án và những thành quả dự kiến Trong tiến trình ra quyết định, việc xem xét những cảm nghĩ riêng về những chọn lựa khác nhau là tối cần thiết

Chọn hành động chắc chắn: Chọn con đường thích hợp và có lý nhất Thời gian sử dụng cũng cần cho việc ra quyết định vững chắc

Theo dõi xuyên suốt: Cần thực hiện mỗi một nỗ lực hỗ trợ cho việc ra quyết

định và làm những việc cần làm để thực hiện nó

Linh hoạt: Cần có đầu óc thoáng trong trường hợp có sai sót xảy ra hoặc có

một phương án khác đáng giá hơn hay có lợi hơn Một quyết định không nên cứng nhắc chỉ vì sự kiên quyết Nó chỉ được thực hiện nếu nó có vẻ tối ưu và không có những lý do thuyết phục nào đòi thay đổi nó

Lượng giá các kết quả: Cần phải lượng giá cẩn thận để đoán chắc rằng

quyết định sẽ mang đến sự phát triển

Ra quyết định trong CTXH đối với NCCVCM là việc Nhà quản lý căn cứ nguồn lực của cơ sở (chính sách ưu đãi đối với NCCVCM, đội ngũ nhân viên CTXH, các quy định hướng dẫn thực hiện hỗ trợ về nhà ở, giáo dục đào tạo; nhu

Trang 33

cầu về sửa chữa, xây dựng nhà ở, các công trình ghi công ) để ra quyết định quản

lý phù hợp (quyết định hưởng chính sách, quyết định hỗ trợ xây dựng nhà ở, quyết định huy động nguồn Quỹ đền ơn đáp nghĩa, ); quá trình tổ chức thực hiện quyết định thường xuyên kiểm tra, giám sát tính phù hợp, tính đúng đắn của quyết định để

có điều chỉnh, bổ sung kịp thời sao cho quyết định quản lý phù hợp với yêu cầu, mục tiêu quản lý CTXH đối với NCCVCM

1.3.6 Hồ sơ và lưu trữ sổ sách hồ sơ trong quản lý công tác xã hội

Tầm quan trọng của hồ sơ và lưu trữ hồ sơ trong quản lý CTXH

- Phục vụ cho việc làm các báo cáo và giải trình khi cần thiết;

- Cơ sở cho nghiên cứu cải tiến chính sách của tổ chức và thủ tục trong công tác quản lý;

- Phục vụ cho công tác đào tạo và kiểm huấn;

- Tra cứu khi cần thiết

Nguyên tắc lưu trữ hồ sơ

- Tính bảo mật: Điều này có nghĩa là các hồ sơ phải được cất giữ cẩn thận để

tránh bị lộ thông tin về đối tượng cho những người không có trách nhiệm Muốn vậy, hồ sơ phải được khoá kỹ càng, cất xa các tài liệu thông thường khác và không được để bừa bãi trên bàn làm việc- nơi mà người khác có thể dễ dàng lấy được

- Tính giới hạn: Điều này có nghĩa là các hồ sơ được đưa vào lưu trữ cần

chọn những thông tin cần thiết và thời hạn cần thiết của việc lưu trữ, nhằm tránh tình trạng đưa vào lưu trữ cả những thông tin không cần thiết, cũng như kéo dài quá lâu thời gian lưu trữ là không cần thiết Tuy vậy đối với hồ sơ NCCVCM cần lưu trữ lâu dài do vậy việc lưu hai loại hồ sơ NCCVCM và hồ sơ quản lý ca NCCVCM cần phải lưu trữ riêng, khác hệ thống

- Tính khuyết danh: Việc sử dụng thông tin về đối tượng là cần thiết nhưng

lại không nhất thiết đưa ra tên tuổi của đối tượng, nhất là khi sử dụng các thông tin này phục vụ cho công tác đào tạo (trường hợp lấy làm ví dụ điển cứu)

- Thuận tiện khi cần tra cứu: Hồ sơ tuy được cất trữ kỹ càng, nhưng phải

đảm bảo cho việc tra cứu khi cần thiết, kể cả trong những trường hợp bản thân đối đượng muốn được tiếp cận với hồ sơ về họ

Các phương tiện lưu trữ thông tin về đối tượng

- Các phương tiện thủ công: Các văn bản, giấy tờ v.v

Trang 34

- Các phương tiện kỹ thuật: Băng video; Băng cát sét; Đĩa CD, lưu trữ vào phần mềm quản lý chuyên dụng trên máy tính, v.v

1.4 Các yếu tố chi phối quản lý công tác xã hội đối với Người có công với cách mạng

- Yếu tố thuộc về chính sách: Quản lý CTXH đến nay vẫn là một lĩnh vực còn

rất mới mẻ ở Việt Nam- riêng ở lĩnh vực NCCVCM thì CTXH đối với đối tượng này còn nghèo nàn tài liệu nghiên cứu Các kỹ năng làm việc với NCCVCM, các nội dung có tính chất định hướng cho CTXH đối với NCCVCM của các cơ quan chuyên môn cấp vĩ mô vẫn chưa nhiều, chủ yếu thực hiện chính sách để nâng cao mức sống, nhà ở, chăm sóc sức khỏe

Chính sách đối với NCCVCM chưa quy định phải thực hành quản lý ca đối với NCCVCM, chưa có hướng dẫn việc lập chương trình hỗ trợ đối với NCCVCM, công tác tổ chức quản lý, tổ chức nhân sự thực hiện CTXH đối với NCCVCM từ Trung ương đến địa phương Hiện nay, tại các phòng LĐ- TB và XH chỉ thực hiện

sổ ghi chép, theo dõi đối tượng NCCVCM theo xã, theo từng đối tượng quản lý

- Yếu tố thuộc về nhân viên quản lý CTXH: Nhân viên CTXH chưa được đào

tạo bài bản về thực hành CTXH đối với NCCVCM nên công tác quản lý ca, thực hiện các nội dung có liên quan đến quản lý CTXH đối với NCCVCM còn nhiều hạn chế Như đã nêu trên, nhân viên CTXH trên địa bàn tỉnh không nhiều và hầu hết tập trung cho CTXH đối với trẻ em và các lĩnh vực khác Trong 40 nhân viên CTXH được điều tra, chỉ có 5 người tốt nghiệp chuyên ngành CTXH, 1 người tốt nghiệp ngành Xã hội học, số còn lại tốt nghiệp từ các ngành khác như sư phạm, kinh tế, quản trị kinh doanh Công tác kiểm huấn đầu vào đã hầu như không có; việc hướng dẫn, giao nhiệm vụ quản lý ca cho NCCVCM lại càng không, thực hiện thì lúng túng, vừa làm vừa đúc rút kinh nghiệm và chủ yếu là phối hợp với cán sự xã hội cấp xã hướng dẫn lập hồ sơ, giải quyết chính sách; chưa biến việc thực hiện chính sách thành dịch vụ và vì vậy việc dùng kinh nghiệm để kiến nghị sửa đổi chính sách chưa được nhiều

- Yếu tố thuộc về nhóm đối tượng NCCVCM: NCCVCM sau thời gian chiến

đấu trở về, đất nước còn đang nhiều khó khăn, chia sẻ khó khăn chung của đất nước, hầu hết NCCVCM đều chủ động trong làm kinh tế gia đình, tăng thu nhập để

Trang 35

đảm bảo cuộc sống Bên cạnh đó, CTXH đối với họ quả là quá lạ lẫm nên đa phần

họ không quan tâm NCCVCM chỉ kiến nghị khi có đồng đội, có hàng xóm cùng tham gia cách mạng như mình, bị thương, bị tù đày như mình đã được hưởng chính sách, còn mình hoặc đồng đội khác của mình chưa được hưởng Một số NCCVCM còn có thái độ công thần, xem công trạng của mình là trên hết, luôn muốn thế hệ trẻ hôm nay- những người thực hiện chính sách phải đề cao mình, không hợp tác giải quyết chính sách hoặc thường xuyên thưa kiện, yêu sách

- Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất: cơ sở vật chất để thực hiện quản lý CTXH

được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư Các Trung tâm điều dưỡng NCCVCM ở tỉnh, Khu vực được đầu tư khang trang, tạo điều kiện cho NCCVCM được điều trị điều dưỡng, phục hồi sức khỏe; các công trình tôn vinh, đền ơn đáp nghĩa được quan tâm đầu tư, Kho lưu trữ hồ sơ NCCVCM tại các Sở LĐ- TB và XH được quan tâm đầu tư, tập huấn cho nhân viên lưu trữ hồ sơ để thuận tiện cho việc giải quyết chính sách NCCVCM và mở rộng chính sách cho NCCVCM sau này NCCVCM được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, một lần, được thăm hỏi, tặng quà nhân ngày 27/7, nhân ngày Tết cổ truyền, được hỗ trợ nhà ở, được ưu đãi trong giáo dục và với việc hỗ trợ vật chất như vậy đã mang tính chất của CTXH

- Yếu tố thuộc về vận động, kết nối nguồn lực: Tùy theo từng địa phương, sự

quan tâm, mức độ hiểu biết về CTXH đối với NCCVCM của nhà quản lý, của nhân viên CTXH mà việc vận động kết nối nguồn lực sẽ khác nhau Nếu chúng ta vận động tốt nguồn lực sẽ tạo điều kiện nâng cao mức sống NCCVCM và ngược lại khi NCCVCM mức sống nâng cao họ sẽ quay lại giúp NCCVCM, hàng xóm, đồng đội

và đây là nguồn lực rất có ý nghĩa

Kết luận Chương 1

CTXH đối với NCCVCM là đặc thù riêng có của ngành CTXH tại Việt Nam Quản lý CTXH đối với NCCVCM là vấn đề còn rất mới, do vậy quá trình nghiên cứu gặp nhiều khó khăn và có những hạn chế nhất định Thực tiễn công tác quản lý CTXH đối với NCCVCM và việc vận dụng những tài liệu đã có trong quản

lý CTXH để sử dụng linh hoạt vào quản lý CTXH đối với NCCVCM vẫn là công việc đặt ra cho các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, các thế hệ học viên chuyên

ngành CTXH tiếp tục giải quyết

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ THỰC TRẠNG

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG

VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Thực trạng và nhu cầu của Người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Thực trạng Người có công với cách mạng tại tỉnh Quảng Nam

Thực trạng cuộc sống

Quảng Nam vốn là mãnh đất rạng danh “ngũ phụng tề phi”, đất văn hóa, đồng thời lại kiên cường trong chống giặc giữ nước Đi qua các cuộc kháng chiến, mỗi làng quê đều tự hào với những trang vàng chiến công và nặng lòng với những mất mát hy sinh không gì đo đếm được

NCCVCM nói chung, tỉnh Quảng Nam nói riêng hầu hết là những người thoát ly gia đình tham gia kháng chiến, công tác ở những nơi gian khổ, ác liệt từ khi còn ở lứa tuổi đôi mươi, bỏ dở việc học hành và những công việc đang làm, sau khi kết thúc chiến tranh, trở về gia đình, làng quê, trở về với cuộc sống đời thường, NCCVCMgặp nhiều khó khăn hơn để theo kịp nhịp sống thay đổi từng ngày Trải qua những năm tháng chiến tranh kéo dài, hoà bình lập lại thì các bác, các cô, các chú… tuổi đã cao, sức khỏe suy giảm nhiều vì thương tật, bệnh tật, lại thiếu kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất kinh doanh, thiếu nguồn vốn để đầu tư, trình độ tay nghề thấp hoặc không có, do vậy đời sống của NCCVCM và gia đình họ hầu hết còn nhiều khó khăn, một bộ phận có mức sống thấp hơn hoặcmới bằng so với mức sống trung bình của người dân nơi cư trú

Số lượng đối tượng người có công với cách mạng tỉnh Quảng Nam chiếm trên 20% dân số, với trên 65.300 liệt sĩ, trên 135.000 thân nhân; trên 30.000 thương bệnh binh; trên 45.200 người có công giúp đỡ cách mạng; trên 10.000 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; trên 33.600 người tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân, Huy chương; trên 5.680 người tham gia

Trang 37

kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học Đặc biệt, cả tỉnh có 14.545 Bà mẹ được Đảng, Nhà nước phong tặng và truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”, hiện còn sống 948 mẹ.Hiện nay, tỉnh Quảng Nam có trên 58.000 người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng và hàng chục ngàn người hưởng trợ cấp một lần Kinh phí chi trả mỗi năm khoảng 1.300 tỷ đồng.

Về độ tuổi của NCCVCM trên địa bàn tỉnh Quảng Nam: số người dưới 60 tuổi, tỷ lệ 25,2%; từ 60-70 tuổi, tỷ lệ 36,6%; từ 70-80 tuổi, tỷ lệ 29,7%; trên 80 tuổi,

họ mặc dù không nhiều nhưng cũng đáp ứng phần nào nhu cầu làm việc và tạo ra thu nhập cho họ Ở những nơi điều kiện kinh tế kém phát triển hơn như khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện đặc biệt khó khăn thì việc làm đối với bản thân và gia đình NCCVCM là vấn đề nan giải, bức xúc

Để tìm hiểu thực trạng NCCVCM tại tỉnh Quảng Nam, tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát, phiếu hỏi, phân tích từ đó thấy được sự đánh giá của bản thân thương binh, bệnh binh với cuộc sống thực tại của họ, những tâm tư nguyện vọng cũng như việc thực hiện các chính sách ưu đãi chăm sóc NCCVCM ở địa phương được thực hiện ra sao và hiệu quả mà nó đem lại như thế nào

Trang 38

Trong tổng số NCCVCM được điều tra, 80% NCCVCM trên 60 tuổi, tuổi cao sức yếu đó là quy luật của tự nhiênvà thực tế sức khỏe các các cô, các chú đã yếu đi nhiều qua thời gian Trước thực tế đó, cộng đồng xã hội đã có sự quan tâm đến NCCVCM thông qua các hoạt động khám chữa bệnh miễn phí tại cộng đồng, bản thân NCCVCM cũng có ý thức chăm sóc sức khỏe của mình thông qua việc thường xuyên đi khám bệnh, theo dõi tình trạng sức khỏe, tham gia các hoạt động thể dục thể thao, văn hoá, văn nghệ nên có một số NCCVCMtuy tuổi cao nhưng vẫn còn dẻo dai, minh mẫn, hoạt bát

CTXH đối với NCCVCM cần quan tâm sao cho các cụ được sống vui, sống khỏe, được sống trong tình thương yêu của gia đình, của cộng đồng và đặc biệt là sự tôn vinh, kính trọng của chính quyền địa phương, sự quan tâm thăm hỏi của nhân viên CTXH trong tổng thể của công tác hoạch định lâu dài, có tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, đồng thời quan tâm đến việc triển khai thực hiện, kiểm tra giám sát

Thương binh, bệnh binh có tỷ lệ mất sức lao động từ 81% trở lên, những thương tật khiến họ càng yếu đi, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày đều phải có người giúp đỡ Nhà nước đã có chính sách chăm sóc sức khỏe NCCVCM bằng cách

hỗ trợ 100% chi phí mua thẻ BHYT và NCCVCM khi đi khám chữa bệnh không phải đóng thêm khoản kinh phí nào, tại gia đình thì có phụ cấp cho người phục vụ thương bệnh binh nặng, mẹ Việt Nam anh hùng

Bệnh lý do tuổi táclà tất yếu, nhưng những vết thương do đạn bom, do hậu quả chiến tranh đã và đang hành hạ về thể xác lẫn tinh thần đối với mỗi thương binh, bệnh binh.Họ thường xuyên phải chịu những cơn đau mỗi khi trái gió, trở trời

Do đặc điểm tuổi tác và thể trạng, NCCVCM thường xuyên thăm khám sức khỏe tại các cơ sở y tế, qua khảo sát có 95,2% NCCVCM thường xuyên khám chữa bệnh và nhập viện hàng tháng; chỉ có 4,8% không đi khám chữa bệnh

Theo kết quả điều tra, tần suất khám chữa bệnh của NCCVCM thể hiện ở biểu đồ:

Trang 39

Biểu đồ 2.1 Tần suất khám chữa bệnh của NCCVCM

Qua tìm hiểu thực tế hằng ngày ở các cơ sở y tế, các phòng khám bệnh BHYT đa phần người chờ khám bệnh là các trường hợp NCCVCM, người HĐKCđã về hưu.Các bác, các cô, chú là NCCVCM từ các huyện đến Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam, Bệnh viện Y học dân tộc tỉnhđể khám gặp không ít khó khăn, trở ngại vìthời gian đi từ nhà đến nơi khám bệnh và ngược lại ít nhất mất 2 giờ đồng

hồ, chưa kể thời gian thăm khám hoặc thời gian làm các xét nghiệm cần thiết, các trường hợp NCCVCM bị đau nhức bởi vết thương tái phát, vết thương biến chứng thì thời gian thăm khám, đi lại sẽ kéo dài hơn

Bởi vậy, để chăm sóc tốt hơn đời sống cho thương binh, bệnh binh cần phải chú ý đến công tác chăm sóc sức khỏe, tổ chức khám chữa bệnh định kỳ cho thương binh, bệnh binh trên địa bàn để họ ổn định sức khỏe, ổn định cuộc sống Việcchăm

lo cuộc sống cho thương binh, bệnh binh không chỉ dừng ở những hỗ trợ về vật chất, tinh thần nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm bớt khó khăn, mà việc chăm lo sức khỏe cho họ chiếm một vị trí rất quan trọng.Đây là việc làm đòi hỏi sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng.Thiết nghĩ, ở những địa phương có điều kiện, khả năngcần quan tâm bố trí nơi khám, chữa bệnh riêng cho NCCVCM để có sự đầu tư chăm sóc có chất lượng và hiệu quả hơn

Bình quân mỗi tháng 2 lần trở lên

Ít hơn 1 lần mỗi tháng xuyên nhập Thường

viện

Tổng

Tần suất khám chữa bệnh của NCCVCM

Tỷ lệ tần suất khám chữa bệnh của NCCVCM

Trang 40

Thực trạng về thu nhập

Có thể nói thu nhập là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức sống của con người Thu nhập là mối quan tâm hàng đầu của tất cả mọi người vì nó chi phối rất lớn đến đời sống của con người

NCCVCM đa số hiện tại họ đã là những người tuổi cao, sức yếu, sức khoẻ giảm sút, thêm vào đó là những thương tật, bệnh tật, di chứng của chiến tranh để lại vì thế sức lao động kém nên cũng ảnh hưởng đến thu nhập của họcho nên ngoài những người có đời sống khá, vẫn còn những NCCVCM cóđời sống kinh tế khó khăn

Nguồn thu nhập của NCCVCM chủ yếu từ làm kinh tế gia đình như: chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà, vịt), trồng trọt (lúa, ngô, khoai, sắn, đậu đỗ, tiêu, ớt, các loại hoa quả…), một bộ phận làm dịch vụ (sản xuất, kinh doanh buôn bán nhỏ, làm dịch

vụ du lịch…) đem lại thu nhập cho bản thân và gia đình họ, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống Để làm kinh tế gia đình, NCCVCM thường tự vay vốn và tìm đến

sự hướng dẫn kỹ thuật, giúp đỡ của các chi hội ngành nghề của địa phương; cùng với sự hỗ trợ từ phía nhà nước, mỗi thương binh, bệnh binh đều đã tự nỗ lực vươn lên rất nhiều để kiếm thêm thu nhập từ kinh doanh các dịch vụ nhỏ lẻ, buôn bán nhỏ hay chăn nuôi, trồng trọt

Đánh giá về sự nỗ lực vươn lên của các đối tượng NCCVCM, Báo cáo Hội nghị điển hình tiên tiến 5 năm 2011-2015 của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội

tỉnh Quảng Nam đã nêu: “có rất nhiều những tấm gương sáng của thương bệnh

binh, gia đình liệt sỹ, các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, về tinh thần vượt khó, vượt qua những đau thương, mất mát để phát huy phẩm chất kiên cường trong chiến đấu vào cuộc sống thực tại Một số điển hình trong phong trào sản xuất kinh doanh giỏi như: ông Đỗ Phú Nuôi, thương binh 1/4 và ông Lê Văn Nuôi, thương binh 2/4, hiện

ở xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn là chủ trang trại chăn nuôi; ông Nguyễn Văn Xong, thương binh 4/4, hiện ở xã Điện Thọ là chủ cửa hàng kinh doanh mua bán hợp tác xã; ông Lê Anh Tuấn, thương binh 1/4, hiện ở phường Cẩm Châu, thành phố Hội

An là chủ cửa hàng kinh doanh thức ăn nuôi trồng thủy sản doanh thu hàng trăm triệu đồng/năm”

Cụ thể như: thương binh Lê Anh Tuấn, thương binh 1/4, 71 tuổi, phường Cẩm Châu, TP Hội An Năm 1992, ông nghỉ hưu với khoản thu nhập không đủ nuôi hai

Ngày đăng: 13/06/2017, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w