1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

93 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Trung tâm, số lượng đối tượng ngày một đông, đa dạng về dạng tật, tuổi, giới tính; trong khi đó lực lượng nhân viên còn mỏng, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chưa có lối đi dành riêng cho

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG THỊ TRÀ

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI

SỐ 2 THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai Những kết quả và số liệu nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà nội, ngày 20 tháng 3 năm 2017

HỌC VIÊN

Trương Thị Trà

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ

EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 9 1.1 Một số lý luận về trẻ em và trẻ em khuyết tật vận động 9 1.2 Lý luận công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động trong các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung 12 1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động trong cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung 23 1.4 Những quy định của pháp luật Quốc tế và Việt Nam liên quan tới công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng 26 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI SỐ 2 THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA 31 2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình trẻ em khuyết tật vận động tại tỉnh Thanh Hóa 31 2.2 Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa 39 2.3 Thực trạng các hoạt động công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa 42 2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa 49 2.5 Áp dụng thực tiễn công tác xã hội cá nhân với một trường hợp cụ thể 54 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 62 3.1 Định hướng nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động .62 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh hóa 66 Kết luận 72 Tài liệu tham khảo 74

Trang 4

6 NVCTXH Nhân viên công tác xã hội

7 NVXH Nhân viên xã hội

Trang 5

DANH MỤC BẢNG/BIỂU

1 Bảng 2.1 Số biên chế và hợp đồng có quỹ lương 38

2 Bảng 2.2 Số lao động hợp đồng ngoài quỹ lương 38

3 Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn của cán bộ viên chức và

hợp đồng lao động 38

4 Biểu đồ 2.1 Thực trạng TEKTVĐ theo giới tính 39

5 Biểu đồ 2.2 Mứ độ khuyết tật vận động trẻ em 39

6 Biểu đồ 2.3 Nhu cầu mong muốn được hỗ trợ của TEKTVĐ 40

7 Biểu đồ 2.4 Mức độ hài lòng về hoạt động tham vấn 43

8 Biểu đồ 2.5 Mức độ hài lòng về hoạt động can thiệp khủng

9 Biểu đồ 2.6 Mức độ hài lòng về hoạt động quản lí trường hợp 47

10 Bảng 2.4 Sự thực hiện một số nguyên tắc cơ bản trong

quản lý trường hợp của cán bộ Trung tâm 48

11 Bảng 2.5 Sự thực hiện chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức

năng cho TEKTVĐ tại Trung tâm 48

12 Biểu đồ 2.7 Các nhân tố ảnh hưởng tới CTXHCN đối với

13 Biểu đồ 2.8 Sự ảnh hưởng của cơ chế chính sách đến các hoạt

động hỗ trợ CTXHCN 53

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước Như chúng ta đã biết, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tình thương yêu vô bờ bến và sự quan tâm đặc biệt Bác hình dung trẻ em như cái mầm, cái búp trên cây, luôn cần sự bảo vệ, chăm sóc để phát triển đúng hướng Thế mà, hiện nay có rất nhiều trẻ em phải chịu những thiệt thòi cả về vật chất lẫn tinh thần, trong đó phải kể đến trẻ em khuyết tật (TEKT) điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước trên mọi phương diện Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là nội dung cơ bản của chiến lược con người, đưa ra những chính sách đúng đắn, tập trung vào thực hiện quyền trẻ em Tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường

an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà cả về thể chất, sức khỏe, trí tuệ, tinh thần

và phẩm chất đạo đức; Đồng thời luôn chú trọng Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt đó là: trẻ em khuyết tật, trẻ em nhiễm chất độc da cam, trẻ em

bị bạo lực, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ,…

Ngày nay, nghề công tác xã hội (CTXH) đã đi vào cuộc sống Mà mục tiêu cuối cùng của CTXH là nhằm đem lại an sinh cho con người và sự phồn vinh của xã hội, từ đó góp phần giảm bớt những khác biệt về kinh tế- xã hội giữa các thành viên tiến tới sự công bằng trong xã hội Trong số đối tượng của nghề CTXH, người khuyết tật (NKT) là đối tượng yếu thế hơn cả NKT là vấn đề xã hội, tồn tại lâu dài,

số lượng ngày càng tăng, là mối quan tâm lớn của mọi Quốc gia Theo thống kê của Cục Bảo trợ xã hội- Bộ Lao động thương binh và xã hội, hiện nay Việt Nam có khoảng 7 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số, trong đó có 3,6 triệu người là nữ; 1,2 triệu trẻ em Trong khi đó, đội ngũ cán bộ nhân viên làm CTXH chưa được đào tạo bài bản mà làm việc theo kinh nghiệm, thiếu kỹ năng cần thiết về CTXH dẫn đến hiệu quả giải quyết các vấn đề không cao và thiếu bền vững Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi cần phải có đội ngũ cán bộ làm CTXH chuyên nghiệp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, cá nhân với xã hội góp phần vào việc ổn định

Trang 7

an toàn xã hội Chính sự cấp bách và cần thiết đó, ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính

phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án "Phát triển nghề Công tác xã hội" giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là Đề án 32)

Trong những năm qua, công tác chăm sóc giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã và đang từng bước xã hội hóa, triển khai sâu rộng và đạt được nhiều kết quả tích cực Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng,

có dân số gần 3,5 triệu người, trong đó số lượng NKT chiếm tỷ lệ tương đối lớn Theo số liệu báo cáo của Sở Lao động- Thương binh và xã hội tỉnh Thanh Hoá, tính đến ngày 31/12/2016 toàn tỉnh hiện có 139.980 NKT Trong đó, số người khuyết tật vận động (KTVĐ) là 51.108 người, TEKT là 33.040 trẻ , trẻ em khuyết tật vận động (TEKTVĐ) là 7.932 trẻ [27] Trung tâm Bảo trợ xã hội (TTBTXH) số 2 Thanh Hóa, một trong những nhiệm vụ chính của Trung tâm là nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mồ côi, TEKT trong đó phần lớn là TEKTVĐ Tuy nhiên, việc hỗ trợ cho các em bị KTVĐ vẫn còn những hạn chế nhất định, nhất là hoạt động công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) Ở Trung tâm, số lượng đối tượng ngày một đông, đa dạng về dạng tật, tuổi, giới tính; trong khi đó lực lượng nhân viên còn mỏng, cơ sở hạ tầng chưa đồng

bộ, chưa có lối đi dành riêng cho Người khuyết tật, chưa có phòng trang bị máy móc và các dụng cụ cần thiết để phục hồi chức năng (PHCN) cho đối tượng, khả năng tiếp cận và điều kiện xã hội thấp, NKT chưa được hưởng các mô hình trợ giúp

và dịch vụ xã hội mang tính chuyên nghiệp Mặt khác, trên địa bàn tỉnh rất ít công trình nghiên cứu về hoạt động Công tác xã hội đối với TEKTVĐ Do đó, để tìm hiểu những nhu cầu (NC) và khó khăn trong quá trình chăm sóc trẻ em khuyết tật vận động; quy trình Công tác xã hội cá nhân đối với TEKTVĐ Từ đó, đề xuất một

số giải pháp nhằm hỗ trợ, cải thiện, nâng cao hoạt động Công tác xã hội đối với trẻ

em khuyết tật vận động tại Trung tâm nói riêng và trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói

chung.Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp lớp Cao học chuyên

ngành CTXH, góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển toàn diện của đất nước, hướng tới đảm bảo an sinh xã hội và công bằng xã hội

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Công tác xã hội quan tâm tới nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khác nhau, trong

đó Người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng là đề tài đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của xã hội cũng như các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu về Công tác xã hội trong và ngoài nước Đã có những công trình

nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp về đề tài Công tác xã hội với Người khuyết tật, trẻ

em và trẻ em khuyết tật như:

Tác giá Rick Ritter (Hoa Kỳ) (2013), khi viết về: “Đương đầu với sự mất mát

thể chất và khuyết tật” [25], đã nhấn mạnh, sự mất mát về nỗi đau tinh thần và thể

xác của Người khuyết tật liệu họ có thể vượt qua hoàn cảnh đó được không? Họ có dám đương đầu với cuộc sống này để bước tiếp được, phải nhờ vào sự quan tâm thấu hiểu của cộng đồng của mọi người xung quanh Đồng thời, tác giả cũng để lại lời nhắn nhủ đến với mọi người giúp họ nâng cao nhận thức của bản thân và nhận thức của xã hội về Người khuyết tật, phải có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc và giáo dục hòa nhập cho Người khuyết tật;

Hội trợ giúp Người khuyết tật Việt Nam (VNH) với sự hỗ trợ tài chính của cơ quan phát triển quốc tế Hoa kỳ (USAID) đã phối hợp với khoa Công tác xã hội,

trường Đại học Lao động xã hội (2014) biên soạn “Giáo trình Công tác xã hội với

Người khuyết tật” [38] Trọng tâm cuốn tài liệu này nhằm cung cấp những kiến

thức, kỹ năng cho cán bộ, nhân viên làm Công tác xã hội Nội dung đề cập đến các quan niệm về Người khuyết tật theo các hướng tiếp cận (tâm linh, từ thiện, y học, xã hội); Phân loại khuyết tật và nguyên nhân gây nên khuyết tật; hệ thống luật pháp, chính sách và mô hình trợ giúp Người khuyết tật; Tác động của khuyết tật đến cá nhân và gia đình Người khuyết tật; Những vấn đề thực hành Công tác xã hội với Người khuyết tật Tuy nhiên, cuốn giáo trình này không đưa ra khái niệm Công tác

xã hội với Người khuyết tật; Không đề cập đến các lý thuyết tiếp cận Công tác xã hội với Người khuyết tật;

Tác giả Trần Thái Dương (Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu những đặc điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật Quốc tế, đặc biệt là những quy định của Công ước quyền của Người khuyết tật trong việc đảm bảo quyền tiếp

Trang 9

cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của Người khuyết tật Từ đó, đề xuất một

số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước;

Tác giả Nguyễn Thị Oanh (2012), khi viết về: “Tìm hiểu một số vấn đề xã

hội” [15], đã nhấn mạnh, tập trung làm rõ những mô hình chăm sóc sức khỏe cho

Người khuyết tật kết hợp với những mô hình chăm sóc của các nước trên thế giới như Uranda Ngoài ra bà còn nhắc đến vai trò của nhân viên Công tác xã hội (NVCTXH) trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho Người khuyết tật;

Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), khi viết về: “Công tác xã hội với người khuyết

tật” [6], đã nhấn mạnh, rất nhiều đến các nội dung, đến cơ sở lý luận về Công tác xã

hội với Người khuyết tật nói chung và Công tác xã hội cá nhân với Người khuyết tật

và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng như: Tổng quan về Người khuyết tật và Công tác xã hội với Người khuyết tật; Những trải nghiệm khuyết tật; Thực hành Công tác xã hội với Người khuyết tật Đặc biệt tác giả đã quan tâm đến các mô hình thực hành Công tác xã hội với Người khuyết tật, trong đó có mô hình cá nhân dành cho Người khuyết tật, đi vào các bước thực hiện để quản lý trường hợp với Người khuyết tật và trẻ em khuyết tật trong đó có trẻ em khuyết tật vận động;

Tác giả Lê Minh Hằng (2013), với khóa luận tốt nghiệp“Giáo dục hòa nhập -

Cánh cửa mở rộng cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam” [5], tại Viện Aspen, đã nhấn

mạnh, những con người bất hạnh trong xã hội nhưng họ có quyền như những con người khác và hãy nhìn họ bằng những cặp mắt của con người bình thường Tác giả

đã dùng những phương pháp giáo dục dành riêng cho Người khuyết tật giúp họ hòa nhập cộng đồng, được chăm sóc sức khỏe từ cộng đồng và gia đình Kết thúc khóa luận tác giả đã có những đề xuất và giải pháp nâng cao cải thiện cuộc sống cho Người khuyết tật;

Tác giả Phạm Thị Thủy (2014), “Công tác xã hội với người khuyết tật tại

huyện Yên Thành – tỉnh Nghệ An” [36], cũng đã xoay quanh những vấn đề hòa nhập

cho NKT và cải thiện chất lượng cuộc sống cho Người khuyết tật, xây dựng một cuộc sống lành mạnh cho họ, chống sự phân biệt kỳ thị đối với những con người

Trang 10

kém may mắn; Đồng thời, tác giả đã đưa ra những đề xuất phù hợp về chính sách trợ giúp cho Người khuyết tật

Từ những công trình nghiên cứu trên, cho ta thấy đều đề cập đến vấn đề hỗ trợ, giáo dục cho Người khuyết tật cả về lý luận và thực tiễn, nhưng chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến vấn đề trợ giúp trực tiếp cho trẻ em khuyết tật vận động dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học về Công tác xã hội; Các công trình cũng chưa chỉ ra được vai trò, tầm quan trọng của Công tác xã hội cá nhân trong vấn đề trợ giúp cho trẻ em khuyết tật vận động Hiện nay, cũng chưa có tài liệu nghiên cứu nào thuộc lĩnh vực Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp cho trẻ em khuyết tật vận động Chính vì vậy, đề tài mà tôi lựa chọn không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏa những vấn đề lý luận và thực tiễn về Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động; Từ đó, đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện có hiệu quả của hoạt động Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận về Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động;

Đánh giá thực trạng Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động;

Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động (Việt Nam, tỉnh Thanh hóa, Trung tâm) tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa nhằm hỗ trợ công tác quản lý, chăm sóc, phục hồi chức năng và tái hòa nhập cộng đồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật

vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa;

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 4 năm 2017

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu một số hoạt động chủ yếu của Công tác xã hội cá nhân như: tham vấn; Xử lý khủng hoảng; Quản lý trường hợp; Hổ trợ phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật vận động

Phạm vi khách thể nghiên cứu

Nhân viên Công tác xã hội là 4 người, nhân viên y tế là 13 người, nhân viên trực tiếp chăm sóc đối tượng là 13 người tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 thanh Hóa ( tổng 30 người làm trực tiếp với đối tượng);

Trẻ em khuyết tật vận động hiện đang nuôi dưỡng tại Trung tâm là 39 trẻ;

Độ tuổi: Từ 01 tháng tuổi đến dưới 16 tuổi, một số cháu trên 16 tuổi

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối quan hệ giữa đối

tượng với cán bộ, thu thập các thông tin liên quan tới đề tài; Từ đó phân tích, tổng hợp xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn để đưa ra thành lý luận, những đề xuất thực tiễn và những chính sách pháp luật;

Nghiên cứu trong hệ thống những lý thuyết có liên quan, các yếu tố có dịch

vụ trợ giúp, chính sách, các nhóm đối tượng trẻ em khuyết tật vận động, cán bộ làm việc với trẻ em khuyết tật vận động

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tài liệu, sử dụng phương pháp này tác giả đọc, tìm hiểu, phân tích và đánh giá nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tư liệu đã được công bố như: sách, báo, các tạp chí trong và ngoài nước, các giáo trình

và tài liệu có liên quan đến Công tác xã hội, các báo cáo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các tài liệu có liên quan đến chính sách hỗ trợ và các biện pháp can thiệp giúp đỡ trẻ em khuyết tật vận động cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Trang 12

Qua đó, tác giả cũng xác định được một số nội dung chính của đề tài và việc phân tích tài liệu được tiến hành đảm bảo với yêu cầu của luận văn

Phương pháp quan sát, tác giả sử dụng phương pháp quan sát để tìm hiểu sâu hơn hoạt động chăm sóc phục vụ đối tượng, hoạt động phục hồi chức năng, hoạt động tham gia sinh hoạt hàng ngày của đối tượng, môi trường vật chất, các phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị, các công trình công cộng cho trẻ em khuyết tật vận động, hoạt động tham vấn, hoạt động xử lý khủng hoảng, hoạt động quản lý trường hợp và các hoạt động khác cho trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, đề tài này sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi trong phạm vi 39 trẻ em khuyết tật vận động và 30 nhân viên Công tác xã hội, nhân viên y tế, nhân viên trực tiếp chăm sóc đối tượng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa để thu thập thông tin về thực trạng đời sống của trẻ em khuyết tật vận động; Thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động

Phương pháp phỏng vấn sâu, tác giả sử dụng phỏng vấn sâu để tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của trẻ em khuyết tật vận động và những thuận lợi, khó khăn khi trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động; Cụ thể:

Phỏng vấn 01 trẻ em khuyết tật vận động, 01 nhân viên trực tiếp chăm sóc đối tượng và 01 lãnh đạo Trumg tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa

Phương pháp xử lý thông tin, là phương pháp sử dụng Microsofl Office Excel

để phân tích, xử lý số liệu trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Những kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa khoa học rất quan trọng, nó sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu lý luận về Công tác xã hội, Công tác xã hội cá nhân, Công tác xã hội cá nhân với Người khuyết tật nói chung và với trẻ em khuyết tật vận động nói riêng, cũng như cung cấp thêm thông tin cho mảng đề tài Công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật vận động còn rất ít trong nghiên cứu Công tác xã hội hiện nay và xây dựng chính sách có nội dung liên quan

Trang 13

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua nghiên cứu Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa sẽ đánh giá được thực trạng cũng như những nguyên nhân cơ bản trong việc quản lý, chăm sóc và trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động hiện nay

Đề tài đã định hướng và đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao khả năng hỗ trợ, giúp đỡ của Trung tâm, cộng đồng đối với trẻ em khuyết tật vận động nhằm giúp cho các em nâng cao năng lực, phát huy vai trò, thế mạnh của bản thân, vượt qua mặc cảm, tự ti để vươn lên trong cuộc sống hòa nhập tốt với cộng đồng

Có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các tổ chức và cá nhân nghiên cứu

về Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật

vận động

Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận

động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội

cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG

1.1 Một số lý luận về trẻ em và trẻ em khuyết tật vận động

1.1.1 Một sô khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm khuyết tật

Theo Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội, Hà Nội, 1988) từ

“Khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần Từ “Tật” có nghĩa

là “Điều gì đó không bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được của một cơ quan trong

cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” [41, tr.80]

Ngày nay, trong văn bản pháp quy cụm từ “Tàn tật” đã được thay bằng cụm từ

“Khuyết tật” tạo cảm giác nhẹ nhàng hơn và có ý nghĩa tích cực hơn

Như vậy, khuyết tật được hiểu là tình trạng thiếu hụt hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt

1.1.1.2 Khái niệm người khuyết tật

Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật được phê chuẩn ngày 30/3/2007 cho rằng: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” [4]

Theo khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông

qua ngày 17/6/2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [18]

Theo Luật Người khuyết tật Việt Nam có những dạng tật: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác [18]

Mức độ khuyết tật được phân làm ba mức:

Trang 15

Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không thể tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ NC sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn;

Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ NC sinh hoạt

cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc;

Người khuyết tật nhẹ là NKT không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này

1.1.1.3 Khái niệm trẻ em

Theo công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, thì “Trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn” [4]

Tại Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2005 quy định:

“Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [17] Theo quy định, trẻ em có hai đặc trưng: một là công dân Việt Nam và hai là độ tuổi được xác định là dưới 16 Như vậy, những người có quốc tịch Việt Nam dưới 16 tuổi

là đối tượng điều chỉnh của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam

1.1.1.4 Khái niệm trẻ em khuyết tật

Trẻ em khuyết tật là trẻ em có khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể, suy giảm các

chức năng, hạn chế khả năng hoạt động, khó khăn trong sinh hoạt, học tập, vui chơi

và lao động TEKT thường được phân thành các nhóm sau: Trẻ khiếm thính; Trẻ khiếm thị; Trẻ khó khăn về học; Trẻ khó khăn về vận động; Trẻ khó khăn về ngôn ngữ; Trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác

1.1.1.5 Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động

Theo Luật Người khuyết tật năm 2010 thì trẻ em khuyết tật vận động là “tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển” [18]

Trang 16

Trẻ em khuyết tật vận động là những trẻ do các nguyên nhân khác nhau gây ra

sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, vận động, sinh hoạt và học tập… TEKTVĐ gồm có hai dạng:

Trẻ em khuyết tật vận động do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khèo, liệt chân tay Trong trường hợp này, trẻ vẫn có bộ máy sinh học bình thường và hoàn toàn có khả năng nhận thức nhưng phụ thuộc vào khả năng tham gia các hoạt động ở môi trường xung quanh

Trẻ em khuyết tật vận động do tổn thương não bộ Trong trường hợp này, mọi hoạt động của trẻ rất hạn chế, chậm phát triển nhưng trẻ có thể biểu đạt được suy nghĩ, lời nói và hành động

1.1.2 Đặc điểm tâm lý xã hội và nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động

trong các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung

Trong những đối tượng yếu thế cần sự hổ trợ thì TEKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng cần được quan tâm, trợ giúp đặc biệt Để trợ giúp cho TEKTVĐ, là một NVCTXH trước hết chúng ta phải hiểu được tâm lý xã hội và NC của nhóm đối tượng này Ngoài những đặc điểm, NC chung nhất họ còn có những đòi hỏi riêng mà

NVCTXH cũng cần lưu ý trong các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung

Đối với trẻ em khuyết tật vận động do sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến chức năng hoạt động của TEKTVĐ bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn trở ngại trong sinh hoạt, lao động và học tập Do đó, các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung hổ trợ, ưu tiên đặc biệt vì các em không có người nuôi dưỡng, chăm sóc nên cần được quan tâm hơn, như: Chăm sóc sức khỏe, PHCN, cung cấp xe lăn, thiết bị tiện nghi, nhà ở…Do bị bệnh tật, không đi lại, khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh nên hoạt động lao động, giao lưu hạn chế hơn so với người bình thường nếu không có sự hỗ trợ của NVCTXH Vì vây, các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung tạo điều kiện cho đối tượng hòa nhập cuộc sống như tổ chức các câu lạc bộ thể thao Môi trường của cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung phải thích ứng với hoàn cảnh của TEKTVĐ như thiết

kế các phương tiện sinh hoạt phù hợp với NC của đối tượng Trẻ em khuyết tật vận động thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy, họ cần được chấp nhận, tôn trọng; Nhưng họ là người giàu nghị lực để vượt qua khó khăn tật nguyền,

Trang 17

họ có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, họ thông cảm với những khó khăn của người khác, giúp nhau vượt qua bệnh tật, chia sẻ kinh nghiệm để thích nghi với cuộc sống Chính vì thế, TEKTVĐ thường sống khép kín, ngại giao tiếp, buồn chán, khó diễn

tả cảm xúc bằng lời và luôn có cảm giác bị bỏ rơi, tự trách mình là gánh nặng cho xã hội Mỗi trẻ em khuyết tật vận động là một bức tranh hết sức phong phú và đa dạng về nhân cách Các em có khả năng, NC, sở thích và có cách thể hiện riêng, được tham gia vào các hoạt động trong môi trường hòa nhập tại các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung, nhà trường, cộng đồng và xã hội thì TEKTVĐ mới có cơ hội được bộc lộ, thể hiện một cách đầy đủ, rõ nét nhất khả năng và NC của mình Đồng thời, đây cũng là cách giảm thiểu được những ảnh hưởng bất lợi của khuyết tật đối với các chức năng hoạt động cơ thể khác

Trẻ em khuyết tật vận động có tất cả nhu cầu như người bình thường nhưng việc đáp ứng những NC ấy thường gặp một số khó khăn nhất định TEKTVĐ ngoài sự cố gắng của chính bản thân cần có sự hổ trợ rất lớn, phù hợp từ các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung, cộng đồng, xã hội để cho TEKTVĐ có thêm cơ hội đáp ứng các NC,

để học, có cuộc sống bình thường, để được phát triển và hòa nhập

1.2 Lý luận công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết

tật vận động trong các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm công tác xã hội

1.2.1.1 Khái niệm công tác xã hội

Có nhiều khái niệm về Công tác xã hội được đưa ra dưới các góc độ khác nhau,

như:

Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo Công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về Công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người

và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống

Trang 18

Trong Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg thì CTXH được định

nghĩa như sau: Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện

theo các nguyên tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm,

xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội

Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1999) cho rằng: Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp

hổ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) : “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường

xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”[11, tr.19]

Như vậy có thể thấy Công tác xã hội là một nghề với những đặc điểm cơ bản sau:

Công tác xã hội là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và những quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi thực hành loại ngành nghề này

Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, nhóm và cộng đồng; Đó là nhóm người yếu thế trong xã hội: Trẻ em, phụ nữ, người già, NKT, người có hoàn cảnh khó khăn không có cơ hội hòa nhập và chức năng xã hội bị suy giảm

Hướng trọng tâm của CTXH là tác động đến con người như một tổng thể; Tác động đến con người trong môi trường của họ

Mục đích của CTXH là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hòa nhập xã hội Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân, như sự hạn

Trang 19

chế về thể chất, sức khỏe, tinh thần, thiếu việc làm, không được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm

Những chức năng cơ bản trong CTXH đó là: Chức năng phòng ngừa; Chức năng can thiệp; Chức năng phục hồi và chức năng phát triển

Để thực hiện các chức năng trên thì CTXH có những phương pháp cơ bản sau: Phương pháp CTXH cá nhân; Phương pháp CTXH nhóm; Phát triễn cộng đồng; Quản trị CTXH; Nghiên cứu CTXH

Công tác xã hội được thực hành dựa trên những nguyên tắc nghề nghiệp như: Chấp nhận đối tượng; Dành quyền tự quyết cho thân chủ; Đảm bảo tính khác biệt; Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp

1.2.1.2 Nguyên tắc công tác xã hội

Trên cơ sở nền tảng triết lý, giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH người

ta đưa ra hệ thống các quy tắc ứng xử cho nhân viên xã hội (NVXH) trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Sau đây là những nguyên tắc ứng xử của NVXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp:

Chấp nhận đối tượng: Đối tượng phục vụ của ngành CTXH là con người, đặc

biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh và NC cơ bản chưa được đáp ứng Chính vì vậy, trong các hoạt động trợ giúp, NVXH cần có thái độ tôn trọng phẩm giá con người và chấp nhận họ Sự tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi

nhận, sự tồn tại và không phán xét những hành vi hay suy nghĩ của họ

Tạo điều kiện để đối tượng tham gia giải quyết vấn đề: Nguyên tắc để đối tượng tham gia giải quyết vấn đề là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của NVXH Vấn đề khó khăn của đối tượng chỉ có thể được giải quyết khi có sự tham gia của đối tượng; Bỏi vì, họ hiểu hoàn cảnh và khả năng của mình hơn ai hết nếu được

sự trợ giúp Do vậy, họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề đến khi quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó

Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng: Nguyên tắc này nêu lên để NVXH không quyết định thay đối tượng mà chỉ đóng vai trò là người xúc tác và giúp đỡ họ đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh của họ

Trang 20

Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp: Con người có những NC cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau, có những tính cách khác nhau

và những mong muốn nguyện vọng không giống nhau Mỗi gia đình cũng có những đặc điểm riêng với nếp sống, truyền thống gia đình Mỗi cộng đồng cũng có đặc điểm văn hoá vùng miền, đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội khác nhau Việc cá biệt hoá trường hợp của đối tượng (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) giúp NVXH đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể

Đảm bảo tính bí mật các thông tin về trường hợp của đối tượng: Việc đảm bảo

bí mật thông tin của đối tượng sẽ giúp cho đối tượng tin tưởng vào NVXH, từ đó họ sẵn sàng chia sẻ và hợp tác Bên cạnh đó, việc đảm bảo bí mật của đối tượng còn là

yêu cầu mang tính nhân văn trong quan hệ con người và quan hệ nghề nghiệp

Tự ý thức về bản thân: Nguyên tắc này giúp NVXH biết giới hạn về quyền lực

của mình và có ý thức hoàn thiện bản thân để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao phó Việc ý thức được yếu tố này giúp cho NVXH trung thực trong công việc, trung thực với khả năng của bản thân

Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp: Công cụ chính trong các hoạt động CTXH

là mối quan hệ giữa NVXH và đối tượng Do đối tượng tác động của NVXH là con người, NVXH cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp Mối quan hệ giữa NVXH và đối tượng cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách

quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn

1.2.1.3 Đặc điểm công tác xã hội

Trong phạm vi của nghiên cứu này xin đi chi tiết hơn về lý luận CTXHCN như sau:

Khái niệm: CTXHCN là phương pháp trợ giúp mà ở đó NVXH sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về CTXH để giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh thông qua mối quan hệ tương tác1-1 Mục đích của CTXHCN là giúp cá nhân giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những thay đổi của môi trường xung quanh (là giúp cá nhân hoạt động

Trang 21

có hiệu quả hơn trong các mối quan hệ tâm lý xã hội) Ví dụ: Như cá nhân gặp khó khăn về tâm lý, kinh tế, việc làm…

Đối tượng trợ giúp là cá nhân nhưng có khi cần can thiệp với cả gia đình, cơ sở/Trung tâm của họ nhằm tạo sự thay đổi của cá nhân và những người liên quan, là những người đang có vấn đề về tâm lý, xã hội

CTXH cá nhân có 4 thành tố: Con người thân chủ; Vấn đề; Tổ chức xã hội và tiến trình (gồm 7 bước: Tiếp nhận thân chủ; Xác định vấn đề của thân chủ; Thu thập

dữ liệu; Chuẩn đoán; Lên kế hoạch trị liệu; Trị liệu; Lượng giá)

1.2.2 Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động

1.2.2.1 Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Khái niệm: Công tác xã hội cá nhân (trong tiếng Anh là Case Work hay Working with individuals) Công tác xã hội cá nhân được xem như phương pháp của Công tác xã hội thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa nhân viên xã hội với cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi (kinh tế

- xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi

trường

Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai khái quát lại khái niệm CTXHCN như sau: Công tác xã hội cá nhân là phương pháp của Công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này nhân viên Công tác xã hội cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và

có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai [12]

Như vậy, có thể thấy CTXHCN có những đặc điểm sau:

Đối tượng tác động đến Công tác xã hội cá nhân là những cá nhân trong hoàn cảnh khó khăn như: Người khuyết tật, nghèo đói, người nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa…

Mục đích của CTXHCN là giúp cho thân chủ là cá nhân và gia đình tiếp cận với các dịch vụ xã hội, giúp thân chủ giải quyết vấn đề khi gặp khó khăn, được sống bình

Trang 22

đẳng, không bị phân biệt đối xử, phát huy những tiềm năng và sống hòa nhập cộng đồng

Các yếu tố cấu thành của CTXH với cá nhân, bao gồm: Cá nhân là người cần sự trợ giúp; Vấn đề là khó khăn trở ngại mà cá nhân đang gặp phải; Cơ quan là tổ chức cung cấp dịch vụ, đại diện cho tổ chức là NVXH; Tiến trình là các hoạt động đi theo tuần tự với các hoạt động nhằm nâng cao chức năng của cá nhân để họ có khả năng tự giải quyết vấn đề của họ

Vậy có thể nói, con người sống trong môi trường; con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố; con người ảnh hưởng ngược trở lại với môi trường

Các hoạt động, hình thức can thiệp CTXHCN gồm: Tham vấn; PHCN; Xử lý

khủng hoảng; Xử lý strees; Huấn luyện kỹ năng; Quản lý trường hợp; Cung cấp các

em khuyết tật vận động tăng năng lực, giải quyết vấn đề và đáp ứng những nhu cầu

đó thông qua mối quan hệ một – một; Đồng thời thúc đẩy chính sách trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động

Như vậy, đối tượng tác động đến là TEKTVĐ và gia đình Trong khuôn khổ của luận văn xin đi vào nghiên cứu sâu đối tượng là TEKTVĐ, vì trong cơ sở/Trung tâm không có gia đình trẻ

Mục đích của CTXHCN với TEKTVĐ là nhằm hỗ trợ bản thân TEKTVĐ; Quản lý trường hợp với TEKTVĐ; Tham gia vào xây dựng phản biện chính sách, pháp luật đối với TEKTVĐ; Bảo hộ cho quyền và lợi ích của TEKTVĐ

Trang 23

Các hoạt động của CTXHCN với TEKTVĐ gồm: Tham vấn cho TEKTVĐ; Xử

lý khủng hoảng; PHCN: giáo dục, y tế (sức khỏe, phẫu thuật), hoạt động cộng đồng (vui chơi giải trí); Xử lý strees; Huấn luyện kỹ năng; Quản lý trường hợp: đánh giá khi nào, theo dõi, giám sát, cung cấp dịch vụ trợ giúp, kết nối, chuyển giử

Các nguyên tắc CTXHCN với TEKTVĐ

Trên cơ sở nền tảng triết lý, giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH người

ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện nhiệm

vụ Sau đây là những nguyên tắc ứng xử của NVCTXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp với TEKTVĐ:

Tôn trọng trẻ em khuyết tật vận động là thái độ không phán xét, không xem

thường, miệt thị hoặc quá chú tâm đến TEKTVĐ NVCTXH chăm sóc TEKTVĐ là đón nhận sự chia sẻ, thấu hiểu nỗi khổ đau của TEKTVĐ, quan tâm đến NC, tình cảm của TEKTVĐ Với TEKTVĐ họ rất mặc cảm và nhạy cảm với thái độ, cách cư

xử của người khác Giúp TEKTVĐ tự tin, thấy rõ giá trị bản thân, biết chấp nhận bản

thân để khắc phục là điều quan trọng

Chấp nhận sự khác biệt là tin tưởng vào sự khác biệt duy nhất của mỗi cá nhân, hoàncảnh sống, NC, cảm xúc, mong muốn, những ưu khuyết điểm khác biệt Những giá trị riêng này, giúp cho NVCTXH phải suy nghĩ và sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng TEKTVĐ Ngay cả khi TEKTVĐ gặp những khó khăn như nhau thì cách giải quyết giúp đỡ sẽ khác nhau do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ, nhận thức và những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau

Tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của TEKTVĐ là nguyên tắc mà

NVCTXH luôn phải nhận thức và chú trọng trong quá trình làm việc NVCTXH giúp đối tượng nhận ra những điểm mạnh của mình, phân tích tìm ra các giải pháp

khác nhau để đối tượng có thể tự mình quyết định giải quyết vấn đề

Trung thực, chân thành với TEKTVĐ là nguyên tắc không thể thiếu của người NVCTXH Việc TEKTVĐ được nhận những thông tin đầy đủ, trung thực giúp họ

có thể lường hết những khó khăn cũng như những điều bất trắc xảy ra với họ, để họ tăng cường giải pháp đề phòng Nếu họ không được nhận những thông tin trung thực, khi họ gặp khó khăn thì khó có thể thích nghi kịp, có thể xuất hiện sự bất an,

Trang 24

thậm chí sợ hãi khi khả năng “tự vệ” của mình hạn chế nhất định do các dạng tật

Mục đích của tham vấn là giúp cho TEKTVĐ ổn định về mặt tinh thần, giảm

bớt những cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn; Giúp cho TEKTVĐ đạt tới mức độ thích hợp về tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử, phù hợp với chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội Bên cạnh đó, quá trình tham vấn còn cung cấp kiến thức, kinh nghiệm, thông tin liên quan đến các lĩnh vực cần thiết cho TEKTVĐ

như: sức khỏe, giáo dục,…

Quy trình tham vấn trong CTXHCN đối với TEKTVĐ:

Giai đoạn 1: Tạo lập mối quan hệ và lòng tin;

Giai đoạn 2: Xác định vấn đề;

Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp;

Giai đoạn 4: Triển khai giải pháp;

Giai đoạn 5: Kết thúc và theo dõi

* Hoạt động Quản lý trường hợp (Quản lý ca)

Quản lý trường hợp là một công cụ hỗ trợ cho TEKTVĐ tiếp cận với các dịch

vụ xã hội, kết nối với các nguồn lực bên trong (bản thân, cơ sở/Trung tâm) và bên ngoài (gia đình, cộng đồng, các tổ chức xã hội, dịch vụ xã hội,…), để đáp ứng tốt nhất cho TEKTVĐ các NC về vật chất, tinh thần, tâm lý xã hội, đảm bảo an sinh và thực hiện tốt các quyền cũng như chức năng xã hội của họ Đây cũng là một quá trình

có sự tham gia của TEKTVĐ, cơ sở/Trung tâm vào việc xác định vấn đề, lên kế hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được mục

tiêu mong muốn

Trang 25

Quản lý trường hợp là quy trình tổ chức và điều phối các dịch vụ chăm sóc, hỗ

trợ tới cá nhân đối tượng; Là một khâu rất quan trọng trong quá trình trợ giúp cho đối tượng và là một quá trình tổ chức dịch vụ giúp đỡ đối tượng giải quyết vấn đề khó khăn của họ một cách hiệu quả

Những mục tiêu của quản lý trường hợp đối với TEKTVĐ là kết nối họ với cơ

sở/Trung tâm tới các nguồn lực của cá nhân và cộng đồng để họ có thể giải quyết được vấn đề của mình; Tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề và đối phó với vấn

đề của TEKTVĐ, cơ sở/Trung tâm; Thiết lập và thúc đẩy hệ thống cung cấp dịch vụ hoạt động hiệu quả, huy động nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng NC của TEKTVĐ,

tham gia nghiên cứu, hoạch định các chính sách xã hội cho TEKTVĐ

Một số nguyên tắc cơ bản trong quản lý trường hợp gồm: Dịch vụ toàn diện;

Dịch vụ liên tục; Đảm bảo công bằng; Dịch vụ chất lượng; Trao quyền

Quy trình quản lý trường hợp bao gồm 5 bước:

Bước1 Tiếp nhận và đánh giá;

Bước2 Xây dựng kế hoạch can thiệp;

Bước3 Triển khai kế hoạch can thiệp;

Bước4 Giám sát và rà soát;

Bước5 Lượng giá và kết thúc

Trong hoạt động quản lý trường hợp, chúng ta phải sàng lọc để phát hiện và can thiệp sớm

Phát hiện sớm là việc sàng lọc sự phát triển của TEKTVĐ theo độ tuổi nhằm

phát hiện những yếu tố nguy cơ dẫn đến chậm phát triển hoặc bị khuyết tật từ những biện pháp hỗ trợ và can thiệp kịp thời;

Can thiệp sớm là việc áp dụng bất kỳ một dịch vụ hoặc hình thức hỗ trợ nào nhằm vào TEKTVĐ, vào cá nhân và môi trường xung quanh để giúp TEKTVĐ phát triển tối đa tiềm năng còn lại của mỗi em và giúp đối tượng hòa nhập cộng đồng Mục tiêu của phát hiện và can thiệp sớm

Đối với TEKTVĐ: Giúp ngăn ngừa yếu tố nguy cơ dẫn tới chậm phát triển

hay rối loạn chức năng, giúp TEKTVĐ thiết lập được mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh thông qua những tác động tích cực đối với TEKTVĐ chậm

Trang 26

phát triển, can thiệp sớm là một biện pháp hiệu chỉnh chức năng, giúp TEKTVĐ duy trì nhịp độ phát triển; Giảm tác dụng phụ của các bệnh mãn tính và suy giảm chức năng vĩnh viễn, ngăn ngừa được khuyết tật phối hợp;

Đối cơ sở/Trung tâm và NVCTXH: Tiếp nhận, đánh giá được thực trạng các

dạng khuyết tật để từ đó có phương pháp can thiệp phù hợp Tác động tích cực vào quá trình can thiệp như: chăm sóc TEKTVĐ hàng ngày, duy trì tư thế đúng, bế ẵm, tập luyện qua đó không những phát triển mối quan hệ tương tác thân thiện giữa nhân viên với TEKTVĐ mà còn phát hiện được tiềm năng, điểm mạnh của TEKTVĐ Bên cạnh đó, từ phát hiện và can thiệp sớm dễ dàng chấp nhận khuyết tật của TEKTVĐ như một điều hiển nhiên và sẵn sàng đương đầu với các vấn đề của TEKTVĐ, có phương pháp, cách thức hỗ trợ TEKTVĐ một cách tốt nhất Phát hiện sớm và can thiệp sớm giúp nhân viên có ý thức trong việc tiếp cận thông tin tốt hơn

về chuẩn đoán nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, tăng cường các cơ hội tiếp cận dịch

vụ cho TEKTVĐ; Dịch vụ dinh dưỡng, dịch vụ chăm sóc y tế, dịch vụ vui chơi giải trí…giúp cho TEKTVĐ và cơ sở/Trung tâm có thể phát hiện và can thiệp kịp thời

để TEKTVĐ có cuộc sống tốt đẹp nhất

* Hoạt động can thiệp khủng hoảng

Khủng hoảng là một trạng thái sốc tinh thần bị tạo bởi một sự kiện hoặc chuỗi sự kiện bất thường và nó đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực trầm trọng tới cá nhân Can thiệp khủng hoảng là tự tương tác, can thiệp hỗ trợ của NVCTXH đối với TEKTVĐ nhằm giúp họ tránh được những sang chấn tâm lý, căng thẳng, trở lại được trạng thái cân bằng, tránh được những khó khăn do trạng thái tâm lý tiêu cực mang lại Quy trình can thiệp khủng hoảng, bao gồm 9 bước:

Bước1 Tạo dựng mối quan hệ tích cực với thân chủ;

Bước2 Nâng đỡ khuyến khích thân chủ biểu lộ cảm tưởng;

Bước3 Thảo luận về sự kiện tích cực tạo tình huống khủng hoảng;

Trang 27

để có thể tồn tại, trong khi đó những trẻ em cùng tuổi, cùng giới tính đều có thể thực hiện được

Mục đích của phục hồi chức năng cho TEKTVĐ là ngăn ngừa bệnh tật thứ phát, làm cho TEKTVĐ thực hiện được tối đa các chức năng sinh lý, tinh thần và nghề nghiệp đã bị giảm hoặc mất do khiếm khuyết giảm khả năng gây nên; Tạo cho TEKTVĐ có cuộc sống tự lập tối đa và giúp TEKTVĐ hòa nhập được với cơ sở/Trung tâm, xã hội

1.2.2.4 Yêu cầu trình độ chuyên môn công tác xã hội cá nhân đối với người làm việc với trẻ em khuyết tật vận động

Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động là một trong những lĩnh vực của CTXH nói chung, mà NVCTXH đóng vai trò cung cấp cho TEKTVĐ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ Từ hỗ trợ tâm lý đến việc phát triển các mạng lưới liên kết để có thể giúp cho TEKTVĐ tiếp cận được với các dịch vụ y tế, xã hội hoặc tiếp cận các tổ chức, cá nhân có khả năng trợ giúp TEKTVĐ NVCTXH là người phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của thân chủ đối với sự khuyết tật, ảnh hưởng của khuyết tật

tới cơ hội và khả năng phát triển của họ

Đại đa số TEKTVĐ không có kỹ năng sống, vì vậy NVCTXH đóng vai trò nhà giáo dục, giúp TEKTVĐ phát triển kỹ năng xã hội cần thiết để TEKTVĐ có thể

tự tin hơn khi tham gia vào hoạt động xã hội có ích cho cuộc sống tự lập Ngoài ra NVCTXH là người hỗ trợ và thúc đẩy môi trường giúp TEKTVĐ có cơ hội hòa nhập cộng đồng thông qua việc xây dựng và lập các kế hoạch, tổ chức các hoạt động, các chương trình tập huấn, truyền thông thay đổi, nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc hỗ trợ, giúp đỡ TEKTVĐ Đồng thời, NVCTXH còn là người

Trang 28

biện hộ đảm bảo quyền lợi của đối tượng được tôn trọng và NC của đối tượng được thỏa mãn cũng như mang lại những dịch vụ tốt nhất cho đối tượng

Để có thể trợ giúp được TEKTVĐ, đòi hỏi NVCTXH phải cần có kiến thức,

kỹ năng chuyên môn, thái độ tinh thần phục vụ, liên tục cập nhật, nắm chắc các quy định về luật pháp và chính sách dành cho NKT, TEKTVĐ Vì mỗi ngành nghề đều

có những nguyên tắc hoạt động nhất định, NVCTXH khi làm việc với TEKTVĐ phải đảm bảo các nguyên tắc của CTXH và vai trò của NVCTXH thì mới mang lại

hiệu quả và tính chuyên nghiệp của CTXH trong làm việc với đối tượng

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động trong cơ sở/ Trung tâm nuôi dưỡng tập trung

1.3.1 Yếu tố thuộc về bản thân trẻ em khuyết tật vận động

Do trẻ em khuyết tật vận động nói chung nhất là trẻ sống trong cơ sở/Trung tâm thường có những đặc điểm tâm lý mặc cảm, tự ti, dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử, luôn cho rằng số phận mình không may mắn, là gánh nặng cho xã hội Vì vậy, TEKTVĐ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người Trong quá trình tương tác với người khác ở các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung TEKTVĐ luôn buồn chán, thất vọng, hay tự ái và có cảm giác bị bỏ rơi

Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động các chức năng gặp nhiều khó khăn trong việc: ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm…Do vậy, NVCTXH của các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung là những người gần gũi, thân thiết nhất đối với TEKTVĐ để giúp các em tự tin, sống vui vẻ, phát huy hết khả năng của mình, tham gia các hoạt động, phong trào có liên quan đến TEKTVVĐ và hòa nhập với mọi người Phá bỏ rào cản, sự nhìn nhận chưa đúng về TEKTVĐ để từ đó nâng cao nhận thức, năng lực chăm sóc, hổ trợ TEKTVĐ trong các hoạt động của CTXH đối với TEKTVĐ có hiệu quả, chuyên nghiệp hơn

1.3.2 Yếu tố thuộc về đội ngũ nhân viên công tác xã hội

Vế trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng của NVCTXH

Phát triển nghề CTXH là một trong những giải pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề xã hội, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế tại các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung, góp phần bảo đảm an sinh xã hội

Trang 29

Việc thực hiện CTXHCN với TEKTVĐ tốt hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó trình độ chuyên môn, thái độ nghề nghiệp của người thực thi có thể tác động, có vai trò quyết định Khi NVCTXH được trang bị đầy đủ kiến thức thì họ

sẽ hiểu rõ tâm lý của TEKTVĐ Khi họ có được kỹ năng chuyên môn họ sẽ là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội Nếu họ có được tâm huyết nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp đúng đắn thì những hành vi tác nghiệp sẽ phù hợp NVCTXH còn là người giúp cho các cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng tập trung, xã hội hiểu rõ những NC và năng lực của TEKTVĐ, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho TEKTVĐ tự tin phát huy khả năng của mình Ngoài ra NVCTXH cần phải nắm

rõ hệ thống các văn bản quy định chính sách hỗ trợ cho TEKTVĐ

Còn nếu như các NVCTXH không được đào tạo bài bản, không được trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc chuyên nghiệp, thì họ không thể nắm bắt được tâm lý, nguyện vọng,…của TEKTVĐ để đem lại hiệu quả công việc cao

Về nhận thức của lãnh đạo – nhân viên Công tác xã hội

Mọi nhận thức sẽ tác động đến hành vi, nếu người lãnh đạo nhận thức được vai trò của CTXHCN, thúc đẩy môi trường làm việc để có chính sách, chế độ…để người thực thi cảm thấy thoải mái và tâm huyết và ngược lại nếu người lãnh đạo chưa hiểu hoặc chưa hiểu đúng bản chất, mục đích của CTXHCN thì sẽ khó khăn cho NVCTXH thực hiện công việc được giao

Công tác chăm sóc, giúp đỡ TEKTVĐ rất là vất vả, công việc rất phức tạp đòi hỏi phải có số lượng, chất lượng NVCTXH đáp ứng với NC Tác động này cũng làm ảnh hưởng đến NVCTXH, đến các lãnh đạo trong việc giám sát, đánh giá, thực hiện chính sách, đưa ra chính sách, những chủ trương, giải pháp trong chỉ đạo và thực hiện cho TEKTVĐ tại cơ sở/Trung tâm

Để có những nhận thức đó lãnh đạo phải được trang bị về kiến thức, kỹ năng, quản trị,…mới hiểu được sự khó khăn, vất vả của NVCTXH, từ đó tạo điều kiện cho họ có môi trường làm việc thoải mái

Trang 30

1.3.3 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách, chế độ của trẻ em khuyết tật vận động, của nhân viên làm việc với trẻ trong cơ sở/Trung tâm

Vấn đề trẻ em khuyết tật vận động đang được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm, nhiều chính sách, văn bản pháp luật đã được ban hành, các chương trình, đề án

hỗ trợ TEKTVĐ được ra đời Quốc hội Khóa XIII đã ban hành Luật Trẻ em năm

2016 đồng thời Chỉ thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị nêu rõ: “Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng mở rộng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho trẻ em,

đặc biệt là trẻ em thuộc gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số”

Cơ chế chính sách tốt, chế độ đảm bảo thì sẽ tác động trực tiếp giúp cho TEKTVĐ được tiếp cận với chính sách hỗ trợ, các nguồn lực, hòa nhập giáo dục, thuận lợi cho việc triển khai thực hiện CTXHCN trong các quy định điều phối về kinh tế, như chính sách khám, chữa bệnh và PHCN Mặt khác, hệ thống chính sách, pháp luật, chế độ, cơ chế giám sát, thực thi; Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện Luật NKT; Mức trợ cấp xã hội cho TEKTVĐ, trang thiết bị y tế PHCN, các dịch vụ trị liệu tâm lý, không tốt, không đảm bảo thì TEKTVĐ khó có thể hòa nhập Ngoài

ra, còn có cơ chế chính sách bảo đảm các quyền trợ giúp pháp lý cho TEKTVĐ

Cơ chế chính sách, chế độ ưu đãi đối cán bộ làm việc với TEKTVĐ chưa phù hợp, còn rất thấp, thiếu thông tin, họ không được trợ giúp,…như lương thấp ( hợp đồng lao động),…sẽ dẫn đến tâm lý không ổn định Vì vậy, các chính sách nếu

được truyền thông tốt họ sẽ hiểu và chủ động tiếp cận Đây là yếu tố ảnh hưởng, là

động lực tích cực nhất đến tinh thần của nhân viên để họ làm việc tốt hơn

1.3.4 Yếu tố thuộc về điều kiện cơ sở vật chất của cơ sở/Trung tâm nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em khuyết tật vận động

Trẻ em khuyết tật vận động sống trong các cơ sở/Trung tâm, nếu cơ sở/Trung tâm nào có điều kiện vật chất tốt cho các TEKTVĐ như phòng ở phù hợp, trang thiết bị đầy đủ, có lối đi dành riêng cho NKT, khuôn viên vui chơi, giải trí, được giao lưu, có phòng PHCN, phòng tham vấn,…đó là điều kiện tác động cho CTXHCN làm việc với TEKTVĐ có hiệu quả Tuy nhiên, TEKTVĐ gặp nhiều trở

Trang 31

ngại trong việc tiếp cận cơ sở vật chất; Như cơ sở không đồng bộ, không có lối đi dành riêng cho TEKTVĐ, không có phòng tham vấn…

Ví dụ: Nếu như tham vấn mà không có phòng riêng, không có máy vi tính, không có tủ hồ sơ có khóa thì không có tính bảo mật riêng tư Nguyên tắc của CTXH khi làm việc với đối tượng phải đảm bảo tính bảo mật thì mới thực thi

Đồng thời, các quy chuẩn, tiêu chuẩn về việc xây dựng các công trình tạo điều kiện để TEKTVĐ tiếp cận sử dụng phải được áp dụng

Hoạt động của CTXHCN đối với TEKTVĐ phải có sự điều phối, hỗ trợ của Chính phủ, các bộ, các Ban- Ngành, các tổ chức đoàn thể, cá nhân Nếu không có sự can thiệp của các bên thì sẽ rất khó thực hiện tốt

Ngoài ra, còn một số nhân tố tác động đến đối tượng, chịu sự tác động của những yếu tố khách quan, chủ quan của mỗi địa phương như công tác từ thiện,…và nghề CTXH chưa được phát triễn bằng nghề khác

1.4 Những quy định của pháp luật Quốc tế và Việt Nam liên quan tới công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật nói chung và trẻ

em khuyết tật vận động nói riêng

1.4.1 Những văn bản Quốc tế liên quan đến người khuyết tật và trẻ em khuyết tật vận động

Việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục TEKTVĐ được xác định không chỉ có ý nghĩa nhân đạo, từ thiện mà còn mang tính chất kinh tế, xã hội và pháp lý Liên Hợp quốc cùng cộng đồng quốc tế ra một số văn bản, quy định trách nhiệm của các quốc gia trên Thế giới trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền của TEKTVĐ, bao gồm: Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật ngày 09 tháng 12 năm 1975 (The Declaration on the Rights of Disabled Persons) [39];

Chương trình hành động thế giới về người tàn tật1982 (The World programme of Action for Disabled Persons) [3];

Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về bình đẳng hoá cơ hội cho người tàn tật ngày 26 tháng 12 năm 1993 (The United Nations Standard Rules on the Equalization of Opportunities for Persons with disabilities);

Trang 32

Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục NC đặc biệt 1994 (The Salamanca Statement and Framwork for Action on Special Needs Education) [40]; Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Công ước quốc tế về Quyền của NKT ngày 06 tháng 12 năm 2006

Công ước quốc tế về quyền trẻ em – 1989 (điiều 2; điều 3; điều 6; điều 23) [4] Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật ngày 13 tháng 12 năm

Công ước về Quyền của Người khuyết tật (2006) có ý nghĩa đặc biệt khi thay đổi được cách nhìn đối với NKT, là một sự thoả thuận giữa các quốc gia trên thế giới về việc bảo đảm người có khuyết tật và không có khuyết tật được đối xử bình đẳng

1.4.2 Luật pháp, chính sách, dịch vụ liên quan tới công tác xã hội, công tác

xã hội cá nhân với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng ở Việt Nam

Ở nước ta hiện nay, do những điều kiện hoàn cảnh khác nhau, việc đưa TEKTVĐ vào chăm sóc tại các cơ sở/Trung tâm vẫn còn khá phổ biến Để các em được thụ hưởng những quyền lợi của mình, bình đẳng như những trẻ khác, Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách tương đối hoàn chỉnh, liên quan đến việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em nói chung và TEKTVĐ nói riêng

Trang 33

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001(điều 59 và 67);

Pháp lệnh về Người tàn tật ban hành ngày 30 tháng 7 năm 1998 (điều 9)[16]; Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, ban hành từ ngày 17 tháng 6 năm 2010 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011[18] Đây là văn bản pháp luật cao nhất về NKT từ trước tới nay và là cơ sở pháp lý toàn diện để thực hiện trợ giúp NKT có hiệu quả hơn;

Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 – được sửa đổi năm 2004; Ngoài những văn bản Luật liên quan đến NKT thì còn một số văn bản dưới luật đề cập đến hoạt động chăm sóc, trợ giúp NKT như:

Nghị định số: 136/2013/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng Bảo trợ xã hội [14];

Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ban hành ngày 10 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật;

Nghị định số: 26/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2016 Quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức và người lao động tại các cơ sở quản

lí người nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy và cơ sở trợ giúp xã hội [13]; Thông tư 08/2010/TT-BNV về việc ban hành chức danh, mã số các ngạch viên chức công tác xã hội [28];

Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 06/01/2015 của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội hướng dẫn về Quản lý trường hợp với Người khuyết tật [30];

Thông tư số 04/2011/TT-BLĐTBXH ngày 25 tháng 02 năm 2011của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội quy định về Tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ sở Bảo trợ

xã hội [29];

Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02 tháng 02 năm 2017 của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội hướng dẫn Quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làm Công tác xã hội [31];

Trang 34

Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 [35];

Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn giai đoạn 2013 – 2020;

Quyết định số 01/2002/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng, ngày 17 tháng 01 năm

2002 về việc ban hành Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng [24];

Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật [21];

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Để tìm hiểu cũng như thực hiện một cách hiệu quả hoạt động CTXHCN với TEKTVĐ, chúng ta phải nghiên cứu lý luận, có cái nhìn tổng quan chung về CTXH, CTXHCN đối với NKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng Qua khái niệm

về CTXH, CTXHCN, CTXHCN với TEKTVĐ, nguyên tắc CTXH, cơ sở pháp lý

về CTXH, CTXHCN trong trợ giúp TEKTVĐ…đã giúp chúng ta hiểu được tầm

quan trọng CTXHCN là một phương pháp giúp đỡ từng con người thông qua mối quan hệ một- một Là cách thức, quá trình chuyên nghiệp mà NVCTXH sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để hổ trợ đối tượng phát huy tiềm năng, khai thác NC và đáp ứng NC, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình Nắm rõ được hệ thống Pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Nam về quyền của NKT, giúp chúng ta xác định được vị thế của TEKTVĐ trong đời sống xã hội Từ những vấn đề mang tính chất lý luận, ta tiến hành đánh giá thực trạng CTXHCN đối với TEKTVĐ tại TTBTXH số 2 Thanh Hóa để có góc nhìn rõ nét hơn và đi vào thực hiện một trường hợp thực tế tại Trung tâm để hiểu một cách sâu xa hơn những NC, những suy nghĩ cũng như mong muốn của TEKTVĐ

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI

SỐ 2 THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình trẻ em khuyết tật vận động tại tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế- xã hội tỉnh Thanh Hóa

Tỉnh Thanh Hoá có diện tích tự nhiên trên 11.168 km2; Phía Bắc giáp 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình, Sơn La; Phía Tây giáp nước Lào, Phía Nam giáp tỉnh Nghệ

An, Phía Đông giáp biển Đông Toạ độ 190 47’ vĩ Bắc - 1050 45’ kinh Đông Cách

Hà Nội 160 km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.600 km về phía Bắc; Nhiệt độ trung bình hàng năm 230 c, lượng mưa trung bình từ 1.700 mm; Độ ẩm trung bình 88% Có đường Quốc lộ 1 A đi qua dài hơn 98 km Có bờ biển dài hơn

102 km Dân số trên 3,4 triệu người, có 7 dân tộc anh em cùng sinh sống Có 27 huyện, thị xã, thành phố và 636 xã, phường, thị trấn Có 1,2 triệu đồng bào dân tộc thiểu số ở 12 huyện miền núi và miền núi cao Kinh tế - xã hội chậm phát triển, tỷ lệ đói nghèo cao so với cả nước

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2016 (số liệu tổng hợp của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa) theo giá so sánh năm 2010 ước tăng 9,05% so với cùng

kỳ (năm 2015 tăng 8,39% so với cùng kỳ); Trong đó ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,52%; ngành công nghiệp, xây dựng tăng 11,96%; Các ngành dịch

vụ tăng 8,83%; Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp tăng 9,16% Trong 9,05% tăng trưởng của năm 2016, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,45 điểm phần trăm; Ngành công nghiệp, xây dựng đóng góp 5,11 điểm phần trăm; Các ngành dịch vụ đóng góp 3,05 điểm phần trăm; Thuế nhập khẩu, thuế sản phẩm trừ trợ cấp đóng góp 0,44 điểm phần trăm

Tỷ trọng các ngành trong GRDP năm 2016: Ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 16,6%, giảm 1,2%; Ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 40,5%, tăng 1,2%; Các ngành dịch vụ chiếm 38,5%, bằng năm 2015; Thuế nhập khẩu, thuế sản

Trang 37

phẩm trừ trợ cấp chiếm 4,4%, bằng năm 2015 GRDP bình quân đầu người năm

2016 theo giá hiện hành ước đạt 34,2 triệu đồng, theo USD đạt 1.544 USD (theo số liệu tổng hợp của Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa) [2]

2.1.2 Khái quát về tình hình người khuyết tật, trẻ em khuyết tật vận động và hoạt động trợ giúp xã hội với người khuyết tật, trẻ em khuyết tật vận

động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

2.1.2.1 Khái quát về tình hình người khuyết tật, trẻ em khuyết tật vận động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa tính đến 31/12/2016 toàn tỉnh có 139.980 NKT, trong đó: NKT vận động là 51.108 người; Nghe nói 12.802 người; Khuyết tật nhìn 20.624 người; Khuyết tật thần kinh, tâm thần 27.891 người; Khuyết tật trí tuệ 10.783 người và khuyết tật khác 16.772 người Trong đó 21.871 NKT đặc biệt nặng; 77.725 NKT nặng và 40.384 NKT nhẹ; NKT trong độ tuổi lao động là 63.342 người và NKT cao tuổi (trên 60 tuổi) là 76.638 NKT

Số trẻ em khuyết tật là 33.040 trẻ, trong đó: KTVĐ 7.932 em; Khuyết tật nhìn 3.474 trẻ; Khuyết tật nghe nói 5.199 trẻ; Khuyết tật trí tuệ 5.444 trẻ; Khuyết tật thần kinh - tâm thần 8.436 trẻ; Khuyết tật khác 2.555 trẻ

Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác lao động thương binh xã hội tại các địa phương trong tỉnh hiện có trên 1.500 người Với nguồn lực sẵn có, cùng với thực trạng về đối tượng xã hội trên địa bàn tỉnh, nghề CTXH tại Thanh Hóa càng trở nên cần thiết [27]

Trong thời gian qua, nhiều chính sách trợ giúp của Nhà nước được các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa tổ chức triển khai có hiệu quả, đời sống của đại bộ phận NKT đã được nâng lên Với những cơ chế chính sách ưu đãi, đã giúp cho hàng ngàn NKT tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản Cụ thể số NKT học văn hóa tốt nghiệp trung học cơ sở là 25.857 người; Số NKT đang có việc làm và thu nhập ổn định toàn tỉnh khoảng trên 26.280 người; Số NKT được các cơ sở, trường nghề tổ chức dạy nghề là 2.450 người; Số NTK theo Nghị định 136 là 139.980 người trong

đó có 92.985 đối tượng NKT hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng, 100% NKT

Trang 38

đủ điều kiện được cấp thẻ BHYT miễn phí; Khoảng trên 2.000 NKT được phẫu thuật thay thủy tinh thể; 3.000 NKT được khám mắt; 300 NTK được phẫu thuật chỉnh hình; Gần 200 trẻ em bị KTVĐ được phẫu thuật… Đặc biệt, hàng năm các doanh nghiệp,

tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, cưu mang chia sẻ đối với NKT Nhờ đó, giúp NKT vơi đi khó khăn, mặc cảm, tự lực vươn lên hòa nhập cộng đồng

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có 3 tổ chức hội, cơ sở của NKT được thành lập, gồm Hội Bảo trợ NKT và trẻ em mồ côi, Hội nạn nhân chất độc màu da cam, Hội người mù; 01 Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 chăm sóc, nuôi dưỡng NKT và

01 Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Với chức năng nhiệm vụ được quy định theo điều lệ, quyết định, các tổ chức hội, TTBTXH số 2 và Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH đã tổ chức nhiều hoạt động cho NKT như chăm sóc nuôi dưỡng; trợ cấp đời sống, phẫu thuật chỉnh hình, hỗ trợ phương tiện dụng cụ phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh kế …tạo điều kiện cho NKT có nhiều cơ hội tự khẳng định mình

Tuy nhiên, tỉnh Thanh Hóa là tỉnh có số lượng NKT cần trợ giúp nhiều, địa bàn rộng lớn trong khi đó công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên, liên tục nên nhận thức trách nhiệm của một bộ phận dân cư, của một số ban ngành chưa đầy đủ, chưa quan tâm tạo điều kiện cho NKT, chưa có giải pháp tối ưu trong việc tiêu thụ sản phẩm cho các cơ sở sản xuất của NKT, do vậy chưa mang tính ổn định, bền vững Một số các quy định khác trong chính sách chăm sóc, trợ giúp NKT như chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dinh dưỡng, phục hồi chức năng, học văn hóa, dạy nghề tạo việc

làm, trợ giúp pháp lý, sử dụng các công trình công cộng…đang còn nhiều hạn chế;

đội ngũ làm cộng tác trợ giúp NKT còn hạn chế về số lượng và chất lượng…[27]

2.1.2.2 Khái quát về hoạt động trợ giúp xã hội cho người khuyết tật, trẻ

em khuyết tật vận động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các quy định, chình sách của nhà nước đối với NKT nói chung và TEKT nói riêng Trong những năm qua, các cấp chính quyền từ tỉnh đến địa phương

đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để trợ giúp NKT Năm 2016 đã trợ cấp xe lăn miễn phí cho 10.500 người Khám sàng lọc và phẫu thuật thay thủy tinh thể cho 3.500 người Khám sàng lọc và phẫu thuật chỉnh hình PHCN cho 1.000 người PHCN tại

Trang 39

Trung tâm và cộng đồng cho 1.500 người Khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 7.500 người [26].

Sở Lao động- thương binh và xã hội đã phối hợp với các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh thông qua các cơ sở y tế để chăm sóc sức khỏe, PHCN cho NKT tại cộng đồng nói chung và TTBTXH số 2 nói riêng Đội ngũ NVCTXH đóng vai trò cung cấp cho NKT và gia đình họ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ hỗ trợ tâm lý đến việc phát triển các mạng lưới liên kết để có thể giúp NKT tiếp cận được các dịch vụ y tế,

xã hội hoặc các tổ chức có khả năng trợ giúp NKT NVCTXH là người cung cấp các thông tin tâm lý xã hội của NKT nhằm giúp các nhân viên y tế, PHCN, người chăm sóc…có sự hỗ trợ đúng đắn và hiệu quả

Tỉnh Thanh Hóa rất quan tâm đến việc hỗ trợ về mặt tinh thần cho NKT trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để NKT phát huy các tiềm năng sáng tạo về văn hóa, văn nghệ, thể thao phù hợp với khả năng và sức khỏe Ngoài ra, tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với các tổ chức để hộ trợ làm nhà, trợ cấp khó khăn, cấp học bổng, trợ cấp thôi việc cho NKT

Các cơ sở văn hóa, thể dục, thể thao như: nhà thi đấu Liên đoàn Lao động tỉnh, nhà hát Lam Sơn…ưu tiên cho NKT tập luyện thể thao, trợ giúp dụng cụ, trợ giúp khi luyện tập…

Như vậy, công tác hỗ trợ NKT về mặt tinh thần ngày càng được quan tâm Tuy nhiên, việc tiếp cận các hoạt động trong lĩnh vực này của NKT chưa đồng bộ Phần lớn những đối tượng ở các Trung tâm, các hội mới biết các chương trình này, còn những NKT ở gia đình ít có cơ hội tiếp cận được

Nhiều cuộc thi đã được tổ chức để NKT tham gia như: Hội thi văn nghệ do Sở Lao động – Thương binh và xã hội Thanh Hóa phối hợp với Hội người khuyết tật, các huyện, thị xã, thành phố tổ chức hội thi Tiếng hát NKT và đã chọn được 5 tiết mục tham gia hội thi Tiếng hát NKT khu vực Bắc miền Trung- Tây Nguyên Kết quả đạt được 02 huy chương vàng, 02 huy chương bạc, 01 huy chương đồng và là một trong

ba tỉnh được chọn tham gia chung kết tiếng hát NKT toàn quốc tại Hà Nội Kết quả đạt được 01 huy chương vàng và 01 huy chương bạc Về thể dục- thể thao, Sở Lao động – Thương binh và xã hội phối hợp với Sở Văn hóa thể thao & Du lịch, hàng

Trang 40

năm tổ chức các hội thi thể thao cho NKT và lựa chọn hàng trăm vận động viên đi

dự thi thể thao toàn quốc, quốc tế và khu vực dành cho NKT đã dành nhiều thành tích cao Phong trào hoạt động thể thao quần chúng của NKT thường xuyên được tổ chức đã có tác dụng lớn tới tinh thần của NKT, giúp họ tự tin và khuyến khích họ hòa nhập cộng đồng, tự tin vượt khó vươn lên trong cuộc sống

Bên cạnh CTXH hỗ trợ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tinh thần thì việc giúp NKT tiếp cận các nguồn lực cơ bản như: Nguồn tài chính; Nguồn nhân lực;

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ là rất cần thiết Tiếp cận nguồn lực tài chính, CTXH đối với NKT chỉ được đảm bảo khi có nguồn tài chính đủ mạnh, đó là nguồn ngân sách nhà nước và quỹ hỗ trợ từ các hội, ban, ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp,

cá nhân trên địa bàn tỉnh

Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa đã kết nối với Hội bảo trợ tỉnh phối hợp với Hội khuyến học, hội nạn nhân chất độc màu da cam trao học bổng cho các cháu khuyết tật, 70 suất quà, trị giá mỗi xuất từ 300000đ đến 500000đ Hoặc nhân ngày NKT Việt Nam, tết Trung thu, tết nguyên đán đều tổ chức tặng quà Một số dự án giúp đỡ NKT ra đời, như dự án “Trợ giúp pháp lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ khuyết tật và TEKT lang thang hồi gia tỉnh Thanh Hóa”, với số tiền là 1.188.000.000đ Mở rộng dây chuyền sản xuất tăm tre, đũa tre, nâng cấp hệ thống xông hơi, hỗ trợ mua máy đóng đũa tự động

Việc tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông đã được tỉnh quan tâm Đài phát thanh truyền hình Thanh Hóa đã có chương trình hỗ trợ NKT nghe nói bằng các

ký hiệu thông qua chương trình thời sự Trường trung cấp nghề đặc biệt khó khăn tỉnh Thanh Hóa trang bị các thiết bị như hệ thống chữ nổi Bareil…

Tiếp cận nguồn nhân lực, đã được quan tâm và dần hoàn thiện Tại thành phố, huyện, thị xã, phường, xã, TTBTXH đã có cán bộ làm CTXH, các cộng tác viên Những cán bộ này làm công tác chi trả trợ cấp, thẩm định, xác định mức độ khuyết tật, chăm sóc, PHCN…Nhìn chung đội ngũ NVXH còn nhiều hạn chế cả về số lượng

và chất lượng Theo ông Lê Hồng Nam - Phó Giám đốc TTBTXH số 2 Thanh Hóa:

“CTXHCN đối với NKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng còn rất mới, mà đội ngũ NVCTXH chưa được đào tạo bài bản nên hiệu quả chăm sóc, PHCN còn nhiều hạn

Ngày đăng: 13/06/2017, 15:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Thị Oanh (2012), "Tìm hiểu một số vấn đề xã hội", NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số vấn đề xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2012
1. Nguyễn Thị Bảo (2007), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Khác
2. Chi cục thống kê tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết năm 2016 Khác
3. Chương trình hành động thế giới về người khuyết tật 1982 Khác
4. Công ước quốc tế về quyền trẻ em – 1989; Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật ngày 13 tháng 12 năm 2006 Khác
5. Lê Minh Hằng (2013), "Giáo dục hòa nhập - Cánh cửa mở rộng cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam&#34 Khác
6. Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), Công tác xã hội với người khuyết tật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
7. Liên hiệp quốc (2007), công ước Quốc tế về quyền trẻ em Khác
8. Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 Khác
9. Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2014 số 46/2014/QH13 ngày 13 tháng 06 năm 2014 Khác
10. Luật giáo dục ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2005 Khác
11. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Nhập môn công tác xã hội, nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Khác
12. Bùi Thị Xuân Mai và Nguyễn Thị Thái Lan (2011), Công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB Lao động xã hội, Hà Nội Khác
14. Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng Bảo trợ xã hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bộ máy: - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Sơ đồ b ộ máy: (Trang 42)
Bảng 2.1: Số biên chế và hợp đồng có quỹ lương - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.1 Số biên chế và hợp đồng có quỹ lương (Trang 43)
Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ viên chức và hợp  đồng lao động - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ viên chức và hợp đồng lao động (Trang 43)
Bảng 2.4: Sự thực hiện một số nguyên tắc cơ bản về đạo đức trong quản lý - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.4 Sự thực hiện một số nguyên tắc cơ bản về đạo đức trong quản lý (Trang 53)
Bảng 2.5: Sự thực hiện chăm sóc sức khỏe, PHCN cho TEKTVĐ tại TTBTXH - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Bảng 2.5 Sự thực hiện chăm sóc sức khỏe, PHCN cho TEKTVĐ tại TTBTXH (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w