Trong đó thểloại văn "miêu tả" là thể loại văn dùng ngôn ngữ để thể hiện sự vật, sự việc, conngười, cảnh vật… một cách sinh động cụ thể như nó vốn có trong cuộc sống.Đây là loại văn giàu
Trang 1A - PHẦN MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong Chương trình Tiếng Việt ở cấp Tiểu học, cùng với các phân môn khác,Tập làm văn là phân môn nhằm rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói,đọc và viết Tiếng Việt
Phân môn Tập làm văn lớp 5 gồm các thể loại như: kể chuyện, miêu tả (tảcảnh, tả người, tả đồ vật, cây cối, con vật), các loại văn bản (báo cáo thống kê,đơn, thuyết trình tranh luận, biên bản, chương trình hoạt động) Trong đó thểloại văn "miêu tả" là thể loại văn dùng ngôn ngữ để thể hiện sự vật, sự việc, conngười, cảnh vật… một cách sinh động cụ thể như nó vốn có trong cuộc sống.Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu giá trị tưởng tượng và sự đánh giá đối vớiđối tượng miêu tả
Trong chương trình Tập làm văn lớp 4, các em được làm quen với văn miêu
tả qua các loại bài tả đồ vật, con vật, cây cối Đến lớp 5, học sinh tiếp tục đượcrèn luyện kĩ năng làm bài văn tả miêu tả qua kiểu bài tả cảnh Văn "tả cảnh"đóng vai trò quan trọng trong phân môn Tập làm văn nói chung và trong thể loạivăn miêu tả nói riêng "Tả cảnh" giúp các em phát triển tư duy, sáng tạo, mởrộng vốn từ ngữ, linh hoạt trong việc nâng cao kĩ năng sử dụng từ ngữ và mởmang tâm hồn trẻ thơ, tạo cảm xúc tình yêu quê hương làng xóm, yêu đất nước
từ đó hình thành nhân cách cho học sinh Nhưng để dạy cho học sinh lớp 5 viếtmột bài văn "tả cảnh" hoàn chỉnh là một điều rất khó khăn và gây nhiều lúngtúng cho giáo viên Làm cách nào để nâng cao kĩ năng cho học sinh đó là điều
mà tôi luôn băn khoăn, trăn trở
Là một giáo viên trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5 tôi quyết định chọn
đề tài "Dạy kiểu bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5" nhằm góp một phần nhỏ
vào việc nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt nói chung và phân mônTập làm văn nói riêng ở lớp tôi chủ nhiệm
II CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 2Tập làm văn là phân môn có tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và sángtạo Nó là kết quả của nhiều phân môn Tiếng Việt do đó nó huy động vốn kiếnthức nhiều mặt, sử dụng nhiều loại kĩ năng để hình thành một năng lực mới:năng lực sản sinh văn bản.
Nội dung kiến thức Tập làm văn trong chương trình lớp 5 gồm 62 tiết, trong
đó văn tả cảnh chiếm 18 tiết Như vậy văn tả cảnh là kiểu bài văn quan trọngtrong chương trình Tiếng Việt lớp 5 nói riêng và trong hệ thống chương trìnhTiếng Việt của bậc Tiểu học nói chung
Như chúng ta đã biết, đối với học sinh Tiểu học, vốn sống, vốn kinh nghiệmcủa các em còn ít Các em lại hay tò mò, ưa tìm tòi, khám phá thế giới xungquanh và tư duy các em còn thiên về cảm tính hơn là lí tính Các em lại có óctưởng tượng rất phong phú Cách nhìn nhận của trẻ thơ đối với thế giới xungquanh rất ngộ nghĩnh khác với người lớn Do đó giáo viên phải nắm bắt đượcđặc điểm tâm sinh lý của trẻ, tôn trọng những cá tính sáng tạo của trẻ, không gòvào một khuôn mẫu định sẵn nào cả
Khác với kiểu bài tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật ở lớp 4 mà các em đã đượchọc thì kiểu bài này đối tượng miêu tả là những không gian rộng lớn (một cơnmưa, một ngày nắng đẹp, một đêm trăng, một khu vườn, một dòng sông…) Do
đó kĩ năng quan sát, sự nhận thức của học sinh đòi hỏi cũng phải bao quát, rộng
mở để tái hiện đối tượng miêu tả một cách phong phú, sinh động và hấp dẫn
Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng của bài văn
tả cảnh nói riêng, giáo viên phải phát huy được tính tích cực, sáng tạo, nét tựnhiên của học sinh đồng thời phải bám sát mục đích, yêu cầu và đặc trưng củakiểu bài "Tả cảnh"
III TÌM HIỂU THỰC TRẠNG
Năm học 2010 - 2011 tôi được phân công giảng dạy lớp 5B Đầu năm học, tôi
khảo sát chất lượng môn Tập làm văn và thu được kết quả như sau:
Tổng
số HS
Trang 340 3 7.5% 20 50% 13 32.5% 4 10% Qua kết quả khảo sát của lớp mình, tôi nhận thấy rằng: các em hầu như chưabiết cách làm văn Những bài văn miêu tả của các em thường theo khuôn mẫu,thiếu sự sáng tạo, trình tự tả chưa hợp lí Các em chưa biết cách lựa chọn từ ngữgợi cảm, gợi tả, chưa biết viết câu văn có hình ảnh, không tả được nét riêng, nétnổi bật của đối tượng miêu tả và một số em còn nhầm lẫn giữa kể và tả Chính
vì những điều đó mà bài viết của các em còn nghèo nàn, thiếu sức hấp dẫn vàchưa làm tái hiện một cách sinh động đối tượng miêu tả Từ những bài viết chấtlượng chưa cao dẫn đến sự giao cảm giữa giáo viên và học sinh bị hạn chế, giáoviên chưa hiểu hết những tâm tư, tình cảm của học sinh
Như vậy, thực trạng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làmvăn nói riêng đang là một vấn đề khó khăn, cần tìm một hướng đi ngắn mà đemlại hiệu quả Việc tìm hiểu, vận dụng một vài ý kiến về “ Dạy kiểu bài văn tảcảnh cho học sinh lớp 5" vào thực trạng dạy học văn trong nhà trường hiện nay
sẽ góp phần nâng cao chất lượng học văn, làm văn cũng như việc rèn luyện tưduy lôgic, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thànhnhân cách cho học sinh
B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Đứng trước tình hình chất lượng Tiếng Việt quá thấp tôi rất băn khoăn, trăntrở và đã tìm tòi nghiên cứu các tài liệu, sách tham khảo, học hỏi đồng nghiệp
và phụ trách chuyên môn của trường đồng thời đúc rút từ thực tế giảng dạy, tôi
đã tìm ra một số biện pháp thực hiện trong từng bước rèn kĩ năng làm kiểu bàivăn "Tả cảnh" cho học sinh lớp 5 như sau: Tìm hiểu đề bài, quan sát tưởngtượng, so sánh và nhận xét, tìm ý chọn ý, sắp xếp tổ chức các ý, diễn đạt thànhvăn kết hợp vận dụng phương thức biểu đạt trong làm văn Mỗi khâu như vậy cótầm quan trọng của nó Khi tiến hành làm bài phải nhận thức được một cách rõràng theo các bước
1 Hướng dẫn tìm hiểu đề bài.
Trang 4Đề bài ra cho học sinh là đặt các em trước một tình huống có vấn đề Vì thế,tìm hiểu đề là phải ra cho được "các tình huống có vấn đề" có nghĩa là phải pháthiện được "cái vấn đề cần được giải quyết" nằm trong đề bài Các vấn đề đónằm trong các từ ngữ của đề bài.
1a Các bước thực hiện:
*Bước 1: Đọc đề bài
Học sinh phải đọc kĩ đề bài để có một cái nhìn tổng quát, chú ý không bỏ sót một chi tiết nào để tránh những hiểu sai, hiểu nhầm về đề bài
*Bước 2: Phân tích đề bài
Ta thấy kết cấu của một đề bài gồm 2 phần:
- Phần A: Thể loại và kiểu bài văn
Phần này thường thể hiện ở từ đầu tiên trong đề bài
Ví dụ:
Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều), trong một vườn cây (hay trongcông viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)
(Giáo viên hướng dẫn học sinh gạch hai gạch dưới từ " tả" để xác định thể
loại của đề bài này là văn miêu tả và dưới từ “cảnh” để xác định kiểu bài là tả
cảnh)
- Phần B: Bao gồm đối tượng miêu tả và phạm vi miêu tả
+ Đối tượng miêu tả: Phần này thường được thể hiện ngay sau từ " tả cảnh" ở
đề bài trên, học sinh gạch một gạch dưới cụm từ " một buổi sáng trong một vườn cây" ( hoặc một trong các ý khác trên đề bài theo sự lựa chọn của học sinh Ví
dụ: " Một buổi chiều trên đường phố" ) để xác định đối tượng miêu tả.
+ Phạm vi miêu tả: thường thường đối tượng miêu tả bị giới hạn bởi thờigian, không gian Ở đề bài trên, đối tượng miêu tả bị giới hạn bởi:
Thời gian: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều)
Không gian: Một vườn cây (trong công viên, trên đường phố, trên cánhđồng, nương rẫy)
1b Phương pháp thực hiện
Sau khi đọc kĩ đề bài, học sinh phân tích đề bằng cách:
Trang 5- Gạch hai gạch dưới từ xác định thể loại làm văn.
- Gạch một gạch dưới các từ xác định đối tượng miêu tả sau đó viết vào ô trống
- Gạch một gạch dưới các từ xác định đối tượng miêu tả sau đó viết vào ô trốngtrong bảng thực hành
Ví dụ:
loại
Đối tượngmiêu tả
Giới hạn đối tượng miêu tảThời gian Không gian
Tả cảnh một buổi
sáng trong một vườn
cây
Miêu tả Cảnh vườn cây Buổi sáng Một vườn cây
Như vậy trong bước tìm hiểu đề HS phải nắm được đó là thể loại nào ? Đốitượng miêu tả cái gì ? Thời gian miêu tả là bao giờ ? Ở đâu ? Mục đích của tìmhiểu đề là định hướng chính xác cho vấn đề mình làm tránh sai đề, lạc đề
Trong quá trình tìm hiểu đề giáo viên cần tổ chức cho học sinh luyện tập trênhai dạng đề để phát triển kĩ năng cho các em: dạng đề cụ thể và dạng đề mở Khi gặp dạng đề mở, học sinh thường hiểu nhầm đề, xác định không đúng đốitượng miêu tả do bị phân tán bởi những câu văn dẫn dắt đầu đề mà không chú ýđến những từ ngữ quan trọng ở phần cuối của đề bài Vì vậy, giáo viên cần gợi ýcho học sinh tìm hiểu xem những câu văn này nói đến đối tượng nào (cảnh gì?)
và chú ý đến câu lệnh cuối đề để từ đó xác định đối tượng miêu tả
Ví dụ:
- Đề A (dạng đề cụ thể): Em hãy tả cảnh mùa xuân
- Đề B (dạng đề mở): Mùa xuân đến, cây cối đâm chồi nảy lộc, chim chóc hótvéo von, mặt đất kiệt sức bỗng bừng dậy âu yếm đón lấy những hạt mưa xuântrong lành, vạn vật bừng sống sau một mùa đông lạnh giá Em hãy tả lại cảnhmùa xuân tươi đẹp đó
Ở đề B học sinh có thể nhầm tả cây cối mùa xuân hoặc chim chóc mùa xuânhoặc mưa xuân
2 Hướng dẫn quan sát tìm ý:
Trang 6- “ Quan sát không phải là hành động trước miêu tả và ngoài miêu tả mà còn
là yếu tố tham gia vào kết cấu miêu tả “ Kết cấu của một bài văn miêu tả phụthuộc rất nhiều vào yếu tố quan sát Học sinh có thể quan sát đối tượng miêu tảbằng một trong các cách: trực tiếp, qua tranh ảnh, băng hình hoặc có thể bằngcách nhớ lại
Quan sát là một hoạt động tổng hoà và phức tạp vì vậy quan sát luôn cóquan hệ mật thiết với tìm ý, chọn ý
- Tìm ý chọn ý là khâu hết sức quan trọng Nhờ có nó mà miêu tả không savào kể lể, thống kê, nó định hướng tới lượng giá trị thẩm mỹ của đối tượng Tìm ý là chọn từ ngữ chính xác, đặt câu thích hợp để ghi lại (vào vở nháp) cho
rõ nét và đầy đủ những điều đã quan sát được
Khi quan sát đối tượng miêu tả không có nghĩa là ghi lại tất cả những gì quansát được mà phải biết sàng lọc, lựa chọn những đặc điểm quan trọng có khảnăng làm nổi bật đối tượng miêu tả Khi hướng dẫn cho HS quan sát, giáo viênphải định hướng cho các em không những quan sát bằng mắt mà phải quan sátbằng tất cả các giác quan bởi vì các giác quan sẽ giúp cho học sinh cảm nhậnđược một cách đầy đủ đối tượng cần miêu tả Bên cạnh đó giáo viên phải địnhhướng cho học sinh trình tự quan sát Cụ thể là:
2.1 Quan sát bằng giác quan
* Thị giác (mắt nhìn): Qua việc quan sát bằng thị giác, học sinh sẽ nhận ra
được hình dáng, kích thước, màu sắc… của sự vật
- Hình dáng, kích thước: nhỏ, nhỏ nhắn, bao la, mênh mông, bát ngát,
- Màu sắc: xanh biếc, đỏ thắm, vàng ươm, vàng xuộm
- Chiều sâu: hun hút, thăm thẳm, hoắm, …
* Thính giác (tai nghe): Học sinh sẽ cảm nhận được âm thanh của sự vật với
các mức độ, to nhỏ, lớn bé đa dạng của sự vật
Âm thanh: rì rầm, loong boong, ầm ầm, oàm oạp…
+ Khứu giác (mũi ngửi): Học sinh cảm nhận được hương vị ngọt ngào của cuộc
sống
Mùi: Thoang thoảng, nồng nàn, ngầy ngậy, ngào ngạt, hắc, ngai ngái
+ Vị giác (miệng nếm)
Trang 7Vị: ngòn ngọt, ngọt lịm, mằn mặn, cay xè, chua chát,
+ Xúc giác (tay sờ)
Cảm giác: mịn màng, mát lạnh, mềm mại, ram ráp, chắc nịch …
(Giáo viên cần lưu ý với học sinh: Tùy đối tượng mà sử dụng các giác quan cóliên quan để quan sát, không nhất thiết lúc nào cũng sử dụng các giác quan cùngmột lúc.)
Ví dụ: Tả cảnh một buổi sáng trong một vườn cây.
- Thị giác: Phía trước là mặt hồ tĩnh lặng Trên mặt nước có vài chú nhện nướcqua lại Xa xa là lấm tấm màu trắng của hoa bưởi, hoa cam
- Thính giác: Một làn gió nhẹ lao xao, tiếng ve sầu ngân vang như một bảnđồng ca cất lên từ những vòm lá
- Khứu giác: Thoang thoảng đâu đây mùi thơm hoa bưởi, hoa cam thật dễ chịu
- Xúc giác: Mỗi khi có làn gió nhẹ thoảng qua mang theo hơi mát của nước làmmọi người đều cảm thấy khoan khoái dễ chịu
2.2 Quan sát theo thời gian, không gian (vị trí)
a Quan sát theo không gian (vị trí)
Nhìn
từ xa
Càngđếngần
Trên bầutrời
Dưới mặtđất
Phíatrướcmặt
Đằngsau
Bướcvàotrong
Phíangoài
Ví dụ 1:
Trước mắt chúng tôi, giữa hai dãy núi là nhà Bác với cánh đồng phì nhiêu.Nhìn xuống cánh đồng có đủ các màu xanh: xanh pha vàng của ruộng mía, xanhrất mượt của lúa chiêm đương thì con gái, xanh đậm của rặng tre Đây đó mộtvài cây phi lao xanh biếc và rất nhiều màu xanh khác nữa Cả cánh đồng thu gọntrong tầm mắt, làng nối làng, ruộng nối ruộng
(Hoài Thanh và Thanh Tịnh - Hồi kí Bác Hồ )
Ví dụ 2: Đứng ở đây, nhìn ra xa, phong cảnh thật là đẹp Bên phải là đỉnh Ba
Vì vời vợi Bên trái là dãy Tam Đảo như bức tường đá sừng sững Trước mặt,ngã ba Hạc như một hồ lớn…
(Đoàn Minh Tuấn - Phong cảnh đền Hùng)
Trang 8Lưu ý: Tuỳ đối tượng miêu tả mà chúng ta chọn những vị trí thích hợp để quan
sát, không nhất thiết khi nào cũng phải chọn tất cả các vị trí
b Quan sát theo thời gian (thời điểm):
Có khi chúng ta chỉ quan sát đối tượng miêu tả theo các thời điểm trong mộtngày ( sáng, chiều, tối) Nhưng cũng có khi chúng ta có thể quan sát theo từngmùa trong năm (xuân, hạ, thu, đông)
Ví dụ: Tả cảnh biển
* Theo thời điểm trong một ngày
Buổi sáng: Cảnh biển buổi sáng mới đẹp và hấp dẫn làm sao! Ông mặt trời từ từ
nhô lên như một quả cam chín mọng tỏa nguồn sáng và truyền sức sống xuốngbiển cả Vạn vật như được bừng lên, sôi động sau một đêm ngủ dài
Buổi chiều: Chiều nắng tàn, mát dịu Biển xanh veo màu mảnh chai Đảo xa tím
pha hồng Những con sóng nhè nhẹ liếm trên bãi cát, bọt sóng màu bưởi đào
Buổi tối: Màn đêm buông xuống, biển trở nên huyền bí khi khoác lên mình
chiếc áo nhung đen Những ngôi sao vốn đã lấp lánh nhìn trên biển càng lấplánh thêm Biển về đêm chỉ còn những cơn gió nhẹ mơn man cùng tiếng sóng ìoạp vỗ vào bờ
* Theo các mùa trong năm
Mùa xuân: Xuân đến những hạt mưa li ti mát lạnh phủ lên biển như một tấm
chăn sương mềm mại
Mùa hè: Biển rực rỡ lộng lẫy trong ánh nắng chói chang Trên mặt biển như có
hàng trăm con rồng nhỏ múa lượn cùng với nắng trời
Mùa thu: Bầu trời xanh ngắt in xuống mặt biển Trông mặt biển lúc này giống
như tấm gương khổng lồ xanh biếc màu mây
Mùa đông: Khi gió mùa đông bắc thổi về, biển lặng đỏ đục, dày như mâm bánh
đúc, loáng thoáng những con thuyền như những hạt lạc ai rắc lên trên
*Lưu ý: Để việc quan sát đạt hiệu quả, giáo viên cần:
+ Chuẩn bị câu hỏi giúp học sinh quan sát: Trọng tâm miêu tả cảnh gì? Quan sátcảnh đó vào lúc nào? Quan sát theo thứ tự ra sao? Quan sát bằng những giác
Trang 9quan nào? Với giác quan đó thấy được những hình ảnh, âm thanh và có cảm xúc
gì ?
+ Tổ chức cho học sinh quan sát: tuỳ theo đề bài để có thể tổ chức cho học sinhquan sát tại chỗ Tuy nhiên việc quan sát này khó bởi vì không gian trường họckhông cho phép nên giáo viên hướng dẫn cụ thể cho học quan sát và ghi chép ởnhà
+ Lưu ý với học sinh tả cảnh bao giờ cũng có con người, loài vật hay hoạt độngcủa con người, chim muông làm cho cảnh vật thêm đẹp và sinh động
3 Hướng dẫn sắp xếp ý, lập dàn ý
3.1 Sắp xếp ý: là trình tự miêu tả hợp lý mà học sinh phải tuân theo để bài văn
miêu tả mạch lạc, tránh được lối miêu tả lộn xộn, trùng lặp, rời rạc, tản mạn, Phân loại trình tự:
+ Trình tự không gian: xa gần / ngoài trong / trên dưới
+ Trình tự thời gian: sáng trưa chiều tối
xuân hạ thu đông
+ Trình tự tâm lý: Điều gây cảm xúc ít: tả sau
Điều gây cảm xúc nhiều: tả trước
Khi làm văn, có thể tả theo trình tự ngược lại và cần kết hợp các loại trình tự
để bài văn sinh động hơn, giàu hình ảnh hơn
3.2 Lập dàn ý:
Sau khi đã tìm hiểu đề, quan sát, tìm ý, lựa chọn các ý chúng ta cần sắp xếpcác ý đó vào bố cục nhất định đó là lập dàn ý Việc lập dàn ý có rất nhiều íchlợi Dàn ý là nội dung giản lược, là sự phác thảo bài văn Dàn ý không những lànội dung mà là hình vẻ, dáng dấp được khắc hoạ của bài văn Có một dàn ý tốt
là điều kiện đảm bảo chắc chắn cho thành công của toàn bài văn
Dàn ý giúp người viết sắp xếp tổ chức các ý chặt chẽ, hợp lý có cái nhìn tổngquát để đoán đạt được sự đáp ứng yêu cầu, có điều kiện chủ động ngòi bút vềmặt dung lượng triển khai từng phần, từng ý Chủ động hơn về mặt thời gian Chính vì vậy học sinh có thể thấy rằng lập dàn ý khó hơn một bài văn và khi làm bài các em thường bỏ qua khâu này
Trang 10Lập dàn ý là bước tiếp nối quá trình tìm ý, lập ý Một bài văn tốt trước hếtphải đúng khi đó mới đến hay Một bài văn hay là có sự kết hợp nhuần nhuyễngiữa các thao tác Cụ thể trong văn tả cảnh đó là sự kết hợp giữa cách miêu tảsinh động tạo nên bởi ngôn ngữ liên tưởng bất ngờ và bố cục hợp lí, lôgic Điềunày càng khẳng định phải có một dàn ý tốt thì mới có điều kiện tạo ra bài vănđúng, hay, hoàn chỉnh.
Cũng như các kiểu bài văn khác, dàn ý của bài văn tả cảnh gồm 3 phần: Mởbài, thân bài, kết bài
a Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả
Ví dụ: Tả dòng sông quê em.
để lại trong tôi nhiều kỉ niệm êm đềm nhất là dòng sông Lam yêu dấu
+ Mỗi góc phố, con đường, hàng cây của quê hương đều đã trở nên quen thuộcđối với tôi Nhưng cảnh vật quen thuộc và thân thương hơn cả là dòng sôngLam hiền hòa yêu dấu
Trang 11+ “ Quê hương ai cũng có một dòng sông bên nhà Con sông quê gắn bó với tuổithơ đời tôi…” Mỗi lần nghe câu hát lòng tôi lại bồi hồi nhớ tới dòng sông quêhương - nơi đã để lại trong tôi biết bao kỉ niệm êm đềm.
b Thân bài: là phần trọng tâm có nhiệm vụ phát triển ý chính đã được nêu ở
phần mở bài bằng cách tả từng chi tiết của cảnh theo trình tự đã dự định
Trong văn miêu tả có hai trình tự cơ bản:
b.1 - Trình tự thời gian: theo thời điểm trong ngày: sáng, trưa, chiều, tối hoặctheo các mùa trong năm
- Trình tự không gian: từ bao quát đến chi tiết hoặc ngược lại, từ xa đến gần, từngoài vào trong, từ trên xuống dưới,…
b.2 Tả từng phần (từng đặc điểm) của cảnh
Ví dụ: Tả dòng sông
*Tả theo trình tự thời gian (thời điểm)
Vào những buổi sáng gió lặng, nước sông trong vắt in bóng mây trời Khi ôngmặt trời rắc muôn vàn hạt ngọc tràn xuống, mặt sông trở nên lấp lánh như dátbạc Từng đoàn thuyền đánh cá căng buồm ra khơi đánh thức dòng sông Nhữngbuổi trưa hè oi ả, mặt trời như đổ lửa xuống, nước sông ánh lên, lóa lên bỏnggiãy Thỉnh thoảng, một làn gió lướt qua, những hàng tre hai bên bờ khẽ đungđưa, lá tre xào xạc như ca hát Khi chiều về, dòng sông trở nên dịu mát, mộtkhung cảnh nhộn nhịp diễn ra Đám trẻ con rủ nhau tắm rửa, vùng vẫy Sông ômchúng vào lòng, ôm lấy những đứa trẻ hồn nhiên, nghịch ngợm Sông dịu dàng
dễ dãi như người mẹ tắm rửa cho đàn con, vui đùa cùng chúng Những đêmtrăng sáng, dòng sông như được khoác chiếc áo nhung tím lung linh ngàn ánhsao Trăng in bóng mình xuống sông, em có cảm giác như ai vừa đánh rơi chiếcđĩa vàng đĩa bạc nào đó dưới lòng sông mà chưa kịp vớt lên Những con thuyềnthong thả buông lái xuôi dòng như những chiếc lá tre đen trũi trôi trên dòngsông Hết ngày tới đêm, xuân qua hạ tới, thu đến đông về, dòng sông vẫn êmtrôi Dòng sông Lam vẫn chung tình với mảnh đất quê hương bên lở bên bồi dùcho dòng đời có đổi thay
* Tả từng phần của cảnh