Đó là các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Tôn Thảo Miên …, những bài viết của các nhà văn cùng thế hệ với ông như Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Tôn Thảo Miên
2: PGS.TS Vũ Tuấn Anh
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng, minh bạch
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Tác giả
Trần Thị Huyền
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở phương Tây và Việt Nam 7
1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng 12
CHƯƠNG 2.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾTLIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU VŨ TRỌNG PHỤNG 25
2.1 Khái niệm về tiếp nhận văn học 25
2.2 Quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học 31
2.3 Xung quanh thuật ngữ chủ thể tiếp nhận 56
CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG VIỆC TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT VÀ PHÓNG SỰ VŨ TRỌNG PHỤNG 64
3.1 Những tiền đề tiếp nhận 64
3.2 Chủ thể tiếp nhận từ lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng 67
Chương 4 NHỮNG QUAN ĐIỂM TIẾP NHẬN TIỂU THUYẾT 87
VÀ PHÓNG SỰ VŨ TRỌNG PHỤNG 87
4.1 Tiếp nhận từ quan điểm xã hội 87
4.2 Tiếp nhận từ phân tâm học 101
4.3.Tiếp nhận từ quan điểm đánh giá về giá trị hiện thực và nhân đạo 113
4.4 Tiếp nhận từ thi pháp học 128
Tiểu kết 146
KẾT LUẬN 148
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1.Trong lịch sử văn học Việt Nam nói chung và dòng văn học hiện thực phê phán nói riêng,Vũ Trọng Phụng là một cây bút tiêu biểu, là một nhà văn có vị trí trọng yếu Ngay từ khi mới xuất hiện Vũ Trọng Phụng đã trở thành một khuôn mặt
lạ trên văn đàn, nhưng cũng chính vì cái “lạ” cái dữ dội và quyết liệt ấy mà cả cuộc đời ông chất chứa đầy giông tố Chỉ với thời gian chưa đầy 10 năm cầm bút, làm báo và viết văn, bằng tài năng và sức lao động không mệt mỏi, Vũ Trọng Phụng đã vươn tới những đỉnh cao rực rỡ trong sự nghiệp văn chương và báo chí.Tám tiểu thuyết, bẩy thiên phóng sự xuất sắc đã đưa ông lên vị trí một “tiểu thuyết gia trác tuyệt” trên địa hạt văn chương và “ông vua phóng sự đất Bắc trong làng báo”
Thực tiễn này thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà phê bình, nghiên cứu và của độc giả Đã có rất nhiều cuộc tranh luận gay gắt về tác phẩm và tư tưởng của Vũ Trọng Phụng Người ta không ngừng đọc, không ngừng hoan nghênh, phê phán, nhưng cũng tích cực tìm hiểu, khám phá lại giá trị của mỗi tác phẩm Trong nền văn học Việt Nam, ông được đánh giá là một trong những hiện tượng văn học phức tạp bậc nhất và chịu sự đánh giá thăng trầm suốt nửa thế kỷ Lịch sử nghiên cứu văn học cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về các sáng tác của ông đặc biệt là ở tiểu thuyết và phóng sự, hai thể loại được coi là thành công nhất của Vũ Trọng Phụng, trong đó phải kể đến công trình nghiên cứu của Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Trác, Phùng Tất Đắc, Mai Xuân Nhân, Trương Tửu, Hà Minh Đức… Nhiều công trình tuyển tập, toàn tập về sáng tác của ông cũng được tập hợp, xuất bản Đó là các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu
Tá, Tôn Thảo Miên …, những bài viết của các nhà văn cùng thế hệ với ông như Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Lê Văn Trương,Tam Lang,Vũ Bằng… Đặc biệt những năm gần đây xuất hiện rất nhiều những nhà nghiên cứu tham gia nghiên cứu về tác phẩm của ông, như luận văn Thạc sĩ và Tiến sĩ của Trần Đăng Thao, Võ Thị Quỳnh, Nguyễn Quang Trung… Sáng tác Vũ Trọng Phụng đã từng được tìm hiểu ở nhiều khía cạnh, từ thể loại, vấn
đề đến nhân vật, tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết và phóng sự nhìn từ lịch sử tiếp nhận Thực tế này đã gây nhiều khó
Trang 5khăn cho việc thẩm định lại giá trị tác phẩm của ông Giai đoạn này, thập niên thứ hai của thế kỷ XXI việc nhìn nhận lại quá trình đánh giá về cuộc đời và sáng tác cũng như những đóng góp của Vũ Trọng Phụng vào lịch sử văn học Việt Nam là một việc làm cần thiết, đó cũng là cánh cửa mở ra những phương diện mới, những cách tiếp cận mới
1.2 Quá trình sáng tạo và thưởng thức một tác phẩm văn học vận hành qua ba khâu : Nhà văn - Tác phẩm - Người đọc, trong đó người đọc (người tiếp nhận) được xem là khâu cuối của quá trình ấy, khâu cuối này được lý luận quan tâm từ vài thập
kỷ trở lại đây Mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz đã mở rộng hướng nghiên cứu văn học, lần đầu tiên quan tâm tới độc giả, “đặt mục tiêu cách tân và mở rộng sự phân tích của nghiên cứu văn học bằng cách đưa vào lược đồ quá trình văn học sử một bậc độc lập mới: “Độc giả” [82 -98] Đó cũng là khái niệm cơ bản, là vấn đề trung tâm của lý thuyết tiếp nhận Số phận lịch sử của tác phẩm qua mỗi thời
kỳ là do tầm đón nhận quy định; tầm đón nhận bị chi phối bởi cái chuẩn thẩm mỹ của thời đại và chính người đọc tạo nên những cách đánh giá khác nhau về tác phẩm, tạo nên đời sống cho văn bản Cũng trên ý nghĩa đó, vấn đề sáng tác của Vũ Trọng Phụng trong văn học nghệ thuật luôn là một vấn đề lớn, gắn với các quan điểm khác nhau, cách nhìn nhận khác nhau và thậm chí là cách đánh giá trong mỗi độc giả ở cùng một giai đoạn Trong vô vàn những cách tiếp nhận đó không ai có
thể xem mình là người cuối cùng thủ đắc chân lý Với đề tài Tiểu thuyết và Phóng
sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ lịch sử tiếp nhận, tác giả luận án đi sâu vào hai thể loại
tiểu thuyết và phóng sự được soi chiếu bằng lý thuyết tiếp nhận, tổng hợp những nhận định, đánh giá về tác phẩm qua mỗi thời kỳ, qua những môi trường và điều kiện lịch sử Khi nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng cũng như tác phẩm của ông, chúng tôi đặt đối tượng này trong bối cảnh của lịch sử dân tộc và thời đại để thấy được tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, những đóng góp không ai thay thế được của ông đối với tiến trình lịch sử văn học dân tộc
Thực tế cho thấy tuy có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra với sáng tác của Vũ Trọng Phụng nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu, khảo sát sáng tác của ông theo hướng tiếp nhận Chính vì lý do này mà tác giả luận án sẽ tìm hiểu theo hướng đó, mong góp một số ý kiến để lý giải sự thay đổi trong các sắc thái tiếp
Trang 6nhận và truy tìm các quy luật ẩn giấu sau đó Đồng thời việc tiếp cận với những thành tựu của tư duy lí luận văn học hiện đại và hậu hiện đại, giúp chúng tôi mở ra những nhận thức mới về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học Công trình của chúng tôi là một công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này
1.3 Hơn 70 năm đã trôi qua, trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được ở thời điểm hiện tại, chúng tôi nhận thấy cần nhìn nhận lại để có những nhận xét xác đáng hơn về Vũ Trọng Phụng Việc nghiên cứu một cách có hệ thống sẽ có những đánh giá chuẩn xác hơn về nhà văn, đồng thời đây cũng là việc làm có ý nghĩa đối với công tác nghiên cứu di sản văn học quá khứ nói chung Từ những lý do vừa trình
bày chúng tôi quyết định chọn vấn đề Tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ lịch sử tiếp nhận làm đề tài luận án của mình, như một mũi đột phá nhằm
tìm hiểu sâu hơn những giá trị ngày càng tỏa sáng trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng Chúng tôi tin rằng đây sẽ là một cách tiếp cận mới mẻ đầy thách thức nhưng chắc chắn cũng hết sức thú vị
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ lịch sử tiếp nhận” chúng tôi mong muốn kiểm nghiệm lại những quan điểm của lý thuyết tiếp nhận, thông qua lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng như một minh chứng để chứng minh
Trên cơ sở khái quát lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng, chúng tôi phục hiện diện mạo, đưa ra cái nhìn hệ thống về các hình thức tiếp nhận, các ý kiến đánh giá Đồng thời lý giải cách hiểu khác nhau về hai thể loại này của Vũ Trọng Phụng trong lịch sử nghiên cứu, phê bình văn học dân tộc Sự phát triển của những bài viết, bài nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng trong những năm gần đây chứng tỏ sự quan tâm của độc giả đối với Vũ Trọng Phụng Qua vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng, chúng tôi sẽ trả lời cho những câu hỏi của lí luận văn học về tác phẩm văn học “Ý nghĩa của tác phẩm văn học có phải nhất thành bất biến”, qua đó xác định những đóng góp của Vũ Trọng Phụng đối với nền văn học nước nhà
Luận án dành một số trang nhất định cho việc tìm hiểu những quan điểm tiếp nhận cơ bản về tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
Thứ nhất: Luận án là đề tài vận dụng lý thuyết tiếp nhận vào khảo sát trường hợp một tác giả thông qua sáng tác.Tuy nhiên do dung lượng của một luận án tiến
sĩ, nên chúng tôi giới hạn khảo sát việc tiếp nhận về tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng trong giới nghiên cứu phê bình, còn các con đường tiếp nhận khác luận án không bao quát hết được
Thứ hai: Luận án sẽ tiến hành khảo sát tình hình giới thiệu và nghiên cứu về
Vũ Trọng Phụng từ năm 1933 tới nay trong đó tập trung vào hai thể loại tiểu thuyết
và phóng sự, lý giải một số cách hiểu của người đọc về tác phẩm Vũ Trọng Phụng
Phạm vi nghiên cứu của luận án
Trong khuôn khổ của một luận án, do điều kiện chủ quan và khách quan, chúng tôi xin được giới hạn phạm vi tìm hiểu các công trình nghiên cứu, phê bình tại Việt Nam
Khi nói đến lịch sử tiếp nhận cũng có nghĩa là nói đến người tiếp nhận ở những giai đoạn lịch sử khác nhau Ở mỗi giai đoạn lại có những quy định về tầm đón nhận khác nhau và tầm đón nhận này lại bị quy định bởi xã hội, thời đại Để tìm hiểu sự tiếp nhận, luận án sẽ tiến hành phân kỳ lịch sử của quá trình này
Đặc biệt, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu khảo sát ở hai thể loại thành công nhất và gây nhiều tranh cãi nhất, đó là tiểu thuyết và phóng sự, thống kê, phân tích những bài viết, công trình nghiên cứu cũng như các vấn đề về Vũ Trọng Phụng ở từng giai đoạn
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1.Cơ sở lý luận: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như là nền tảng khi triển khai luận án Đặc biệt, luận án sử dụng lý thuyết tiếp nhận như là công cụ để giải quyết những vấn đề mà luận án đặt ra
4.2.Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử - xã hội : Vận dụng phương pháp này để xem xét tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng qua những giai đoạn lịch sử khác nhau.Trong quá trình vận động, phát triển, trong những mối liên hệ với điều kiện xã
Trang 8hội lịch sử, văn hóa cụ thể có tác động gì tới việc tiếp nhận tư tưởng cũng như tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Phương pháp này sẽ được vận dụng cho chương 3 và chương 4 của luận án
Phương pháp khảo sát, thống kê: Sử dụng phương pháp này chúng tôi nhằm mục đích xem xét, tập hợp, phân loại các công trình, bài báo, tiểu luận phê bình về
Vũ Trọng Phụng Tiếp đó tiến hành thống kê sắp xếp theo từng giai đoạn, từng vấn
đề, những bước thăng trầm và từng cách tiếp cận, đánh giá khác nhau; hệ thống hóa bức tranh về tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng trong quá trình vận động, phát triển, với điều kiện lịch sử xã hội cụ thể
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Với phương pháp này luận án sẽ chỉ ra được thái độ, cách nhìn, nguyên nhân của những cách nhìn đó; tổng hợp lại và rút ra được những kết luận cần thiết trong khi nghiên cứu Phương pháp này sẽ được sử dụng thường xuyên trong quá trình làm luận án
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình giải quyết vấn đề luận án chúng tôi sẽ tiến hành so sánh giữa các bài viết, ở các vấn đề, ở các tác giả, các thời điểm, các giai đoạn khác nhau, cũng có khi so sánh ngay trong một tác giả, một vấn đề
ở cùng một thời điểm Ngoài ra khi cần thiết sẽ so sánh giữa trào lưu hiện thực phê phán và trào lưu lãng mạn
Trong quá trình triển khai luận án chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp hệ thống, phân loại…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đưa ra một cái nhìn hệ thống về quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học và sự ảnh hưởng của những quan niệm đó trong lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng
Bước đầu hệ thống, phân tích, nhận xét về việc nghiên cứu và ảnh hưởng của
Vũ Trọng Phụng đối với nền văn học, góp phần khẳng định giá trị các tác phẩm của ông từ bình diện nghiên cứu tiếp nhận
Khẳng định vai trò của chủ thể tiếp nhận trong việc nghiên cứu, thẩm định các giá trị văn học Qua lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng luận
án khẳng định: Lịch sử văn học không chỉ là sự tổng hợp các con số về tác phẩm mà còn là sự tiếp nhận về nó
Trang 9Vận dụng lý thuyết tiếp nhận vào khảo sát một hiện tượng văn học Thấy được tầm đón nhận Vũ Trọng Phụng thông qua việc nghiên cứu tác phẩm của ông, chỉ ra thực trạng tiếp nhận và hướng đi tiếp theo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Luận án cố gắng phác họa quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học trong tư duy lý luận văn học qua các giai đoạn một cách hệ thống, trong đó người đọc là nhân tố quan trọng trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học Phần nào áp dụng lý thuyết vào khảo sát thực tiễn văn học Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn: Hoàn thành đề tài này chúng tôi mong muốn đem đến một cái nhìn mới mẻ và khoa học trong cách tiếp cận về tác phẩm Vũ Trọng Phụng, tiếp tục nghiên cứu sâu hơn mảng tiểu thuyết và phóng sự của ông, góp phần nâng cao chất lượng cho công tác giảng dậy trong các trường cao đẳng, phổ thông, cho những người quan tâm nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận án được triển khai làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến việc nghiên cứu tiểu thuyết
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận ở phương Tây và Việt Nam
1.1.1.Thành tựu của mỹ học tiếp nhận phương Tây
Trong quan niệm truyền thống về tác phẩm văn học với nhiều khuôn mẫu lý thuyết được coi là chuẩn mực, nhiều khái niệm mang tính kinh điển như đề tài, chủ
đề, tư tưởng, nhân vật…từng là những công cụ để thẩm định tác phẩm đã dần trở
nên lỗi thời trước thực tiễn sáng tạo đang biến đổi
Từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, nghệ thuật nhân loại đã có những bước đột phá quan trọng thay đổi cả tư duy lẫn hình thức trong đó vai trò của người đọc được gia tăng, cùng với sự ra đời của các trường phái ở phương Tây với một hệ thống khái niệm mới đáp ứng thực tiễn sáng tạo đang biến đổi mau lẹ
Với sự xuất hiện của mỹ học tiếp nhận, lý luận văn học quan tâm nhiều tới độc giả - người cụ thể hóa cho văn bản Trong thực tế, trường phái mỹ học tiếp nhận Konstanz (Đức) đã tập hợp được nhiều nhà khoa học xuất sắc, bên cạnh những điểm tương đồng, những nhà khoa học này cũng có những quan điểm khác nhau về lý thuyết tiếp nhận
Dựa trên những kết quả nghiên cứu tác phẩm văn học theo hiện tượng học của
Husserl, Roman Ingarden cho ra đời cuốn sách Tác phẩm văn học, đề cập đến
phương thức tồn tại của tác phẩm văn học dưới ánh sáng của hiện tượng học Trong cuốn sách này ông đã xem quá trình đọc là quá trình người đọc hướng tới văn bản, cấp cho văn bản ý nghĩa, ông đã chỉ ra bản chất của quá trình đọc, đọc là quá trình
cụ thể hóa văn bản, có nghĩa bản thân văn bản không ở quá trình hoàn tất mà nó
luôn dang dở, luôn chờ người đọc đến để bổ sung cụ thể hóa nó Theo ông tác phẩm
văn học như là khách thể mang tính chủ ý, đời sống của tác phẩm văn học phụ thuộc
vào những hoạt động cụ thể hóa (đọc) văn bản có chủ ý của người đọc hướng tới
Một mặt, tồn tại một văn bản văn học được xem như sản phẩm sơ lược với những chỗ trống và những sự việc chưa xác định, giống như một bộ xương, mặt khác
thông qua sự cụ thể hóa (đọc) như là hoạt động của ý thức hướng về nó mà bộ xương được đắp thêm da thịt và tác phẩm hoàn thành Ông cũng tìm ra những khả năng khác nhau để lĩnh hội và lý giải giá trị tác phẩm văn học: “Tác phẩm văn học không đồng nhất với mọi sự đọc và trong phê bình văn học, những ý kiến khác nhau
Trang 11không liên quan đến bản thân tác phẩm mà chỉ liên quan đến sự cụ thể hóa của từng nhà phê bình‟‟[31- 43] Ngoài Roman Ingarden, Heidegger là người đã tạo ra những biến thể mới của hiện tượng học như tường giải học và mỹ học tiếp nhận, những quan điểm này của Heidegger đã được H.G.Gadame một nhà tường giải học triết
học người Đức phát triển trong công trình Chân lý và phương pháp (1960)
H.G.Gadame đã cho thấy được văn bản nghệ thuật còn có những khả năng mới trong quan hệ với những yếu tố khác, và với người tiếp nhận H.G.Gadame đã đặt hàng loạt câu hỏi : “Nghĩa của văn bản thể hiện qua cái gì? Vai trò của sự chủ ý của nhà văn trong nghĩa này là gì? Có thể hiểu được những tác phẩm mà về mặt lịch sử
và văn hóa là xa lạ đối với người đọc? Có thể có sự hiểu “khách quan” hay mọi sự hiểu đều lệ thuộc vào tình thế lịch sử cụ thể” [29 - 15]
Dựa trên lý luận của H.G.Gadame, Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser cũng đưa ra những quan điểm của riêng mình về lý thuyết tiếp nhận Trong công trình
Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học ông cho rằng tác
phẩm văn học là một quá trình mà không phải là một sản phẩm cố định, nghĩa của tác phẩm không phụ thuộc vào chủ ý của tác giả, ý nghĩa của tác phẩm văn học còn
ở trong tinh thần tiếp nhận của người đọc “Jauss đã phân biệt tầm đón nhận từ bên trong văn bản nghệ thuật, có ảnh hưởng được quyết định thông qua văn bản và sự tiếp nhận liên quan đến người đọc của một xã hội nhất định gọi là yêu cầu xã hội‟‟ [24 - 53] Jauss nhấn mạnh không thể quan niệm đời sống cuả tác phẩm văn học trong lịch sử nếu không có sự tham gia tích cực của những người mà tác phẩm phục
vụ, chính sự tác động của họ sẽ đưa tác phẩm đi vào dòng chảy liên tục và sinh động của kinh nghiệm văn học, nơi mà chân trời tiếp nhận không ngừng biến đổi Jauss cũng cho rằng tác phẩm văn học đồng thời bao gồm hai phương diện: Văn bản với tư cách là một cấu trúc cho sẵn và sự tiếp nhận của người đọc đối với văn bản, cấu trúc văn bản được cụ thể hóa bằng những người cảm thụ Vì vậy ý nghĩa của tác phẩm văn học không phải vĩnh hằng, phi thời gian mà được hình thành trong lịch
sử, điều đó cũng có nghĩa khi điều kiện lịch sử và xã hội của sự tiếp nhận biến đổi thì ý nghĩa của tác phẩm cũng thay đổi theo Đó là một quá trình tích cực làm biến đổi giá trị và ý nghĩa tác phẩm qua các thế hệ cho đến hiện tại Như vậy ông cho rằng không nên quan niệm tác phẩm như một cái gì cố định, bất biến, trái lại về mặt nội dung cũng như hình thức, nó luôn mang ý nghĩa của một cuộc đối thoại Quan
Trang 12điểm này của Jauss sẽ là gợi ý tích cực để chúng tôi thực hiện đề tài của luận án
Từ phương diện tiếp cận tác phẩm văn học này, Wolfgang Iser một đồng nghiệp của Jauss, bên cạnh những điểm tương đồng còn có những quan điểm khác Theo Wolfgang Iser, khi ta tiếp cận với một văn bản luôn có một thứ người đọc tiềm ẩn trong văn bản, trong quá trình tiếp nhận văn bản người đọc luôn gặp bóng
ma vô hình, mà người ta gọi đó là người đọc tiềm ẩn Ở đó người đọc tiềm ẩn mách
nước cho ta đi theo hướng nào đó để khám phá tác phẩm Về sau Derrida cũng cho rằng văn bản văn học không khép kín, nghĩa của nó không bị trói buộc bằng sự giúp
đỡ của tác giả hay là sự liên quan với hiện thực mà văn bản văn học luôn mở, nó cần được bổ sung và tạo khả năng bổ sung Có thể thấy mỗi một giai đoạn xuất hiện những trường phái lí luận với những quan niệm khác nhau về tác phẩm văn học, mỗi một giai đoạn là bước chuyển quan trọng trong quá trình vận động phức tạp về
tư tưởng bắt đầu từ bước chuyển quan trọng từ vai trò của hiện thực và tác giả (quan niệm truyền thống) đến vai trò của văn bản (tư duy lí luận hiện đại) và bước đột phá
từ văn bản đến người đọc Đặt tác phẩm trong hệ thống mở hướng về người đọc, càng về sau vấn đề này càng được mở rộng với sự lí giải của các nhà khoa học về tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc
Như vậy mỹ học tiếp nhận đã bác bỏ tính chất khép kín của mỹ học sáng tạo trước đây, và khẳng định ý nghĩa của văn bản sẽ phong phú hơn nhờ người đọc Đây chính là đóng góp quan trọng, một hướng nghiên cứu mới về tác phẩm văn học cũng như phương thức tồn tại của tác phẩm văn học Lí thuyết tiếp nhận thế kỷ XX trên đây cung cấp cơ sở khoa học để có thể lý giải hiện tượng Vũ Trọng Phụng, đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu trong luận án này trên cơ sở khoa học
1.1.2.Sự phát triển lý thuyết tiếp nhận ở Việt Nam
Thế kỷ XX ghi nhận một giai đoạn đầy biến động trong hành trình của tư duy
lí luận văn học nhân loại Quan niệm văn học hiện đại đã xóa bỏ khái niệm tác giả truyền thống từng tồn tại suốt nhiều thế kỷ; quan hệ nhân quả trước đây cũng được thay thế bằng quan niệm chủ thể và kết cấu ý nghĩa được tạo ra bên trong khuôn khổ của ngôn ngữ, xác định được vai trò trung tâm tạo nghĩa của văn bản văn học độc lập với tác giả và với môi trường ra đời của nó Lý luận văn học hậu hiện đại đã nêu lên ý nghĩa của văn bản văn học qua sự tiếp nhận của người đọc, điều đó đã làm thay đổi bản chất của tác phẩm văn học, một khái niệm trung tâm của hệ thống lý
Trang 13luận Trước một trào lưu văn học có tính chất quốc tế thì Việt Nam cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng
Việc nghiên cứu về tiếp nhận văn học ở Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện vào
khoảng những năm 70 của thế kỷ XX với sự xuất hiện rải rác các bài nghiên cứu trên các báo, các tạp chí Bên cạnh bài của Wolfgang Iser và Hans Robert Jauss với
công trình Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, thì
những công trình kinh điển về lý thuyết tiếp nhận vẫn chưa được giới thiệu ở Việt Nam.Từ những năm 80 trở đi vấn đề này mới được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn với sự xuất hiện hàng loạt các bài nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Vân, Hoàng Trinh, Nguyễn Văn Dân, Vương Anh Tuấn, Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung… Nguyễn Văn Hạnh là người đề cập đến khâu tiếp nhận như là một phương pháp nghiên cứu mới ở Việt
Nam Trong bài viết Ý kiến của Lênin về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, ông
cho rằng: “Giá trị của một tác phẩm thật ra không chỉ đóng khung lại trong phạm vi sáng tác mà còn lan rộng ra đến phạm vi thưởng thức Chính ở khâu thưởng thức, tác phẩm mới có ý nghĩa xã hội thực tế của nó Quan điểm này tất yếu sẽ dẫn đến những tiêu chuẩn mới để đánh giá tác phẩm, đến một phương pháp nghiên cứu mới” Sự nhạy cảm và ý nghĩa thời sự của vấn đề mà tác giả nêu ra là ngòi nổ cho
một cuộc tranh luận trên Tạp chí Văn học vào năm 1971 với các ý kiến của Nam
Mộc, Sơn Tùng, Phùng Văn Tửu, Nghĩa Nguyên, Vũ Tuấn Anh… Năm 1980
Hoàng Trinh có bài Văn học so sánh và vấn đề tiếp nhận văn học đã đề cập đến vấn
đề tiếp nhận trên bình diện sáng tác, là sự ảnh hưởng, sáng tạo của nền văn học trên
thế giới Ngoài ra, Nguyễn Lai với bài viết Tiếp nhận văn học - một số vấn đề thời
sự, cũng về vấn đề tiếp nhận vào năm 1990, trong công trình Ngôn ngữ với sáng tạo
và tiếp nhận văn học tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh đến phẩm chất năng động chủ
quan của chủ thể tiếp nhận Nguyễn Thanh Hùng với hàng loạt các bài viết về tiếp
nhận văn học như: Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học, Đọc và tiếp nhận văn chương, Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường đã lưu ý đến quá trình
tự giác và tự phát trong tiếp nhận
Nguyễn Văn Dân là người đầu tiên đã giới thiệu tổng quan về mỹ học tiếp
nhận của trường phái Konstanz tới công chúng Việt Nam Trên Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, trong các công trình của mình ông đã đề xuất một số khái niệm
Trang 14như sau: Ngưỡng tâm lý, người đọc, tầm đón nhận, khoảng cách thẩm mỹ, phản tiếp nhận… có ở các bài:Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng, Phương pháp luận nghiên cứu văn học Đây là một hướng
nghiên cứu nhiều tiềm năng và những đột phá mới
Năm 1990, Huỳnh Vân, nhà nghiên cứu chuyên sâu và tiếp cận tư liệu tận
nguồn đã công bố hai bài viết : Văn học và hiện thực, Quan hệ văn học - hiện thực
và vấn đề tác động, tiếp nhận và giao tiếp thẩm mỹ nhấn mạnh đến chức năng giao
tiếp của văn học và cho rằng tiếp nhận là một khâu không thể thiếu trong nghiên cứu văn học Vấn đề này tiếp tục thôi thúc tác giả, trong hai năm 2009 và 2010 với
hai bài viết: Vấn đề tầm đón nhận và xác định tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert và Hans Robert Jauss lịch sử văn học và lịch sử tiếp nhận,
tác giả đã đi vào lý giải khái niệm của mỹ học tiếp nhận, và đi vào phân tích quan niệm của Jauss về lịch sử tiếp nhận với những luận điểm có sức thuyết phục cao Nhìn chung các tác giả đã đề cập đến vấn đề chủ thể tiếp nhận, nhấn mạnh sự tác động của người đọc đối với văn học, và xem vấn đề tiếp nhận là một vấn đề cần được nghiên cứu trong nền lí luận của văn học nước ta hiện nay Ngoài ra còn có các nhà nghiên cứu khác như Phương Lựu, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương,…
Phương Lựu với Giáo trình tiếp nhận văn học, Lý luận văn học, Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Mười trường phái phê bình văn học phương Tây
tác giả đã bàn đến vấn đề tiếp nhận một cách súc tích, có cái nhìn tổng thể về sự phát triển của lý thuyết tiếp nhận Tác giả Trần Đình Sử đã lý giải cụ thể những vấn
đề cơ bản nhất của lý thuyết tiếp nhận trong hàng loạt các công trình nghiên cứu:
Mấy vấn đề tiếp nhận văn học, Lý luận tiếp nhận và phê bình văn học, Ngôn ngữ với việc lĩnh hội tác phẩm thơ…
Vào những năm cuối của thập niên 90 nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung, người có công trong việc du nhập lý thuyết tiếp nhận vào Việt Nam Ông đã nghiên cứu vấn đề này một cách khoa học và hệ thống trong các công trình nghiên cứu, các
bài viết trên các tạp chí Trong công trình Từ văn bản đến tác phẩm văn học ông
cho rằng mỗi lần đọc là một lần người đọc “vấp ngã” vào văn bản và đặt vấn đề, tính chất mở của tác phẩm là điều kiện của sự thưởng thức thẩm mĩ Chuyên luận
Tác phẩm văn học như là quá trình đã đưa ra vấn đề quan trọng khi nghiên cứu tác
phẩm văn học: “Tác phẩm văn học không tĩnh mà động, không phải sản phẩm cố
Trang 15định mà là quá trình” [24 - 43].Trong một bài viết khác trên Tạp chí Văn học nước ngoài số 4/2003 với nhan đề Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học ông nhấn
mạnh vai trò của người đọc và nêu lên hướng tiếp cận phương thức tồn tại của tác phẩm văn học Một là tính chất ngôn ngữ, hai là khả năng tạo lập đời sống cụ thể của văn bản văn học thông qua người đọc Với những bài viết cụ thể và sâu sắc của mình, Trương Đăng Dung đã có những đóng góp đáng quý vào việc nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận nói riêng và lý luận văn học nước nhà nói chung Ông được đánh giá là người bền bỉ và chuyên sâu với những luận điểm có hàm lượng khoa học và sức thuyết phục cao
Khi lý thuyết tiếp nhận được đưa vào giảng dạy ở bậc đại học, đã có nhiều
luận án tiến sĩ đề cập đến vấn đề này như: Lê Thị Hồng Vân với Tác phẩm văn học nhìn từ mối quan hệ giữa văn bản và người đọc (2007) Trần Thị Quỳnh Nga với Việc tiếp nhận văn xuôi cổ điển Nga thế kỷ XIX ở Việt Nam (2005) Hoàng Phong Tuấn với Vấn đề tiếp nhận thơ nôm Hồ Xuân Hương (2014)…
Có thể thấy, những công trình trên của các nhà nghiên cứu đã cung cấp một cái nhìn khái quát, cụ thể về lý thuyết tiếp nhận, chỉ ra những ưu điểm hạn chế đồng thời có sự bổ sung trong quá trình vận dụng Chúng tôi xem đây là những gợi ý quan trọng có tính chất định hướng trong quá trình thực hiện đề tài
Vận dụng lý thuyết tiếp nhận vào nghiên cứu văn học ở Việt Nam mà cụ thể là tác giả Vũ Trọng Phụng, tiền đề quan trọng tiếp cận chính là một phương diện mới:
Lịch sử của người đọc, lịch sử của tiếp nhận
1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, ít có nhà văn nào mà sự đánh giá của giới nghiên cứu và bạn đọc lại phong phú, phức tạp như Vũ Trọng Phụng Vấn đề
Vũ Trọng Phụng “như một nghi án kéo dài, như để khiêu khích dư luận suốt trong nhiều thập kỷ”(Nguyễn Hoành Khung) Theo sự thống kê của nhóm nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài trong Vũ Trọng Phụng về tác gia và tác phẩm,
tính đến năm 2005 đã có trên 200 bài báo, tiểu luận, chương sách, tác phẩm nghiên cứu, phê bình về Vũ Trọng Phụng cùng với hàng chục luận án Tiến sĩ, hàng trăm luận văn Thạc sĩ trong cả nước, tính cho tới thời điểm này con số đó hẳn đã tăng lên rất nhiều Nếu như tiến hành một cuộc tổng duyệt tỉ mỉ tất cả các công trình này
Trang 16nào nói lên được vị thế cũng như những cống hiến của ông đối với lịch sử văn học nước nhà cũng như sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu dành cho ông bởi “dẫu
là một viên ngọc còn tỳ vết, hiện tượng Vũ Trọng Phụng vẫn nổi lên như một niềm
tự hào, một mời mọc khó cưỡng” (Nguyễn Quang Trung) Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi sẽ trình bầy vấn đề xét trên hai lĩnh vực tiểu thuyết
và phóng sự, dựa trên những mốc lịch sử lớn có ý nghĩa đối với xã hội và đời sống văn học
Vũ Trọng Phụng được đánh giá là một hiện tượng văn học “phức tạp bậc nhất” trong lịch sử văn học Việt Nam, sự phức tạp ấy đã tạo nên những bước thăng trầm trong lịch sử tiếp nhận Đã có lúc tác phẩm của ông bị phủ định sạch trơn, có lúc bị quy kết là “phản động”, nhưng có những lúc được ngợi ca không tiếc lời, lý giải điều này xuất phát từ người đọc, một chủ thể quan trọng của quá trình tiếp nhận tác phẩm Trong lịch sử văn học đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng từ các góc độ khác nhau và mỗi một góc độ phần nào khẳng định giá trị tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng Trong phần này chúng tôi xin điểm lại một số công trình cụ thể như sau:
Trước năm 1945, bắt đầu từ năm 1933 sau khi công bố những phóng sự đầu
tiên của mình trên tờ Ngọ báo: Cạm bẫy người (1933); Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Vũ
Trọng Phụng đã khiến người đọc và giới phê bình lúc đó phải chú ý Các nhà nghiên cứu Lê Tràng Kiều, Phùng Tất Đắc, Mai Xuân Nhân với những kết luận sâu sắc, những đánh giá tổng quát được xem như dấu hiệu khởi sắc ban đầu về sự tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng
Nhà văn Phùng Tất Đắc trong lời tựa cuốn Kỹ nghệ lấy Tây đã ca ngợi “Ngòi
bút phóng sự của ông Vũ Trọng Phụng đã nói tới một độ rất cao trong nghệ thuật Cuốn sách này… vào hàng những công trình ảnh hưởng xa rộng hơn, những công trình có thể vạch phương hướng cho văn nghệ, những công trình giúp được tài liệu
cho đời sau khảo xét về buổi này” [40 - 9] Trên báo Tràng An (in lại trên Hà Nội mới số 42 ngày 21/10/1936) Mai Xuân Nhân đã đánh giá cao Kỹ nghệ lấy Tây: “
Kiệt tác ấy đã đưa ông Vũ Trọng Phụng đến con đường bổn phận của một nhà cầm bút sống trong cái tình thế trầm trọng của một thời đại khó khăn” [107] Tác giả bài viết đã đánh giá cao tài năng viết phóng sự của Vũ Trọng Phụng và chính Mai Xuân Nhân đã trao cho Vũ Trọng Phụng danh hiệu “Ông vua phóng sự đất Bắc”
Trang 17Năm 1934 - Dứt tình cuốn tiểu thuyết đầu tay ra mắt độc giả đã nhận nhiều ý kiến khen chê khác nhau của Cô Lệ Chi, Nguyễn Lê Thanh trên các báo, Đông Tây, Tao đàn Năm 1936 có thể coi là một năm đặc biệt trong cuộc đời sáng tạo nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng với sự ra đời của bốn tiểu thuyết : Giông tố, Số đỏ, Vỡ
đê, Làm đĩ và hai phóng sự Cơm thầy cơm cô,Vẽ nhọ bôi hề…cũng từ đây với lối
viết “táo bạo” của mình Vũ Trọng Phụng nhận được những phản hồi mạnh mẽ từ phía người tiếp nhận Các bài viết của Ông Minh Tước, của Lan Khai của Nguyễn Triệu Luật đã ghi lại không khí văn học của dư luận lúc bấy giờ Nhưng cũng trong thời gian này nổi lên một số ý kiến phản đối gay gắt, tiêu biểu như Thái Phỉ, Nhất Chi Mai, Lê Thanh, Mộng Sơn…Một cuộc tranh luận về Vũ Trọng Phụng, tập trung
vào vấn đề “Dâm hay không dâm” đã nổ ra quanh các tác phẩm Kỹ nghệ lấy Tây, Lục xì, Làm đĩ, Số đỏ, Giông tố…
Cuộc tranh luận thế kỷ đã nổ ra xung quanh tác phẩm của Vũ Trọng Phụng và nhận được sự phản hồi từ phía người tiếp nhận, họ phê phán nặng nề, quy chụp cho văn chương của ông là “văn chương dâm uế” và đánh giá tác giả của những thứ văn chương đó “là nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có bộ óc đen và nguồn văn cũng đen nữa”(Nhất Chi Mai)
Sau khi Vũ Trọng Phụng mất (Tháng 10/1939), xuất hiện những lời ngợi ca tài đức của ông Trong suốt thời gian sau đó, nhiều bài viết vẫn tiếp tục tìm hiểu về
ông Tạp chí Tao đàn đã dành hẳn một số đặc biệt để tưởng niệm ông với nhiều bài
tiểu luận phê bình, chân dung văn học, hồi ký, câu đối khóc…
Các bài viết của các tác giả Lưu Trọng Lư, Tam Lang, Lan Khai, Ngô Tất Tố… đã thể hiện tình cảm yêu thương, khâm phục tài năng Vũ Trọng Phụng Tam Lang đã đánh giá rất cao tài năng Vũ Trọng Phụng Xúc động trước cái chết của Vũ Trọng Phụng, các bài viết dường như thiên về ca ngợi và mới chỉ dừng lại ở những
khái quát chưa đi vào những vấn đề cụ thể Cũng trên Tạp chí Tao đàn số đặc biệt tháng 12/1939, dưới nhan đề: Dứt tình với làng văn, bài viết của các tác giả Lệ Chi,
Nguyễn Lê Thanh đã ca ngợi ngòi bút tả chân khéo léo của Vũ Trọng Phụng Báo
Đuốc Nhà Nam đã nhận xét: “Cả câu chuyện trước mắt ta Nó mê hoặc ta, làm ta
say sưa mà mời mọc ta Vì ta ham thích quá, mà cả một câu chuyện dài dường như thu ngắn lại” [ 2 - 653 ]
Ngoài ra các bài viết của Trương Tửu, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan về các
Trang 18tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê đều đánh giá cao Vũ Trọng Phụng, thậm chí
Trương Chính còn cho rằng “Vũ Trọng Phụng có những đóng góp quan trọng cho thể loại tiểu thuyết”[160 - 442] Như vậy cái nhìn của Trương Chính ở giai đoạn này không còn phiến diện như giai đoạn trước nữa Bên cạnh đó giai đoạn này cũng xuất hiện những ý kiến trái chiều Năm 1944 tác giả Lương Đức Thiệp khi bàn về
Văn chương và xã hội đã phê phán các nhà văn tả chân, ông cho rằng các nhà văn tả
chân chỉ thấy hiện tượng sa sút, nhìn thấy khuyết điểm rồi phơi bầy ra chứ không xác định được nguyên nhân gây ra những đồi bại ấy Ông nhận xét: “Trong các văn
sĩ thuộc loại phóng sự, ngọn bút sâu sắc và dồi dào nhất vẫn là Vũ Trọng Phụng song chủ nghĩa tả chân còn đầy tính cách lãng mạn, một xu hướng cải lương phản chiếu một quan niệm xã hội thiếu sót nên không thể giúp nhà phóng sự đặt vấn đề được đúng quan niệm”[155 ]
Có thể thấy ở giai đoạn này sau khi tác giả đã qua đời các bài viết khen, chê vẫn tiếp tục diễn ra, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những nhận xét riêng lẻ cho từng vấn đề, đây sẽ là những gợi mở quan trọng, là nguồn tư liệu cần thiết để tiến hành nghiên cứu đề tài của chúng tôi
Sau năm 1945 quá trình tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng có những bước thăng trầm, một phần do hoàn cảnh lịch sử quy định Tại hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc năm 1949, Tố Hữu, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi đều khẳng định Vũ Trọng Phụng là cây bút “tả thực xã hội” Nhà thơ Tố Hữu đã trân trọng nói về công lao của Vũ Trọng Phụng “Cách mạng cảm ơn Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực xấu xa, thối nát của xã hội” [160 -109] Nguyên Hồng khi đánh giá
về tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng hết sức đề cao sự sáng tạo của ông: “Nghệ thuật phải là sự sáng tạo Cái xã hội của Xuân Tóc Đỏ, của bà Phó Đoan là cái xã hội thối nát, nhầy nhụa làm cho người ta ngấy lên” [160 - 108] Nguyễn Đình Thi sau này đã gọi Vũ Trọng Phụng là văn hào, là “tiểu thuyết gia trác tuyệt” của văn học Việt Nam
Sự xuất hiện các bài viết của Nguyễn Đình Thi (Nhất lãm về văn học Việt Nam - văn học Xô viết số 9 -1955), Nguyễn Tuân (Đọc lại truyện Giông tố) Phan Khôi trong tập san Vũ Trọng Phụng với chúng ta vẫn tiếp tục tìm tòi, chỉ ra những
đóng góp ở phóng sự Vũ Trọng Phụng về mặt nội dung tố cáo hiện thực, ông coi những phóng sự của Vũ Trọng Phụng đều là những tác phẩm thông cảm và tố khổ
Trang 19cho hạng người cùng khổ ở Việt Nam Theo nhà văn Nguyên Hồng: “Với hai thiên
phóng sự Cơm thầy cơm cô và Lục xì và hai tiểu thuyết Số đỏ và Giông tố, Vũ
Trọng Phụng đã làm chuyển động cả dư luận văn học bấy giờ, giơ cao thêm ngọn cờ hiện thực, góp thêm một phần đấu tranh quyết liệt cho một nền văn học tiến bộ” [160 - 122] Cũng trong thời gian này các nhà văn và các học giả như Đào Duy Anh, Phan Khôi, Hoàng Cầm,Trương Tửu tiếp tục nêu lên những ý kiến khẳng định
tư tưởng và tài năng Vũ Trọng Phụng Phan Khôi đánh giá Vũ Trọng Phụng là “nhà
tiểu thuyết hiện thực phê phán”.Trương Chính trong bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) tập III đã dành hẳn một phần để viết về Vũ Trọng Phụng, đánh giá
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn hiếm có và “là một người có địa vị không ai tranh
dành được” Còn Văn Tâm với cuốn chuyên luận Vũ Trọng Phụng - nhà văn hiện thực đã có những nhận định sơ lược về phương diện nội dung và hình thức sáng tác
của Vũ Trọng Phụng Văn Tâm khẳng định: “Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực độc nhất của văn học cận đại biết hướng niềm tin vào tương lai” [144 - 253] đồng thời cũng phủ nhận những ý kiến mang tính chất quy chụp nặng nề của Nhất Chi Mai, Thái Phỉ, Lan Khai về vấn đề cái dâm trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng
Đáng chú ý trong thời gian này là lời phát biểu của đồng chí Trường Chinh tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 (2/1957) “đối với một số tác phẩm có tính chất
hiện thực phê bình như những truyện, phóng sự của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển tất cả các di sản văn nghệ” Đây là một trong những nhận định có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn nghệ cũng như khẳng định vai trò quan trọng của một số cây bút hiện thực
Nhìn một cách tổng thể, việc nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng giai đoạn này vẫn tiếp tục thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu nhưng đó cũng là tiền đề cơ sở để tiếp tục thúc đẩy những xu hướng nghiên cứu mới
Vào thời điểm những năm 1957 -1958 trở đi, trên miền Bắc nước ta cuộc đấu tranh chống Nhân Văn - Giai Phẩm trở nên quyết liệt, vấn đề đánh giá Vũ Trọng Phụng mang mầu sắc chính trị, tác phẩm của ông bị cuốn vào một cơn lốc dữ dội,
có ý kiến phê phán gay gắt, thậm chí có ý kiến phủ nhận hoàn toàn sự nghiệp văn học của Vũ Trọng Phụng Một loạt các bài viết của ông Hoàng Văn Hoan,Vũ Đức Phúc đã chĩa mũi nhọn phê phán, Vũ Trọng Phụng lập tức bị quy kết là phần tử nghi
Trang 20vấn và độc hại Trong một thời gian dài tác phẩm của ông bị cấm lưu hành và giảng dạy trong nhà trường, còn tác giả của chúng thì bị quy kết một cách nặng nề là trốt
kít, phản động… Trong công trình Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945,
nhóm Vũ Đức Phúc đã tỏ thái độ phê phán kịch liệt tác phẩm Vũ Trọng Phụng
Hoàng Văn Hoan trong Một vài ý kiến về vấn đề tác phẩm Vũ Trọng Phụng trong văn học Việt Nam cho rằng trong một vài tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là “cả một
ý thức thừa nhận thú tính, cổ lệ, nhục dục” [70 -236] Nhận định này của nhà nghiên cứu có phần khắt khe và chưa xác đáng
Không đồng tình với cách tiếp cận đó, một số nhà văn đã công khai lên tiếng hoặc gián tiếp ủng hộ và khẳng định Vũ Trọng Phụng Nguyên Hồng, Nguyễn Công
Hoan, Bùi Huy Phồn vẫn giữ lập trường kiên định của mình Trên Tạp chí Văn học
số 3/1965, Nguyễn Đăng Mạnh có bài Chủ nghĩa tự nhiên trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng, trong chừng mực có thể, ông đã cố gắng tìm những đóng góp của Vũ
Trọng Phụng để cái nhìn về Vũ Trọng Phụng bớt gay gắt hơn Vào năm 1966 -1967 tại Sài gòn Vũ Trọng Phụng được tổ chức kỷ niệm với sự tham gia của những nhà văn như Vũ Bằng, Tam Lang, Phạm Thế Ngũ, Dương Nghiễm Mậu Dương
Nghiễm Mậu, trong Tập san Văn số 67 ra ngày 1/10/1966 đã đánh giá cao văn
nghiệp của Vũ Trọng Phụng, cho rằng Vũ Trọng Phụng đã để lại cho chúng ta một bức họa sâu sắc, đầy đủ hơn hết về tình trạng xã hội ấy Phạm Thế Ngũ trong cuốn
Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập 3) nhấn mạnh những nhân vật xỏ lá, lưu
manh của ông như Nghị Hách,Vạn Tóc Mai, Xuân Tóc Đỏ đã từ lâu trở thành những
chân dung bất hủ Tác giả Nguyễn Trác ở công trình Lịch sử văn học Việt Nam tập V (1930 -1945), sau khi giới thiệu tóm tắt bốn thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng tác
giả đã nhắc lại đánh giá những tác phẩm trên đã đưa Vũ Trọng Phụng lên hàng “Ông
vua phóng sự đất Bắc” Thế Phong trong Lược sử văn nghệ Việt Nam - Nhà văn tiền chiến 1930 – 1945, sau khi phân tích khuynh hướng trong hai tác phẩm Giông tố và
Số đỏ đã coi Vũ Trọng Phụng là nhà văn xã hội vào bậc nhất trong lịch sử văn học
Việt Nam ở tiền chiến: “Đọc văn ông, hình như có một sức quyến rũ vô hình, hấp dẫn, say mê người đọc để rồi sau đó muốn phá đổ những bất công của xã hội thối nát đi” [122 - 400] Các nhà nghiên cứu Đào Duy Anh,Trương Tửu, Nguyễn Hoành Khung đầu những năm 80 vẫn tiếp tục tìm tòi, chỉ ra những đóng góp của Vũ Trọng Phụng và phần nào tháo gỡ được những kết án nặng nề cho Vũ Trọng Phụng
Trang 21Sáng tác của Vũ Trọng Phụng chỉ thực sự được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện, cởi mở khi công cuộc đổi mới 1986 diễn ra Như vậy Vũ Trọng Phụng đã qua đời, nhưng những tác phẩm của ông vẫn hành trình theo thời gian, chịu sự phán xét của thời gian Số phận của chúng phụ thuộc rất lớn vào người tiếp nhận, qua tiếp nhận đó người đọc sẽ thổi sức sống của thời đại mình vào tác phẩm
để khám phá lại, khẳng định giá trị thật sự Đây sẽ là nguồn tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài luận án của chúng tôi
Từ năm 1986 đến nay việc nghiên cứu về tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng
Phụng có những bước chuyển biến đáng kể Năm 1987, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng
(Nxb Văn học) ra đời…đã có ý nghĩa chấm dứt một vụ án văn học kéo dài Tiếp theo
đó là sự tái bản lần lượt các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng Năm 1988 tái bản Lục xì
(Nxb Văn học) và những tác phẩm phóng sự được chuyển thể thành phim mang tựa
đề Ánh sáng kinh thành Đặc biệt năm 1988 Vũ Trọng Phụng đã dành được vị trí
xứng đáng trong giáo trình ở bậc đại học Cũng từ đây hàng loạt các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo dành nhiều trang viết đánh giá lại Vũ Trọng Phụng như Nguyễn Khải, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Hoàng Thiếu Sơn, Nguyễn Hoành Khung, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Hoài Thanh,Vũ Tuấn Anh, Cao Kim Lan, Tôn Thảo Miên, Đinh Trí Dũng…những người đã tìm lại giá trị đích thực cho
tác phẩm Vũ Trọng Phụng trên nhiều phương diện khác nhau Đó là Vũ Trọng Phụng với chúng ta (Trần Hữu Tá - 1992), Vũ Trọng Phụng - tài năng và sự thật (Lại Nguyên Ân - 1992) Vũ Trọng Phụng - con người và tác phẩm (Nguyễn Hoành Khung - Lại Nguyên Ân), Vũ Trọng Phụng về tác gia và tác phẩm (Nguyễn Ngọc
Thiện - Hà Công Tài tuyển chọn và giới thiệu 2007) Các bài nghiên cứu có ý nghĩa soi sáng trên nhiều mặt cơ bản và có những đóng góp tích cực trong việc mở ra hướng tiếp cận thuận lợi cho công việc khảo sát và nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng
Năm 1989 tái bản Kỹ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô (Nxb Văn học); 1993 tái bản Cạm bẫy người (Nxb Văn học) Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức trong bài viết Phóng
sự của Vũ Trọng Phụng in trên Tạp chí Văn học Hà Nội số 1/2000 đã lần lượt phân
tích bốn thiên phóng sự của Vũ Trọng Phụng, đánh giá cao văn nghiệp cũng như lối viết phóng sự sắc sảo của ông “Phóng sự Vũ Trọng Phụng có giá trị văn học…Vũ Trọng Phụng là bậc thầy của nghệ thuật trần thuật và miêu tả”[47 - 17]
Các hội thảo khoa học lớn có tính chất quốc gia được tổ chức nhân dịp kỉ niệm
Trang 2275 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng với các tham luận về Vũ Trọng Phụng của Hoàng Như Mai, Lê Trí Viễn, Chế Lan Viên, Nguyễn Quang Sáng, Hoài Anh, Cù Đình Tú…với những ý kiến khách quan, khẳng định giá trị tác phẩm của ông Hội thảo 90 năm (2002) ngày sinh nhà văn, 50 năm ngày nhà văn qua đời (1989) đánh dấu bước chuyển biến trong lịch sử nghiên cứu Vũ Trọng Phụng Trong hội thảo
Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh với bài tham luận Về tính hiện đại trong văn chương Vũ Trọng Phụng đã khẳng
định: “Trước hết Vũ Trọng Phụng là người đã có đóng góp lớn trong việc hiện đại hóa nhanh chóng các thể loại văn xuôi” và nhấn mạnh “Vũ Trọng Phụng trước hết
là nhà văn của thời đại ông Nhưng sự mẫn cảm của tư duy hiện thực còn đưa ông đi
xa hơn…Điều này càng làm người ta nhận ra bản lĩnh nghệ thuật và sức sống lâu bền của tác phẩm Vũ Trọng Phụng” [175 - 166] Phát biểu tại hội thảo còn có những ý kiến của Hà Minh Đức, Phong Lê, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm, Lê Thị Đức Hạnh, Vương Trí Nhàn, Đinh Trí Dũng…Các tác giả đã có những nhận định khái quát trên nhiều phương diện về những mặt thành công của Vũ Trọng Phụng
Lê Thị Đức Hạnh lưu ý với người đọc phẩm chất độc đáo của truyện ngắn và kịch
ngắn, Hoàng Ngọc Hiến phát hiện nghệ thuật trào phúng đặc sắc trong Số đỏ, Đinh
Trí Dũng lại đi vào phân tích ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết hiện thực của Vũ Trọng Phụng…Các bài viết trên đã có những hướng tìm tòi mới, khách quan hơn, độ lượng hơn trong cách đánh giá về Vũ Trọng Phụng so với những giai đoạn trước
Tác phẩm Vũ Trọng Phụng không chỉ nhận được sự chú ý của độc giả trong nước mà còn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và bạn đọc nước
ngoài Ni.I.Niculin có bài viết với nhan đề Vũ Trọng Phụng và sự phê phán Âu hóa
gửi cho hội nghị khoa học về Vũ Trọng Phụng do Viện Văn học tổ chức tháng 10 năm 2002 tại Hà Nội Trong bài viết của mình ông cho rằng: “Trong số các tiểu thuyết của Việt Nam những năm 30 thế kỷ XX Vũ Trọng Phụng là nhà văn có thế giới quan phức tạp hơn cả Hơn nữa ông lại đi tìm câu trả lời cho nhiều vấn đề quan trọng ngay từ trong hiện thực của xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến đang biến đổi nhanh chóng lúc bấy giờ” [175 - 29] Sau khi phân tích Ni.I.Niculin nhận thấy “Vũ Trọng Phụng có thái độ phê phán kịch liệt với vấn đề Âu hóa” điều đó
được thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Khác
Trang 23với Ni.I.Niculin, PeterZinoman với bài viết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam trong hội thảo về Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm Vũ Trọng Phụng phân tích khá kỹ tiểu thuyết Số đỏ đồng thời nhấn mạnh “Số đỏ tiêu
biểu cho thời gian và không gian đặc biệt đã sản sinh ra nó” [175 - 42] Như vậy Vũ Trọng Phụng cũng như tác phẩm của ông ngày càng nhận được rất nhiều sự quan tâm, chú ý trên địa bàn xa rộng, điều đó một mặt cho thấy giá trị tác phẩm, đồng thời mở ra vô vàn những cách tiếp cận mới Đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo giúp tác giả luận án giải quyết vấn đề chính mà luận án đặt ra
Năm 2002 Nguyễn Ngọc Thiện đã biên soạn thành công cuốn Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX trong đó bàn về vấn đề “Dâm hay không dâm” trong tác phẩm Vũ
Trọng Phụng, và quan điểm nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong tác phẩm Cuốn sách đưa ra sáu cuộc tranh luận văn nghệ của nửa đầu thế kỷ trước và nhận định cuộc tranh luận này tập trung giải quyết vấn đề “bút pháp hiện thực và cách nhìn nhận con người xã hội,đời sống bản năng và hoạt động tình dục như thế nào? Thể hiện cái dâm ra sao để có được chiều sâu trong cái nhìn về con người nơi đời sống sinh lý thầm kín, khó nói, để không bị coi là tục?” [157 - 24] Đây là một trong những tài liệu quan trọng giúp chúng tôi hệ thống về tư liệu trong quá trình triển khai đề tài Đặc biệt năm 2007, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện cho tái bản lần thứ 3 công trình sưu tầm ở dạng giới thiệu về tác gia, tác phẩm có vai trò quan trọng trong việc hệ thống lại những công trình tiêu biểu trong việc nghiên cứu tiểu thuyết
và phóng sự Vũ Trọng Phụng Tuy những công trình ấy không nói trực tiếp về vấn
đề tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng, nhưng ý kiến của các tác giả
đã phần nào gợi cho chúng tôi cách nhìn hệ thống về lịch sử tiếp nhận tác phẩm Vũ Trọng Phụng nói chung và tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng nói riêng
Có thể nói trong việc trả lại vị trí xứng đáng trên văn đàn cho Vũ Trọng Phụng, các nhà nghiên cứu đã nỗ lực bỏ ra nhiều công sức viết các bài nghiên cứu, soạn sách Nguyễn Đăng Mạnh đã có hàng loạt các công trình, đánh giá từng giai đoạn sáng tác của nhà văn, chỉ ra được những thành công, hạn chế, những ưu điểm,
nhược điểm của hiện tượng văn học này qua Lời giới thiệu tuyển tập Vũ Trọng Phụng, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Đọc lại Giông tố, Số đỏ
và tài nghệ Vũ Trọng Phụng Ngoài ra phải kể đến những công trình tuyển tập, toàn
tập công phu trong những năm gần đây của các nhà nghiên cứu, trong đó có công
Trang 24trình Toàn tập Vũ Trọng Phụng (gồm V tập) của Tôn Thảo Miên Trong bài viết
(tập 1) có tính chất khái quát về văn nghiệp Vũ Trọng Phụng, tác giả đã nhấn mạnh thành tựu của nhà văn trên bình diện ngôn ngữ: “Ông là một trong những nhà văn góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ” [104 - 36] Các nhà nghiên cứu đã vận dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau, từ phong cách học, phê bình xã hội học, thi pháp học, phân tâm học đến so sánh… để tìm hiểu các góc
độ thể loại, nội dung nghệ thuật Con số những nhà nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, nhất là ở tiểu thuyết và phóng sự chắc hẳn vẫn còn nhiều, điều đó chứng tỏ sự quan tâm đối với Vũ Trọng Phụng trong những năm gần đây Đặc biệt năm 2013, tác
phẩm Vũ Trọng Phụng đã được đưa lên màn ảnh Giông tố, Số đỏ, Cơm thầy cơm cô
đã hợp nhất và được chuyển thể thành phim mang tên Trò đời gây được tiếng vang
và sự chú ý trong dư luận Đây là một cách tiếp cận mới đối với tác phẩm Vũ Trọng Phụng góp phần khẳng định vai trò của ông, đồng thời đặt tác phẩm của ông trong tương quan với các loại hình nghệ thuật khác và không ngừng khai thác giá trị trên nhiều phương diện.Trong những năm gần đây, khi văn chương Vũ Trọng Phụng trở lại với nhà trường, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đi vào khám phá những khía cạnh khác nhau trong tác phẩm của ông, nhất là tiểu thuyết và phóng sự Có nhiều luận văn thạc sĩ, nhiều luận án tiến sĩ và hàng loạt các chuyên luận đã được bảo vệ thành
công tại các trường đại học trong đó phải kể đến các luận án tiến sĩ Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng trong phóng sự và tiểu thuyết của Nguyễn Văn Phượng
(1996) Tác giả không chỉ khảo sát nhịp điệu câu văn mà còn chỉ ra được những lớp ngôn từ đặc biệt trong phóng sự của Thiên Hư có những luận án có giá trị khoa học
như Đóng góp của Vũ Trọng Phụng đối với lịch sử văn học hiện đại trong lĩnh vực phóng sự và tiểu thuyết của Trần Đăng Thao (1996), Nhân vật trong tiểu thuyết của
Vũ Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng (1998) Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh trong văn xuôi hiện thực (1930 – 1945) qua một số tác phẩm tiêu biểu của Ngô Tất
Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao Phạm Mạnh Hùng (2001), khi phân tích Giông tố đã chứng minh rằng nhịp điệu của tác phẩm Giông tố cũng là một yếu tố quan trọng
góp phần tạo không khí cho hoàn cảnh Nhịp điệu này theo tác giả chính là âm vang không khí, nhịp điệu của xã hội đương thời Ngoài ra có thể kể thêm Nguyễn Thành
với Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng (2001), Đinh Lựu với Nghệ thuật tiểu thuyết
Vũ Trọng Phụng (2004), Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng nhìn từ lý thuyết thời gian
Trang 25của Genette của Nguyễn Mạnh Quỳnh, Nguyễn Duy Tờ với Sự vận động của dòng văn học hiện thực phê phán (1930 - 1945) qua khảo sát tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng (2010) Nguyễn Văn Bao với luận án Tiểu thuyết Việt Nam 1932 -1945 với tiểu thuyết Trung Đông Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua một số tác phẩm (2012), đã
nghiên cứu, so sánh những điểm tương đồng, khác biệt về nhân vật, nội dung, nghệ thuật, nguyên nhân giống nhau giữa tiểu thuyết 1932 - 1945 với tiểu thuyết
Trung Đông Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua Tội và Thương của Lan Khai với Nỗi sợ của S.Zweig,… giữa Số đỏ của Vũ Trọng Phụng với Đường công danh của N.ĐyZma của T.D.Moxtovich Gần đây nhất (2015) là công trình nghiên cứu Sáng tác của Vũ Trọng Phụng nhìn từ phê bình phân tâm học của Vũ
Thị Trang.Với sự nỗ lực tìm tòi, khám phá, nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những động cơ vô thức sáng tạo của Vũ Trọng Phụng, cũng như các ám ảnh nghệ thuật trong sáng tác của ông Tất cả đã tạo nên bầu không khí khoa học sôi nổi trong việc tiếp cận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng
Trong thời gian này cũng có rất nhiều luận văn thạc sĩ tiến hành nghiên cứu về tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng ở các phương diện khác nhau Chúng tôi xin điểm qua một vài luận văn trên các phương diện như sau:
Ngôn ngữ trần thuật trong Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Thị Minh Hương (ĐHSP - 1987), Giông tố, Số đỏ và chủ nghĩa hiện thực của Vũ Trọng Phụng của Trịnh Hiền Lương (ĐHSP - 1993), Nghệ thuật miêu tả tâm
lý trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Thị Bích Dần (ĐHSPHN - 1999), Thi pháp nghệ thuật tiểu thuyết Giông tố của Vũ Trọng Phụng của Phạm Thị Minh Lương (ĐHSPHN - 2001), Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết hiện thực của Vũ Trọng Phụng (Phạm Hồng Lan - ĐHSPHN 2002), Cuộc tranh luận “dâm hay không dâm” trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng (1936 -1938) Lịch sử
và lý luận của Trần Thị Lý (2005), Xu hướng tiểu thuyết hóa trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng của Lê Thị Bình (ĐH Vinh - 2007), Sự giao thoa thể loại trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Thị Hương (ĐHSPHN2 - 2012)…
Điểm qua các công trình nói trên chúng tôi nhận thấy các tác giả đã đề cập đến một số vấn đề thuộc nội dung, nghệ thuật của tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng Với cái nhìn bao quát, Trịnh Hiền Lương đã đề cập đến chủ nghĩa hiện thực
Trang 26trong Giông tố và Số đỏ… Tác giả Phạm Thị Minh Lương đề cập đến một số vấn đề
của thi pháp tiểu thuyết, và một số giá trị ở phương diện thể hiện Lê Thị Bình, Nguyễn Thị Hương lại có những phát hiện mới mẻ hơn, tìm thấy yếu tố tiểu thuyết trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng…Những vấn đề các luận văn thạc sĩ đề cập đến đều có những đóng góp nhất định trong việc khẳng định vai trò của phóng sự và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng trong nền văn học nước nhà
Như vậy, với việc điểm lại những công trình nghiên cứu trên có thể thấy một điều trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Vũ Trọng Phụng người đọc có vai trò quan trọng trong việc khẳng định giá trị tác phẩm Tuy vậy vẫn chưa có một công trình nào đặt vấn đề về nghiên cứu hai thể loại tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng
nhìn từ lịch sử tiếp nhận, đó là động lực để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài Tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng nhìn từ lịch sử tiếp nhận Những bài viết,
những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng ở trên mang tính chất định hướng, gợi mở để chúng tôi thực hiện đề tài
Tiểu kết
Để kết lại chương 1 chúng tôi xin đưa ra một số nhận định sau:
Ngay từ khi phóng sự đầu tay ra đời, Vũ Trọng Phụng đã tạo nên “cơn sốt” trong giới nghiên cứu, phê bình và bạn đọc Ban đầu chỉ là những nhận xét đơn giản, xuôi chiều sau đó trở thành “đám cháy” lan rộng và trải qua các thời kỳ với những biến động thăng trầm, những mâu thuẫn cần giải quyết
Thời kì từ 1933 - 1945: Các ý kiến chủ yếu đề cập đến vấn đề “Dâm hay không dâm” trong tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng trên phương diện
đạo đức xã hội
Thời kì từ 1945 - 1958, và từ 1958 - 1985: Giai đoạn này tiếp tục xuất hiện những ý kiến trái chiều về tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng, cũng là những giai đoạn tác phẩm của ông chịu nhiều thăng trầm nhất
Thời kì từ 1986 đến nay: Nghiên cứu về tiểu thuyết và phóng sự của Vũ Trọng Phụng đã có sự phát triển mạnh mẽ, bước chuyển quan trọng tập trung các vấn đề: Khẳng định giá trị Vũ Trọng Phụng, xem xét, giải quyết vấn đề Vũ Trọng Phụng trên nhiều bình diện khác nhau
Từ những ý kiến trên đây, chúng tôi xác định được khoảng trống để triển khai
đề tài luận án Đa số các ý kiến đã nêu mới chỉ dừng lại khảo sát ở một số vấn đề cụ
Trang 27thể, ở từng tác phẩm riêng lẻ trong lĩnh vực phóng sự và tiểu thuyết Một số luận văn thạc sĩ cũng đi vào khám phá nội dung, giá trị nghệ thuật hoặc đi vào tìm hiểu một vài cuộc tranh luận cụ thể, mà chưa có một công trình nào đi vào nghiên cứu về lịch sử tiếp nhận của hai thể loại đã gây nhiều tranh cãi trong dư luận Chúng tôi nhận thấy cần thiết phải có sự nghiên cứu hệ thống về vấn đề này Trên tinh thần
đó, luận án sẽ bao quát, hệ thống tình hình nghiên cứu tiểu thuyết và phóng sự trong các giai đoạn, dưới ánh sáng của lí thuyết tiếp nhận để có thể nhận diện đầy đủ hơn diện mạo, sự tiếp nhận, đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình về hai thể loại trong suốt chiều dài lịch sử
Kế thừa thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước, với mong muốn đem lại cái nhìn toàn diện cho tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng trong quá trình nghiên cứu tìm tòi tư liệu, chúng tôi gặp những thuận lợi và khó khăn nhất định Tìm hiểu tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng từ lịch sử tiếp nhận chỉ có thể tiến hành trên cơ sở các bài viết về ông Với việc khảo sát tương đối toàn diện các bài nghiên cứu, phê bình, một số quan điểm tiếp cận ở hai lĩnh vực tiểu thuyết và phóng sự, chúng tôi hi vọng sẽ góp một tiếng nói khẳng định vai trò của Vũ Trọng Phụng trong nền văn học nước nhà
Trang 28CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC NGHIÊN CỨU VŨ TRỌNG PHỤNG
2.1 Khái niệm về tiếp nhận văn học
Tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lí luận văn học, cách cửa luôn rộng mở để đón đợi những ý kiến, những nhận định, những kết quả nghiên cứu khác nhau Điều đó đã khẳng định tiếp nhận văn học có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc “hoàn tất quá trình sáng tác - giao tế của văn học‟‟ [ 88 -221], hay nói cách khác chính là tạo ra đời sống cho tác phẩm văn học Mọi hình thức, cấp độ tiếp nhận văn học đều là quá trình biến nội dung của văn bản nghệ thuật thành một thế giới tinh thần tồn tại trong ý thức của cá nhân và xã hội Phê bình văn học cũng là một loại tiếp nhận, một loại tiếp nhận “đặc biệt” nhưng xét về mặt lịch sử thì phê
bình văn học hẹp hơn tiếp nhận văn học Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Phê
bình văn học là sự phán đoán, phẩm bình, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học Phê bình văn học vừa là hoạt động vừa là bộ môn khoa học về văn học Phê bình văn học vừa tác động tới sự phát triển của văn học, vừa tác động tới độc giả góp phần hình thành thị hiếu thẩm mĩ cho quảng đại quần chúng” [254 – 53] Nhà nghiên cứu Phương Lựu cũng đã nhấn mạnh đó là một loại tiếp nhận “đặc biệt” một loại tiếp nhận “mang tính chất khoa học với trình độ phát triển cao của văn học” Nhìn lại lịch sử của quá trình phát triển phê bình văn học xuất hiện từ thời xa xưa trong lịch sử văn hóa của nhân loại, nhưng trước thế kỉ XVII phê bình văn học chưa trở thành lĩnh vực hoạt động xã hội đặc thù Phê bình văn học phát triển ở phương Tây vào thế kỷ XVIII – XIX, còn ở Việt Nam phê bình văn học hiện đại chính thức
ra đời vào đầu thế kỷ XX Belinxki gọi phê bình là sự “tự ý thức của văn học”, còn Đ.X.Likhachiep nhấn mạnh phê bình văn học chỉ xuất hiện khi “vai trò của cá nhân nhà văn có một tầm quan trọng đặc biệt trong sáng tạo văn học”, đó chính là tính độc đáo, tính không lặp lại trong sáng tạo của mỗi cá nhân đã thay thế cho những luật lệ của văn học chức năng Các nhà nghiên cứu đã chia phê bình văn học theo hai chiều: lịch đại và đồng đại đế so sánh giữa phê bình văn học và hoạt động tiếp nhận văn học, xét theo chiều lịch đại phê bình văn học có sau hoạt động tiếp nhận, nhưng nếu xét về độ rộng hẹp thì hoạt động tiếp nhận lại được đánh giá là rộng hơn hoạt động phê bình, bởi hoạt động tiếp nhận có thể diễn ra với tất cả mọi người, có
Trang 29đủ tất cả các thành phần xã hội và nó mang tính chất đại chúng Giữa phê bính văn học và tiếp nhận văn học có sự khác nhau ở hai cấp độ loại hình cảm thụ nghệ thuật
và nhiệm vụ khác nhau, phê bình văn học không “mang lại cho tác phẩm văn học một sinh mệnh lịch sử” mà “trả tác phẩm nghệ thuật về thế giới tinh thần đã được tiếp nhận Bắt đầu từ hiện thực – nhà văn – tác phẩm – người đọc - hiện thực Phê bình quay về hiện thực còn lịch sử tiếp nhận đó không chỉ là một quá trình mà đó còn là sự phát triển của tư duy quá trình ấy diễn ra từ hiện thực – nhà văn – tác phẩm – người đọc, tiến đến người đọc Phê bình là một phạm vi của tiếp nhận, nhưng tiếp nhận phạm vi lại rộng hơn phê bình không chỉ là hoạt động đọc mà còn tiếp nhận bằng các con đường khác như chuyển thể văn bản…Nếu phê bình văn học
“mang lại cho tác phẩm một số phận lịch sử, làm cho tác phẩm không ngừng lớn lên cùng thời gian” [384 – 90] thì tiếp nhận văn học cũng tạo thành đời sống lịch sử cho tác phẩm và cũng nhờ người đọc tác phẩm văn học sẽ trường tồn với thời gian Mặt khác “ người ta cũng xây dựng lên lịch sử tiếp nhận các tác phẩm lớn, với vai trò phát hiện các giá trị mới của chúng do các nhà phê bình, nhà văn tầm cỡ thực hiện.Từ đó người ta có thể viết lịch sử văn học từ phía tiếp nhận, ở đó nổi lên sự thay thế, biến đổi của các hệ quy chiếu tiếp nhận, các loại hình tiếp nhận và các kiểu người đọc đã tác động tới số phận tác phẩm” [327 -53]
Nói như Mac : “Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hành động sản xuất, mang lại cho sản phẩm một sự trọn vẹn với tư cách là sản phẩm Như vậy tiếp nhận là một giai đoạn tồn tại của hình tượng nghệ thuật, là một khâu không thể thiếu được của sáng tạo nghệ thuật như “là một hoạt động sản xuất tinh thần” [88 - 222], thông qua tiếp nhận văn học mà hoạt động sáng tạo nghệ thuật trở nên có ý nghĩa hơn, đồng thời những giá trị chân chính của tác phẩm sẽ được bảo tồn, phát triển theo thời gian Vậy tiếp nhận văn học là gì? Xuất phát từ đặc trưng đời sống thẩm mĩ của văn học,
khi đề cập đến hành động tiếp nhận, các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học
đã định nghĩa: “Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc, cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể…[53 - 325] Văn học là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, nghệ thuật của ngôn từ Khi tiếp nhận tác phẩm thì cái biểu hiện ra trước mắt
Trang 30chính là chất liệu làm ra tác phẩm (ngôn từ) qua đó thể hiện tư tưởng tác phẩm và thế giới nghệ thuật mà nhà văn tạo dựng lên, tác phẩm văn học từ đó đi vào sự tiếp nhận của người đọc bằng nhiều khuôn mặt khác nhau “Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo Nó thúc đẩy ảnh hưởng văn học làm cho tác phẩm không đứng yên mà luôn luôn lớn lên, phong phú thêm trong trường kì lịch sử Tiếp nhận văn học tạo thành đời sống lịch sử của tác phẩm văn học” [53 - 326], nghĩa là qua sự sàng lọc, phê bình của bạn đọc những tác phẩm có giá trị sẽ tồn tại với thời gian Nói vậy để thấy được vai trò của tiếp nhận văn học, sở dĩ vì hoạt động sáng tạo
và thưởng thức văn học từ trước tới nay đều vận hành qua các khâu: Hiện thực - nhà
văn - tác phẩm - bạn đọc, cùng với mối quan hệ giữa tác phẩm với hiện thực, tác
phẩm với nhà văn, thì mối quan hệ giữa tác phẩm với người đọc (sự tiếp nhận văn
học) đã được chú ý Huỳnh Như Phương trong Giáo trình lí luận văn học (tập 1) chỉ
ra mối quan hệ qua lại giữa sáng tác và tiếp nhận: “Tiếp nhận văn học là hoạt động tiêu dùng, thưởng thức, phê bình văn học của độc giả thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau [118 - 159]; có sáng tác thì sẽ có hoạt động tiếp nhận, hai khâu này tác động qua lại lẫn nhau Qua tiếp nhận văn học tác phẩm trở nên sống động, hoàn chỉnh hơn, còn người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết cũng như năng lực tư duy Xét về bản chất tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Như vậy tác dụng của tiếp nhận văn học là nhờ sự cắt nghĩa của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động
và hoàn chỉnh hơn, ngược lại người đọc nhờ được tiếp xúc với tác phẩm mà được
mở mang vốn hiểu biết, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực cảm thụ và tư duy Đoàn Đức Phương đã chứng minh thêm điều đó: “Tiếp nhận văn học thực chất là một quá trình giao tiếp Sự giao tiếp giữa tác giả và người tiếp nhận, là mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc, người bày tỏ và người chia sẻ, cảm thông Bao giờ người viết cũng mong người đọc hiểu mình, cảm nhận được những điều mà mình gửi gắm, kí thác [119] Mối quan
hệ được tác giả xây dựng trên tinh thần đối thoại, hợp tác, người đọc trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình sáng tạo của nhà văn
Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học, nhóm tác giả Phương Lựu, Trần Đình
Sử…đã chứng minh vai trò to lớn của tiếp nhận văn học cũng như đặc điểm của sự tiếp nhận văn học của bạn đọc mang tính khách quan, bản chất xã hội, tính sáng tạo
Trang 31của tiếp nhận văn học Về tính khách quan của tiếp nhận văn học, các tác giả cho rằng tiếp nhận văn học một mặt là một hoạt động xã hội lịch sử và người ta coi nó là một hoạt động cá nhân chủ quan, mặt khác lại cho rằng “tiếp nhận văn học là lấy
“ý” của mình mà suy ra “chí” của tác phẩm” [88 - 223], điều này đã được nhóm tác giả chứng minh rất rõ từ các quan niệm cổ xưa từ thời Xuân thu của Trung Quốc
trong câu chuyện của Bá Nha, Tử Kì, của Mạnh Tử trong Vạn Chương… Tuy nhiên
khi xét về bản chất xã hội của tiếp nhận văn học, các tác giả cũng lưu ý rằng: “Tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với tình cảm, thị hiếu của mỗi người” điều đó để thấy rằng không phải tất cả mọi người đều có chung
một nhận xét, một đánh giá và một mức cảm thụ, mà có sự khác nhau ở mỗi cá nhân
riêng lẻ, chính điều đó đã tạo nên đời sống phong phú cho mỗi tác phẩm Điều này
đã được chính minh khá rõ trong những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp…nhưng bên cạnh đó bản chất xã hội của tiếp nhận văn học cũng mang khuynh hướng xã hội, gắn liền với đời sống thực
tế, và chính điều này đã làm cho tiếp nhận văn học trở nên sâu sắc và giầu tính sáng tạo Sáng tạo ở đây là “tri giác” là “lý giải tác phẩm”, tuy nhiên cũng cần phải phân biệt rõ sáng tạo ở đây là hiểu tác phẩm chứ không phải làm mới, là nội dung chứa đựng trong tác phẩm chứ không phải mang từ ngoài vào: “Tính chất sáng tạo của người đọc và tác giả khác nhau trên căn bản Nhà văn tìm tòi, khái quát để tạo ra tác phẩm mới Cố gắng của người đọc là phát hiện lại tác phẩm, thâm nhập vào những chiều sâu có thể là bất ngờ đối với tác giả” [88 - 228] Trong quan niệm của các nhà nghiên cứu theo mỹ học về tiếp nhận, dù được lý giải ở góc độ nào thì điểm tập trung quy tụ vẫn là nói tới người đọc Người đọc chính là chủ thể tiếp nhận, người đọc là người sáng tạo nên ý nghĩa mới cho tác phẩm, là người quyết định số phận lịch sử cho tác phẩm, “đời sống lịch sử của tác phẩm chủ yếu không ở sự biến đổi văn bản, mà ở sự tiếp nhận” [88 - 229] Nguyễn Hiến Lê khi bàn về nghề văn đã không ngần ngại khẳng định: “Nhà văn có thể không cần tiền, không cần vàng nhưng nhất định phải cần độc giả…, tất nhiên có tác phẩm kén độc giả, có tác phẩm không, có người viết cho đương thời, có kẻ viết cho hậu thế nhưng đã viết thì ai cũng mong có người đọc mình, nếu không thì viết làm gì? [81 - 206], người đọc chính là người sáng tạo thứ hai (sáng tạo trong tiếp nhận) tạo nên sự sống cho tác phẩm “trong một ý nghĩa nào đó nhà văn là kẻ qua nhịp cầu của tác phẩm mình, mà
Trang 32tìm đến người đọc” [10 - 12] Người đọc đã đến và lấp đầy những “khoảng trống”
mà nhà văn có ý thức hoặc vô tình tạo nên, làm dậy lên những tiếng nói của những khoảng lặng và biết đâu người đọc còn sáng tạo ra những ý nghĩa mới mà người sáng tạo có khi không nghĩ tới Sự hiện hữu của tác phẩm văn học sẽ là hư vô nếu không có sự tham dự của người đọc, của hoạt động tiếp nhận, bởi lẽ vai trò của người đọc được xác lập khi văn bản ra đời, thoát ly khỏi nhà văn để bước vào hành trình của hoạt động tiếp nhận Lí luận hiện đại đã nhìn thấy những yếu tố đặc thù của văn bản văn học và phương thức tồn tại của tác phẩm văn học thông qua người đọc Đặc biệt vào thế kỉ XX với sự xuất hiện của mỹ học tiếp nhận, lí luận văn học quan tâm nhiều đến độc giả, người cụ thể hóa văn bản Đây là một trong những đóng góp lớn của mỹ học tiếp nhận nói chung và lí luận văn học hậu hiện đại nói riêng Kể từ đó, “lịch sử văn học không chỉ đơn giản là con số cộng các tác giả, tác phẩm mà còn được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch sử của nó” [30 - 167]
Các nhà lí luận xem phạm vi nghiên cứu của tiếp nhận văn học là “toàn bộ quá trình biến văn bản nghệ thuật thành tác phẩm văn học”, về bản chất quá trình này gồm ba phương diện:
Thứ nhất: Nghiên cứu tác phẩm như là một sản phẩm nghệ thuật được sáng tác
ra để tiếp nhận, thưởng thức tác phẩm như một văn bản, một thông báo nghệ thuật, một cấu trúc cảm thụ hướng tới sự tưởng tượng của người đọc
Thứ hai: Về sự đọc, cắt nghĩa tác phẩm, các quy luật của tiếp nhận, sự đồng sáng tạo của người đọc
Thứ ba: Các quy luật và vấn đề lịch sử xã hội của tiếp nhận
Như vậy, tiếp nhận văn học có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn tất quá trình sáng tác - giao tế của văn học Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh (thưởng thức, phê bình) giá trị tác phẩm của người đọc, hay nói cách khác đó chính
là hoạt động chủ động của người đọc trong sự giao tiếp, đối thoại với tác giả, qua tác phẩm Với những hình thức, trình độ và thời đại khác nhau, quá trình tiếp nhận chính là quá trình sản sinh ra ý nghĩa tác phẩm cũng như quyết định số phận, sức trường tồn của mỗi tác phẩm theo thời gian “Do được tiếp nhận mà tác phẩm văn học có thể tham gia vào các môi trường xã hội khác nhau, thuộc các thời kỳ lịch sử khác nhau Từ đó tác phẩm văn học có một đời sống lịch sử và số phận lịch sử của
Trang 33nó Có những tác phẩm hiển hách một thời, rồi sau bị quên, trong số đó có tác phẩm
sẽ được nhớ lại vào lúc khác, còn phần khác sẽ bị chìm đi mãi mãi Có tác phẩm được tiếp nhận lúc đầu khó khăn, nhưng sau lại có vị trí vững vàng Như vậy lịch sử văn học không chỉ là lịch sử ra đời của tác phẩm, mà còn là lịch sử tiếp nhận tác phẩm nữa” [88 - 229]
Nhận thức được tầm quan trọng như vậy nên khi nghiên cứu lịch sử của tác phẩm văn học, một vấn đề cần quan tâm là sự tiếp nhận của người đọc, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã chỉ ra rằng, từ việc tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật rồi đi đến tiếp nhận các ý tưởng chứa đựng trong nó phải bằng sự trải nghiệm của chủ thể tiếp nhận Chủ thể tiếp nhận không phải là người thụ động mà luôn luôn phải là người tham dự với một tâm thế nhất định cùng với năng lực, trình độ thẩm mĩ thì mới có thể thâm nhập vào hàm nghĩa tác phẩm nghệ thuật để giải mã các “khóa” chứa đựng các hàm nghĩa kín đáo ở các phương tiện biểu hiện Sản phẩm của tiếp nhận thẩm
mĩ có thể trùng hoặc không trùng với hình tượng và tư tưởng mà tác giả trù định, điều đó được quy định bởi trạng thái tiềm năng văn học của xã hội và cá nhân Tác giả đã đưa ra một số trường hợp trong tiếp nhận thẩm mĩ :
Trường hợp thứ nhất: Tâm thế hướng vào tác phẩm nghệ thuật, chiếm lĩnh hình tượng nghệ thuật và truyền cảm xúc vào hình tượng nghệ thuật ấy, vui mừng nhận ra tác phẩm cái hình tượng chờ đợi trên cơ sở liên tưởng hình tượng đó hợp với kinh nghiệm sống của chủ thể
Trường hợp thứ hai: Xuất hiện hình tượng nghệ thuật không phù hợp với sự chờ đợi của chủ thể khi đó tiếp nhận thẩm mĩ bị phá vỡ, chủ thể hình thành một hình tượng cảm xúc mới với những khám phá mới Xét trong quá trình tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng đều đúng với trường hợp trên Điều này chúng tôi sẽ chứng minh trong chương 3 và 4 của luận án
Như “đứa con được cắt rốn khỏi lòng mẹ” (Huỳnh Như Phương), nhà văn cũng không thể kiểm soát hành trình, số phận tác phẩm của mình, mà lúc này nó phụ thuộc rất lớn vào người đọc Vậy vai trò của chủ thể tiếp nhận được biết đến và đề cao từ khi nào, trong việc khẳng định giá trị của tác phẩm văn học Điều đó phải trải qua một quá trình với những quan niệm khác nhau về tác phẩm văn học trong tư duy lí luận văn học từ truyền thống đến hậu hiện đại
Trang 342.2 Quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: „„Tác phẩm văn học là nhân tố hàng đầu, có
tính chất quyết định trong hoạt động tiếp nhận, tác phẩm đóng vai trò điều khiển, nó không chỉ sáng tạo ra nhu cầu tiếp nhận mà còn cung cấp tài liệu để thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đó Do vậy tác phẩm là „„tiền đề tiếp nhận‟‟ [53 - 325] Tác phẩm văn học
là hạt nhân trung tâm là đối tượng quan tâm hàng đầu của hệ thống lí luận văn học Lịch sử phát triển tư duy lí luận văn học đã nói lên bản chất quá trình thay thế nhau giữa các yếu tố : Hiện thực - tác giả - văn bản - người đọc, đồng thời đó cũng là quá trình dịch chuyển trung tâm của tác phẩm văn học để đến gần với người đọc (từ mỹ
học sáng tạo đến mỹ học tiếp nhận) Khi triết học tự nhiên còn ngự trị, thì tư duy văn
học truyền thống luôn đề cao mối quan hệ nhân quả hay chính là nguồn gốc xuất xứ, luôn đi tìm nghĩa chủ ý của tác giả, giảng giải xem nhà văn muốn nói gì trong tác phẩm, đặt tác phẩm vào trong quan hệ với tiểu sử nhà văn, chứng thực giai đoạn tác phẩm ra đời Bước sang thời hiện đại tư duy phát triển cực đoan hơn, lần đầu tiên phát hiện ra văn bản, coi văn bản là trung tâm tạo nghĩa khép kín, độc lập với tác giả
và với cả người tiếp nhận, tập trung nghiên cứu vấn đề văn học như là hình thức ngôn ngữ đặc trưng Bước đột phá quan trọng ở giai đoạn hậu hiện đại chính là việc phát hiện ra người đọc, văn bản văn học luôn đến với người đọc bằng nhiều khuôn mặt khác nhau „„có bao nhiêu người đọc thì sẽ có bấy nhiêu khuôn mặt‟‟
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của luận án chúng tôi sẽ tìm hiểu quá trình dịch chuyển trung tâm từ hiện thực - tác giả - văn bản - người đọc trong sự vận động của tư duy lí luận văn học Đó không phải là quá trình đột biến mà phải trải qua từng giai đoạn, để có cái nhìn xuyên suốt và hệ thống về tác phẩm văn học như một phạm trù lí luận quan trọng Đồng thời trả lời câu hỏi phương thức tồn tại của tác phẩm văn học là gì ? Đời sống của tác phẩm sẽ ra sao nếu không có sự tham gia của người đọc? Người đọc được quan tâm từ bao giờ? Cũng như chứng minh được tầm quan trọng của người đọc trong lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết và phóng sự Vũ Trọng Phụng
2.2.1.Tác phẩm văn học trong tư duy lý luận văn học truyền thống
Trong giai đoạn này tác phẩm văn học chưa được nghiên cứu như một đối tượng độc lập, và vấn đề người tiếp nhận cũng không được quan tâm đúng mức, mà chỉ chú trọng vai trò của hiện thực, tác giả Tác phẩm là nơi phản ánh hiện thực, nơi truyền tải tư tưởng, kí thác tâm sự của tác giả
Trang 35*Tác phẩm văn học trong mối quan hệ với hiện thực
Từ thời cổ đại đến hết thế kỉ XIX, tư tưởng văn nghệ ở phương Đông và phương Tây nằm trong thuyết tái hiện và biểu hiện, nên tác phẩm văn học chỉ được nhìn nhận trong mối quan hệ với hiện thực Điều này đã dẫn đến cái nhìn khác nhau
về bản chất của tác phẩm văn học Từ trong lịch sử, văn học thường ẩn mình trong triết học Ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, ở Hi Lạp cổ đại dựa trên
cơ sở thần thoại, bi kịch, hài kịch, các triết gia như Socrate (469 - 399 Tr.CN), Platon (427 - 347 Tr.CN), Aristote (348 - 322 Tr CN) đã nêu ra những quan niệm đầu tiên về văn học Nếu tư tưởng của Socrate được coi là bước ngoặt trong lịch sử
mĩ học thời cổ đại với quan niệm „„con người là trung tâm của sự chú ý‟‟ thì đến học trò của ông là Aristote xây dựng quan niệm về thi pháp học cho ra đời lí thuyết
về sự sản xuất ra các tác phẩm thơ ca Nghệ thuật với Aristote là sự bắt chước, là sự
mô phỏng Trong công trình Nghệ thuật thi ca Aristote đã từng viết: „„Sự mô phỏng
vốn sẵn có ở con người từ thủa nhỏ và con người khác giống vật chính ở chỗ họ có tài mô phỏng, nhờ có mô phỏng đó mà họ thu nhận được những kiến thức đầu tiên, những sản phẩm của sự mô phỏng mang lại sự thích thú cho con người‟‟ [1 - 187] Aristote đã đưa ra các câu hỏi và nó cũng trở thành công thức cho mọi sáng tác nghệ thuật, mô phỏng cái gì ? và mô phỏng như thế nào ? công thức này được các nhà văn cổ đại vận dụng vào sáng tạo, tạo ra những tác phẩm mẫu mực cho mọi thời đại Tư tưởng của Aristote cũng như tính chất giáo điều, quy phạm của các triết gia
Hi Lạp cổ đại có sức ảnh hưởng đến các nhà lí luận trong một thời gian dài từ thời Phục hưng, chủ nghĩa cổ điển (thế kỷ XVII) và thời kì Khai sáng (thế kỉ XVIII), theo đó mọi sáng tạo nghệ thuật đều là sự mô phỏng và đó cũng chính là tiêu chuẩn
để đánh giá một tác phẩm Công thức này được các nhà lí luận văn học lớn kế thừa, khai thác triệt để, thậm chí còn ảnh hưởng nặng nề hơn khi Boileau (1636 - 1711) đại biểu của trường phái chủ trương nghệ thuật phải mô phỏng những tác phẩm cổ đại, đã đặt ra những quy định ngặt nghèo cho thể loại kịch với luật tam duy nhất (thống nhất về thời gian, địa điểm và hành động) Như vậy một mặt nhà văn cổ đại
đã tạo ra những tác phẩm mẫu mực, nhưng đó cũng là những hạn chế cho cả người sáng tạo và người đọc, người sáng tạo phải theo một khuôn mẫu có sẵn không được sáng tạo theo ý muốn chủ quan của mình, người đọc không có chỗ để thể hiện là người đồng sáng tạo
Trang 36Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng với Aristote nghệ thuật không phải lĩnh vực tự trị mà nó liên quan mật thiết với con người, nâng cao phẩm giá của con người thông qua sự thanh lọc (catharsis) về tâm hồn con người, giải phóng con người khỏi những dục vọng xấu xa Ông cho rằng, thanh lọc là một tác động mang tính cảm xúc của bi kịch đối với người xem, Aristote đã giải thích rằng chính nhờ
sự sợ và thương cảm của bi kịch làm nảy sinh ra những tác động thanh lọc tâm hồn, tinh thần con người, „„bi kịch qua cách khơi gợi sự xót thương và sợ hãi, thực hiện
sự thanh lọc các cảm xúc tương tự‟‟ [1 - 190] Như vậy có thể thấy cho dù rất mờ nhạt, nhưng khi Aristote nói đến vấn đề nghệ thuật có khả năng tác động, thanh lọc tâm hồn con người, điều này đã cho thấy ông có quan tâm đến đối tượng tiếp nhận nghệ thuật
Trên cơ sở của thuyết„„mô phỏng‟‟,„„bắt chước‟‟mà Aritote đã đề ra mối quan
hệ văn học và hiện thực, đây cũng là tiền thân của lý thuyết phản ánh, sang thời Khai sáng (thế kỉ XVIII) vấn đề này đã được mở rộng hơn, tiếp đến, sự xuất hiện của triết học Macxit có ý nghĩa quan trọng đối với tư duy mĩ học, mối quan hệ văn học - hiện thực tiếp tục được khai thác dựa trên cơ sở của triết học duy vật biện chứng Giai đoạn cực thịnh là sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực với nguyên tắc sáng tạo quan trọng nhất là phản ánh chân thực cuộc sống, nhà văn là „„người thư kí trung thành của thời đại‟‟, Balzac – bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực cũng đã thừa nhận rằng mình là “thư ký”, hiện thực có vai trò quan trọng trong việc sáng tạo,
thẩm định, đánh giá một tác phẩm văn học Nếu tác phẩm được soi chiếu, đồng nhất
với hiện thực khách quan, cũng có nghĩa hiện thực trong tác phẩm đồng nhất với hiện thực bên ngoài thì đương nhiên tác phẩm văn học chỉ đơn thuần tồn tại như một công cụ mà thôi Hướng tiếp cận bản chất tác phẩm văn học tồn tại trong giai đoạn này tiếp tục ngự trị đến nửa sau thế kỉ XIX khi Hippolyte Taine (1828 - 1893), người đứng đầu trường phái phê bình lịch sử, cũng nhìn tác phẩm trong mối quan
hệ với hiện thực khách quan, phát triển thêm quan niệm „„bản thể tinh thần‟‟, xem xét tác phẩm với môi trường, đạo đức, tâm lý thời đại mà tác phẩm ra đời Như vậy muốn hiểu được tác phẩm văn học phải nắm được cái trạng thái tinh thần và đạo đức của thời đại mà tác phẩm đó ra đời
Mỹ học mácxít và các quan điểm của Marx, Engels, Lenin về mối quan hệ cơ
sở kinh tế xã hội và thượng tầng kiến trúc, những ý kiến của họ về chủ nghĩa hiện
Trang 37thực là xuất phát điểm của mĩ học Marx - Lenin, mô hình lý thuyết phản ánh còn tiếp tục được duy trì đến giai đoạn hiện đại với sự khám phá của các nhà nghiên cứu
lí luận Mácxit như G.Lukacs, C.Caudwell, R.Garaudy với một quan điểm thống nhất : tác phẩm văn học là sản phẩm của mối quan hệ phản ánh, mọi sự lý giải về tác phẩm văn học đều bị chi phối bởi đặc trưng của phản ánh nghệ thuật, của mối quan hệ văn học và đời sống Hướng tiếp cận này bộc lộ những hạn chế, cực đoan một chiều khi cho rằng tác phẩm văn học là kết quả của sự phản ánh, là hiện thân của thế giới hiện thực quanh ta, nghiên cứu tác phẩm không phải là mục đích tự thân mà chỉ là phương tiện để nhận thức, tìm hiểu về hiện thực xã hội, hiện thực chính là trung tâm của tác phẩm
Dù ở những biến thể khác nhau thì tư tưởng văn nghệ ở cả phương Đông và phương Tây từ thời cổ đại đến thế kỷ XIX vẫn chỉ xoay quanh mỹ học sáng tạo với
lý thuyết phản ánh Tác phẩm văn học không chủ yếu đặt trong mối quan hệ với hiện thực mà còn trong quan hệ với tác giả
* Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác giả
Văn học phương Tây từ thời cổ đại đến thế kỉ XIX quan tâm chủ yếu đến mối quan hệ giữa văn học với hiện thực, thì ở phương Đông quan niệm tác phẩm văn học như là nơi để truyền tải tư tưởng, kí thác tâm sự của nhà văn, và do nhà văn quyết định Mối quan hệ giữa tác giả và tác phẩm được xác lập, sự chuyển dịch trung tâm của tác phẩm văn học bắt đầu từ hiện thực sang tác giả Tác phẩm chính là sản phẩm tinh thần do nhà văn sáng tạo ra, ý nghĩa của nó phụ thuộc vào nhà văn, tác phẩm bị ràng buộc bởi chính người sáng tác ra nó và việc phân tích, đánh giá tác phẩm phải căn cứ vào tác giả để đi tìm ý đồ, tư tưởng cũng như sự chủ ý của nhà văn
Đầu thế kỷ XIX khi khoa học văn học được hình thành ở phương Tây thì chính thức được phát hiện Nếu trước đó nhân tố trực tiếp quyết định sáng tạo văn học là hiện thực, là những quy tắc, khuôn mẫu hình thức, thì nay là vai trò của cá nhân lên ngôi, cá nhân ở đây chính là tác giả, người sáng tạo ra tác phẩm văn học Vậy tác giả là ai ? Quan hệ tác giả với tác phẩm như thế nào ? Các nhà nghiên cứu văn học Pháp đã trả lời câu hỏi đó Sainte Beuve (1804 - 1869) người khởi xướng phương pháp phê bình tiểu sử (lấy con người tác giả để tìm hiểu tác phẩm) cho rằng giữa tác giả và tác phẩm có mối quan hệ phụ thuộc, tác phẩm cũng chính là phát ngôn của tác giả, nghiên cứu tác phẩm phải dựa vào tư tưởng của tác giả thậm chí
Trang 38có lúc trở thành phương tiện để khám phá thế giới tâm hồn của tác giả Những quan niệm này đã chi phối đến công việc nghiên cứu trong một thời gian dài, nhưng nếu chỉ nghiên cứu văn học dựa vào những yếu tố ngoài văn bản (hiện thực, thời đại, tác giả), hoặc quan hệ nhân - quả như Sainte Beuve từng phát biểu „„văn học, sáng tạo văn học không khác biệt, hay chí ít là đối với tôi, gắn liền với tất cả những gì còn lại trong con người, với bản tính của con người Tôi có thể thưởng thức tác phẩm này hay khác, nhưng tôi sẽ gặp khó khăn khi bàn luận về nó mà không có sự hiểu biết
về chính con người ‟‟ [167 - 29] Cách hiểu đó khiến việc lý giải tác phẩm văn học chỉ thông qua dữ kiện bên ngoài, bỏ qua chất liệu hình thức mà chỉ chú ý đến nội dung, giá trị hiện thực và tư tưởng của tác phẩm Ngôn ngữ chỉ là những công cụ, là phương tiện truyền tải những nội dung tư tưởng trong ý đồ của tác giả Đồng thời người đọc chỉ tiếp nhận một cách thụ động, vì đối với họ tác phẩm được sáng tác ra
đã có sẵn đề tài xác định, có tư tưởng rõ ràng Điều này đã tách tác phẩm khỏi qui luật tiếp nhận (bỏ qua phương thức tồn tại của tác phẩm mà chỉ xem trọng việc tác phẩm ra đời như thế nào?)
Như vậy có thể thấy đó là cái nhìn sơ lược, phiến diện, một chiều chỉ đóng khung trong mỹ học sáng tạo, không nhận thức được vấn đề „„khi đã ra đời, sống giữa thế gian thì sự hiểu tác phẩm đã không còn phụ thuộc vào ý muốn của một mình tác giả nữa‟‟ [138 - 12] Chúng tôi đồng tình với ý kiến của Trần Đình Sử : „„Quan niệm cho rằng tác giả hoàn toàn quyết định sự hiểu của người đọc và cái mà người đọc hiểu chỉ có thể là nguyên ý của nhà văn là một quan niệm có nhiều ảo tưởng‟‟ [138 - 12] Ảo tưởng đó dẫn đến việc đọc tác phẩm như là một phương pháp khảo cổ nhằm mục đích phát hiện nguyên ý của tác giả, khẳng định vai trò một chiều của tác giả, tách rời hoạt động đọc của người đọc trong môi trường văn hóa đa dạng
Như vậy trong tư duy lí luận văn học truyền thống tiếp cận tác phẩm bằng con đường tìm hiểu hiện thực, tác giả mà không xuất phát từ phía bạn đọc Điều đó đã tạo nên sự bất ổn, chính sự bất ổn này đã dần bộc lộ những hạn chế nhất định tạo nên những bước đột phá ở giai đoạn sau với những khám phá về bản chất ngôn ngữ cùng bước dịch chuyển trung tâm từ tác giả sang văn bản và từ văn bản sang người đọc
2.2.2 Tư duy lí luận văn học hiện đại
Bước sang thế kỷ thứ XX tư duy lí luận văn học không bằng lòng với quan niệm truyền thống đã thực hiện bước đột phá để bước vào giai đoạn hiện đại Bắt
Trang 39đầu từ những thành tựu khoa học xã hội như ngôn ngữ học, cấu trúc luận, kí hiệu học, nhiều trường phái lí luận văn học ra đời dẫn đến cuộc cách mạng làm thay đổi diện mạo của lí luận và phê bình phương Tây Lí luận văn học hiện đại xoay quanh
ba trục lớn : Những khám phá về bản chất ngôn ngữ, sự dịch chuyển trung tâm từ tác giả sang văn bản, và sự dịch chuyển trung tâm từ văn bản sang người đọc, để tiến dần tới tham vọng chủ thể tác phẩm là người đọc
* Những khám phá về bản chất ngôn ngữ
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, đó là một chân lí hiển nhiên Ngôn ngữ là nhân
tố căn bản cấu tạo hiện thực và sáng tạo ra tư tưởng, kiến tạo thế giới giúp con người cảm nhận về thế giới hiện thực Thế nhưng trong tư duy lí luận văn học tiền hiện đại ngôn ngữ chỉ biết đến với vai trò thứ yếu hoặc nếu được nhắc đến cũng chỉ với vai trò ghi nhận hiện thực, truyền tải tư tưởng của tác giả Đầu thế kỷ XX bước ngoặt ngôn ngữ đã thực sự xảy ra với sự ra đời của lý thuyết ngôn ngữ học F.de Saussure (1857 - 1913) cha đẻ của lý thuyết ngôn ngữ hiện đại Bản chất của ngôn ngữ đã được khám phá khi F.de Saussure khẳng định chính ngôn ngữ cấu tạo nên những khái niệm giúp con người cảm nhận về thế giới hiện thực Ngôn ngữ là nhân tố căn bản cấu tạo văn bản tác phẩm, F.de Saussure đã đưa ra một số luận điểm cơ bản :
a Ngôn ngữ là một kí hiệu, được tạo nên bởi sự kết hợp giữa hai mặt „„cái biểu đạt‟‟(signifier), và „„cái được biểu đạt‟‟ (signified), cái biểu đạt là một hình ảnh thính giác, cái được biểu đạt là một khái niệm, giữa chúng xảy ra quan hệ tương tác, quy ước, võ đoán, nếu cái biểu đạt là hình thức thì cái được biểu đạt là nội dung
b Ý nghĩa của từ ngữ mang tính chất quan hệ, ý nghĩa của kí hiệu chỉ nảy sinh trong mối quan hệ với các kí hiệu khác, theo đó ý nghĩa của từ ngữ được tạo nên nhờ cấu trúc các mối quan hệ „„cái biểu đạt (hình ảnh thính giác) và cái được biểu đạt (khái niệm, tư tưởng) quan hệ mật thiết với nhau „„luôn có nhau‟‟ Người ta thường ví
sự gắn kết đó như sự gắn kết giữa hai mặt của một tờ giấy : Không thể cắt tờ giấy mà lại không đồng thời cắt cả mặt này lẫn mặt kia Có thể biểu thị bằng sơ đồ:
„„Ký hiệu =Cái biểu đạt
Cái được biểu đạt‟‟ (xem thêm tài liệu 37 - 20)
Chính ngôn ngữ cấu tạo nên những khái niệm giúp con người ghi nhận và cảm nhận về thế giới hiện thực
Những thành tựu về ngôn ngữ học của ông đã có ảnh hưởng lớn đến các khoa
Trang 40học văn học, đưa lại cho nghiên cứu văn học những „„khóa‟‟ mới để giải mã vấn đề văn bản tác phẩm văn học, đưa tác phẩm văn học trở thành vấn đề trung tâm của lí luận văn học hiện đại, được nhìn nhận từ nhiều phía, nhiều chiều, là cơ hội để mở ra nhiều hướng tiếp cận khác nhau Ngôn ngữ trong văn học từ đây không chỉ đơn giản
là cái vỏ của tư duy mà nó là yếu tố có khả năng sinh tạo tư tưởng, ngôn ngữ không chỉ truyền tải ý nghĩa của người phát ngôn mà chúng còn tạo nên một thế giới độc lập Martin Heidegger đã chứng minh „„ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể‟‟ Ngôn ngữ không chỉ là công cụ truyền tải thông điệp có sẵn mà ngôn ngữ còn có khả năng tạo lập một đời sống riêng độc lập với chủ ý của người phát ngôn
F.de Saussure, đã vươn tới điều mà lí luận tiền hiện đại chưa vươn tới được
Từ F.de Saussure, trung tâm chú ý của văn học chính là ngôn ngữ, trọng tâm nghiên cứu nằm ở phương diện đồng đại, ở cấu trúc và tính hệ thống của ngôn ngữ Theo dòng chảy thời gian, vấn đề ngôn ngữ sẽ ngày càng được khám phá sâu sắc hơn, khẳng định sự tồn tại ngôn ngữ trong thế giới nghệ thuật, sáng tạo tư tưởng, nhưng điều quan trọng nhất là lí luận văn học hiện đại đã khẳng định được vai trò cấu tạo hiện thực, phát hiện đời sống riêng, độc lập của ngôn ngữ từ đó tác động không nhỏ đến quá trình khám phá bản chất tác phẩm văn học
* Sự dịch chuyển trung tâm từ tác giả sang văn bản
Nếu đầu thế kỷ XX đánh dấu một bước chuyển biến mới của lí luận văn học bắt đầu từ bước ngoặt ngôn ngữ hiện đại của F.de Saussure thì bước dịch chuyển đầu tiên và quan trọng nhất mở đầu cho cuộc cách mạng về lí luận văn học thế kỷ
XX, đó chính là việc phát hiện ra văn bản Phát hiện này đã đưa văn bản vào trung tâm của sự chú ý, cuộc chuyển giao quyền lực từ tác giả sang văn bản chính thức
được bắt đầu Mỗi một trường phái ra đời như một cuộc tiếp sức để lật đổ các quan niệm truyền thống, hoàn thành cuộc cách mạng của lí luận hiện đại : Chủ nghĩa hình thức Nga, trường phái phê bình mới Anh - Mỹ, chủ nghĩa cấu trúc đã chứng minh điều đó Tuy đều xuất phát từ điểm chung trên, nhưng hạt nhân trung tâm của các trường phái này lại khác nhau
Chủ nghĩa hình thức Nga: Ra đời ở Nga trong những năm đầu của thế kỷ
XX, được coi là trường phái cách tân nhất thế kỷ trong việc xây dựng một khoa học văn học tự trị „„xuất phát từ những phẩm chất độc đáo của vật liệu văn học‟‟, với các đại diện tiêu biểu như :V.Sklovski (1893 - 1984), B.M.Eikhenbeum (1886 -