1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chất trữ tình trong tản văn của phan thị vàng anh, đỗ bích thúy, nguyễn ngọc tư

97 384 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NGUYỄN THỊ YẾN CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TẢN VĂN CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH, ĐỖ BÍCH THÚY, NGUYỄN NGỌC TƯ Chuyên ngành : Văn học Việt Nam hiệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ YẾN

CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TẢN VĂN CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH, ĐỖ BÍCH

THÚY, NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam hiện đại

Mã số : 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Văn Sơn

HÀ NỘI NĂM 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người thầy của tôi: Thầy giáo – TS Chu Văn Sơn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tiếp theo, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, phòng Sau Đại học, khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè đã quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Do điều kiện và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những sơ xuất và thiếu sót Tôi mong nhận được sự đóng góp, bổ sung từ phía các thầy cô, các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Yến

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc của luận văn 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Chương 1: TẢN VĂN VÀ QUAN NIỆM CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH, ĐỖ BÍCH THÚY, NGUYỄN NGỌC TƯ VỀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TẢN VĂN 7

1.1 Tản văn 7

1.1.1 Khái niệm 7

1.1.2 Đặc trưng 8

1.1.3 Tản văn trong đời sống văn học đương đại 12

1.2 Chất trữ tình 14

1.2.1 Chất trữ tình 14

1.2.2 Trữ tình trong văn xuôi – một dạng thức giao thoa thể tài 15

1.2.3 Chất trữ tình trong tản văn 16

1.3 Quan niệm của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư về chất trữ tình trong tản văn 17

1.3.1 Phan Thị Vàng Anh 17

1.3.2 Đỗ Bích Thúy 19

1.3.3 Nguyễn Ngọc Tư 20

Chương 2: CHẤT TRỮ TÌNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG CẢM HỨNG 24

Trang 4

2.1 Cảm hứng về quê hương 24

2.2 Cảm hứng về thân phận con người 37

2.3 Cảm hứng về thời thế 45

Chương 3: CHẤT TRỮ TÌNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 56

3.1 Hình tượng cái tôi trữ tình 56

3.2 Cách kiến tạo hình ảnh 61

3.3 Giọng điệu 67

3.4 Ngôn ngữ nghệ thuật 72

PHẦN KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tản văn là một thể loại văn học xuất hiện từ rất sớm Tuy nhiên,

tản văn gần như không được để tâm đến thậm chí bị coi là thể loại “đi ngoài lề” đời sống văn học Ở Việt Nam, chỉ từ 1986 trở đi , tản văn mới được chú ý đến và mới thực sự là giai đoạn “lên ngôi” của tản văn Những công trình nghiên cứu, phê bình về tản văn còn chưa nhiều Do vậy, chúng tôi mạnh dạn

đi sâu khai thác mảnh đất tản văn vẫn đang còn mới mẻ này

1.2 Trong hai thập kỉ gần đây, nền văn học Việt Nam đã và đang “tự

làm mới mình” với sự xuất hiện của một thế hệ các nhà văn trẻ đầy tài năng, giàu tâm huyết Đặc biệt sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ đã tạo nên một luồng sinh khí mới cho nền văn học nước nhà Trên văn đàn, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư đều là những tài năng trẻ độc đáo được bạn đọc vô cùng yêu thích và được ghi nhận bởi nhiều giải thưởng có uy tín của giới văn học Đã có không ít công trình tìm hiểu về truyện ngắn, tiểu thuyết của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư nhưng chưa

có công trình nào nghiên cứu, đề cập một cách cụ thể, toàn diện, có hệ thống đến tản văn của ba tác giả đó Đọc tản văn Phan Thị Vàng Anh ta thấy một cây bút nữ thông minh, sắc sảo, một thái độ nhập cuộc đầy xông xáo Đọc tản văn Đỗ Bích Thúy lại để lại dấu ấn của một chất văn đằm thắm, ăm ắp tình người Điều đặc biệt nữa, đọc tản văn Đỗ Bích Thúy ta như lạc vào một không gian văn hóa miền núi với những cánh rừng, dòng sông ngập tràn hương sắc của mận, trám Trong khi đó cũng đậm cái tình trong trang viết nhưng tản văn Nguyễn Ngọc Tư mang màu sắc riêng của vùng miệt vườn Nam Bộ ở sự chân chất, giản dị, hồn hậu Văn Nguyễn Ngọc Tư rất đời thường, đời đi vào văn tự nhiên như hơi thở Người đọc đọc văn Nguyễn

Trang 7

Ngọc Tư có cảm giác gần gũi, thân thương, nhỏ nhẹ như nghe người con gái quê đang vừa hái rau muống vừa kể chuyện vậy Ba cây bút trẻ đầy nội lực,

ba gương mặt tản văn, ba phong cách khác nhau, ba vùng miền văn hóa khác nhau tạo sức hút cho người viết luận văn mong muốn khám phá, nghiên cứu

1.3 Tản văn là thể loại dung hợp cả hai yếu tố tự sự và trữ tình Tuy

vậy, từ góc nhìn giới, tản văn nữ thiên về cảm xúc Trong tản văn của nữ giới,

sự kiện ngổn ngang chỉ là bề mặt, mạch ngầm là cảm xúc, tình cảm Cảm hứng trữ tình là cảm hứng chủ đạo trong nhiều tập tản văn của các nhà văn

nữ Do vậy, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu ba cây bút nữ tiêu biểu là Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư

Đó là những lí do cơ bản thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài: Chất trữ tình trong tản văn của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về tản văn: Thể loại tản văn xuất hiện ở Việt

Nam từ đầu thế kỉ XX Người mở đường cho thể loại tản văn có thể kể đến Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu Tuy nhiên, gần như trong một giai đoạn dài, tản văn là thể loại chưa được để tâm Chỉ đến hai thập kỉ gần đây, văn đàn văn học nở rộ nhiều cây bút viết tản văn và nhiều cuốn tản văn trở thành best seller, người ta bắt đầu nhìn lại vị trí của thể loại này trong dòng văn học đương đại Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về tản văn gần như chưa

có nhiều nếu không muốn gọi là còn rất ít

Đến những năm 90 của thế kỉ XX mới xuất hiện một số công trình bàn tới tản văn với tư cách như là một thể loại văn học Có thể kể đến ý kiến của

Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại ( Nxb Giáo dục - 1998)

cho rằng tản văn là một tiểu loại của kí Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học ( Nxb Giáo dục - 2004)

Trang 8

cũng xác định tư cách độc lập của tản văn, coi nó là một loại hình ngang hàng với thơ, kịch, tiểu thuyết

Năm 2008, xuất hiện công trình luận án của tiến sĩ Lê Trà My nghiên

cứu về tản văn: Tản văn Việt Nam thế kỉ XX từ cái nhìn thể loại đã góp

phần khái quát những vấn đề lí luận của thể loại tản văn cũng như quy luật tồn tại và phát triển của nó trong đời sống văn học

2.2 Lịch sử nghiên cứu về Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư Sáng tác văn chương nói chung và văn xuôi nói riêng từ thâp kỉ 90

trở lại đây đã đươc kiến thiết bởi những người viết trẻ, nhất là xuất hiện nhiều cây bút nữ tài năng Họ là lực lượng hùng hậu để tạo nên luồng gió mới cho các sáng tác thế kỉ XXI Chính vì vậy văn xuôi của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư giành được sự quan tâm đặc biệt của giới phê bình

Trong Không gian và khoảnh khắc văn chương, dịch giả Huỳnh

Phan Anh có viết “Vàng Anh là một tài năng trẻ, một nhà văn sớm định hình

ngay từ tập truyện ngắn đầu tay, một giải thưởng quốc gia dành cho nhà văn

trẻ”.Hay trong bài Sân chơi của Vàng Anh (Huỳnh Như Phương), cuốn

Những đổi mới cơ bản của văn xuôi sau 1975 (Nguyễn Thị Bình) cũng

ghi nhận tài năng của Phan Thị Vàng Anh

Với phong cách nghệ thuật đặc biệt, Đỗ Bích Thúy tìm cho mình một

lối đi riêng Trong Cái duyên và sức gợi của hai nhà văn trẻ, nhà văn Chu

Lai:“Đọc Thúy, người ta có cảm giác như ăn một món ăn lạ” Ngoài ra Đỗ

Bích Thúy và những sáng tác của chị còn được đề cập đến trong nhiều bài viết

: Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư (Phạm Thùy Dương), Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ (Điệp

Anh),

Trang 9

Sức hút của nhà văn Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư khá lớn nên rất nhiều

bài viết, bài nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư: Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư (Trần Hữu Dũng), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Thanh Vân), Đọc tạp văn Nguyễn Ngọc Tư quen mà lạ (Hạ Anh)

Ngoài ra còn rất nhiều luận văn, bài báo viết về tài năng của ba cây bút

nữ Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư

2.3 Lịch sử nghiên cứu về chất trữ tình trong tản văn của ba cây bút

nữ Đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào khai thác chất trữ

tình trong tản văn của cả ba cây bút nữ trẻ đó Những tài liệu trên đây đã cho chúng tôi nhiều gợi ý bổ ích sâu sắc khi thực hiện đề tài này, và càng cho thấy

sự lựa chọn đối tượng nghiên cứu của luận văn là có cơ sở

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Chất trữ tình trong tản văn của ba nhà văn nữ

trẻ : Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ đề tài, đối tượng khảo sát chính

yếu của chúng tôi là các tác phẩm tản văn của ba nhà văn nữ:

Phan Thị Vàng Anh: Nhân trường hợp chị thỏ bông( NXB Hội nhà văn, 2005), Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa (NXB Trẻ, 2016) Tạp văn Phan Thị Vàng Anh ( NXB Trẻ, 2016)

Đỗ Bích Thúy: Đến độ hoa vàng (Lienviet và NXB Văn Học, 2013), Trên căn gác áp mái (NXB Phụ Nữ, 2011)

Nguyễn Ngọc Tư: Sống chậm thời @ (in chung với Lê Thiếu Nhơn,

NXB Thanh niên 2006), Biển của mỗi người (NXB Kim Đồng, 2008), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (NXB Trẻ, 2010), Yêu người ngóng núi (NXB Trẻ,

2011), Ngày mai của những ngày mai (NXB Văn học, 2015), Gáy người

thì lạnh ( NXB Trẻ, 2012), Đong tấm lòng (NXB Trẻ, 2015)

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, cụ thể:

Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: Căn cứ đặc

trưng thể loại tản văn từ đó đối chiếu tìm hiểu chất trữ tình trong tản văn của

ba cây bút nữ

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để thống kê

các yếu tố trong tản văn của ba cây bút nữ có liên quan đến việc thể hiện chất trữ tình

Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp này dùng để tìm hiểu

nội dung, hình thức của các tác phẩm, phân tích chất trữ tình được thể hiện trong tản văn của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư và từ

đó rút ra những luận điểm chính của đề tài Đây là phương pháp chủ yếu trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp so sánh: So sánh chất trữ tình trong tản văn của Phan Thị

Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư từ đó thấy được nét đặc sắc của thể loại tản văn nói chung cũng như tản văn của từng nhà văn nói riêng

5 Đóng góp của luận văn

Về mặt lí luận: Luận văn đi sâu vào một trong những yếu tố cốt lõi tạo

nên diện mạo thể loại của tản văn là chất trữ tình Đồng thời góp phần xác lập một cơ chế, một quy trình có tính phương pháp luận để tìm hiểu đặc trưng của chất trữ tình trong thể loại tản văn

Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần nhận diện những đặc sắc trong

sáng tạo của ba cây bút nữ tiêu biểu ở thể loại tản văn Qua đó làm rõ hơn những đóng góp của họ đối với đời sống văn học

Trang 11

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tản văn và quan niệm của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư về chất trữ tình trong tản văn

Chương 2: Chất trữ tình nhìn từ phương diện nội dung cảm hứng

Chương 3: Chất trữ tình nhìn từ phương diện hình thức nghệ thuật

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: TẢN VĂN VÀ QUAN NIỆM CỦA PHAN THỊ VÀNG ANH, ĐỖ BÍCH THÚY, NGUYỄN NGỌC TƯ VỀ CHẤT TRỮ TÌNH TRONG TẢN VĂN

1.1 Tản văn

1.1.1 Khái niệm

Trong sự tương giao thể loại đa dạng hiện nay, việc phân chia các loại hình sáng tác chỉ là “quy ước lỏng”, có khi chỉ là quan niệm Trong sự dung hợp thể loại, tản văn cũng mang trong bản thân nó những thể loại khác Khảo sát tản văn Việt Nam trên diện rộng sẽ thấy hiện tượng: tản văn thường nằm trong các tập tạp văn, tùy bút, nhàn đàm, có khi ở các tập bút kí, tiểu luận, kí… Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi coi tạp bút, tạp văn, tiểu phẩm, nhàn đàm… như là một thể của tản văn

Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê định nghĩa: “Tản văn: 1 Văn

xuôi 2 Loại văn gồm các thể kí và các thể văn khác, ngoài truyện, thơ và kịch.” [50,857]

Theo Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh định nghĩa: “Tản văn, văn xuôi

không có vần” [4, 233]

Từ điển thuật ngữ văn học – Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội, năm

1997 là cuốn duy nhất đã xác định tản văn ngoài nghĩa là văn xuôi còn có

nghĩa là một thể loại văn học có những đặc trưng riêng biệt: “Tản văn là loại

văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị luận, miêu tả phong cảnh, khắc họa nhân vật, lối thể hiện đời sống mang tính chất khám phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh, điều cốt

Trang 13

yếu là tái hiện được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ của tác giả”.[29, 329]

Trong cuốn Năm bài giảng về thể loại, Hoàng Ngọc Hiến quan niệm

“Tản văn là một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả có

thể bộc lộ trữ tình, tự sự hoặc nghị luận, thường có mấy thứ đan quyện vào nhau”.[32]

TS Lê Trà My trong bài viết Một cách nhìn về tản văn hiện đại - lời

giới thiệu cuốn Tản văn hiện đại Việt Nam có viết: “Tản văn là một thể loại

văn xuôi ngắn gọn, hàm súc Nó không đòi hỏi phải có một cốt truyện đầy đủ hay phải sáng tạo những nhân vật hoàn chỉnh Cấu tứ tác phẩm được triển khai từ một vài tín hiệu thẩm mỹ đóng vai trò trung tâm trong thế giới nghệ thuật Đó có thể là những hình ảnh, chi tiết hoặc một hiện tượng đời sống cụ thể” [40]

Có rất nhiều các quan niệm xoay quanh khái niệm tản văn tuy nhiên các quan niệm trên đều thống nhất: tản văn là một thể loại văn xuôi có tính hàm súc, có thể là trữ tình, tự sự, nghị luận đan xen và đều bộc lộ trực tiếp dấu ấn riêng, cái tôi tác giả Các ý kiến về tản văn vẫn chưa ngã ngũ trên một

số phương diện Nhưng trong phạm vi tư liệu có thể, chúng tôi chỉ khái quát cách hiểu về tản văn như là cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu chất trữ tình trong tản văn của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư

1.1.2 Đặc trưng

1.1.2.1 Tản văn là những tác phẩm văn xuôi có dung lượng ngắn, hàm

súc và không có cốt truyện Tản văn chủ yếu chú trọng vào chi tiết nên có thể

coi đây là một thể loại văn xuôi không đòi hỏi cốt truyện Người viết tản văn

thường lựa chọn vài ba nét từ chất liệu cuộc sống, dựa vào đó để bày tỏ thế giới nội tâm cũng như cảm xúc của mình về thế giới Ví như từ một cành hoa mận mà gợi nhớ bao kí ức tuổi thơ êm đềm, đầy ắm những kỉ niệm ngọt ngào

Trang 14

thơ ấu bên gia đình (Một loài hoa thương nhớ - Đỗ Bích Thúy); hình ảnh

một đám lục bình trôi khơi dậy bao suy tư, trăn trở về cuộc đời, về nỗi cơ đơn,

nỗi buồn xứ sở (Lục bình – Nguyễn Ngọc Tư) “Một sự việc xảy ra trên

đường phố ồn ào, một tiếng dương cầm vang lên giữa đêm khuya, một sắc hoa ban muốt trắng ở vùng núi cao phía Bắc khi xuân về Tất cả những điều tưởng chừng như tủn mủn, lặt vặt ấy đều có thể là cái cớ cho một tản văn ra đời Vấn đề còn lại chỉ là sức cảm, sức nghĩ, là độ rộng và chiều sâu trong trường liên tưởng của người viết mà thôi Nói gọn lại, tản văn là phải tạo ra

“một cái gì đó” có ý nghĩa tiếp sau cái cớ ban đầu kia;“một cái gì đó”, nói kiểu công thức “chạm vào trái tim và khối óc người đọc” theo một cách riêng của văn chương.”[46] Với công phu tinh lọc như vậy, các chi tiết xuất hiện

trong tản văn thường rất hàm súc, giàu sức gợi Có thể coi tản văn như là “thơ

tứ tuyệt” của văn xuôi

1.1.1.2 Tản văn là loại tác phẩm được cấu tứ Về phương diện kết cấu,

tản văn là loại tác phẩm trữ tình biểu lộ thế giới tinh thần của chủ thể Nó không coi trọng thông tin, sự kiện mà cốt là ở cách nhìn, cách lí giải sự kiện Kết cấu tác phẩm tản văn dựa trên sự liên tưởng kết nối các sự kiện, nhân vật, hình ảnh, chi tiết vào với nhau Các chi tiết trong tản văn thường không gắn kết thành một bức tranh đời sống mang tính khách quan như trong các tác phẩm tự sự mà chúng chỉ là những tín hiệu bộc lộ chủ thể nhà văn bởi nghệ thuật tản văn như đã nói là nghệ thuật biểu hiện Giả Bình Ao nói nghệ thuật

tản văn là “nghệ thuật của biểu hiện chứ không phải đòi bạn tái hiện” Do

vậy, quan hệ giữa các chi tiết thường là quan hệ liên tưởng nhờ sự tưởng tượng phóng túng, bay bổng của nhà văn tạo nên ý tưởng độc đáo cho tác phẩm Cấu tứ trong tản văn chủ yếu dựa trên sự liên tưởng này Những điều tưởng như tản mạn, ngẫu hứng kiểu “trà dư tửu hậu” lại được kết nối tạo thành một câu chuyện hấp dẫn Tuy nhiên, những câu chuyện ấy nhiều người

Trang 15

viết nhưng không phải ai viết cũng hay, cũng hấp dẫn được bạn đọc Tản văn

có thể coi là thể loại có vẻ dễ viết nhưng khó hay Muốn tạo ra những tác phẩm tản văn hay đòi hỏi trình độ người viết phải tạo ra một cấu tứ, một tổ

chức mang tính nghệ thuật cao

1.1.1.3 Tản văn bộc lộ trực tiếp cái “tôi” của tác giả Đây là đặc điểm

nổi bật nhất của tản văn so với các thể loại khác Xét một cách khách quan, ở thể loại văn học nào thì cái tôi nghệ sĩ của tác giả cũng ít nhiều in dấu trong tác phẩm Ở truyện ngắn, tiểu thuyết, cái tôi của nhà văn ẩn mình vào những hình tượng nhân vật Ở thơ, cái tôi nhà thơ có phần bộc lộ rõ hơn so với truyện ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên vẫn ẩn mình dưới hình tượng nhân vật trữ tình Ở tản văn, nhà văn trực tiếp cất lên tiếng nói, như nói trực tiếp câu chuyện, quan điểm của chính mình Ở tản văn, người viết văn công khai với

tư cách là chủ thể lời nói nghệ thuật và biến mình trở thành hình tượng nhân vật Nhà tản văn nổi tiếng người Trung Quốc Tiền Cốc Dung có từng viết về

đặc trưng của tản văn như sau: “Vốn dĩ mọi tác phẩm văn học đều in dấu tính

tình, phẩm cách của tác giả nhưng ở thơ, tiểu thuyết, kịch, tác giả thường ẩn mình đi, bọc mình lại khiến bạn đọc không dễ gì thấy ngay được diện mạo thật của họ Còn tản văn thì không thế Tác giả của chúng không hề tô điểm, trang sức mà cứ trần trụi ra trong mắt bạn đọc Hễ điều gì nói ra đều là những điều phát tự lòng mình, không một chút giả dối, điểm tô Tác giả dường như thủ thỉ tự nói một mình, tự thổ lộ nỗi niềm, hoặc như trút bầu tâm

sự với người quen cũ lâu ngày không gặp lại Qua tác phẩm của họ, bạn đọc thấy ngay được con người họ, thấy ngay được bản sắc, bản tướng của họ Cho nên tản văn là tác phẩm thấy được tính tình tác giả rõ nhất, do vậy dễ viết nhất mà cũng khó viết nhất Những ai không thực sự có tính tình, hoặc không thực sự có lời muốn ngỏ thì tốt nhất là không nên viết tản văn.”[16]

Dựa trên nguyên tắc tự biểu hiện, người viết tản văn thường có xu hướng lấy

Trang 16

ngay chính cuộc sống của mình ra làm chất liệu để xây dựng tác phẩm Do

đó, sức mạnh của tản văn trước hết là nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, cách nhìn, cách cảm và sự uyên bác của người cầm bút Đọc tản văn của Tản Đà,

Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc

Tư ta như được nghe kể vể cuộc sống của chính tác giả Hình tượng tác giả như được tái hiện rõ nét qua từng trang văn

1.1.1.4 Tản văn có cách thức biểu hiện đa dạng: Tản văn là thể văn tự

do, phóng túng nhất Tất cả các yếu tố của thể loại, đối với tản văn đều hết sức tự do, bất luận là chọn đề tài, lập ý hay bố cục kết cấu, hay vận dụng thủ pháp biểu hiện Tản văn có thể có nhiều phong cách: nghiêm túc, cười cợt, trữ tình, chính luận, triết lí Cách viết tản văn đa dạng, có thể tự sự, trữ tình,

nghị luận, hoặc pha xen các cách viết khác nhau Giả Bình Ao từng nói: “ Tản

văn là nghệ thuật bay, nghệ thuật bơi, nó tự do thoải mái” Tản văn là thể văn

cho phép người viết thỏa sức khai thác đề tài ở mọi lĩnh vực đời sống, không

hạn định bởi một khuôn mẫu nào GS.TS Trần Đình Sử trong Tản văn Việt

Nam hiện đại – một thể loại bị lãng quên có viết: “Tản văn nói được bao

điều suy nghĩ, nung nấu, cảm xúc trong lòng về con người, thế sự, đạo lí, về thiên nhiên, môi trường, chính trị, văn nghệ ” [52] Tính tự do của tản văn

khiến tản văn có thể kết hợp nhiều kiểu loại chi tiết từ chi tiết xác thực đến chi tiết hư ảo, hoang đường Có thể nói, chưa có thể loại nào đạt tới sự ngẫu hứng, phong phú và đa dạng như tản văn

1.1.1.5 Giọng điệu tản văn: Tản văn được coi là thể loại văn ngẫu

hứng, văn chơi nên giọng điệu thường nhẩn nha, trò chuyện, tâm sự Có người

nói đọc tản văn như “ nghe những lời nhỏ nhẹ của mẹ, của vợ, của bạn thân

quanh bàn trà, điếu thuốc” Người viết tản văn có tâm thế nhàn tản, cái nhàn

của con người biết thoát khỏi những o ép đời thường, tìm tới sự thấu triệt sâu sắc của lẽ đời Tản văn thích hợp với sự ngâm ngợi, chiêm nghiệm, điềm tĩnh

Trang 17

mà đằm sâu Thủ thỉ đấy, nhẩn nha đấy nhưng thầm trầm sâu sắc và đầy triết

1.1.1.6 Tản văn có nhiều loại hình khác nhau: Thường người ta hay

chia tản văn làm ba loại hình: Tản văn triết luận, tản văn hồi tưởng và tản văn cảm thời Tản văn triết luận thường đối thoại với bạn đọc về một vấn đề bàn luận; tản văn hồi tưởng thường đậm màu sắc trữ tình với những hoài vọng về quá khứ; tản văn cảm thời thường là những suy ngẫm về những vấn đề thời cuộc, mang mầu sắc thế sự

1.1.3 Tản văn trong đời sống văn học đương đại

Tản văn là một thể loại văn xuôi hiện đại được hình thành vào khoảng

thập kỉ thứ 2 của thế kỉ XX Những yếu tố văn hóa, xã hội quyết định đến sự

ra đời của tản văn là: phong trào cổ vũ văn xuôi quốc ngữ, đời sống báo chí sôi động, ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân Người đi tiên phong trong sáng tác tản văn phải kể đến Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Trác Tản văn là những sáng tác văn xuôi được viết bằng chữ quốc ngữ và chủ yếu in trên báo chí sau tuyển chọn in thành tập

Trước năm 1986, tản văn không được chú ý và thường được coi là thể loại “đi ngoài lề” của đời sống văn học Từ sau năm 1986, thời kì đổi mới đất nước, đổi mới văn học, có thể nói đây là giai đoạn “ lên ngôi” của thể loại tản văn Tản văn đã có chỗ đứng xứng đáng trong đời sống văn học đương đại

Năm 2005, khi quyển Tản mạn trước đèn của nhà văn Đỗ Chu nhận

giải thưởng văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, văn học Việt Nam mở ra thời

kì tản văn nở rộ: Tản mạn trước đèn (Đỗ Chu), Nhân trường hợp chị thỏ bông (Thảo Hảo), Ngẫu hứng sáng, trưa, chiều, tối (Tạ Duy Anh), Ngày mai của những ngày mai (Nguyễn Ngọc Tư) Trong bài báo Tản văn –

“món ăn nhanh” gây tranh cãi” (Lam Thu) đăng trên báo VN.Express tháng 7/2015 có viết một đoạn: “Tản văn, tạp văn, tùy bút hay đoản văn trước

Trang 18

đây xuất hiện lác đác, nhưng trong một thập kỷ trở lại đây, thể loại này ngày càng nhiều Chỉ riêng Nhà xuất bản Trẻ đã in tới 46 cuốn trong ba năm Sáu tháng đầu năm nay, đơn vị này phát hành 18 đầu sách tản văn, với 32.000 bản được in ấn tại Hà Nội Trung bình, mỗi đầu sách tản văn in 2.000 bản”

[55] Rất nhiều những cuốn tản văn trở thành bestseller của năm Trong số những cuốn sách Việt bán chạy nhất năm 2015 không thể không kể đến tác

phẩm Tản văn Đong tấm lòng của Nguyễn Ngọc Tư được đề cập đến trên

trang emdep.vn chuyên mục Xem – nghe – đọc [25] Ngắn gọn, nhẹ nhàng,

giàu cảm xúc có lẽ là ưu điểm chính khiến tản văn thu hút được người đọc thời hiện đại trong cuộc sống hối hả, còn nhiều bận rộn

Tản văn trở thành một thể loại khá phổ biến, dễ tiếp cận và có sự thâm nhập vào đời sống con người một cách dễ dàng Thể loại này khá “dễ tính” thu hút được đông đảo đội ngũ sáng tác Thời đại công nghệ tiên tiến, ai cũng

có thể viết tản văn và tự xuất bản trên mạng cá nhân của mình Viết tản văn trở thành một xu hướng trong sáng tác văn chương từ người không chuyên cho đến các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp Vì hầu như tác giả nào cũng ít nhất một lần viết tản văn Nhiều tác giả đã gây dựng được tên tuổi của mình

từ thể loại tản văn như: miền Nam có Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, miền Bắc có Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý Trong khi Nguyễn Ngọc Tư có chất giọng riêng về đời sống miền Tây Nam Bộ thì Phan Thị Vàng Anh lại thể hiện chất trí tuệ, sắc sảo với từng khía cạnh của đời sống hiện đại Nguyễn Trương Quý cung cấp hiểu biết về Hà Nội đương thời thì Đỗ Bích Thúy đưa người đọc về miền sơn cước xa xôi Nhiều cây bút trẻ cũng chọn tản văn như một thể loại để khằng định tên tuổi của mình như: Hamlet Trương, Iris Cao, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên, Cấn Vân Khánh Tản văn như trở thành một “mảnh đất mới màu mỡ”cho nhiều người thử sức Ngay cả những người không thuộc ngành văn chương như: nhà sử

Trang 19

học Cao Huy Thuần, nhà khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, họa sỹ Phan Cẩm Thượng, nhạc sỹ Dương Thụ, đạo diễn điện ảnh Việt Linh đều là những cây bút tản văn rất thú vị Tuy nhiên, tản văn là thể văn dễ viết nhưng khó hay

Họa sỹ, nhà văn Đỗ Phấn đã có lần tâm sự: “ Viết mấy chục năm mới nghiệm

thấy, sa vào cái thể văn ngăn ngắn be bé tưởng không đâu vào đâu ấy hóa ra cần phải có một nội lực chữ nghĩa kinh người thì may ra mới viết được gọi là tàm tạm” Vì vậy, để khẳng định mình ở thể loại tản văn, các nhà văn đã phải

lao động rất nghiêm túc và không ngừng nghỉ

Với tốc độ phát triển nở rộ cả về số lượng tác phẩm, số lượng người đọc, số lượng người sáng tác, chứng tỏ tản văn đã chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống văn học đương đại Mảnh đất tản văn có lẽ chính là nơi lưu giữ những giá trị tinh thần để nuôi dưỡng tâm hồn, xúc cảm con người trong cuộc sống hiện đại

1.2 Chất trữ tình

1.2.1 Chất trữ tình

Về khái niệm “ trữ tình” có nhiều cách hiểu khác nhau Trong đời sống nói chung, với những người không chuyên sâu trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật thì “trữ tình” được hiểu nôm na: “trữ” là thổ lộ, “tình” là cảm xúc, tình cảm, trữ tình được hiểu là chỉ sự nên thơ, cái đẹp chan chứa cảm xúc Đôi khi người ta hay dùng nhiều cách nói khác nhau: “chất trữ tình”, “tính trữ tình”, “yếu tố trữ tình” Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, khái niệm trữ tình được hiểu sâu rộng hơn

Theo Từ điển tiếng Việt: “ Trữ tình: Có nội dung phản ánh hiện thực

đời sống bằng cách biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người, kể cả bản thân người nghệ sĩ, trước cuộc sống.” [50,1018]

Còn theo Từ điển Văn học có định nghĩa: “Trữ tình: Thuật ngữ chỉ

một trong ba phương thức biểu đạt của văn học( bên cạnh tự sự và kịch) Ở

Trang 20

đây cái được để lên hàng đầu là chủ thể phát ngôn và thái độ của nó đối với cái được mô tả.” [33, 1854]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học “Trữ tình (tiếng Pháp là lyricque) là

một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và kịch) là cơ sở cho một loại tác phẩm văn học trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức con người, nghĩa là con người tự cảm nhận thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh ” [29, 374]

Trong Giáo trình lý luận văn học có nhắc đến tác phẩm trữ tình và nội

dung của các tác phẩm trữ tình, trong đó khái niệm trữ tình được hiểu là sự

“miêu tả và biểu hiện thế giới chủ quan của con người với những cảm xúc,

tâm trạng và ý nghĩ trực tiếp” [49, 189]

Căn cứ vào dữ liệu trên, ta có thể hiểu trữ tình là một khái niệm dùng

để chỉ một phương thức trong sáng tác văn học, nó chú trọng đến miêu tả cảm xúc, tâm trạng, tình cảm chủ quan của chủ thể trữ tình Chúng ta sử dụng cách hiểu thống nhất này để nghiên cứu chất trữ tình trong tản văn của ba cây bút

nữ Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư trong những phần tiếp theo

1.2.2 Trữ tình trong văn xuôi – một dạng thức giao thoa thể tài

Nói đến tác phẩm trữ tình, người ta nghĩ ngay đến thơ Tuy nhiên bên cạnh thơ trữ tình còn có tùy bút, thơ văn xuôi, truyện ngắn trữ tình, tiểu thuyết trữ tình Đó là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử văn học

“Bước sang các thế kỉ XIX – XX, trữ tình không còn đồng nhất với thơ như

trước nữa: các tố chất của tự sự (ví dụ: tính sự kiên) thâm nhập vào tác phẩm thơ, đồng thời các tố chất của trữ tình thâm nhập vào văn xuôi, tạo nên những thể tài lai ghép như thơ tự sự - trữ tình, văn xuôi trữ tình”[33, 1855] Nhà

nghiên cứu người Nga Kuranop cũng cho rằng: “ Trong nền văn học hôm nay,

Trang 21

Chúng ta chứng kiến sự xích lại gần nhau giữa thơ và văn xuôi Sự xích lại gần làm cho văn xuôi của chúng ta thêm nồng ấm, run rẩy, nhiều chất hội họa, cô đọng hơn trong nhữn ẩn dụ thấm vào từng câu, từng đoạn Việc xích lại gần thơ làm cho văn xuôi trở nên vừa sâu sắc, vừa dễ hiểu hơn” [26]

Chính sự giao thoa thể tài này làm cho công việc sáng tác của các nhà văn trở nên phong phú và sinh động hơn Sự xâm nhập của các yếu tố thơ vào văn xuôi khiến văn xuôi tự sự trở thành những áng văn xuôi đầy ám ảnh và quyến

Vậy có thể khẳng định sự giao thoa giữ thơ và văn xuôi chính là cơ sở tạo nên chất trữ tình trong văn xuôi Nếu như nhân vật, cốt truyện, chi tiết là yếu tố cần để tạo nên cái khung sườn cho một tác phẩm văn xuôi thì chất trữ tình là yếu tố đủ giúp cho tác phẩm tác động mạnh mẽ nhất vào tâm hồn người đọc, làm rung lên nơi đó những nhịp đập của cảm xúc

1.2.3 Chất trữ tình trong tản văn

Nếu tiểu thuyết và truyện ngắn viết về những sự việc, hiện tượng khách quan thì tản văn viết về những sự việc chủ quan của chính mình, cho dù có viết về người khác thì tản văn thực chất cũng là viết về chính mình, chuyện của mình Tản văn là nơi lưu giữ những tâm tư, tìm cảm, những cảm xúc, tâm trạng của chính tác giả về thế giới xung quanh Có lẽ vì vậy mà tản văn rất gần gũi với thơ và đậm chất trữ tình Tất cả các tập tản văn ra đời đều do xuất khởi từ có “cảm nhận” mà đến “giãi bày” Người viết tản văn từ việc cảm nhận tinh tế về cuộc sống, con người xung quanh mà từ đó muốn giãi bày tâm trạng, giãi bày nỗi nhớ nhưng, niềm khao khát Vì tản văn liên quan đến giãi bày cảm xúc nên yếu tố trữ tình trở thành một đặc trưng thẩm mĩ nổi bật của tản văn Khi thơ và tản văn gặp nhau đạt tới đỉnh cao của sự sáng tạo, nó tạo nên một tác phẩm đặc sắc, tinh tế và tràn đầy cảm xúc

Trang 22

Những khám phá và cơ sở lí thuyết trên về chất trữ tình, về sự kết hợp thể tài, đặc trưng thẩm mĩ nổi bật của tản văn là chất trữ tính chính là tiền đề

gợi mở cho chúng tôi tìm hiểu, đi sâu vào khám phá “Chất trữ tình trong tản văn của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư”

1.3 Quan niệm của Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư

về chất trữ tình trong tản văn

Từ một góc nhìn giới ta có thể thấy ở những giai đoạn trước phụ nữ không viết tản văn Đặc trưng của tản văn là tính chủ quan, là sự bộc bạch, giãi bày trực tiếp của chủ thể sáng tạo Có lẽ vì thế mà phụ nữ giai đoạn trước ngại viết về mình Ghi lại thế giới tâm hồn, giãi bày những tâm trạng một

cách công khai không phải là thói quen của phụ nữ trước đây “Đi và ghi

chép, ngồi và nhàn đàm, nhấm nháp thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên,

ẩm thực; bàn về chuyện đời, chuyện người không nằm trong cảm hứng của các cây bút nữ ở một số chặng đường văn học” (Tản văn nữ: diện mạo và triển vọng” Lê Thị Hường) [36] Nhưng từ sau năm 1986, công chúng được đón nhận sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn nữ mới đầy tài năng, trẻ cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề Họ được coi là “thế hệ thứ tư” của Văn học Việt Nam

Đó là những cây bút được sinh ra và lớn lên trong thời hòa bình, đồng thời cũng là những người có ý thức xây dựng một nền văn học mới đáp ứng yêu cầu thời đại Bằng sự năng động, nhiệt tình, đầy sáng tạo họ đã góp phần làm nên một diện mạo mới cho văn học nước nhà Và có lẽ chưa bao giờ tản văn

nữ giới phát triển nở rộ như thời kì này Trong số đó không thể không nhắc đến những cây bút tản văn nữ tiêu biểu thế hệ 6x- 7x: Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư

1.3.1 Phan Thị Vàng Anh

Phan Thị Vàng Anh sinh năm 1968 tại Hà Nội, chị là con gái nhà thơ Chế Lan Viên và nhà văn Vũ Thị Thường Từ nhỏ chị đã nổi tiếng với bài thơ

Trang 23

Mèo con đi học Lớn lên, chị học Y khoa nhưng được biết đến như một hiện

tượng của Văn học đương đại Phan Thị Vàng Anh viết truyện ngắn từ khi

còn là sinh viên Năm 1992 chị đã ra mắt công chúng với tập truyện ngắn Khi

người ta trẻ Nhưng Vàng Anh chỉ thực sự gây chú ý từ khi đạt giải nhất cuộc thi truyện mini trên tạp chí Thế giới mới năm 1994 với truyện ngắn Hoa

muộn Từ đây, người đọc quan tâm đến Phan Thị Vàng Anh bởi ở cây bút

này có nhiều khám phá mới lạ Năm 1994, chị tiếp tục xuất hiện với truyện

vừa có nhan đề giản dị Ở nhà Đến năm 1995, Vàng Anh lại tiếp tục cho ra đời tập truyện ngắn Hội chợ và được bạn đọc chào đón nồng nhiệt Năm

1999, bạn đọc tiếp tục đón nhận những truyện ngắn của Vàng Anh in chung

trong tập Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh – Nguyễn Trọng Nghĩa Liên

tục đổi mới không ngừng, chị tìm đến tản văn Sau gần ba năm xuất hiện trên mục “Tôi xem nghe đọc thấy” của báo Thể thao và Văn hóa, Phan Thị Vàng

Anh tập hợp lại thành một tập sách nhỏ Nhân trường hợp chị thỏ bông với

42 bài Khi tập tản văn ra đời với bút danh Thảo Hảo đã xuất hiện một “làn sóng” hồ hởi chào đón từ phía người tiếp nhận Lấn sân sang thơ ca, Vàng

Anh cho ra mắt công chúng một tập thơ với nhan đề Gửi VB với những tâm

tư khá chân thật về cuộc đời Đến 12 năm sau ngày tản văn Nhân trường hợp chị thỏ bông ra đời, Phan Thị Vàng Anh mới trở lại thể loại tản văn với Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa (Nxb Trẻ 2016) Ở tập này Phan Thị Vàng

Anh không còn gai góc, “cay nghiệt” như ở tập đầu tiên nhưng đằm thắm hơn, hiền hòa hơn Và gần đây nhất Vàng Anh làm cả phim tài liệu hiện đại Dù ở thể loại nào thì Vàng Anh vẫn luôn là cây bút sắc sảo, tinh tế và đầy tinh thần đương đại

Hai tập tản văn Nhân trường hợp chị thỏ bông và Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa viết cách nhau 12 năm Người ta gọi cuốn Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa là sự “trở về” của Phan Thị Vàng Anh Vàng Anh của

Trang 24

“thời thỏ bông” là một Vàng Anh đanh đá, ngoa ngoắt đến kì cùng Và giờ là Vàng Anh của tuổi trung niên đằm thắm, ôn hòa hơn Vàng Anh của mỗi giai

đoạn lại thu hút người đọc ở một khía cạnh riêng “ Dù không còn kiểu bóc

tách vấn đề/sự việc đến tận cùng như thời “chị Thỏ Bông” nhưng lúc này, bạn đọc lại chứng kiến cách Phan Thị Vàng Anh nhẩn nha về chuyện mình, chuyện người, chuyện đời vẫn đầy thông minh, sắc sảo và nhiều trăn trở”

[51] Tuy nhiên, dù hai thời điểm khác nhau, ở hai lứa tuổi khác nhau thì cuối cùng Vàng Anh vẫn là Vàng Anh đầy nữ tính Ẩn sau những chuyện mình, chuyện người, chuyện đời ấy là một Vàng Anh đầy suy tư, giàu cảm xúc, đầy trách nhiệm công dân và giàu tính nhân văn Bên cạnh khả năng khái quát triết lí là những cảm xúc trữ tình sâu lắng thiết tha, thể hiện những trăn trở đầy trách nhiệm của nhà văn về cuộc sống Có lẽ vì thế dù không bộc lộ trực tiếp như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư nhưng những trang tản văn của Phan Thị Vàng Anh vẫn đậm chất trữ tình!

1.3.2 Đỗ Bích Thúy

Đỗ Bích Thúy sinh năm 1975 tại Hà Giang Khi còn là sinh viên báo chí, chị đã đoạt giải cao nhất cuộc thi truyện ngắn Văn Nghệ Quân Đội năm

1999 Năm 2005, tiểu thuyết Dưới bóng cây sồi đạt giải C của NXB Thanh

Niên Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của chị được đạo diễn Ngô

Quang Hải dựng thành phim truyện nhựa “ Chuyện của Pao”(giải Cánh diều

vàng năm 2006) Những tác phẩm của chị đã xuất bản: Tiểu thuyết Bóng của cây sồi, Cánh chim kiêu hãnh, Cửa hiệu giặt là Truyện ngắn có Sau những mùa trăng, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Ký ức đôi guốc đỏ, Mèo đen, Đàn bà đẹp Tản văn ra mắt hai tập Trên căn gác áp mái, Đến độ hoa vàng Truyện vừa với Người đàn bà miền núi Chị sáng tác cả mảng truyện dành cho thiếu nhi với tập Em Béo và

Trang 25

hội cầu vồng Hiện nay, Đỗ Bích Thúy là Phó Tổng biên tập tạp chí văn

nghệ quân đội

Đỗ Bích Thúy sáng tác chủ yếu về đề tài cuộc sống của người dân tộc miền núi Tây Bắc Trong sáng tác tản văn của chị, miền Tây Bắc trở nên thơ

mộng, gần gũi và thân quen Chị từng tâm sự: “Tản văn là một cách viết thay

cho nhật kí” [36] Có lẽ vì vậy mà bức tranh về miền núi của chị hiện lên trong những tập tản văn như những dòng nhật kí, dòng hồi ức miên man về một vùng đất chị yêu thương, gắn bó Lối kể chuyện tự sự giàu chất trữ tình kết hợp với hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ đặc trưng cho văn hóa vùng miền đã góp phần làm nên một Hà Giang đẹp và giàu chất thơ Có thể nói sức hấp dẫn trong tản văn của Thúy là chất thơ lan tỏa hầu khắp các trang viết của chị Giữa cuộc sống vùng cao còn bộn bề khó khăn vất vả, Đỗ Bích Thúy đã đưa người đọc đến một khung trời thơ mộng, những cảnh sắc thiên nhiên đẹp mê

hồn người và hơn hết là “văn chị đằm thắm và ăm ắp cái tình, cái tình với

người và vật được tải ở văn phong, ở từng câu chữ tinh lọc, có khi tới day dứt, ám ảnh Văn chương suy cho cùng cốt ở cái tình” (Nguyễn Văn Thọ)[56,

213] Chất trữ tình thấm đượm trong từng trang viết nên Nguyên Hương mới

viết “Mỗi tản văn của Thúy tựa như một tiếng đàn môi, xuyên nhập qua trùng

trùng lớp lớp của đá núi thăm thẳm để chạm vào trái tim bạn đọc”[56,11]

1.3.3 Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 ở Bạc Liêu Đến năm 4 tuổi, Nguyễn Ngọc Tư về xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Chính tình yêu quê hương làm nên nguồn mạch dồi dào cho những trang viết của chị Và cũng chính sông nước, đất đai vùng quê này đã hun đúc nên chất Nam Bộ đặc trưng trong những trang văn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư từ nhỏ đã là một cô gái có năng khiếu văn chương Từ thời đi học, Tư đã là học sinh giỏi văn Những truyện đầu tay của

Trang 26

chị mang về nhiều giải thưởng đã khẳng định chị không chỉ “viết được” mà

còn “viết hay” Chùm truyện đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư là Ngọn đèn

không tắt nổi bật sự nhân hậu, giàu tình yêu thương Đây cũng chính là đặc

điểm xuyên suốt trong văn Nguyễn Ngọc Tư Năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư

cho xuất bản tập truyện Giao thừa với mười bảy truyện ngắn, thể hiện ngòi

bút già dặn hơn so với viết Ngọn đèn không tắt Năm 2005, tác phẩm Cánh

đồng bất tận với mười ba truyện ngắn xuất sắc dã tạo bước đột phá mới trong

sự nghiệp sáng tác văn chương của Nguyễn Ngọc Tư Tiếp theo là Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Khói trời lộng lẫy (2010) với mười truyện ngắn Văn

phong của Nguyễn Ngọc Tư ngày càng định hình rõ hơn, thuần thục hơn Gần đây nhất là những tác phẩm kí, tạp văn, tản văn của Nguyễn Ngọc Tư được in

ra thành tập:, Sống chậm thời @, Biển của mỗi người, Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, Yêu người ngóng núi, Ngày mai của những ngày mai, Gáy

người thì lạnh, Đong tấm lòng

Với hơn mười năm vào nghề, với thái độ làm việc nghiêm túc, với số lượng đầu sách được công chúng đánh giá cao, Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành nhà văn trẻ Nam Bộ được bạn đọc yêu mến Chị cũng đạt được một số giải thưởng văn học trong và ngoài nước Nguyễn Ngọc Tư đã bước đầu khẳng định vị trí của mình trong văn học nước nhà nói chung và trong thế hệ các nhà văn trẻ nói riêng của thập niên đầu thế kỉ XXI Nhiều cây bút có uy tín đã

đánh giá cao năng lực văn chương của Nguyễn Ngọc Tư: “Một tài năng văn

học hiếm có hiện nay của Việt Nam” [37]

Nguyễn Ngọc Tư không “thử” với tản văn mà chị “cày xới” trên mảnh đất này một cách nghiêm túc Kết quả lao động của chị là rất nhiều tản văn ra đời Tản văn của chị được đăng lên rất nhiều báo, đăng trên mạng và tập hợp thành nhiều đầu sách Với số lượng và chất lượng, tản văn đã là một phần làm nên phong cách Nguyễn Ngọc Tư Với Nguyễn Ngọc Tư, trong khi sáng tác,

Trang 27

chị luôn coi cảm xúc là điều quan trọng nhất, chị từng tâm sự: “Tôi thì thuần

cảm tính thôi, không được chuẩn bị một hệ thống lý luận đầy đủ, nên nghĩ cảm xúc là hàng đầu” [61], chính vì vậy “ cứ lúc nào thấy xúc động, đủ cảm xúc, có suy nghĩ về cái mình đã trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc tự tử mất thì Tư viết thôi”[61] Trả lời câu hỏi xuất phát từ đâu

mà chị viết văn, chị chia sẻ trên báo Văn nghệ : “Viết vì nhiều thứ lắm, phần

vì sự thôi thúc để giải tỏa những cảm xúc dồn nén bên trong, phần vì buồn quá, không biết nói chuyện cùng ai nên tìm cách trút vào trang viết”[62] Có

lẽ chính từ quan niệm văn đến từ cảm xúc, từ những tâm sự trải lòng, từ tình yêu của chị dành cho quê hương Nam Bộ nên những trang tản văn của chị Tư mạch trữ tình cứ bàng bạc thấm sâu trong từng con chữ, làm cho mỗi tản văn chị viết ra như một nốt trầm xao xuyến, giàu chất thơ

Trang 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Cùng sinh ra trong một thời đại văn học, cùng lựa chọn mảnh đất tản văn để lưu giữ những cảm xúc của tâm hồn, cùng lựa chọn phương thức trữ tình như là một phương tiện để truyền tải thông điệp, ba cây bút nữ, ba nhà văn của văn học hiện đại Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc

Tư đã khẳng định được vị thế của mình trong nền văn học nước nhà Có lẽ những gì được viết ra từ tâm hồn của người phụ nữ thường đầy nữ tính, đầy trắc ẩn, đầy tình yêu thương và có lẽ cùng đầy chất thơ Chất trữ tình như được dàn trải, thấu triệt trên từng tập tản văn Tuy nhiên mối nhà văn lại có cách thể hiện chất trữ tình riêng ở phương diện nội dung cảm hứng và lựa chọn phương thức nghệ thuật

Trang 29

Chương 2: CHẤT TRỮ TÌNH NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG CẢM HỨNG

2.1 Cảm hứng về quê hương

Cảm hứng về quê hương đất nước là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn trong đời sống văn học nước ta Quê hương là cái nôi đầu tiên đón nhận tiếng khóc chào đời, những bước đi chậm chững, gắn với những kí ức tuổi thơ không thể nào quên, gắn với những con người, cảnh vật yêu thương Quê hương – những hình ảnh giản dị, thân thương ấy cứ như dòng suối nhỏ, mát ngọt, là mạch nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm, trở thành nguồn sức mạnh, mọi suy nghĩ, hành động, sáng tạo trong mỗi người Đó là nơi mà không nỡ rời xa và cuối cùng ai cũng muốn trở về và gắn bó Viết về quê hương, như về với kí ức, như về với bản chất con người thuần túy Quê hương cho ta sự yên ả, tĩnh lặng, sự bình dị, thanh tịnh Có lẽ vì thế mà tình yêu quê hương, sự gắn bó với quê hương cũng chính là nguồn cảm hứng của tản văn

nữ hiện đại Tiểu biểu nhất phải kể đến tản văn của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư, mạch trữ tình quê hương như thấm vào từng câu từng chữ, từng trang viết

Đỗ Bích Thúy quê gốc Nam Định, được sinh ra và lớn lên tại Hà Giang nên tuổi thơ và thời thiếu nữ của chị gắn với núi rừng Cộng với bốn năm làm báo ở Hà Giang, được đi và đắm mình trong không gian văn hóa của các dân tộc, lại thêm năng khiếu cảm nhận văn chương nên chuyện chị chuyên viết về quê hương Hà Giang cũng là điều dễ hiểu Đọc Đỗ Bích Thúy đôi khi ta lầm tưởng chị là nhà văn của người Mông, người Tày bởi đặc trưng văn hóa trong từng câu chuyện chị kể rất đặc sắc, tinh tế đến nỗi như thể chỉ những người con miền núi mới có thể viết được như thế Giống như nhà văn Hoàng Phủ

Ngọc Tường đã từng nghiệm thấy: “Con người sinh ra ở đâu thì mặt mày

giống cha mẹ, còn diện mạo tinh thần thì lại giống xứ sở nơi nó sinh ra” Quả

Trang 30

thật, quê hương là một phần quan trọng ảnh hưởng sâu sắc tới diện mạo tinh thần của Đỗ Bích Thúy Chị lớn lên trong tiếng khèn môi sau bờ rào đá, khúc hát ru trên nương Tuổi thơ chị cứ lặng lẽ lớn lên theo nhịp thở của núi rừng

quê hương Hà Giang Có lẽ vậy nên hai tập tản văn Đến độ hoa vàng và Trên căn gác áp mái như những bản tình ca đượm hơi sương của núi rừng

Tây Bắc, như những đóa hoa rừng tỏa ngát hương thơm Điều đặc biệt trong những tập tản văn, Thúy thực sự viết rất hay về Hà Giang chỉ khi Thúy không

còn sống ở Hà Giang nữa Có lẽ đúng như nhà thơ Chế Lan Viên viết “Khi ta

ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” Do hoàn cảnh riêng, gia

đình Thúy phải rời xa Hà Giang yêu thương để về Hà Nội sinh sống Với những năm xa cách, đặc biệt khi căn nhà cũ không còn, khi thung lũng ấu thơ giờ đã khác xưa, biết bao thương nhớ ùa về được nhà văn gửi gắm qua hai tập tản văn

Tập tản văn Đến độ hoa vàng của Đỗ Bích Thúy dẫn dụ người đọc về

với miền sơn cước vốn quen mà lạ, chan chứa yêu thương Ta như thấy một

Tây Bắc hiện lên tràn đầy sức sống nhưng vẫn đầy huyền diệu, bí ẩn “Lạc

vào tản văn của Thúy, ngay lập tức bạn sẽ bị đắm chìm vào một không khí tràn ngập sắc trắng của hoa mận rừng và mùi thơm đồng trinh của trám Ở vùng đất ấy không khó để nghe thấy một tiếng gà gáy tách te từ trong rừng

mả, tiếng gió lẫn trong tiếng tù và và thổi thốc vào mái nhà của đồng bào Tày – Dao Thung lũng ấy hiện ra trước mắt chúng ta là một vùng thanh sơn thủy

tú, hoang sơ như cỏ, tươi nguyên như lá lẫn trong màu xanh của thảm thực vật hạt kín Men theo những dòng chữ của nhà văn, miền đất đầy cam chín của Thúy mang dáng dấp của một lòng chảo đẹp tựa huyền thoại, hun hút và đăm đắm” (Nguyên Hương) [56,7] Đến với đại ngàn Tây Bắc, qua trang văn

của Đỗ Bích Thúy, người đọc như hòa mình vào không gian bất tận của xứ sở lâm tuyền thơ mộng để cùng tạo nên bức họa, bản nhạc rừng đầy sức sống,

Trang 31

say đắm lòng người Chị viết khác với những nhà văn xuất thân là người dân tộc, bởi họ viết về miền núi là viết về chính họ Còn Thúy, chị là người miền xuôi, tuổi thơ sống giữa miền núi rừng nên chị viết về vùng cao trong tâm thế của một người đi xa vừa thấy nhớ, vừa thấy đặc sắc, vừa thấy lạ… Bởi thế,

như nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: “Nhờ đắm mình trong đời sống, hiểu

cặn kẽ mọi ngóc ngách từ cảnh sắc, phong tục, tập quán đến đời sống, tính cách, tâm hồn và văn hóa của người dân vùng cao, với con mắt của người dưới xuôi, chị phát hiện được nhiều vẻ đẹp mà có khi chính những người vùng

cao không nhìn ra được” [18] Đọc tập tản văn Đến độ hoa vàng, ta có cảm

giác như tâm hồn nhà thơ được bộc bạch, mọi nỗi nhớ nhung như chảy tràn

trong những câu văn đậm chất trữ tình “Cái thung lũng có diện tích gần ba

nghìn mét vuông, ba phía núi, một phía đường, con suối nhỏ trong vắt chảy qua, cỏ cây xanh tốt um tùm, buổi sáng khướu hót, xẩm chiều bìm bịp kêu, đêm về bìm bịp khắc khoải tính ngày tính tháng; cái thung lũng đã nuôi ba đứa con trưởng thành và ba đứa con như ba con cò ích kỉ đã bay đi, thật xa, đến một nơi mà tiếng chim hót đã biến thành tiếng chim khóc trong lồng và

bìm bịp, tắc kè thì nằm yên trong bình rượu…” (Nơi về) [56,147] Cái thung

lũng kia chính là ngôi nhà trên mảnh đất Hà Giang xinh đẹp, nơi chị sống suốt một thời thơ ấu với bao mơ mộng cũng thêu dệt từ đó Văn chị dung dị, đẹp thuần khiết như chính không khí núi rừng nơi chị sinh ra và lớn lên Chị có biệt tài tả cảnh, nói đúng hơn là chị đã vẽ cảnh miền núi bằng những con chữ

Hãy xem Thúy viết về hoa chuối rừng Hà Giang “Có khi nào, đang đi giữa

núi rừng ngút ngàn cây, mây, và gió cũng ở rất cao, bạn chợt ngỡ ngàng khi thấy ngay trong tầm mắt, cháy lên giữa xanh thẫm của tán rừng, một bông hoa chuối? Hoa chuối rừng có một vẻ đẹp rất kì lạ Nó luôn mọc thẳng lên trời, với một cái cuống rất dài, mà ít lâu sau đó sẽ lớn dần thành những quả non Và đỏ rực Rất đỏ Trong cái lạnh thấm thía của mùa đông sơn cước,

Trang 32

càng lạnh, hoa chuối càng đỏ Nó đỏ đến nỗi mang lại một cảm giác cô đơn

vô cùng Vì khắp cánh rừng, núi chồng lên núi, cây leo lên cây, toàn một màu xanh nhức mắt, lại chồi lên một bông hoa chuối Như một ngọn lửa đang độ

nồng đượm Một mình, tự tin, khỏe khoắn” (Ngọn lửa đỏ trên núi) [56,66]

Hẳn không phải một lần chị thấy hoa chuối rừng nở mà rất nhiều lần hoa chuối rừng đã quá quen thuộc với chị, chị quan sát, chị ngắm, chị dồn cả tình yêu vào đó mới viết nên những câu văn như vậy Hoa chuối đỏ, nổi bật giữa rừng xanh bạt ngạt vốn đã đẹp nay càng đẹp lên rất nhiều trong tản văn của Thúy Hẳn là một người yêu thiên nhiên vùng cao, hẳn là người có tài quan sát tinh tế, hẳn là một tâm hồn đầy rung cảm yêu thương mới viết về hoa chuối rừng hay như thế Những câu văn như những nét vẽ phác họa nên một

bức tranh đậm hương đậm sắc của núi rừng Tây Bắc

Tản văn Đỗ Bích Thúy còn như tái hiện bức tranh về cuộc sống, sinh hoạt đặc trưng văn hóa miền núi Qua tác phẩm của chị, những phong tục tập quán người miền núi được miêu tả rất sinh động và khéo léo tạo ngay được sức hút mê đắm người đọc Đọc tản văn của chị, ta hiểu thêm về phong tục

làm cốm vào mùa cốm của người Tày Chị miêu tả trong Nhớ xanh như cốm

:“Mùa cốm, làng như mở hội Nhà nhà đều đắp những cái lò bằng đất, cao

chừng nửa mét, bên trên hở, bên dưới có cửa để cho củi vào Lưng chừng có những thanh sắt lắp ngang để đặt những bông lúa nếp lên nướng Lúa nếp để làm cốm phải là lúa bánh tẻ, thân rơm vẫn còn xanh, những hạt lúa vừa đủ căng mẩy, vừa cạn sữa, sợi râu ở đầu hạt vừa chuyển sang vàng sậm Đàn ông thì đắp lò, đàn bà thì mang tang ra đồng, tang về những cum lúa nếp tròn xoe, nặng trĩu”[56,92] khiến ta cảm giác như hòa vào bầu không khí làm cốm

của cả làng Tày Rất nhiều các tục lệ vùng cao cũng đi vào trang văn chị như tục lấy chậu gỗ múc nước sông rửa mặt cho trẻ mới sinh ra và rửa mặt cho

người sắp mất trong Cái chậu gỗ và dòng sông “Ở ngôi làng này, mỗi khi mẹ

Trang 33

nó sinh thêm một đứa trong đàn con đông đúc, bà nội nó đều mang cái chậu

gỗ ra sông, múc nước mang về rửa mặt cho đứa bé Khi bà nội nó mất, bố nó cũng mang cái chậu gỗ ấy ra sông múc nước về rửa mặt cho bà” [56,96]

Đến tục lệ ma chay của người Tày cũng được chị viết : “Ở quê tôi, người chết

được giữ ở lại nhà rất lâu trước khi đưa ra rừng mả Có khi người ta để một tuần, thậm chí cả chục ngày Nên nhà nào có tang cũng phải rang hàng yến

bỏng nếp, bỏng ngô để rải dưới quan tài”(Rừng mả) [56,33] Thúy từng mô

tả một đám ma đúng nghĩa của người Tày trong tản văn Hàng xóm: “Có ông

Then từ bên kia sông sang, có một cái nhà táng được kết từ hàng trăm cành hoa giấy, có một cái nhà mồ lợp lá cọ, trong nhà mồ có một con gà và đầy đủ gạo muối” [56,108] Ngay cả những trang phục người miền núi cũng được Đỗ

Bích Thúy tái hiện rất sinh động trong tản văn của mình: “con gái Dao ai

cũng vấn khăn đỏ, có khi là năm sáu tấm được chập lại, vấn rất khéo trên

đầu Khăn đỏ rực, có tua rua cũng màu đỏ làm bằng len.”(Đi qua sông)

[56,183] Đọc tản văn của chị, ta còn biết đến cả tục thách cưới của người Dao ở Thúng Khiếu “con trai Tày thì chưa anh nào dám ngược Thúng Khiếu

hỏi con gái Dao làm vợ Vì người Dao thách cưới rất cao Ít cũng phải 100 đồng bạc trắng, 100 con gà trống thiến, 100 cân lợn hơi, 100 cân thóc nếp,

thóc tẻ” (Đi qua sông) [56,186] Đọc Đỗ Bích Thúy ta như được khám phá

thêm về cảnh sắc thiên nhiên, về văn hóa sinh hoạt của vùng cao Quả là thế mạnh của chị khi viết về nơi mình từng sinh ra và sống thời niên thiếu, đó là vùng Tây Bắc với phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc vừa cảm thấy

tò mò, vừa bị cuốn hút Thực sự để lại dư vị khó quên trong lòng độc giả

Mở đầu tản văn Trên căn gác áp mái, chị từng gọi quê hương là “thế

giới thần tiên của mình: “Mỗi lần đưa con về quê ngoại là mỗi lần tôi được

trở lại thế giới thần tiên của mình Đó là căn gác áp mái, chỗ đứng thoải mái nhất là nơi chính giữa, nối hai mái nhà với nhau, nhưng cũng chỉ cần giơ tay

Trang 34

là chạm tới những viên ngói nâu, viên lành nằm lẫn với viên nứt Và bên ngoài ô cửa nhỏ tí bố tôi lắp bằng một mảnh kính kia, cách một vài ngọn cây

là rừng mả Đứng ở đó, nhìn ra có thể thấy rất rõ những chú sóc đẹp như trong truyện cổ tích với cái đuôi rất dài, mắt tròn xoe, đen óng ánh, gặm một cách vội vã những thứ quả kiếm được” [57,6] Từ căn gác áp mái ấy nhìn ra

là cả một vòm trời cổ tích mộng mơ, là cả một khoảng không rừng núi thân thương mà gần gũi Từ căn gác áp mái, nơi căn nhà ấu thơ ấy, bao ý nghĩ tự

do nảy nở, bao xúc cảm thầm lặng cuộn trào Từ căn nhà áp mái, nơi thung lũng ấy, Đỗ Bích Thúy đã đi ra thành phố để học tập và lập nghiệp, chị hiện giữ chức Phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ quân đội và có tiếng tăm trong nghề, nhưng chưa bao giờ trong tâm thức chị quên được nơi chốn ấy, để bây

giờ chị viết về nó trong nỗi hoài nhớ “Giờ đây khi cái thung lũng ấy không

còn, Đỗ Bích Thúy nghẹn ngào rằng mình mất nơi về, nhưng thực chất là chị đang về trên những trang viết Tập tản văn này nói một cách nào đó là những chuyến đi về trên thực tế, trên biên độ của trí tưởng tượng, trên cả đôi cánh

của giấc mơ”[18] Trong tản văn Chảy dưới chân núi, mở đầu Thúy viết mà

như trong nghẹn ngào khi nghĩ về quê hương, nghĩ về sự mất mát một phần kí

ức tươi đẹp: “Tôi rất sợ những buổi chiều ở thành phố Nó gợi nỗi nhớ nhà

quay quắt Nơi đây không có cơn gió lành lạnh phả từ trong khe núi ra, mang theo hương say nồng của sa nhân mới nảy mầm; không có thứ ánh sáng lam tím của mặt trời phản xạ từ những đụn mây bao phủ trên chóp núi; và không

có tiếng của dòng sông trôi dịu dàng ” [56,49] Và thậm chí xót xa hơn nữa

khi mà nhớ nhưng không làm gì được, không thể trở về nữa rồi “ Tôi sẽ về lần

cuối cùng Tôi nghĩ toi sẽ ngồi ở gốc cây khế, thõng hai chân xuống vạt vườn bên dưới, con chó ngồi chổm hổm bên cạnh hít hít Tôi sẽ lấy một vốc đất, bỏ vào cái lọ mang về Hà Nội Tôi sẽ ngược suối, lấy một cục đã bị nước bào nhẵn thín, và một bình nước suối nữa, mang về Hà Nội Tôi sẽ nhổ một cây cỏ

Trang 35

giống như cây lá măng mọc đầy trên taluy sau nhà, ép vào cuốn sách, mang

về Hà Nội Tôi sẽ mang cái ống thổi ở trong bếp về Hà Nội Tôi sẽ mang tất

cả những gì có thể về Hà Nội, nhưng có một thứ tôi biết mình không thể mang

được, đó là nỗi nhớ” (Nơi về) [56,153] Thúy “sẽ mang” “sẽ mang ”,

dường như chị muốn mang tất cả những gì của ngôi nhà thân thương cùng tất

cả những kí ức tươi đẹp theo mình, làm sở hữu của riêng mình Nhưng

không thể được Đọc những dòng tâm sự của chị trong Nơi về mà thấy như

Hà Giang không chỉ của riêng chị mà của tất cả bạn đọc yêu mến tản văn của chị cũng thêm phần tiếc nuối, không nỡ rời xa Hà Giang Chị nhớ Hà Giang

đến nỗi trong tản văn Cái cây, chị kể lại chuyện mình mang về Hà Nội một ít

đất và một bụi cây dại từ Hà Giang Chị coi nó như chút hiện hữu để níu giữ

kí ức “Đôi khi tôi nghĩ, cho dù có bất kì loài cỏ nào, hạt từ đâu bay tới, và

mọc lên ở nhúm đất ấy, tôi cũng yêu thương nó, như thể nó theo chân tôi về từ

HG và vĩnh viễn rời bỏ HG Vì chỉ có có đất lành hạt mới mọc lên Tôi từ xa nhìn về, đầy yêu thương và nhớ nhung Nỗi nhớ nhung không gọi thành tên được Có thể ai đó đang cho rằng tôi rỗi hơi, tôi vớ vẩn, nhưng tôi biết, không chỉ riêng tôi mà tất cả những người đã rời xa HG, đã phải vật vã sống một cuộc sống gấp gáp của đô thị, đều thảng thốt mỗi khi nhìn thấy một hình ảnh nào đó lướt qua trước mắt mình, dù đó chỉ là một chiếc xe mang biển số 23”

[56,132] Hẳn Hà Giang đã thành một phần tâm hồn Thúy Chị nhiều lần tâm

sự trong các buổi phỏng vấn: “Núi rừng cho tôi nhiều thứ mà đô thị không có,

đồng bằng Bắc bộ không có, đặc biệt là đối với công việc sáng tác Núi rừng

là cảm hứng, là vốn sống, là tư liệu, là không khí, hơi thở để tôi có thể viết

mỗi khi viết về nó, đắm chìm trong thế giới ấy, tôi lại như người đi xa được trở về nhà, nhìn thấy đàn gà khi mình đi thì mới nở, và khi mình về thì chúng

đã trở thành những chú gà trống sặc sỡ Cái tâm trạng ấy, nói thực lòng, tôi

Trang 36

chưa bao giờ cảm thấy khi viết về một đề tài khác, mảnh đất khác Điều này một phần được chứng thực từ người đọc, họ cũng nói rằng, khi tôi viết về miền núi, tôi chính là mình” [2] Qua nỗi nhớ và tình cảm của một con người

xa quê “mất quê” “không còn nơi về” tất cả những kỉ niệm về quê hương hiện lên đẹp đẽ lung linh hơn Đọc tập tản văn ta thấy như một Hà Giang hiện lên

rõ nét, đầy bí ẩn đầy quyết rũ, đầy chất thơ Cách xa cả về không gian, thời gian, qua hồi tưởng, Đỗ Bích Thúy đã cống hiến cho người đọc, cho nền văn học hiện đại những tác phẩm đầy chất thơ và dạt dào cảm xúc Điều đó thực

sự rất đáng chân trọng

Cũng như Đỗ Bích Thúy, quê hương là nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn trong những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Chị là một cây bút trẻ,

“một hiện tượng văn học” trong khoảng một thập niên trở lại đây Chị sinh ra

và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo ở Cà Mau – vùng đất cực Nam của tổ quốc Gắn bó với quê hương nên trong tản văn của chị Tư từng câu từng chữ đều hiện hình quê hương Nam Bộ với đồng ruộng mênh mông, những con sông, con kênh, con rạch chằng chịt và vô số những đầm, đìa, rạch, xẻo, những chợ nổi, ghe xuồng tấp nập, những câu hò, điệu hát Nam Bộ Các câu chuyện chị kể thường được triển khai trên nền bức tranh văn hóa làng quê Nam Bộ độc đáo ấy Con người Nam Bộ thật mộc mạc thân quen với những

bà má bỏm bẻm nhai trầu với tài kho cá, làm mắm, chạy chợ, với những

người đàn ông áo cánh khăn rằn, rề rà cuộn thuốc hút và nhâm nhi nước để hóng gió chướng lồng lộng thổi Những con người Nam Bộ thật thà, chất phác, trọng nhân nghĩa, hào phóng, hiếu khách, chân tình, cởi mở đi vào trang văn chị như một điều tất yếu Có thể nói, đọc những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta cảm nhận một tình yêu rạo rực, một niềm tự hào tha thiết

về quê hương, xứ sở Nói như nhà văn Nguyên Ngọc quê hương Nam Bộ chính là “ không gian của Nguyễn Ngọc Tư” Ai muốn tìm hiểu Cà Mau đất

Trang 37

Mũi thì có thể tìm đến cuốn Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, cuốn sách với ba

mươi lăm tạp văn thấm đẫm tình cảm của chị với quê hương, với gia đình bạn

bè với những gì mộc mạc thân thương nhất Chị từng viết trong Đất Mũi mù

xa “Nơi ấy, lúc đất chuyển vào xuân, phù sa bắt đầu nôn nả lấn biển, rừng

mắm xanh non rào rạt tiến về phía trước giữ đất lại cho người Nơi ấy, những ngôi nhà đều không cửa, nhà mở toang cho gió Nam vào, chướng tới, bấc qua, nhìn nhà là hiểu người, chân thật đến bày cả gan ruột ” [65,11] Những

câu văn ấy đã gợi mở về đất Mũi nơi cảnh sắc thiên nhiên thân thiện, con người chân chất thật thà Đọc một đoạn văn Ngọc Tư viết mà ta có thể hình dung ngay được đó chỉ có thể là vùng quê sông nước miền Tây với những

hình ảnh đặc trưng vùng miền: “Với những rặng dừa, những cây bần, cây vẹt

mọc nghiêng nghiêng chểnh mảng ven bờ Những hàng đăng đó lơ phơ chồi sậy, những cái vó cất gác chếch lên hóng gió sau một đêm ướt sũng Những chiếc ghe hàng bông neo lại bên rặng mắm nấu cơm chiều om lên vài lọn khói còm nhom Hai bên sông nhà cửa lưa thưa, núp ló sau những bụi rậm mọc

hoang những ô rô, chùm gọng, ráng, choại ” (Rạch Rập) [68, 63] Đến những bông hoa miền Tây cũng đi vào văn Nguyễn Ngọc Tư thật đẹp, thật

dung dị: “Em tôi hỏi anh đã từng thấy nụ bông đậu cộ tím biêng biếc như

những chiếc giày cao cổ( em bảo chắc như đinh đóng cột rằng hầu hết hoa dại ở xứ tôi đều có màu tím thủy chung), anh đã thấy những bông vẹt cứng xỏi xòe chơm chởm như cái nơm cá, bao giờ kết trái, hoa lại trở thành chiếc ô

che đầu” (Đất Mũi mùa xa) [65,13]

Với nền bức tranh sinh hoạt văn hóa làng quê vùng đồng bằng sông Cửu Long, những tản văn của Nguyễn Ngọc Tư như đưa người đọc khám phá những giá trị văn hóa đặc trưng của vùng miền Ví như người đọc sẽ hiểu

thêm về chợ nổi ở Nam Bộ mà đọc Chút tình sông nước ngỡ cô Tư như trở

thành hướng dẫn viên du lịch: “Không biết bây giờ bạn đang lang thang ở

Trang 38

đâu, lên Sa Pa đi chợ tình hay đã xuôi chợ Viềng Nam Định, không biết đang

sì sụp ăn ốc nóng ở chợ Âm Phủ Đà Lạt hay về miền tây Nam Bộ xuôi thuyền thăm các chợ đồng bằng Được du khảo qua các chợ, đó là niềm đam mê không dễ gì dứt bỏ, có lần bạn đã nói thế, phải không Vậy vì sao bạn không

về thăm chợ nổi Cà Mau quê tôi?” [65,134] Tiếp đến, người đọc như được

đắm mình trong không khí chợ nổi buổi sớm mai “Sao bạn lại không thể cùng

tôi dạo chợ trên sông, đi từ buổi sớm mai trong lành để ngắm xóm chợ tươi tắn, nhiều màu sắc và lạ lùng trong con mắt người xứ khác Mà, sao lại là buổi sớm mai? Vì chợ lúc bình minh lên như thời thơ ấu của một đời người, đẹp đẽ, tinh khiết, trong ngần Sương đọng trên chiếc mùng giăng trên mui ghe của đám trẻ con ngủ vùi, ngủ nướng rồi bảng lảng tan cho một ngày buôn bán bận rộn bắt đầu Hàng trăm chiếc ghe to, nhỏ khẳm lừ, đậu sát vào nhau thành một dãy dài, người bán, người mua trùng trình trên sóng nước.”

[65,135] Sông nước là đặc thù của miền Tây, vùng đất của hàng ngàn dòng sông, cửa sông đan xen như mạng nhện, vùng đất được mệnh danh là “Chín Rồng” có con nước lớn tràn bờ, nước ròng phơi bãi, có ghe thuyền sinh hoạt ngày đêm xuôi ngược trên sông Còn gì thư thái hơn khi giữa tinh sương ngày mới được dập dềnh trên chiếc xuồng ba lá len lỏi giữ chợ họp trên sông đông vui tấp lập, căng lồng ngực hít không khí trong lành của gió mang hương cây trái và sông nước miền Nam Và chị không giấu niềm tự hào khi viết về chợ

nổi quê mình: “Bình dị vậy mà chợ nổi quê tôi đã đi vào nhạc, vào thơ, vào

những bức tranh, bức ảnh Những văn nghệ sỹ đến, làm nên những tác phẩm rồi đi mà vẫn hẹn lòng quay lại bởi niềm hứng khởi trước những vẻ đẹp lạ lùng, đặc trưng của miền sông nước mãi mãi không bao giờ cạn Vậy sao bạn còn chưa đến với đất quê tôi?” [65,137] Thực sự đọc những dòng mời gọi

đầy tha thiết này không thể không muốn đến Cà Mau du ngoạn một chuyến để nhúng mình vào những phiên chợ nổi buổi sớm mai Đến chợ nổi không phải

Trang 39

để xem, để ngắm, để mua sắm mà còn để cảm nhận về một không gian sông nước miền Tây rất đỗi bình yên và nên thơ Cuộc sống, sinh hoạt và con người miền Tây đi vào trang văn của Nguyễn Ngọc Tư tự nhiên như hơi thở vậy Đọc Nguyễn Ngọc Tư, người đọc phần nào hiểu thêm về nghề nuôi tôm của người dân sông nước Để đi qua một mùa tôm, người dân phải cất chòi để

canh, để quan sát và chăm sóc tôm Công việc vất vả “Những đêm mưa, sợ

nước dâng ngập bờ, dầm mình đi tháo nước, những ngày nắng, lặn lội xúc từng gàu sình từ đáy đầm lên ” [65,117], “lặn ngụp dưới đáy ao đầm, vớt rong, trồng cỏ, vét bùn, đắp bờ Sáng sáng, chiều chiều, đi xách nước ngọt bên kinh, hay tay lặc lè hai thùng qua cầu khỉ” [65,120],“không làm nghề gì khắc nghiệt như nuôi tôm, y như trên chiến trường, “thắng làm vua, thua làm giặc”, mà là giặc nghèo giặc đói mới chết Ba tháng nhọc nhằn, ba tháng rót

vào lòng đầy hi vọng” [65,117] (Chờ đợi những mùa tôm) Nuôi tôm là một

nghề phổ biến ở vùng sông nước miền Tây, tuy tiềm ẩn nhiều khó khăn nhưng

đã là nghề truyền thống gắn bó với niềm vui nỗi buồn của người dân Nam Bộ

“Con vẫn tin rằng, làm vuông nuôi tôm làm cho người ta sống cùng, sống tận

với cảm xúc của mình nhất” [65,116] Và có lẽ vì thế nói đến miền Tây, nói

về quê hương mình Ngọc Tư đã dành nhiều tình cảm cho những trang viết về nghề nuôi tôm Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đôi khi lại hiện lên một cách giản dị, dân dã qua món ăn đặc trưng vùng miền như cá sặc kho

khô, “mấy con cá kho quéo, dưa hấu non xắt nhỏ xào tỏi” [68,139], món

“canh chua bông súng” [65,11] quen thuộc trong mâm cơm của người dân

quê nghèo khó lam lũ Món ăn tuy dân dã, bình dị nhưng chứa đựng cả một giá trị văn hóa lịch sử mà ông cha thời trước lưu truyền qua cao dao dân ca quen thuộc:

“Muốn ăn bông súng cá (mắm) kho

Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm”

Trang 40

- Ca dao Nam Bộ -

Đọc tản văn Đất Mũi mù xa của chị thêm một lần ta biết đến món ba khía ăn

với mần chua đặc trưng miền Tây“Mùa này, ba khía chuẩn bị vào hội; không

biết hẹn hò nhau từ hồi nào, ba khía tụm về xúm xít đeo trên gốc mắm, rễ đước Con nào con nấy thịt chắc nụi, gạch ứ đầy mai (nói tới đây tự dưng thèm ba khía muối ăn với bần chua cháy lòng) [65,12] Người miền Tây có

câu “ Đừng lo cưới vợ miệt đồng Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm” Nhắc

đến ba khía, chắc hẳn nhiều người sẽ khó hình dung Nhưng nếu đã có cơ hội thưởng thức món ba khía – món ăn dân dã miền sông nước chắc hẳn sẽ có thêm một lí do để thêm lưu luyến vùng đất tươi đẹp thân thiện này Quả thực đọc tản văn Nguyễn Ngọc Tư mà ta tưởng chừng như được chị dẫn đi thăm miền Tây, sống trong một không gian đậm chất Nam Bộ Đúng như nhà văn

những rừng tràm hay rừng nước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh

tế, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước”[48] Đọc Nguyễn Ngọc Tư vì vậy, nếu là

người đang sống trên mảnh đất này sẽ cảm thấy tự hào vì quê hương Nam Bộ khi đi vào trang viết của Nguyễn Ngọc Tư sao mà đáng yêu, đáng quý đến thế Nếu là người có một thời sống ở mảnh đất này nhưng vì cuộc sống phải tha hương cầu thực thì những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư không chỉ cho

họ thêm niềm tự hào mà còn gợi lên trong lòng một cảm giác nhớ quê đến cồn cào Còn nếu là người chưa một lần đặt chân đến đây, những trang viết của Nguyễn Ngọc Tư chính là lời giới thiệu giúp ta hiểu thêm về con người và vùng đất mang đậm dấu ấn văn hóa sông nước rất đáng tự hào của tổ quốc

Gắn liền với đất quê, với thời thơ ấu là bóng dáng thân thương của

người mẹ quên tần tảo Nói như nhà thơ Đỗ Trung Quân “Quê hương là cầu

Ngày đăng: 13/06/2017, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái An (2015), “Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Viết để được trở về”, nguồn http://baodansinh.vn/nha-van-do-bich-thuy-viet-de-duoc-tro-ve Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đỗ Bích Thúy: Viết để được trở về
Tác giả: Thái An
Năm: 2015
2. Thái An (2015), “Tâm sự Đỗ Bích Thúy”, nguồn http://www.thvl.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm sự Đỗ Bích Thúy
Tác giả: Thái An
Năm: 2015
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
5. Huỳnh Phan Anh (1995), “Ghi nhận về thế giới truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh” , Tạp chí văn học (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ghi nhận về thế giới truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh”
Tác giả: Huỳnh Phan Anh
Năm: 1995
6. Huỳnh Phan Anh (1999), “Không gian và khoảnh khắc văn chương”, Tiểu luận phê bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian và khoảnh khắc văn chương”
Tác giả: Huỳnh Phan Anh
Năm: 1999
7. Phan Thị Vàng Anh( 1993), Khi người ta trẻ, Nxb Hội Nhà văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người ta trẻ
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn Hà Nội
8. Phan Thị Vàng Anh (2005), Nhân trường hợp chị thỏ bông, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trường hợp chị thỏ bông
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2005
9. Phan Thị Vàng Anh (2016), Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa, Nxb Trẻ Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ghi chép nhỏ của người cưỡi ngựa
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Trẻ Hồ Chí Minh
Năm: 2016
10. Phan Thị Vàng Anh (2016), Tạp văn Phan Thị Vàng Anh, Nxb Trẻ Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn Phan Thị Vàng Anh
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Trẻ Hồ Chí Minh
Năm: 2016
11. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
12. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
13. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
Năm: 2012
14. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995: Những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995: Những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm