Phát hiện – Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tăng cường sử dụng internet như một kênh bổ sung cho việc tiếp thị các dịch vụ ngân hàng đã góp phần cải thiện một cách đáng kể kết qu
Trang 1Ứng dụng ngân hàng trực tuyến và kết quả hoạt động của
ngân hàng cộng đồng
Ram N Acharya Khoa kinh tế nông nghiệp và kinh doanh nông nghiệp, Đại học Tiểu bang New Mexico, Las
Cruces, New Mexico, Hoa Kỳ
Albert Kagan và Srinivasa Rao lingam Trường Quản lý Morrison, Đại học bang Arizona, Tempe, Arizona, Hoa Kỳ
TÓM TẮT
Mục đích - Mục đích của bài báo này nhằm đánh giá mức độ tác động của ngân hàng
trực tuyến lên kết quả hoạt động của các ngân hàng cộng đồng
Đề cương / phương pháp / cách tiếp cận - Nghiên cứu này khảo sát sức mạnh ngân
hàng trực tuyến và kết quả hoạt động ngân hàng bằng cách tổng hợp dữ liệu sơ cấp và thứ cấp Sức mạnh của ngân hàng trực tuyến được xác định là một cấu trúc ẩn được đánh giá qua dữ liệu đặc trưng thu thập từ các trang web ngân hàng Một hàm lợi nhuận thực nghiệm của dạng Fourier linh động không chính tắc được ước tính bằng cách sử dụng dữ liệu tài chính của ngân hàng để đưa ra một biện pháp đo lường kết quả hoạt động phù hợp trên lý thuyết Tác động thực tế của ngân hàng trực tuyến lên kết quả hoạt động được đo lường bằng phép hồi quy chỉ số hiệu suất lợi nhuận theo một số biến tương quan bao gồm phép đo sức mạnh ngân hàng trực tuyến
Phát hiện – Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tăng cường sử dụng internet như
một kênh bổ sung cho việc tiếp thị các dịch vụ ngân hàng đã góp phần cải thiện một cách đáng kể kết quả hoạt động tài chính của các ngân hàng cộng đồng
Ý nghĩa thực tiễn - Các kết quả này cho thấy rằng hoạt động ngân hàng trực tuyến
giúp nâng cao kết quả hoạt động tài chính và nên khuyến khích các ngân hàng cộng đồng áp dụng công nghệ thông tin mới và cung cấp các dịch vụ trực tuyến làm mục tiêu
Tính mới / giá trị - Đây là bài báo đầu tiên về lĩnh vực này này có áp dụng một
khung mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để phát triển một công cụ đo lường sức mạnh ngân hàng trực tuyến toàn diện, công cụ này giải thích cho một mảng rộng các sản phẩm và dịch vụ được ngân hàng được cung cấp trực tuyến, và sử dụng các chỉ số được ước tính trong việc đánh giá trong việc tác động của sức mạnh hoạt động ngân hàng trực tuyến lên các hoạt động ngân hàng
Từ khoá - Ngân hàng ảo, ngân hàng, lợi nhuận, ngân hàng cộng đồng.
Loại bài báo - Bài nghiên cứu.
GIỚI THIỆU
Những ứng dụng dựa trên Internet đã trở thành một phương tiện quan trọng để tiếp thị và phân phối sản phẩm của nhiều doanh nghiệp (Kotzab và Madlberger năm 2001, Dixon
và Marston, 2005; Tih và Ennis, 2007) Mặc dù các ngân hàng cộng đồng tại Mỹ khởi đầu chậm chạp trong việc chấp nhận triển khai các công nghệ này, hầu hết các ngân hàng thương
Trang 2mại hiện nay đang cung cấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Kolodinsky et al.,2004; Lee et al, 2005) Nhu cầu ngày càng tăng với các sản phẩm và dịch
vụ ngân hàng trực tuyến (Acharya và Kagan, 2004), dẫn tới sự cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại lớn (GrantThornton, 2007), tiềm năng đẩy mạnh khả năng sinh lời thông qua cải thiện dịch vụ khách hàng và giảm chi phí tiếp thị sản phẩm là động lực chính đằng sau sự tăng vọt trong việc áp dụng công nghệ mới gần đây của các ngân hàng cộng đồng (Châu và Lai, năm 2003; DeYoung et al, 2007) Hơn nữa, dịch vụ ngân hàng chứa những thông tin có tính nhạy cảm cao và công nghệ đóng một vai trò quan trọng trong mỗi giai đoạn từ thu thập, xử lý, và luân chuyển thông tin (Tân và Teo, 2000) Kết quả là, việc sớm (ngân hàng) thích nghi với công nghệ tiên tiến có thể gia tăng lợi thế cạnh tranh và đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn
Mặc dù một trong những động lực chính của các ngân hàng cộng đồng khi áp dụng những công nghệ mới là khả năng tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí cung cấp dịch vụ ngân hàng bán lẻ và thu hút khách hàng mới có hiểu biết về internet, hầu hết các nghiên cứu
đã thất bại trong việc thiết lập mối quan hệ giữa ngân hàng trực tuyến và hiệu quả kinh doanh Ví dụ, Sullivan (2000) so sánh hoạt động tài chính của ngân hàng truyền thống và ngân hàng trực tuyến và đã nhận thấy không có sự khác biệt mang tính hệ thống trong hoạt động của hai nhóm này Hơn nữa, Fürst et al (2002) đã so sánh lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của ngân hàng truyền thống và ngân hàng trực tuyến ngay từ bước khởi đầu và nhận thấy rằng hiệu quả của các ngân hàng truyền thống cao hơn đáng kể hơn so với các ngân hàng trực tuyến DeYoung (2005) nhận thấy rằng sự thành công của các ngân hàng trực tuyến chủ yếu được xác định bằng khả năng ngân hàng áp dụng các biện pháp quản lý chặt chẽ và đạt được các quy mô kinh tế cần thiết
Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây kết hợp tác động tích cực đáng kể của ngân hàng trực tuyến vào hoạt động ngân hàng bán lẻ (Hernando và Nieto, 2005; DeYoung et al, 2007) DeYoung et al (2007) so sánh một số công cụ đo lường hiệu quả của 424 ngân hàng trực tuyến với 5175 ngân hàng truyền thống đưa ra kết luận rằng việc sử dụng internet cải thiện hoạt động của các ngân hàng ở Mỹ chủ yếu bằng cách tăng doanh thu từ dịch vụ tiền gửi Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu thất bại trong việc nhận ra tầm quan trọng của quy mô và sức mạnh của các dịch vụ ngân hàng trực tuyến trong việc cải thiện hiệu quả chung của ngân hàng Từ quan điểm ngân hàng bán lẻ, khái niệm độ mạnh đề cập đến sức mạnh hoặc sự tập trung của hoạt động trực tuyến Nói cách khác việc mở rộng hay thu hẹp là sự hòa trộn giữa sản phẩm và dịch vụ nền web đối với từng ngân hàng cộng đồng cụ thể
Mặc dù nhiều ngân hàng điện tử đang tiếp thị nhiều sản phẩm trực tuyến, có một khoảng cách rất lớn trong trình độ và độ mạnh của các dịch vụ nền web được cung cấp bởi các ngân hàng (Nielsen và Tahir, 2002; Châu và Lai, 2003; Hernandez và Mazzon, 2007)
Kể từ khi ngân hàng trực tuyến được sử dụng như một công cụ tiếp thị để thu hút và giữ chân khách hàng, mở rộng tiếp cận thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ, quy mô và sức mạnh của các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trực tuyến dường như có tác động đáng kể đến hiệu quả chung của ngân hàng (Châu và Lai, 2003; DeYoung et al, 2007)
Hơn nữa, ngân hàng trực tuyến là một quá trình phát triển mà không có bất kỳ biện pháp thống nhất để đánh giá độ mạnh của dịch vụ ngân hàng trực tuyến (Nielsen và Tahir, 2002) Nghiên cứu này sử dụng kết hợp các thủ tục lấy mẫu và thống kê để xây dựng một chỉ số ngân hàng trực tuyến toàn diện và đánh giá mức độ tác động của sức mạnh ngân hàng
Trang 3TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Sự bãi bỏ điều lệ trong khu vực ngân hàng và sự phát triển của công nghệ thông tin đã giúp các ngân hàng dễ dàng quản lý một số lượng lớn các chi nhánh và mở rộng dịch vụ tới những vùng địa lý xa xôi (Berger et al., 2006) Nhiều phần mềm ứng dụng mới đã làm tăng khả năng quản lý cũng như làm giảm chi phí cung cấp dịch vụ khách hàng Việc sử dụng internet như một phương tiện nhằm cung cấp những sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng đang rút ngắn những những hạn chế về mặt địa lý (Bradley và Stewart, 2003) Cũng như vậy, việc sử dụng phổ biến “thông tin cứng” như báo cáo tín dụng, báo cáo lợi nhuận cũng như thông tin tài chính trong việc quyết dịnh cho vay đã đơn giản hóa quá trình phê chuẩn khoản vay (Berger, 2003; Cole et al., 2004; Berger et al., 2006)
Những sự thay đổi quản lý và sự tiến bộ công nghệ đã tạo ra một làn sóng sáp nhập, thâu tóm và mở rộng trong lĩnh vực ngân hàng (Avery và Samolyk, 2004; Berger et al., 2006) Kết quả là số lượng những ngân hàng đang giảm nhưng quy mô và số lượng các chi nhánh được quản lý bởi những ngân hàng chính đang tăng lên (Petersen and Rajan, 2002)
Ví dụ trong năm 2004 trung bình một ngân hàng đã quản lý nhiều hơn 4 chi nhánh so với năm 1994 Sự mở rộng số lượng các chi nhánh thực chất là tăng đối thủ cạnh tranh trong việc cho vay cũng như Trong nghiên cứu gần đây về nhà quản trị liên ngân hàng, do Grant Thornton (2007) tiến hành, hơn 94% người tham gia cuộc điều tra cho rằng việc giữ tiền gửi
và thu hút khách hàng kinh doanh là thách thức trọng yếu mà những người làm liên ngân hàng phải đối mặt Hơn thế, việc sử dụng những thông tin cứng tăng lên trong việc quyết định cho vay đang làm giảm đi sự quan trọng những mối quan hệ ngân hàng (Petersn và Rajan, 1995; Cole et al., 2004; Berger et al., 2006) Kết quả là các ngân hàng cộng đồng đạt hiệu quả trong việc thu thập thông tin mềm hơn là sự cạnh tranh với ngân hàng quốc gia và địa phương, có thể đánh mất ưu thế trong các khoản cho vay kinh doanh nhỏ (Cole et al., 2004; Berger et al., 2006) Có thể thấy, trong nghiên cứu của Grant Thornton (2007) chỉ ra rằng 46% lãnh đạo liên ngân hàng coi ngân hàng địa phương và siêu ngân hàng là một nguồn cạnh tranh chủ yếu trong năm 2001; năm 2007 tỉ lệ này tăng lên 68%
Các ngân hàng cộng đồng đang phải đối mặt với những thử thách mới do:
- Mạo hiểm thâm nhập thị trường sản phẩm tài chính phi truyền thống như bảo hiểm, môi giới chứng khoán, quỹ đầu tư và dịch vụ bất động sản (Stiroh, 2004)
- Đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ nâng cao nhằm tăng năng suất (Kolodinsky
et al, 2004; Grant Thornton, 2005; Berger àd DeYoung, 2006)
- Marketing các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh phân phối mới như ngân hàng trực tuyến để thu hút và giữ chân khách hàng cũng như nâng cao chất lượng toàn bộ dịch vụ (Howcroft et al., 2002; Kolodinsky et al., 2004; Acharya and Kagan, 2004; Joseph et al., 2005; Lee et al., 2005; Ndubisi and Wah, 2005; Camarero, 2007; Hernandez and Mazzon, 2007; Roberts and Campbell, 2007; Sayar and Wolfe, 2007; Gill, 2008)
Mặc dù hiện tại các ngân hàng tập trung vào áp dụng công nghệ thông tin, vài nghiên cứu đã kiểm tra mối quan hệ giữa ngân hàng trực tuyến và hoạt động ngân hàng
Hầu hết những nghiên cứu trước đây đã thu thập được những bằng chứng còn hạn chế
về hiệu quả nâng cao lợi nhuận với ngân hàng trực tuyến (Sullivan, 2000; Furst et al., 2002; DeYoung, 2005) Gần đây, DeYoung et al (2007) đã so sánh hoạt động của ngân hàng trực tuyến và ngân hàng truyền thống và nhận thấy rằng ngân hàng trực tuyến hoàn động tốt hơn
Trang 4ngân hàng truyền thống Nghiên cứu này cố gắng làm giảm sự khác biệt trong các nghiên cứu bằng cách xây dựng chỉ số tiềm năng hoạt động ngân hàng trực tuyến toàn diện và đánh giá ảnh hưởng của chỉ số này tới hoạt động ngân hàng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, phương pháp phân tích được sử dụng dựa trên hai quy trình thống kê khác nhau: mô hình phương trình cấu trúc (phân tích nhân tố bậc hai) và phân tích hồi quy bội Do thiếu một thước đo đồng nhất, hoạt động ngân hàng trực tuyến được mô tả theo cấu trúc ẩn bậc hai và được ước lượng bằng cách sử dụng dữ liệu được thu thập từ các website của các ngân hàng cộng đồng Mặt khác, một phương thức tiếp cận kinh tế do Jondrow et al (1982) phát triển được sử dụng để khôi phục các yếu tố cần thiết từ hiệu suất lợi nhuận được ước tính sử dụng dữ liệu tài chính ngân hàng lấy từ trang web
Corporation) (FDIC) Với hai chỉ số này, tác động từ ngân hàng trực tuyến lên hoạt động của
ngân hàng cộng đồng được tính toán bằng cách hồi quy chỉ số hiệu suất lợi nhuận theo các biến tương quan bao gồm biến chỉ số các ngân hàng trực tuyến (theo nghiên cứu của Mitchell và Onruval, 1996; DeYoung và Hasan, 1998; Akhigbe và McNulty, 2003; DeYoung et al, 2007)
Các khái niệm căn bản dùng trong nghiên cứu này được mô tả trong Hình 1 Ngân hàng trực tuyến được mô tả như một nhân tố bậc hai và được ước lượng với dữ liệu thu thập
từ website, được tập hợp thành 38 mục đại diện cho 9 đặc trưng lớn của web và dịch vụ ngân hàng trực tuyến (cột 3 trong bảng I là danh sách các biến này) Nhìn chung, các ngân hàng cộng đồng sử dụng ngân hàng trực tuyến như một phương thức phân phối quan trọng để cung cấp các dịch vụ cốt lõi của ngân hàng, ví dụ như ứng dụng ngân hàng cá nhân, cho vay thương mại và cho vay mua bất động sản (đây cũng là các biến nhỏ của biến Cốt lõi dịch vụ ngân hàng), các dịch vụ này dược cung cấp trực tuyến trên website của các ngân hàng này
Khi mức độ cạnh tranh tăng lên, các ngân hàng cộng đồng có thể đa dạng hóa nguồn thu nhập của họ bằng cách đầu tư vào các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng không truyền thống như môi giới, quản lý tiền mặt, quản lý tài khoản tập trung, và các dịch vụ khai thuế (các biến nhỏ của biến Dịch vụ tài chính) Thêm vào đó, do tỷ lệ ngày một tăng của lượng khách hàng sử dụng internet là một nguồn cung cấp thông tin, các ngân hàng bắt đầu sử dụng các website của mình như một phương thức phổ biến thông tin về chính sách ngân hàng và các vấn đề quan trọng khác (các biến nhỏ của biến Thông tin chung) Hầu hết các ngân hàng có ứng dụng ngân hàng trực tuyến sử dụng các website này để giải quyết các vấn
đề của khách hàng liên quan đến sự riêng tư và bảo mật trong giao dịch trực tuyến Ngoài ra, nhằm giúp cho website của mình thêm thu hút cũng như hữu ích hơn, các ngân hàng cũng cung cấp một loạt các thông tin liên quan đến địa chỉ, thời gian hoạt động, thông tin liên hệ, cũng như các thông tin liên quan đến cộng đồng
Theo cấu trúc chung của các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trực tuyến, ngân hàng trực tuyến (cũng là biến ngân hàng trực tuyến) có thể được định nghĩa như là một yếu tố hai bậc, và được tính bằng các yếu tố bậc một gồm biến Thông tin chung, Các dịch vụ tài chính,
và dịch vụ ngân hàng chủ yếu Trong mô hình này, cả ba biến bậc một đều mong đợi là sẽ có ảnh hưởng dương (đồng biến) lên biến bậc hai Cũng cần lưu ý là rằng mô hình phương trình cấu trúc có thể xử lý các vấn đề của độ trễ biến cũng như sai số đo Đây là vấn đề đặc biệt
Trang 5quan trọng trong nghiên cứu này bởi vì hầu hết các biến trên web là các chỉ số nhị phân hoặc thiếu dịch vụ cụ thể có sẵn trên website ngân hàng
Hình 1: Mô tả thiết kế nghiên cứu
Second order factor analysis: Phân tích nhân tố bậc hai
Privacy/Security Concerns: Vấn đề chính sách/Bảo mật
Community Information: Thông tin cộng đồng
Bank Location and Services: Chi nhánh và dịch vụ
Electronic Bill Pay: Thanh toán hóa đơn điện tử
Investment Services: Dịch vụ đầu tư
Business Services: Dịch vụ kinh doanh
Commercial Loans: Vay thương mại
Residential Real Estate: Vay mua bất động sản
Personal Baking: Ngân hàng cá nhân
General Information: Thông tin chung
Financial Services: Dịch vụ tài chính
Core Banking Services: Cốt lõi dịch vụ ngân hàng
Online Banking: Ngân hàng trực tuyến
Profit Efficiency: Hiệu suất lợi nhuận
Alternative Profit Efficiency: Hiệu suất lợi nhuận thay thế
Other Correlates: Các tương quan khác
Bảng 1: Danh mục các biến được sử dụng để xây dựng các chỉ số ẩn và chỉ số ngân hàng trực tuyến
Trang 6Biến cấu trúc Biến chỉ số (chỉ dẫn) Items dùng để đo lường đặc tính của web và
dịch vụ ngân hàng trực tuyến Thông tin chung
(α=0.879)
Dịch vụ tài chính
(α=0.719)
Cốt lõi dịch vụ
ngân hàng
(α=0.825)
Vấn đề chính sách/Bảo mật
Thông tin cộng đồng Chi nhánh và dịch vụ
Dịch vụ thanh toán hóa đơn
Dịch vụ quản lý tài chính
Dịch vụ kinh doanh
Vay thương mại Vay mua bất động sản Ngân hàng cá nhân
Chính sách, bảo mật, và bảng điều tra trực tuyến
Tìm kiếm trên website, tin tức, thông tin cộng đồng, thời tiết
Thông tin chi nhánh, vị trí ATM, hỗ trợ khách hàng, và dịch vụ tài chính
Thanh toán trực tuyến nhanh, thanh toán hóa đơn, thử nghiệm thanh toán hóa đơn Mức tín nhiệm, đầu tư, và môi giới Tài khoản tập trung, ACH, dịch vụ buôn bán, khai thuế, và quản lý tiền mặt
Vay thương mại, kinh doanh tín dụng, kinh doanh thế chấp, và bất động sản nông nghiệp
Thế chấp, vay thế chấp nhà, tín dụng thế chấp nhà, và dịch vụ tái cấp vốn
Kiểm tra tài khoản, tài khoản tiết kiệm, CDs, quỹ hưu trí cá nhân, tài khoản tiền, cho vay khách hàng, kiểm tra hình ảnh, tải
về tài khoản
Ghi chú: Mẫu bao gồm tất cả các ngân hàng cộng đồng có website đang hoạt động, có tổng tài sản dưới 1 tỷ Đôla (tính đến tháng 12/2003), và hoạt động ở một trong các bang miền Trung Tây Hoa Kỳ gồm Iowa, Minnesota, Montana, North Dakota và South Dakota Một nghiên cứu mở rộng được tiến hành nhằm xác minh và bổ sung thông tin trên web được báo cáo bởi các ngân hàng trong các báo cáo về thu nhập định kỳ và báo cáo tình hình đã xác định được 615 trang web đang hoạt động Tất cả 615 website trên được đánh giá riêng nhằm chỉ ra có bao nhiêu trong 38 đặc điểm liệt kê trong cột 3 bảng I được trình bày Chỉ số Cronbach alpha (a), thường được dùng để đánh giá tính nhất quán nội tại giữa các items và biến cấu trúc được dùng trong mô hình, và được báo cáo trong cột 1 bảng I Tất cả ba giá trị trên đều lớn hơn điểm loại bỏ thường được sử dụng là 0,7
MÔ HÌNH PHƯƠNG TRÌNH CẤU TRÚC
Mô hình phương trình cấu trúc bao gồm hai phần: mô hình đo lường và mô hình phương trình cấu trúc Nhìn chung, các mô hình đo lường có dạng như sau (Muthen, 2002; Muthen and Muthen, 2004):
(1)
(2)
Trang 7Và mô hình phương trình cấu trúc có dạng:
(3) trong đó y là một vector của các biến quan sát hoặc biến kết quả và x là một vector biến dự báo, biến số, hoặc các biến đầu vào Các vector và lần lượt là sai số trong phép đo y và x
Do hai biến ẩn ( , ) đều không quan sát được, nên các biến quan sát y và x được dùng để
ước lượng các trọng số ( và ) của các biến ẩn trên (Muthen, 2002) Tham số của mô
hình cấu trúc là một vector bị chặn, là ma trận hệ số hồi quy giữa các biến nội sinh ( i),
trong đó hệ số trên đường chéo bằng 0 và ( ) khả nghịch, là ma trận hệ số của biến
ngoại sinh ẩn ( ) trong mối liên hệ cấu trúc và là vector ngẫu nhiên của phần dư
Tuy nhiên, nếu sai số chỉ có trong biến y, khi đó dạng rút gọn của mô hình phương trình cấu trúc trong các phương trình (1) - (3) có thể được viết lại như sau:
(4)
Theo LISREL (một trong những phần mềm mô hình phương trình cấu trúc được sử dụng rộng rãi), phương trình (4) được xem là mô hình phụ 3A (Joreskog và Sorbom, 1996) Mô
hình phân tích nhân tố hai bậc là một trường hợp phương trình 3A submodel khi B = 0, khi
đó:
(5)
Mô hình phân tích nhân tố bậc hai (Phương trình (5)) được sử dụng trong nghiên cứu này để xây dựng các chỉ số đánh giá ngân hàng trực tuyến (Hình 1) bao gồm ba yếu tố bậc một, (Thông tin chung), (Dịch vụ tài chính), và (dịch vụ ngân hàng truyền
thống) và một yếu tố bậc hai, (Ngân hàng trực tuyến) Mỗi yếu tố trong ba yếu tố bậc một
được đo bằng ba chỉ số (Bảng I) Ví dụ, các dịch vụ ngân hàng truyền thống, , được tính toán thông qua các chỉ số như khoản vay thương mại,khoản vay mua bất động sản trong dân
cư, và dịch vụ đối với khách hàng cá nhân như các chỉ số Yếu tố bậc hai được tính dựa
trên ba yếu tố bậc một Trong khung khái niệm theo hình 1, yếu tố bậc hai được coi là cấu
Trang 8trúc cơ bản có thể được sử dụng như một thước đo toàn diện về hoạt động của ngân hàng trực tuyến Trong các phân tích toán kinh tế kế tiếp, tác động của ngân hàng trực tuyến lên hoạt động của ngân hàng cộng đồng sẽ được tính toán thông qua các giá trị của yếu tố bậc hai được dự tính trước (yếu tố điểm) như một thước đo phù hợp cho các dịch vụ ngân hàng trực tuyến
HIỆU SUẤT LỢI NHUẬN
Phương pháp tiếp cận theo lợi nhuận tiêu chuẩn và hiệu suất lợi nhuận thay thế đều đã được sử dụng trong các nghiên cứu trước để đánh giá hiệu quả hoạt động của khối tài chính (Berger và Mester,1997) Dựa trên một tập hợp giá đầu vào và giá đầu ra, phương pháp hiệu suất lợi nhuận tiêu chuẩn đo được một mức xấp xỉ với mức lợi nhuận tối đa của một ngân hàng cộng đồng có thể tạo ra Mặt khác, phương pháp hiệu suất lợi nhuận thay thế đo được xấp xỉ mức lợi nhuận tối đa một ngân hàng cộng đồng dựa trên các mức giá đầu vào và đầu
ra cho trước Dựa trên các giả định cơ bản, hàm lợi nhuận tiêu chuẩn có thể đo được tính hiệu quả của một nhóm dịch vụ do ngân hang cung cấp bằng cách so sánh với các công ty thực hiện tốt nhất
Tuy nhiên, phương pháp hiệu suất lợi nhuận thay thế thường được sử dụng nhiều hơn
vì nó có khả năng tính toán hiệu suất lợi nhuận tốt hơn khi thiếu một vài giả định cơ bản (Berger và Mester, 1997; Akhigbe và McNulty, 2003), phương pháp tiếp cận hiệu suất lợi nhuận thay thế được mong đợi đặc biệt là sẽ có những thông tin trung thực hơn khi áp dụng vào các điều kiện sau:
• Khi có những sự khác biệt về chất lượng không tính toán được giữa các sản phẩm của các ngân hàng
• Kết quả đầu ra là kết quả gộp và ngân hàng không phải lúc nào cũng tạo ra một sản phẩm kết hợp tối ưu
• Sản phẩm trên thị trường không phải lúc nào cũng cạnh tranh lành mạnh và các ngân hàng có thể kiếm soát đối với giá cả đầu ra sản phẩm của mình
• Giá sản phẩm đầu ra không thể tính cụ thể (Berger và Mester, 1997)
Dưới dạng hàm log tuyến tính, hàm hiệu suất lợi nhuận thay thế (π) có thể biểu diễn dưới dạng hàm của giá đầu vào (wi), giá đầu ra (yi), và lượng đầu ra (netput = net output) (zi), ví dụ:
(6)
với là yếu tố thiếu hiệu quả có thể khiến cho lợi nhuận luôn ở dưới mức lợi nhuận tiềm
năng tối đa, và là mức sai số đo lường và sai số ngẫu nhiên bên trong hệ thống Việc thực hiện thực nghiệm của mô hình này đòi hỏi các thông số linh động hơn, ví dụ như dạng hàm biến đổi Fourier Hàm biến đổi Fourier loại bỏ các sai số dây chuyền trong thông số biến đổi hàm log và cung cấp kết quả chính xác hơn của hàm cơ bản bằng cách củng cố hàm biến đổi log theo lượng giác (Gallant, 1981) Berger và Mester (1997) nhận ra rằng hàm biến đổi Fourier cung cấp mô hình thực nghiệm tốt nhất bởi vì các bổ sung trực giao về lượng giác
Trang 9mang đến hàm xấp xỉ khá chính xác so với dữ liệu gốc Do yếu tố thiếu hiệu năng lên lợi nhuận ngân hàng được tính bằng độ chênh của chúng so với biên độ dự tính, thì một mô hình phù hợp hơn sẽ ước lượng các yếu tố này một cách bao quát hơn Các kỹ thuật này đã được
sử dụng rộng rãi trong đánh giá hiệu suất ngân hàng (Mitchell và Onruval, 1996; DeYoung
và Hasan, 1998; Akhigbe và McNulty, 2003) Dùng hàm biến đổi Fourier, biên của hàm lợi nhuận thay thế được tính như sau:
(7)
Trong đó, là đơn vị đo lường của lợi nhuận khả biến của công ty, bao gồm tất cả các loại
lệ phí và lãi trừ đi chi phí khả biến; là hằng số được thêm vào lợi nhuận khả biến để lôgarit
tự nhiên luôn có số dương (nghĩa là ) Vectơ w bao gồm 3 mức giá thị trường đầu vào:
(1) Giá của tiền gửi và vốn vay (w1)
(2) Giá của vốn hữu hình (phần trăm chi phí cơ sở (nhà ở/ cơ sở kinh doanh) và trang thiết bị tính trên tổng cơ sở và tài sản cố định) (w2)
(3) Mức lương cho lao động (w3)
Vectơ y đại diện cho 3 biến đầu ra:
(1) Tổng các khoản vay thương mại, công nghiệp, bất động sản (y1)
(2) Tổng tiền gửi (y2)
(3) Các dịch vụ ngân hàng tính phí được tính như thu nhập không lợi tuất (y3) Vectơ Z bao gồm 3 biến:
(1) Tổng vốn chủ sở hữu (z1)
(2) Vốn hữu hình bao gồm các cơ sở ngân hàng và tài sản cố định (z2)
(3) Lãi suất các khoản nợ xấu (z3)
Trang 10Các điều khoản xn , n=1,2,…5 là những giá trị được thay đổi tỷ lệ của ln(yi/z1), i = 1,2,3 và ln(zr/z1), r = 1,2 các giá trị này giảm trong biên độ [0,2r] trong đó r là số các radians (1 radian ≈ 57,29578°))
Để giảm thiếu vấn đề xấp xỉ gần điểm cuối, 10% được loại trừ từ mỗi cuối khoảng thời gian để các giá trị x giảm trong phạm vi [0.1 x 2r, 0.9 x 2r) Vì vậy, các biến xn được tính là 0.2r – a + nhân với biến, với = (0.9 x 2r – 0.1 x 2r)/(b – a), và [a,b] là phạm vi
biến được biến đổi (Berger và Mester, 1997) Điều kiện đối xứng tiêu chuẩn ( ij = ji, km =
mk, rs = sr) áp dụng đối với phần đổi log của phương trình (7) Để áp đặt các điều kiện đồng nhất,các biến lợi nhuận và giá đầu vào đã được chuẩn hoá bằng cách chia chúng với biến đầu vào đầu tiên w1 ( giá của tiền gửi và vốn vay)
Lợi nhuận, sản lượng khả biến và lượng đầu ra cố định (fixed netput quantities) được chuẩn hoá bằng thể hiện các mặt như tỉ lệ cho vốn chủ sở hữu cố định để kiểm soát tính không đồng nhất Các biến chuyển đổi này ít sai lệch đối với các ngân hàng lớn, giảm thiểu
độ chênh tỷ lệ và đưa ra kết quả trung thực hơn (Berger và Mester, 1997) Đặc biệt, sự tiêu chuẩn hoá vốn chủ sở hữu sẽ chuyển đổi các biến phụ thuộc trong phương trình (7) vào phương pháp đo xấp xỉ ROE, là một trong những chỉ số thường được sử dụng trong ngành tài chính Các thuật ngữ về sai số phức hợp, và , được quy định lần lượt là yếu tố không hiệu quả làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp dưới mức tiềm năng tối đa và sai số ngẫu nhiên Một phiên bản sửa đổi của phương trình (7), chứa chỉ 24 thuật ngữ lượng giác, được ước lượng để khắc phục các vấn đề liên quan đến phần mềm và mức độ tự do Việc hạn chế
số lượng thuật ngữ lượng giác để giải quyết các vấn đề dự toán đã trở thành một phương pháp phổ biến (De Young và Hasan, 1998, Akbigbe và McNulty, 2003)
CÁC YẾU TỐ HIỆU QUẢ LIÊN QUAN
Dựa trên mức độ hoạt động ngân hàng trực tuyến và chỉ số hiệu quả, tác động của các ứng dụng trực tuyến lên hoạt động tài chính của một nhóm ngân hàng cộng đồng được đánh giá theo sự đi xuống của chỉ số hiệu quả lợi nhuận dự tính đối với các yếu tố liên quan bao gồm hoạt động ngân hàng trực tuyến ( Phần 2 của Hình 1), vô số các nhân tố như quy mô ngân hàng, hình thức tổ chức (Berger and Mester, 1997), cơ cấu (Hannan,1991), quản lý (giả thiết về hình thức chi phí ưu đãi (Arnould,1985; Puroy and Salas, 2000) và giả thiết về cuộc sống êm ả (Rhoades and Rutz, 1982; Clark, 1986)), thông tin vay mượn (Nakamura, 1993), and quan hệ khách hàng (Petersen and Rajan, 1995) đã được sử dụng trên lý thuyết để giải thích những khác biệt trong hiệu quả Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các nhân tố liên quan đến cơ cấu ngân hàng, quan hệ khách hàng, quản lý (hình thức chi phí ưu đãi), và sự tiếp nhận các kỹ thuật trong hoạt động ngân hàng trực tuyến đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định tình hình tài chính của một ngân hàng (Akhigbe and McNulty, 2003; DeYoung, 2005; DeYoung et al, 2007; Sayar and Wolfe, 2007) Dựa trên nền tảng của những nghiên cứu trước, mối quan hệ cơ bản giữa hiệu quả lợi nhuận và các nhân tố kết hợp liên quan là: