1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tỷ Giá Hối Đoái Thực Tế Và Cán Cân Thương Mại Mối Quan Hệ: Một Nghiên Cứu Thực Nghiệm về Malaysia

8 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 103,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những biến quan trọng khác có tác động đến cán cân thương mại như thu nhập quốc nội thể hiện mối quan hệ cùng chiều và thu nhập nước ngoài thể hiện một mối quan hệ ngược chiều trong dài

Trang 1

Tỷ Giá Hối Đoái Thực Tế Và Cán Cân Thương Mại

Mối Quan Hệ: Một Nghiên Cứu Thực Nghiệm về Malaysia

Ng Yuen-Ling

Khoa Kế Toán và Quản Lý, Đại Học Tunku Abdul Rahman, Bander Sungai Long, 43000 Selangor, MALAYSIA.

Har Wai-Mun (Đồng Tác Giả)

Khoa Kế Toán và Quản Lý, Đại Học Tunku Abdul Rahman, Bander Sungai Long, 43000 Selangor, MALAYSIA.

Email: harwm@mail.utar.edu.my

Tan Geoi-Mei

Khoa Kế Toán và Quản Lý, Đại Học Tunku Abdul Rahman, Bander Sungai Long, 43000 Selangor, MALAYSIA.

Tóm tắt

Bài nghiên cứu này nhằm xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực tế và cán cân thương mại ở Malaysia từ năm 1955 đến 2006

Nghiên cứu này sử dụng các kỹ thuật Kiểm Định Nghiệm Đơn Vị (Unit Root Test), Đồng liên kết (Cointegration), kiểm định Engle-Granger, mô hình vecto kiểm định sai số(VECM), và các phân tích phản ứng xung lực.

Những phát hiện quan trọng nhất trong bài viết này là:

(i) Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái trong dài hạn Những biến quan trọng

khác có tác động đến cán cân thương mại như thu nhập quốc nội thể hiện mối quan hệ cùng chiều và thu nhập nước ngoài thể hiện một mối quan hệ ngược chiều trong dài hạn

(ii) Tỷ giá hối đoái thực tế là một biến quan trọng ảnh hưởng cán cân thương mại, và sự phá giá

tiền tệ sẽ cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn, do đó phù hợp với điều kiện Marshall-Lerner

(iii) Các kết quả thể hiện không có hiệu ứng đường cong J trong trường hợp Malaysia.

Từ khóa: Tỷ giá hối đoái, Cán cân thương mại, Sự mất giá, Đồng liên kết, Kinh tế Malaysia

1 Giới thiệu

Phá giá tiền tệ có những ảnh hướng rất lớn đến cán cân thương mại theo nhiều cách khác nhau, có thể

do mức độ phát triển khác nhau của sự phát triển kinh tế.

Một trong những ảnh hưởng nổi bật là điều kiện Marshall-Lerner, phá giá tiền tệ làm cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn nếu độ co giãn theo tỷ giá thực tế của xuất khẩu và độ co giãn theo tỷ giá thực tế của nhập khẩu lớn hơn một.

Phá giá tiền tệ khiến hàng hóa nội địa rẻ hơn tương đối so với hàng hóa nước ngoài, do đó khiến hàng xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn Thứ hai, số lượng nhập khẩu giảm, do hàng nhập khẩu tương đối mắc hơn Ngoài ra, số lượng xuất khẩu nhập khẩu có thể không đáp ứng được ở giai đoạn đầu giảm giá trị Do đó cán cân thương mại có thể có thể tồi tệ hơn do giảm giá trị xuất khẩu và tăng giá trị nhập khẩu nhưng sẽ cải thiện sau một thời gian Điều này tạo ra viễn cảnh được biết như J-curve (đường cong J).

Trang 2

2 Mục Tiêu Của Nghiên Cứu

Mục tiêu chính của bài là:

(i) Nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại ở Malaysia,

(ii) Và nghiên cứu liệu điều kiện Marshall-Lerner và J-curve có tồn tại, cả trong thời kỳ 1955-2006

Phần còn lại của bài báo được cấu trúc như sau: Phần 3 sẽ là phần tổng quan Phần 4 sẽ là khuôn khổ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu Phần 5 sẽ là kết quả và giải thích và cuối cùng Phần 6 sẽ

là kết luận từ nghiên cứu.

3 Tổng quan

Hernan Rincon (1999) đã kiểm tra mối quan hệ giữa cán cân thương mại và kiểm định tỷ giá hối đoái đối với điều kiện Marshall-Lerner

Shirvani và Wilbratte (1997), Akbostanci’s (2002) và Liu, Fan và Shek (2006) cũng đã nhận ra điều kiện Marshall-Lerner trong các nghiên cứu tương ứng của họ.

Shirvani and Wilbratte (1997) đã kiểm định mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực sự ở Mỹ và các nước G7: Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Mỹ, nghiên cứu của Akbostanci (2002) ở Thổ Nhĩ Kỳ và Liu, Fan và Shek (2006) ở Hồng Kong

Ngoài ra, Onafowora (2003) đã báo cáo một mối quan hệ đáng kể tồn tại ở ba nước ASEAN Thái Lan, Malaysia và Indonesia trong thương mại song phương của họ với Mỹ và Nhật Bản

Ngược lại, Rose (1991) đã báo cáo điều kiện Marshall-Lerner không tồn tại trong năm nước OECD chính (Mỹ, Canada, Đức, Nhật và Anh) Kết quả của cô cũng cho thấy một mối quan hệ đáng kể giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái, do đó hàm ý rằng việc giảm giá trị không thể cải thiện cán cân thương mại về lâu dài Rose (1991) đã dự đoán rằng nó sẽ bộc lộ đáng kể thông qua cán cân thương mại được tác động từ bên ngoài đối với tỷ giá hối đoái.

Bằng sử dụng kiểm định đồng liên kết, nghiên cứu của Hatemi và Irandoust (2005) đã cho thấy Thụy Điển đã không thỏa mãn điều kiện Marshall-Lerner Điều này có thể do cán cân thương mại ở Thụy Điển không những nhạy với tỷ giá hối đoái mà còn nhạy với những thay đổi về thu nhập

Wilson và Kua (2001) đã kiểm định mối quan hệ giữa Sungapore và Mỹ Kết quả của họ đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái không ảnh hưởng đáng kể lên thương mại song phương.

Liew, Lim, và Hussain (2003) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực tế và cán cân thương mại dựa trên những quốc gia ASEAN Họ kết luận rằng cán cân thương mại bị ảnh hưởng bởi đồng tiền thực tế hơn là tỷ giá hối đoái.

Thorbecke (2006) đã chỉ ra rằng thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến thương mại ở Châu Á Nghiên cứu thực nghiệm của ông đã chứng minh một sự nâng giá trị tiền tệ ở Indonesia, Malaysia và Thái lan sẽ làm sụt giảm xuất khẩu.

Đối với hiệu ứng J-curve

Ahmad và Yang (2004) đã kiểm định giả thuyết J-curve ở nền thương mại song phương Trung Quốc với các nước G7 và nhận thấy rằng không có bằng chứng nào đặc trưng cho hiệu ứng J-curve.

Moffett (1989) đã kiểm định bằng chứng thực nghiệm của ông đối với giá cả thương mại (giá của xuất nhập khẩu) và số lượng (số lượng của xuất nhập khẩu) của Mỹ để xác định liệu J-curve có tồn tại hay không

từ thời kỳ 1967 đến 1987 Kết quả báo cáo đã chỉ ra rằng sự giảm giá trị của đồng đô la dẫn tới số lượng nhập khẩu sụt giảm, nhưng đồng thời cũng giảm số lượng xuất khẩu Dựa theo lý thuyết J-curve, việc giảm giá trị tiền tệ sẽ dẫn đến nhập khẩu giảm và xuất khẩu tăng Xuất khẩu đã giảm trong trường hợp này, vì thế

nó giống hình sin hơn là hình chữ J

Rose and Yellen (1989) bằng cách sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS) và kiểm định đồng liên kết đã báo cáo không có đáp ứng về cán cân thương mại với tỷ giá hối đoái thực ở Mỹ

Trang 3

Trong khi đó, Bahmani-Oskooee and Ratha (2007) đã kiểm định thương mại song phương giữa Thụy Điển và 17 đối tác thương mại và phân tích việc giảm giá trị thực sự của hiệu ứng ngắn hạn và hiệu ứng dài hạn Kết quả dài hạn đã kết luận rằng việc giảm giá trị thực sự của tiền tệ chỉ đúng trong năm trường hợp, đối với cán cân thương mại giữa Thụy Điển và Áo, Đan Mạch, Ý, Hà Lan và Anh Kết quả ngắn hạn có những hiệu lực trên cán cân thương mại trong 14 thuộc 17 trường hợp

Tuy nhiên, Sugema (2005), với việc kiểm định xác định cán cân thương mại và điều chỉnh khủng hoảng ở Indonesia thông qua tỷ giá hối đoái tạo ra một điểm cảnh báo về vấn đề hiệu quả của sự giảm giá trị tỷ giá hối đoái trong việc cải thiện cán cân thương mại trong thời gian dài, Sugeman (2005) đã chứng minh rằng

tỷ giá hối đoái có thể vượt quá nếu cán cân thương mại không nhạy với việc giảm giá trị tiền tệ.

4 Khuôn Khổ Lý Thuyết Và Phương Pháp Nghiên Cứu

Việc mô hình hóa cán cân thương mại trong bài báo này theo những phương trình tương tự nhau được chọn từ các nghiên cứu của Shirvani và Wilbratte (1997), Baharumshah (2001), Gomez và Alvarez-Ude (2006), trong đó nhấn mạnh tỷ giá hối đoái trong thương mại song phương.

Trạng thái cân bằng của thị trường hàng hóa trong một nền kinh tế mở có thể được mô tả bởi những phương trình sau:

Với Y là tổng thu nhập nội địa, C là chỉ tiêutiêu dùng, và T là thuế thu nhập, I là đầu tư, r là tỷ lệ lãi suất,

G là tiêu dùng chính phủ,

ε là tỷ lệ lãi suất thực tế, IM là nhập khẩu, X là xuất khẩu, và Y* là thu nhập nước ngoài

Những dấu trong ngoặc đơn (phía dưới phương trình) chỉ những mối quan hệ đối với những yếu tố tương ứng Chỉ tiêu tiêu dùng (C) có hàm là tổng của thu nhập trừ đi thuế thu nhập, vốn được biết là thu nhập khả dụng (Y-T) Thu nhập khả dụng càng cao sẽ càng dẫn đến chỉ tiêu tiêu dùng tăng cao đồng thời thăng tổng thu nhập nội địa, do đó, mối quan hệ tích cực (dương) phát sinh giữa tổng thu nhập nội địa và chỉ tiêu tiêu dùng, Sự đầu tư (I) là một hàm của tổng thu nhập và lãi suất Các quốc gia sẽ đầu tư nhiều hơn nếu tăng tổng thu nhập cá nhân Do đó, nó thể hiện mối quan hệ tích cực giữa đầu tư và tổng thu nhập Bên cạnh đó, lãi suất có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Lãi suất càng thấp sẽ giảm giá trị vốn, do đó thu hút nhiều nhà đầu tư hơn đến và đầu tư Vì lý do đó, nó thể hiện mối quan hệ tiêu cực giữa đầu tư và lãi suất Nói cách khác, lãi suất càng cao sẽ giảm tổng đầu tư nội địa Đối với tỷ giá hối đoái thực bằng với tỷ giá hối đoái thông thường (E) nhân với mức giá nước ngoài (P*) và chia cho mức giá nội địa Tỷ giá hối đoái thông thường (E) được xác định như giá trị tiền tệ nội địa đổi cho một đơn vị tiền tệ nước ngoài, như sau:

(1) Nhập khẩu (IM) bị ảnh hưởng bởi thu nhập nội địa hoặc đầu ra (Y) Thu nhập nội địa càng cao càng dẫn đến nhập khẩu cao Do đó nó thể hiện mối quan hệ cùng chiều Ngoài ra, nhập khẩu có mối quan hệ ngược chiều với tổng thu nhập nội địa; số lượng nhập khẩu cũng phụ thuộc tỷ giá hối đoái thực tế (

ε ) ( ε ) càng cao càng dẫn đến số lượng nhập khẩu thấp hơn do hàng hóa nước ngoài tương đối mắc hơn Xuất khẩu (X) phụ thuộc thu nhập nước ngoài (Y*) và tỷ giá hối đoái thực tế (

ε ) Thu nhập nước ngoài cao sẽ dẫn đến tăng nhu cầu nước ngoài cho tất cả hàng hóa và dịch vụ do hệ quả của tăng xuất khẩu Nói cách khác, việc tăng tỷ giá hối đoái, giá trị tương đối của hàng hóa nước ngoài tính theo hàng hóa nội địa cũng dẫn đến tăng xuất khẩu Nó thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa cán cân thương mại và thu nhập nước ngoài, tỷ giá hối đoái thực tê Vì mục tiêu là kiểm tra cán cân thương mại (xuất khẩu ròng-NX) và tỷ giá hối đoái, những biến khác được giả định không đổi Xuất khẩu ròng là:

(2)

Trang 4

Bằng cách thay thế hàm xuất khẩu và nhập khẩu vào phương trình (2), phương trình sẽ là:

(3) Sau đó, thay thế phương trình (1) vào phương trình (3)

(4) Giả sử EP*/P không thay đổi, ta có thể viết lại phương trình (4) như sau:

(5)

Do đó, phương trình (6) thể hiện cán cân thương mại như một hàm theo thu nhập nội địa, thu nhập nước ngoài và tỷ giá hối đoái thực tế.

(6) (Đây là mô hình hồi quy của Mohsen bahmami – Oskooee and Talchawan kantipong (2001)

Trong đó:

- Ln là logarit tự nhiên

- ut được cho là một quá trình nhiễu-trắng

- và TBt - cán cân thương mại: là tỷ lệ xuất khẩu đối với nhập khẩu cho phép mọi biến được giải nghĩa theo dạng logarit và loại bỏ việc cần phải có chỉ số giá thích hợp để giải thích cán cân thương mại theo dạng thực tế.

- Trong nghiên cứu này, tỷ giá hối đoái thực -RER t thể hiện bởi đồng Ringgit của Malaysia (RM) đối với Đồng Đô la Mỹ (US$)

- Y là thu nhập quốc dân của Malaysia và Y*t là thu nhập quốc dân của Mỹ.

Theo lý thuyết trước đây, dấu hiệu của β1 có thể là dương hoặc âm Nếu con số ước tính của β1 có thể được mong đợi âm thì nghĩa là có một sự tăng về thu nhập thực tế ở Malaysia -Y t sẽ làm tăng khối lượng nhập khẩu Tuy nhiên, nếu ước tính β1 được mong đợi dương tính thì nghĩa là một sự tăng Yt là do tăng sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu

Tương tự ước tính β2 có thể là tích dương hoặc âm Dấu hiệu của β2 sẽ được dựa theo liệu các yếu tố về nguồn cung có nổi trội hơn các yếu tố về nhu cầu

Lý thuyết Marshall-Lerner giữ vững khi β3 dương chỉ ra rằng sự giảm giá trị tiền tệ sẽ dẫn đến cải thiện cán cân thương mại cho Malaysia.

Dữ liệu hàng năm dùng để xây dựng phương trình này kể từ năm 1955 đến 2006 được lấy từ Quỹ Tiền

Tệ Quốc Tế (IMF) Suốt giai đoạn này, Malaysia đã có những thay đổi đáng kể về tỷ giá hối đoái thực tế và cán cân thương mại Do đó, điều này cung cấp một điều kiện nghiên cứu tuyệt vời để kiểm tra xem liệu những thay đổi về tỷ giá hối đoái thực tế có ảnh hưởng đến khối lượng thương mại Cán cân thương mại, thu nhập nội địa và nước ngoài đều theo thực tế; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoạt động như một yếu tố giảm phát giá.

Kiểm định đơn vị được sử dụng để kểm tra trạng thái ổn định Theo nghiên cứu của Baharumshah (2001) và Sugema (2005), kiểm định gia tăng Augmented Dickey-Fuller (ADF) và Philips-Perron (PP) được

Trang 5

ứng dụng để kiểm tra trạng thái ổn định của các dữ liệu kinh tế Nếu kiểm định ADF và PP cho ra những kết quả khác nhau, kiểm định Kwiatkowski-Philips-Schmidt-Shin sẽ được sử dụng như kết quả quyết định

Để giải quyết vấn đề hồi quy giả và những giả định vi phạm Mô Hình Hồi Quy Cổ Điển, phương pháp

phân tích cộng liên kết sẽ được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ dài hạn giữa TBt , RER t và Y* t Để kiểm

tra cộng liên kết, ba phương pháp sẽ được sử dụng Đó là Engle-Granger Test, Error Correction Model, và Johansen-Juselius Test Để biết được lỗi mất cân bằng, chúng ta sẽ viết lại phương trình (6) như sau:

(7)

Để thực hiện Kiểm Định đồng kết hợp Engle-Granger, trật tự kết hợp của phần dư ước tính, u t, sẽ được kiểm tra Nếu có một hồi quy cộng liên kết, thì các lỗi mất cân bằng trong phương trình (7) sẽ hình thành một chuỗi thời gian ổn định, và có một giá trị trung bình bằng 0, ut sẽ không đổi, I(0) với E(ut) = 0.

Trạng thái cân bằng dài hạn có thể khó được quan sát thấy, nhưng sẽ có xu hướng tiến đến trạng thái cân bằng Do đó mô hình sửa lỗi Error Correction Model sẽ được sử dụng để đại diện cho các mối quan hệ dài hạn (ổn định) và ngắn hạn (biến đổi) giữa cán cân thương mại, tỷ giá hối đoái thực, thu nhập nội địa và nước ngoài Theo các nghiên cứu của Baharumshah (2001), Onafowora (2003), Ahmad and Yang (2004) và Sugema (2005), Vector Error Correction Model(mô hình sửa lỗi vector) phù hợp để ước tính ảnh hưởng của

tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại Phương trình (8) thể hiện Error Correction Model như sau:

(8) Trong đó ut-1 là phần dư ở t-1 trong thời gian dài.

Cả thử nghiệmEngle-Granger (Engle-GrangerTest)vàmô hình sửa lỗi vector(Vector Error Correction Model (VECM) đều kiểm tra liệu mối quan hệ dài hạn chỉ tồn tại trong phương trình.

Theo nghiên cứu của Shirvani và Wilbratte (1997), Baharumshah (2001), Onafowora (2003), Gomez and Alvarez-Ude (2006), phương pháp kiểm định Johansen-Juselius được sử dụng để thể hiện kiểm tra giả thuyết về số mối quan hệ dài hạn tồn tại trong phương trình Để sử dụng phương pháp Johansen-Juselius, Vector Autoregressive (VAR) của phương trình cần chuyển đầu tiên,

(9) Trong một Vector Error Correction Model (VECM), vốn có thể được viết như sau:

(10) Kiểm định đồng kết hợp giữa Z được tính bởi xem xét thứ hạng của ma trận Л qua giá trị riêng của nó Thứ hạng của một ma trận bằng số nghiệm đặc trưng của nó (trị số đặc trưng) khác 0 Л thể hiện số liên kết tuyến tính của Zt ở trạng thái ổn định Vector Zt bao hàm cán cân thương mại (TB), tỷ giá hối đoái thực tế (RER), thu nhập nội địa (Y) và thu nhập nước ngoài (Y*) Do đó Zt = [TB RER Y Y*] Chúng tôi đã chọn số của

độ trễ dựa theo Akaike Information Criterion (AIC) và Schwarz Criterion (SIC) Kếtiếp, số của Kiểm địnhđồng kết hợp giữa các hàm logarit của cán cân thương mại, thu nhập quốc nội và nước ngoài và tỷ giá hối đoái thực tế cần được kiểm nghiệm theo phương pháp Johansen-Juselius.Hai số liệu thống kê cần cho đồng kết hợp: thống kê vết (trace statistic)

trace

λ

,và trị số đặc trưng lớn nhất,

max

λ

Tất cả các số liệu kiểm tra là giá trị ước tính cho trị số đặc trưng thứ i từ ma trận Л r đượcthiếtlậptừ 0 đến k-1, khi k=4 (k

thểhiệnsốbiếnbêntrongcủanghiêncứunày).

Đối với thống kê vết (trace statistic), thống kê kiểm định cho đồng kết hợp được hình thành như sau:

Trang 6

Trong đó T là kích cỡ mẫu, r là số mối quan hệ dài hạn tồn tại, và λ là giá trị riêng Đối với thống kê vết, giả thuyết trống (null hypothesis) là số vector đồng kết hợp ít hơn hoặc bằng với r đói với một thay thế không xác định Nếu λtrace (vết) bằng 0, thì nó là một kiểm định liên kết.

Đối với thống kê giá trị riêng lớn nhất, thống kê kiểm tra đối với cộng liên kết như sau:

Số liệu vector đồng kết hợp của giả thuyết rỗng cho trị số đặc trưng lớn nhất là r ngược với số liệu thay thế

r + 1.

Trước khi dự đoán mô hình cuối cùng, cần thiết phải thực hiện những kiểm định chuẩn đoán khác nhau

để thẩm định độ chính xác về tính đại diện của mô hình Để kiểm tra các thông số, t-test được sử dụng Để kiểm tra hướng quan hệ nhân quả giữa hai biến, Pairwise Granger Causality Test được sử dụng Đối với phân tích phần dư, Portmanteau Autocorrelations (Q) test, Autocorrelation LM (LM) test, White heteroskedasticity (White), và Jarque-Beraresidual normality test thông qua Cholesky (JBCHOL) và Urzua (JBURZ), các nhân tố hóa được áp dụng

Phân tích đáp ứng xung sẽ cung cấp thông tin về tương tác giữa các biến trong hệ thống, do đó được sử dụng để dự đoán mục đích Các hàm đáp ứng xung tìm kiếm những ảnh hưởng của một cú sốc của biến bên trong lên các biến khác trong hệ thống Theo Gomez và Alvarez-Ude (2006), hàm đáp ứng xung ánh xạ đáp ứng động của cán cân thương mại lên một độ lẹch chuẩn Cholesky đổi mới tỷ giá hối đoái thực tế Theo các công trình của Baharumshah (2001), Akbostanci (2002), Onafowora (2003), Sugema (2005) và Gomez and Alvarez-Ude (2006), Hàm Đáp Ứng Xung được sử dụng để xác định liệu lý thuyết J-curve có tồn tại ở Malaysia.

5 Kết quả nghiên cứu

Kết quả thử nghiệm ADF và thử nghiệm PP được trình bày trong Bảng 1 cho nghiệm đơn vị cho sai phân cấp 1 của các biến (tham khảo phần Phụ lục để xem toàn bộ các bảng) Giả thuyết đảo trong các thử nghiệm ADF và PP là các biến cân bằng sau quá trình lấy sai phân, I(0) Cả thử nghiệm ADF lẫn thử nghiệm PP đều cho thấy ln RER và ln Ycó độ tích hợp bậc 1, I (1), và ln TB tĩnh, I (0) Kết quả thử nghiệm ADF cho thấy ln Y*có độ tích hợp bậc 2, I (2), trong mô hình không chứa xu hướng; tuy nhiên, kết quả của thử nghiệm PP cho thấy rằng In Y*lại có độ tích hợp bậc 1, I (1),trong mô hình không chứa xu hướng Để xác nhận kết quả cho

In Y*, chúng ta áp dụng phương pháp thử nghiệm Kwiatkowski-Philips-Schmidt-Shin (KPSS) Giả thuyết đảo trong thử nghiệm KPSS là các biến cân bằng sau quá trình lấy sai phân Kết quả KPSS cho thấy In Y*có độ tích hợp bậc 1, I (1), trong mô hình không chứa xu hướng (xem Bảng 2) Tóm lại, các số liệu thử nghiệm cho thấy rằng In RER, In Y, và In Y*có độ tích hợp bậc 1, I (1), trong khi In TB tĩnh, I (0).

Kiểm định đồng kết hợp dài hạn Engle-Granger kiểm tra hệ thống đa biến để xem liệu có tồn tại bất kỳ

sự kết hợp tuyến tính nào của 4 biến có cùng xu hướng hay không Kết quả cho thấy, số hạng lỗi trong dài hạn, ut, là tĩnh, I (0) (xem Bảng 3) Điều này có nghĩa là có sự kết hợp tuyến tính giữa ln TB, ln RER, ln Y và ln Y*.Vì vậy, chúng tôi kết luận rằng có tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong mô hình Hiệu ứng dài hạn của cán cân thương mại trong việc bình thường hóa biến được giải thích bởi hệ số của biến trong vector đồng hội tụ sau quá trình bình thường hóa cán cân thương mại (xem Bảng 4) Dấu dương của biến tỷ giá hối đoái thực (RER) đại diện cho sự mất giá của tiền tệ, làm cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn Dựa trên lý thuyết cổ điển, dấu của thu nhập nội địa (Y) đối với cán cân thương mại trong nước là không chắc chắn, có thể âm hoặc dương, mà tùy thuộc vào mức độ hoạt động của nền kinh tế, hoặc nó cũng có thể được xem như là một biến cung cấp đo lường mức cung xuất khẩu Dấu dương của thu nhập nội địa đại diện cho

sự gia tăng thu nhập trong nước dẫn đến sự cải thiện trong cán cân thương mại trong dài hạn Thông thường, dấu của thu nhập nước ngoài (Y*) đối với cán cân thương mại sẽ là dấu dương Lý thuyết cho thấy rằng khối lượng xuất khẩu (nhập khẩu) cho một quốc gia nước ngoài (hoặc trong nước) phải tăng khi thu nhập thực tế và sức mua của các đối tác thương mại (nền kinh tế nội địa) tăng, và ngược lại Tuy nhiên, kết

Trang 7

quả cho thấy dấu âm của thu nhập nước ngoài (Hoa Kỳ) ngụ ý một sự gia tăng của thu nhập nước ngoài dẫn đến giảm cán cân thương mại nội địa Điều này có thể là do sự gia tăng thu nhập thực tế nước ngoài, vốn do nước ngoài gia tăng sản xuất các mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu, do đó, việc nhập khẩu của họ có thể giảm khi thu nhập tăng.

Sau khi ước tính mối quan hệ lâu dài giữa cán cân thương mại, tỷ giá thực tế, thu nhập nội địa, và thu nhập nước ngoài, mô hình sửa lỗi (ECM) sẽ được sử dụng để dự đoán Dựa trên kết quả, một lag được lựa chọn dựa trên Tiêu chuẩn Thông tin Akaike (AIC) và Tiêu chuẩn Schwarz (SIC) Tất cả các biến (trừ các hằng số) có mức độ tin cậy thống kê ở mức 95% Kết quả của mô hình sửa lỗi (ECM) được như sau:

Trong đó *, ** biểu hiện mức độ tin cậy tại mức 5% và 1% độ tin cậy tương ứng.

Kết quả kiểm tra phân tích cho thấy giá trị thặng dư tốt trong mọi giai đoạn (xem Bảng 5) Kết quả của kiểm định nhân quả Granger cho thấy bằng chứng về mặt thống kê xuất hiện tác động nhân quả Granger từ

tỷ giá thực tế lên cán cân thương mại với mức ý nghĩa 10% Vẫn còn tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều

từ tỷ giá thực tế lên cán cân thương mại Những kết quả này cũng cho thấy quan hệ nhân quả từ thu nhập trong nước lên cán cân thương mại sẽ có mức ý nghĩa 1% Các kết quả cũng cho thấy rằng có bằng chứng rằng tác động nhân quả Granger về mặt thống kê từ thu nhập nước ngoài (Hoa Kỳ) lên cán cân thương mại

ở mức độ 5% và quan hệ nhân quả 1 chiều từ thu nhập nước ngoài (Hoa Kỳ) lên cán cân thương mại Bởi vì thử nghiệm Johansen-Juselius khá nhạy cảm với chiều dài lag lựa chọn, các tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất như AIC và SIC được sử dụng để xác định độ dài lag thích hợp, tất cả đều cho thấy rằng sẽ chỉ bao hàm

1 lag Các kết quả của thử nghiệm Johansen-Juselius được báo cáo trong Bảng 6 Trong thử nghiệm vi lượng,

nó cho thấy một phương trình đồng hội tụ 5% và mức 1% Trong thử nghiệm tìm vết, kết quả cho thấy có một phương trình đồng hội tụ tại 5% và không cùng hội tụ ở mức 1% Kết quả của thử nghiệm Max-eigenvalue chỉ ra một phương trình đồng hội tụ ở mức 5% trong khi không có sự đồng hội tụ nào ở mức 1% Hàm phản ứng đẩy (Impilse response function) được sử dụng để cung cấp thông tin về các phản ứng trong ngắn hạn đối với cán cân thương mại Để kiểm tra xem liệu các hiệu ứng của đường cong J có tồn tại ở Malaysia, chúng ta tiến hành kiểm tra phản ứng của cán cân thương mại đối với việc đổi mới tỷ giá thực Nếu phản hồi cán cân thương mại đối vớiviêc giảm giá cho thấy rằng J-shape tượng trưng cho việc các tác động của đường cong J là có tồn tại ở Malaysia Điều này nghĩa là sự giảm giá sẽ làm suy yếu cán cân thương mại đến mức gây sốc, xét đến tỷ giá hiện tại được minh họa trong Hình 1 Từ Hình 1, chúng ta thấy rằng cán cân thương mại nhanh chóng làm tăng sự phản hồi đổi mới do giảm giá trong vòng 2 năm tới Sau

đó, cán cân thương mại sẽ cải thiện từ từ từ 2 đến 7 năm Khi đó, cú sốc đã có hiệu lực trong dài hạn Hình 1 cho thấy tác động không tương ứng với mô hình đường cong J Do vậy, giả thuyết đường cong J không có hiệu lực đối với trường hợp Malaysia.

6 Kết luận

Để kiểm tra xem có tồn tại điều kiện Marshall-Lerner và các tác động của đường cong J (J-curve) hay không, bài nghiên cứu này đã tiến hành tìm hiểu tác động về ngắn hạn và lâu dài của tỷ giá thực đối với cán cân thương mại của Malaysia, theo một mô hình động lực Các kết quả trong bài nghiên cứu thuận theo sự xác thực thực nghiệm của điều kiện Marshall-Lerner thông qua VECM, chỉ ra rằng sự mất giá làm cải thiện cán cân thương mại Kết quả này tiếp tục được xác nhận thông qua quá trình nghiên cứu thực nghiệm mà Baharumshah (2001) đã tiến hành Các công trình nghiên cứu thực nghiệm các nhóm quốc gia khác nhau thực hiện bởi Shivani và Wilbratte (1997), Sugema (2005), Akbostanci (2002), và Thorbecke (2006) cũng ủng hộ sự tồn tại của điều kiện Marshall-Lerner.

Tuy nhiên, phân tích VECM lại không tìm ra bằng chứng về sự suy yếu của cán cân thương mại trong ngắn hạn do tác động của đường cong J Do đó, bằng cách sử dụng các hàm phản ứng đẩy (impulse response functions), kết quả thể hiện rằng cán cân thương mại Malaysia không bị cơ chế của đường cong J thay đổi hoặc nói cách khác, kết quả không chứng tỏ được giả thuyết đường cong J Kết luận này phù hợp với Baharumshas (2001) Các báo cáo nghiên cứu thực nghiệm các nhóm quốc gia khác nhau của Rose và Yellen (1989), Akbostanci (2002), Ahmad và Yang (2004), Gomez và Alvarez-Ude (2006) cũng ủng hộ lập luận không chứng tỏ được tác động của đường cong J.

Trang 8

Theo hàm ý, để có thể đạt được các hiệu quả mong muốn trên cán cân thương mại, các nước nên trông cậy vào chính sách tập trung vào biến của tỷ giá thực tế, tức là tỷ giá hối đoái danh nghĩa đối với mức giá tổng hợp.Đồng thời, các chính sách dựa trên giảm giá (bị ảnh hưởng qua các kệnh thuộc tỷ giá hối đoái danh nghĩa) phải liên kếtvới các chính sách ổn định (để đảm bảo mức giá ổn định trong nước) để đạt được mức độ mong muốn của cán cân thương mại.Tuy nhiên, các chính sách giảm giá dựa trên giảm giá đã gây ra nhiều vấn đề Việc giảm giá sẽ gây ra sự gia tăng trong chi phí nhập khẩu Điều này có thể dẫn đến lạm phát nhập khẩu vốn có khả năng gây tổn hại đến các doanh nghiệp trong nước sử dụng các đầu vào nhập khẩu.Bên cạnh đó, các chính sách dựa trên giảm giá có thể không hiệu quả trong việc cải thiện cán cân thương mại nếu các nước khác cũng áp dụng chính sách dựa trên giảm giá cùng một lúc.Mặt khác, các nước cần thực hiện các chính sách tập trung vào sản xuất các loạihàng hóa thay thế nhập khẩu.Chính sách thay thế hàng nhập khẩu có thể sẽ có tác dụng tốt trong việc cải thiện thu nhập nội địa và cán cân thương mại.

Ngày đăng: 13/06/2017, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w