Ngoài ra, Oceana còn kiểm tra 20 mẫu tôm, phát hiện 8 loại tôm lạ không trong danh mục thực phẩm cho con người nhưng vẫnđược bày bán tràn lan như tôm "dọn bể", ăn xác các loài ký sinhtrê
Trang 1Mục lục
Trang 2Phần I Thủy sản và tổng quan chung về ngành
1. Thủy sản
a. Khái niệm
Những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trườngnước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụnglàm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường Thôngdụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loạicá
Nhóm rong : Thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loài có kíchthước nhỏ, nhưng cũng có loài có kích thước lớn
Nhóm bò sát và lưỡng cư : Bò sát là các động vật bốn chân cómàng ối (ví dụ: cá sấu) Lưỡng cư là những loài có thể sống cả trêncạn lẫn dưới nước (ví dụ: ếch, rắn)
2. Sản lượng tiêu thụ - xuất nhập khẩu gần đây
a. Ở Việt Nam
Trang 3Theo Báo cáo của Tổng cục Thủy sản tổng sản lượng thủy sảnsản xuất năm 2016 đạt hơn 6,7 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm2015
Xuất khẩu thủy sản của cả nước trong năm 2016 ước đạt 7,1 tỷUSD, tăng 0,6 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2015 Năm 2016, sảnphẩm thủy sản được xuất khẩu sang 160 nướ và vùng lãnh thổ 3thị trường chính là Mỹ 20,6%, Châu ÂU 17,3%, Nhật Bản 15,7%)
Về nhập khẩu, trong năm 2016 Việt Nam vẫn duy trì mức nhậpkhâu thủy sản với giá trị trên 1,1 tỷ USD tăng 3,6% so với năm
2017 Trong đó, tôm chiến tỷ trọng lớn nhất với 34% giá trị ~ 376triệu USD,cá ngừ chiếm gần 20% với 217 triệu USD
b. Trên thế giới
Báo cáo tổng hợp về triển vọng ngành sản xuất và thương mạithủy sản của thế giới cho đến năm 2022
Trang 4Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và Tổ chức
Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO)
Trang 5Phần II Tổng quan về gian lận thủy sản
“Gian lận thủy sản là một hành động phổ biến trên khắp châu Âu
do những yếu kém trong hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện tại đốivới cá, và thiếu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chịu tráchnhiệm cho việc ghi nhãn đúng với thủy sản Thực tế này không chỉchứng tỏ sự vô trách nhiệm với người tiêu dùng, mà còn làm suyyếu những nỗ lực bảo tồn trên toàn thế giới bằng việc tạo ra một
lỗ đen trong thị trường, nơi mà sản lượng đánh bắt bất hợp phápđược đem tiêu thụ”
Theo Maria Jose Cornax - Giám đốc chiến dịch thủy sản củaOceana ở châu Âu cho biết trong một thông cáo báo chí
Tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế Oceana lưu ý rằng hơn 90%thủy sản tiêu thụ ở Mỹ ngày nay được nhập khẩu, nhưng chưa đầy1% trong số đó được kiểm tra bởi chính phủ
Oceana đã phát hiện ra rằng 18% cá được lấy mẫu và bán tạiSeattle bị dán sai nhãn
35% tôm tại thị trường Mỹ, cửa hàng thực phẩm, nhà hàng đềugian lận nhãn mác
Ngoài ra, Oceana còn kiểm tra 20 mẫu tôm, phát hiện 8 loại tôm
lạ không trong danh mục thực phẩm cho con người nhưng vẫnđược bày bán tràn lan như tôm "dọn bể", ăn xác các loài ký sinhtrên san hô, chỉ dùng nuôi cảnh trong bể thủy sinh
Trang 6Cục Quản lý Thực Phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) đã phân tích 700mẫu thủy sản nhập khẩu tại 14 bang trên nước Mỹ, thấy 15% thủysản gian lận nhãn mác Tại chợ bán buôn thủy sản ở New York,43% tôm tại chợ này gian lận nhãn mác.
Câu hỏi đặt ra cho các nhà chuyên môn:
“Biện pháp phát hiện phòng chống gian lận thủy sản là
gì ?”
Trang 7Phần III Kiểm định tồn dư chất kháng sinh trong
thủy sản
1. Nguyên nhân – mục đích sử dụng – tác hại.
a. Nguyên nhân
Lượng tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản chủ yếu
là do 3 nguyên nhân chính sau:
- Sử dụng các loại kháng sinh không rõ nguồn gốc
- Sử dụng sai nguyên tắc hoặc có chủ đích:
• Không có đơn thuốc của bác sĩ thú y
• Không tuân thủ liều
• Thời gian dừng thuốc
c. Tác hại và nguy cơ tiềm tàng
- Ít loại kháng sinh có khả năng gây độc cấp tính
- Các loại kháng sinh cấm có khả năng gây bệnh (ung thư,quái thai, đột biến gen, )
- Gây dị ứng
- Mất cân bằng hệ đường ruột
- Gây nhờn thuốc, kháng thuốc:
• Xuất hiện các loại vi khuẩn kháng thuốc
• Vô hiệu các loại kháng sinh
2. Sơ đồ phân tích chung
Trang 8Các công đoạn trong phân tích tồn dư kháng sinh.
Trang 9Comp, 1947), nhóm Gottib (Univ.of Illinois, 1948), nhómUmezawa (1948) Họ Chloramphenicol được coi là kháng sinh
có cấu trúc đơn giản nhất và ngay từ khi phát hiện rất nhiềunhà khoa học đã tập trung nghiên cứu các chất kháng sinhnày Nhờ vậy chỉ trong vòng 2 năm người ta đã xác định đượccấu trúc phân tử và triển khai thành công nghệ sản xuất raloại thuốc kháng sinh này
Chloramphenicol
Trong đó: Chloramphenicol có R:
Nitrophenycol có R: Corynecin I có R: CH3CO-Corynecin II có R: CH3CH2CO-Corynecin III có R: (CH3)2CHCO-
H Tính chất
Là một kháng sinh phổ biến và trước để được sử dụng
để điều trị có hiệu quả bệnh G- và G+ khác nhau Nhưng domột số hiệu ứng phụ không mong muốn nên việc ứng dụngChloramphenicol trong điều trị có xu hướng giảm dần Đồngthời, việc sử dụng và phát hiện dư lượng chất này trong thựcphẩm trở thành một vấn đề nhạy cảm, được quy định chặtchẽ và tiến hành giám sát nghiêm ngặt ở nhiều nước, đặcbiệt là các nước công nghiệp phát triển
Chloramphenicol là chất độc màu trắng hoặc có ánhvàng, không mùi, vị rất đắng, ít tan trong nước, tan nhiều
Trang 10trong cồn và chất béo, dung dịch chloramphenicol bền vữngtrong môi trường axit hay trung tính, bền vững nhiệt, chịunhiệt độ đến 100OC.
- Tác hại khi sử dụng Chloramphenicol
Khi sử dụng trong chăn nuôi, một phần kháng sinhchưa đào thải sẽ tồn dư sang sản phẩm thực phẩm gây nguyhại đến cơ thể con người và một lượng đáng kể trong thức ănthừa sẽ thoát ra và lắng đọng trong môi trường, theo thờigian có thể dẫn tới các biến dổi về hệ sinh thái Gây ô nhiễmmôi trường, làm cho vật nuôi và cả con người kháng lại thuốckhi sử dụng thực phẩm có nhiễm thuốc, làm cho các vi khuẩngây bệnh nhờn thuốc và như vậy khi cơ thể con người hay vậtnuôi bị nhiễm loại vi khuẩn đã nhờn thuốc thì sẽ không cóthuốc chữa trị
Chloramphenicol khi đi vào cơ thể trẻ sơ sinh gây ra hộichứng “xanh tím xám” đặc biệt là trẻ sinh non Trẻ bị xanh táidần rồi trụy tim mạch và tử vong Chloramphenicol còn gâyngộ độc cho tủy xương nếu dùng kéo dài Ngoài ra,chloramphenicol còn có thể gây suy tủy, thiếu máu không hồiphục
Bị nhiễm kháng sinh thuộc nhóm chloramphenicol cóthể làm giảm bạch cầu, vàng da
Chloramphenicol không chỉ tiêu diệt vi khuẩn gây bệnhđường ruột và còn diệt luôn vi khuẩn có lợi cho ruột gây tiêuchảy dẫn đến thiếu nước nghiêm trọng và làm xuất hiện cácbệnh thiếu vitamin
Phơi nhiễm chất độc hại trong lương thực, các mặthàng thủy sản nuôi trồng (tôm, lươn, cá Basa ) như
Trang 11chloramphenicol, nitrofuran, vào cơ thể con người sẽ gây tổnhại nghiêm trọng đến hệ miễn nhiễm, làm mất khả năngkháng thuốc khi tích tụ lâu ngày và có khả năng gây độtbiến, rối loạn nội tiết.
Trang 12b. Phân tích dư lượng chloramphenicol trong thủy sản bằng kit ELISA thông qua phân tích khẳng định bằng LC – MS/MS.
Giới thiệu
Các phương pháp phân tích có sử dụng sắc kí có ghépkhối phổ như GC – MS, GC – MS/MS, LC – MS, LC – MS/MS đềuđáp ứng được yêu cầu và được các cơ quan có thẩm quyềncủa các nước nhập khẩu chấp nhận Tuy nhiên những phươngpháp này đòi hỏi chi phí cao về thiết bị, chi phí vận hành, kĩnăng và trình độ của kiểm nghiệm viên Do vậy nó không phùhợp với những phòng thí nghiệm quy mô nhỏ hay nhữngphòng kiểm nghiệm của địa phương Và từ những yêu cầu đó,
có một cách tiếp cận mới về phương pháp phân tích dựa trênphản ứng giữa kháng nguyên – kháng thể (Enzyme – LinkedImmunosorbent Assay (ELISA)) đã trở thành công cụ hữu hiệuđược cơ quan thẩm quyền chấp nhận và cho phép sử dụngvới mục đích sàng lọc Liên minh châu Âu (EU) cho phép sửdụng ELISA trong phân tích dư lượng các hóa chất kháng sinhcấm
Đối tượng
Cá loại thủy sản như: cá, tôm, cua, ghẹ, nhuyển thể,thủy sản tẩm bột, thủy sản khô, chả giò, há cảo, mắm hảisản các loại
Phương pháp phân tích
Tóm tắt quy trình thử nghiệm ELISA
- Kit thử ELISA: Kit thử của hãng R – Biopharm và TAPB
Trang 13- Quy trình chuẩn bị mẫu: Dư lượng chloramphenicol trong 3gmẫu được trích ly bằng 6ml ethyl acetate Dịch chiết được côđến khô ở 50oC dưới dòng N Cặn khô được hòa tan trong 1mlđệm và làm sạch bằng 1ml hexan Lượng chloramphenicoltrong dịch chiết được phân tích với kit thử ELISA.
- Quy trình thử nghiệm với ELISA: quy trình xác định hàmlượng chloramphenicol trong dịch chiết trên ELISA tuân thủtheo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất
- Giới hạn phát hiện: 0,1 ppb
Phân tích khẳng định bằng LC – MS/MS
- Trong 13418 mẫu thủy sản đã qua phân tích sàng lọc bằngELISA thì có 167 mẫu là dương tính giả, chiếm 1,3% so vớicác mẫu Điều này cho thấy ELISA là một công cụ hiệu quảcho việc sàng lọc các mẫu thủy sản đối với chỉ tiêuChloramphenicol
- Tỷ lệ dương tính giả trên ELISA
Bảng tổng hợp kết quả phân tích sàng lọc CAP trên ELISA và khẳng định trên LC – MS/MS
Trong tổng số 13418 mẫu thủy sản các loại đã qua phântích sàng lọc bằng ELISA thì có 167 mẫu dương tính giả,
Trang 14chiếm 1,3% tổng số mẫu đã phân tích Điều này cho thấy,ELISA là một công cụ hữu hiệu cho việc sàng lọc các mẫuthủy sản đối với chỉ tiêu CAP
Tỷ lệ dương tính giả đối với nhóm sản phẩm thủy sảntẩm bột, chả giò – há cảo khá cao (12,2% và 13,8%) so vớicác đối tượng mẫu thủy sản cùng loại ở dạng chưa phối chế(tôm, cá, mực, ghẹ) (<1,5%) Điều này cho thấy lượng tinhbột có trong mẫu phân tích có ảnh hưởng đáng kể đến độchính xác của xét nghiệm ELISA Hiện tượng dương tính giả là
do phản ứng không đặc hiệu của kháng thể với các chất nềntrong dịch chiểt Trường hợp này cho thấy lượng tinh bột cótrong mẫu là tác nhân chính dẫn đến phản ứng không đặchiệu và gây ra dương tính giả
Trang 15Bảng tương quan giữa nồng độ CAP xác định bằng ELISA
và tỷ lệ dương tính giảVới hàm lượng CAP có giá trị từ 0.3 ppb trởi lên (tương đươngmức qui định của EU), thì tỷ lệ dương tính giả giảm mạnh,đặc biệt thủy sản tẩm bột (từ 18,2% còn 1,36%) và không códương tính giả đối với nhuyễn thể
Trang 16Với những kết quả nêu trên cs thể đưa ra nhận định rằng hiệntượng phát hiện dương tính giả trên xét nghiệm ELISA là phổbiến đối với tất cả các loại mẫu thủy sản Tuy nhiên mức độảnh hưởng của nền mẫu tới kết quả của phép thử ELISA làkhác nhau giữa các loại thủy sản khác nhau Ảnh hưởng củanềm mẫy đối với đối tượng thủy sản khô, các loại thực phẩmdạng tẩm bột, phối chế là rất đáng kể Tuy nhiêm ở hàmlượng phát hiện > 0,3ppb tỷ lệ này là chấp nhận được cho tất
cả các loại nền mẫu khác nhau
c. Phương pháp kiểm định nhanh Chloramphenicol
Nguyên lý
Nguyên tắc của xét nghiệm này là phản ứng khángnguyên- kháng thể Xét nghiệm nhanh bằng một bước duynhất là một xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh, trong đó chất
dò bao gồm những mảnh vàng keo được tráng phủ bởi cáckháng thể kháng Chloramphenicol tinh khiết ái lực Chất pháthiện là một phức hợp Chloramphenicol-protein được đính trênmàng của dụng cụ xét nghiệm Trong quá trình xét nghiệm,mẫu rddi qua màng này, càng có nhiều chất phân tích trongmẫu thử , chúng sẽ càng cạnh tranh hơn với Chloramphenicolđính trên màng để gắn kết với các kháng thể của chất dò( có
số lượng hạn) Chloramphenicolneeus tồn tại trong mẫu thửvới hàm lượng trên 0,1 ppb sẽ ngăn chặn sự gắn kết của chất
dò với Chloramphenicol đính trên màng, cho kết quả dươngtính
Trang 17Ưu điểm
- Sử dụng đơn giản, tiết kiệm thời gian
- Không cần trang bị thiết kế đặc biệt, chỉ cần đọc kỹ hướngdẫn sử dụng trước khi thực hiện
- Rẻ tiền, không cần thiết bị đắt tiền
- Có thể thực hiện tại điểm thu mua, than tra
- Kết quả dễ xem và đánh giá
- Phát hiện chính xác đến ngưỡng của các thiết bị thông dụng hiện nay
- Mẫu thử nên để nơi mát, tránh ánh sáng trực tiếp
- Làm đồng nhất và lấy một lượng hợp lý mẫu thử
- Cân 5 gam mẫu tử và bỏ vào ống ly tâm 50 ml, thêm 10mlethyl acetate và lắc trong 5-10 phút
- Ly tâm 5-10 phút/4000rpm/ nhiệt độ phòng
- Lấy 7ml ethyl acetate phía trên cho vào bình cô quay và làmbay hơi ethyi acetate ở 50°C bằng khí Nitơ
Trang 18- Hòa tan chất cặn trong 0,3 ml dung dịch PBST, thêm 0,3 mldung dịch n-hexan và trộn đều trong 1 phút.
- Chuyển dung dịch này vào một ống nghiệm và dùng ít nhất100µl lớp dung dịch phía dưới để đưa vào xét nghiệm
- Chờ cho đến khi những vạch màu đỏ hiện lên, nên đọc kếtquả trong vòng 3-5 phút Cần chú ý rằng màng thử củadụng cụ phải hoàn toàn sạch trước khi đọc kết quả
Đọc kết quả
Trang 19Âm tính.
Vạch thử (T) bằng hoặc đậm màu hơn vạch chuẩn (C), kết quả này cho biết hàm lượng Chloramphenicol trong mẫu thử dưới 0,01 ppb
Dương tính.
Vạch thử (T) nhạt hơn vạch chuẩn (C) hoặc không thấy vạch thử, kết quả này cho biết rằng hàm lượng Chloramphenicol trong mẫu thử trên 0,1 ppb
Kết quả sai khi vạch chuẩn không xuất hiện
Trang 20Kết quả có thể do lượng mẫu thử khôn đủ hoặc quy trình kỹ thuật thực hiện sai, xem lại quy trình và làm lại xét nghiệm với một
dụng cụ mới Nếu vẫn gặp trục trặc, ngừng ngay việc sử dụng dụng cụ thử
Phần IV Tổng kết
Thủy sản là sản phẩm chủ lực, mang lại hiệu quả kinh tế caocho nhà nước, tuy nhiên việc gian lận vẫn còn nhiều Do đó,cần kiểm định chặt chẽ để bảo đảm quyền lợi cho người tiêudùng cũng như cho thị trường xuất khẩu
Có rất nhiều phương pháp xác định lượng dư kháng sinhtrong thủy sản, trong đó 2 phương pháp ELISA và dụng cụtest nhanh là có hiệu quả và độ chính xác cao nhất
Trang 21Tài liệu tham khảo
1, Tiếp cận vấn đề phát hiện tồn dư kháng sinh trong các tp
có nguồn gốc động vật (PHẠM KIM ĐĂNG - Khoa Chăn nuôi
và Nuôi trồng thuỷ sản – Học Viện Nông nghiệp Việt Nam)
2, Kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, sự tồn dư
và tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh (PGS.TS DươngThanh Liêm - Bộ môn Dinh dưỡng Khoa Chăn nuôi – Thú yTrường Đại học Nông Lâm)
3, Website Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
http://vasep.com.vn/
4, Cổng thông tin điện tử bộ Nông nghiệp và phát triển nôngthôn
http://wcag.mard.gov.vn/pages/home.aspx