Nghiên cứu nhằm đánh giá về kiến thứcthực hành bệnh lao của tuyến y tế cơ sở trên địa bàn tỉnh nghệ an năm 2016, việc đánh giá góp phần có định hướng cụ thể trong việc tập huấn và chỉ đạo tuyến từng bước nâng cao chất lượng công tác phòng chống lao trên địa bàn tỉnh
Trang 1ĐẶT VẤN ĐÊ
Bệnh lao đã được phát hiện từ trước công nguyên và trước đây đã được xem
là một bệnh không chữa được, đây được coi là một trong “tứ chứng nan y" Đến
nửa sau của thế kỷ XX nhờ sự phát hiện những thuốc chữa lao đặc hiệu, bệnh lao
đã có thể được chữa khỏi hoàn toàn, Điều này đã làm cho dịch tễ bệnh lao thay đổi,song cũng chính vì thế nhiều Quốc gia đã không quan tâm đúng mức đến căn bệnhnguy hiểm này, Sự lãng quên và chủ quan đó, cùng với đại dịch HIV/AIDS đã làmcho bệnh lao quay trở lại ngay cả ở các nước phát triển mà trước đây tưởng đãkhống chế được, Bệnh lao tại các nước đang phát triển vốn là bệnh nhiễm khuẩnphổ biến nay lại càng khó khăn trong việc khống chế,
Bệnh lao ngày nay đã trở thành nỗi lo của nhiều quốc gia, Năm 2003TCYTTG (WHO) đã báo động sự quay trở lại của bệnh lao và tuyên bố phòngchống bệnh lao là một khẩn cấp toàn cầu,
Theo số liệu của (WHO) khoảng 1/3 dân số thế giới bị nhiễm lao, mỗi năm cókhoảng 8-10 triệu người mắc lao mới và 3 triệu người chết vì lao Bệnh lao hiện làmột trong những bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng nhất trên thế giới và là bệnhnhiễm khuẩn làm chết nhiều người nhất so với các bệnh nhiễm khuẩn khác, chiếm25% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân
Việt Nam có khoảng 46% dân số đã nhiễm lao Theo ước tính của Bệnh việnPhổi Trung ương với nguy cơ nhiễm lao hàng năm là 1,7% (Tương đương với 76AFB(+)/100.000 dân) Là nước đứng thứ 12 trong 22 nước có tỷ lệ mắc lao caonhất thế giới và là nước đứng thứ ba sau Trung Quốc và Philippin ở vùng Tây TháiBình Dương là khu vực có độ lưu hành lao cao trên thế giới, Công tác phát hiệnbệnh nhân lao trong chương trình chống lao (CTCL) Việt Nam dựa trên phươngpháp phát hiện thụ động Bệnh nhân khi có triệu chứng nghi lao tự đi khám pháthiện bệnh tại các cơ sở y tế Sự thiếu hiểu biết về bệnh lao là những cản trở đối vớiviệc chẩn đoán, phát hiện bệnh lao
Chương trình phòng chống Lao tỉnh Nghệ An, trong những năm qua đã đạtđược những kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên số bệnh nhân lao đang tiềm ẩn trongcộng đồng vẫn còn nhiều Công tác phát hiện bệnh nhân lao cũng chủ yếu dựa vàophương pháp phát hiện thụ động và thực hiện điều trị theo chiến lược DOTS
Trang 2Qua kết quả báo cáo tổng kết và kiểm tra giám sát năm 2015 cho thấy:
Về dịch tễ bệnh lao, theo thống kê hằng năm Nghệ An phát hiện khoảng 2600
- 2800 ca lao các thể, tỷ lệ bệnh nhân lao được phát hiện 90 ca/100.000 dân (toànquốc 110/100,000 dân) Bệnh nhân lao phổi AFB(+) 35 ca/100.000 dân, (toànquốc 54/100,000 dân) công tác phát hiện, quản lý và điều trị bệnh lao còn thấp sovới toàn quốc.Việc tuân thủ các quy trình điều trị của của người bệnh, người nhàbệnh nhân còn yếu.Nhận thức về bệnh lao và biện pháp phòng chống của ngườibệnh và cộng đồng còn nhiều hạn chế, năng lực quản lý chương trình tại một sốnơi chưa đạt yêu cầu
Tính đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu sâu nào về thực trạng, kiếnthức, thái độ, thực hành của cán bộ làm công tác phòng chống lao trên địa bàn tỉnh
Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng kiến thức, thái
độ, thực hành của cán bộ y tế làm công tác phòng chống lao và một số yếu tố liên quan tại tỉnh Nghệ An năm 2016 ”
Nghiên cứu nhằm 2 mục tiêu sau :
1 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ y tế làm công tácphòng chống lao trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2016
2 Xác định một số yếu tố liên quan kiến thức, thái độ, thực hành của cán
bộ y tế làm công tác phòng chống lao tại tỉnh Nghệ An năm 2016
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về bệnh lao
1.1.1 Khái niệm bệnh lao
Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao gây nên, Vi khuẩn laoxâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải những hạt nhỏtrong không khí có chứa vi khuẩn lao Từ những tổn thương ban đầu vi khuẩnlao qua đường máu, bạch huyết, đường phế quản hoặc đường tiếp cận có thểđến để gây bệnh ở nhiều cơ quan khác trong cơ thể, Lao phổi là thể bệnh phổbiến nhất chiếm khoảng 80-85% các thể bệnh lao và cũng là nguồn lây bệnhchủ yếu trong cộng đồng,
1.1.2 Vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao do Robert Koch tìm ra năm 1882 Ở điều kiện tự nhiên, vikhuẩn có thể tồn tại 3-4 tháng ngoài môi trường Trong phòng thí nghiệmngười ta có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm, dưới ánh sáng mặt trời, vikhuẩn bị chết sau 1,5 giờ Khi chiếu tia cực tím chúng chỉ tồn tại được 2-3phút, Ở 420C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 800C Đờm củabệnh nhân lao trong phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữđược độc lực, Nhưng khi đun đờm trong 5 phút chúng đã bị chết; với cồn
900C vi khuẩn tồn tại được 3 phút, trong acid phenic5% vi khuẩn chết sau 1phút
1.1.3 Phản ứng Mantoux
Kỹ thuật tiêm trong da do tác giả Mantoux đề xướng vào năm 1908, Kỹthuật này đã được sử dụng gần 1 thế kỷ qua ở hầu hết các nước trên thế giới,Phản ứng Mantoux dương tính chỉ có ý nghĩa xác định là người bệnh đã bịnhiễm lao, Tuy nhiên có một số trường hợp đã bị nhiễm lao nhưng phản ứngvẫn âm tính là do cơ thể quá suy kiệt, đang bị các bệnh do vi rút (sởi, hogà,,,), đang dùng Corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch khác,
1.1.4 Vaccin BCG
BCG là một vaccine chứa các vi trùng lao sống, giảm độc lực (đượcchế từ vi trùng lao bò, được nuôi cấy nhiều năm trong phòng xét nghiệm) doCalmette và Guérin tìm ra từ năm 1921,
Ngày nay vaccin BCG được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ởViệt Nam và đã trở thành biện pháp phòng lao hiệu quả cho trẻ em đặc biệttránh cho trẻ bị mắc các thể lao nặng,BCG có tác dụng tạo miễn dịch 10-15
Trang 4năm, làm giảm tỷ lệ mắc lao 14-30 lần so với trẻ không được tiêm BCG,Đồng thời BCG làm giảm tỷ lệ mắc lao nặng từ 5-7 lần, làm giảm tỷ lệ tửvong do lao xuống 5 lần,
1.1.5 Phát hiện và chẩn đoán bệnh lao
* Các phương pháp và kỹ thuật phát hiện bệnh lao
* Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao
Hiện nay CTCLQG đang song song triển khai nuôi cấy trên môi trườngđặc và nuôi cấy trên môi trường lỏng (MGIT) để rút ngắn thời gian chẩnđoán bệnh lao [5]
* Chụp Xquang phổi:
Là một kỹ thuật có giá trị cao để phát hiện các hình ảnh bất thường củalồng ngực, nhưng để phát hiện bệnh lao, Xquang lại là một phương pháp kémchính xác vì không có hình ảnh Xquang nào đặc hiệu cho bệnh lao Nhiềuhình ảnh tổn thương của các bệnh phổi giống như tổn thương lao và ngược lại[3]
* Các kỹ thuật mới khác để xác định vi khuẩn lao:
PCR, kỹ thuật “dấu vân tay”, Các kỹ thuật này có độ nhạy và độ dặchiệu rất cao, thời gian cho kết quả nhanh, đuợc sử dụng nhiều ở các nước tiêntiến trên Thế giới [3]
Công tác phát hiện và chẩn đoán bệnh lao trong chương trình chống laoquốc gia (CTCLQG) là tập trung phát hiện nguồn lây lao trong cộng đồng, đó
là các thể lao phổi có ho khạc ra vi khuẩn với hiệu quả phát hiện đạt từ 85%trở lên, Do vậy phương thức hoạt động chủ yếu của công tác phát hiện trongcộng đồng là xét nghiệm đờm bằng phương pháp soi trực tiếp tìm vi khuẩnlao cho tất cả bệnh nhân có triệu chứng nghi ngờ [1], Mục đích của soi đờm
Trang 5trực tiếp là chẩn đoán nguồn lây và theo dõi tiến triển của bệnh nhân trongquá trình điều trị.
1.1.6 Các phác đồ điều trị mới hiện nay:
Ban hành theo Quyết định số: 4263 /QĐ-BYT ngày 13 tháng 10 năm
- Chỉ định: cho các trường hợp bệnh lao mới người lớn (chưa điều trịlao bao giờ hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng), Điều trị lao màngtim có thể sử dụng corticosteroid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trongtháng đầu tiên,
4 loại thuốc (HRZE) dùng hàng ngày,
+ Giai đoạn duy trì kéo dài 5 tháng với 3 loại thuốc H, R và E dùnghàng ngày (hoặc dùng cách quãng 3 lần/tuần),
Trang 6- Chỉ định:
+ Cho các trường hợp bệnh lao tái phát, thất bại, điều trị lại sau bỏ trị,tiền sử điều trị khác, không rõ tiền sử điều trị mà không có điều kiện làm xétnghiệm chẩn đoán lao đa kháng nhanh,
+ Cho các trường hợp bệnh lao tái phát, thất bại, điều trị lại sau bỏ trị,tiền sử điều trị khác, không rõ tiền sử điều trị có làm xét nghiệm chẩn đoánlao đa kháng nhanh, nhưng kết quả không kháng đa thuốc,
Trong quá trình điều trị, người bệnh cần được kiểm soát dùng thuốc,đánh giá đáp ứng lâm sàng, Xquang và tác dụng phụ của thuốc, và cần phảiđược xét nghiệm đờm theo dõi:
- Đối với thể lao phổi AFB(+): Cần phải xét nghiệm đờm 3 lần
+ Phác đồ 6 tháng: Xét nghiệm đờm vào cuối tháng thứ 2, 5 và 6
Trang 7- Đối với thể lao phổi AFB(-):Xét nghiệm đờm hai lần ở cuối tháng thứ
2 và 5
* Đánh giá kết quả điều trị đối với lao phổi AFB(+)
Khỏi: Người bệnh điều trị đủ thời gian và có kết quả xét nghiệm đờm
âm tính tháng cuối cùng và ít nhất 1 lần trước đó
Hoàn thành điều trị: Người bệnh điều trị đủ thuốc, đủ thời gian nhưngkhông xét nghiệm đờm hoặc chỉ có xét nghiệm đờm một lần âm tính từ thángthứ 5
Thất bại: Người bệnh xét nghiệm đờm còn AFB(+) hoặc AFB(+) trở lại
từ tháng thứ năm trở đi, hoặc có kết quả xác định chủng vi khuẩn kháng đathuốc bất kỳ thời điểm nào
Bỏ điều trị: Người bệnh bỏ thuốc lao liên tục trên hai tháng trong quátrình điều trị
Chuyển đi: Người bệnh được chuyển đi nơi khác điều trị và có phảnhồi, Nếu không có phản hồi coi như người bệnh bỏ trị
Chết: Người bệnh chết vì bất cứ căn nguyên gì trong quá trình điều trịlao
Không đánh giá: Những người bệnh đã đăng ký điều trị lao nhưng vì lý
do nào đó không tiếp tục điều trị cho đến khi kết thúc phác đồ điều trị (ví dụ:thay đổi chẩn đoán khác)
Đối với người bệnh lao phổi AFB(-) hoặc lao ngoài phổi, kết quả điềutrị sẽ được đánh giá như trên nhưng không có kết quả khỏi
1.1.7 Giám sát, quản lý điều trị lao
* Tầm quan trọng của giám sát, quản lý điều trị bệnh nhân lao.
Trong quản lý điều trị lao nói chung, đặc biệt trong quản lý điều trị lao
6 tháng, giám sát có vai trò quan trọng tác động trực tiếp đến sự thành côngcủa chiến lược DOTS mà trong quản lý điều trị lao 6 tháng phải áp dụng trong
cả liệu trình 6 tháng điều trị
*Giám sát từ tuyến huyện – tuyến xã:
Nội dung giám sát chung: Là những lần giám sát thường kỳ (tháng/quý) của tuyến huyện về các hoạt động CTPCL nhằm:
Trang 8- Đảm bảo công tác chống lao đang được triển khai đúng theo hướng dẫncủa CTPCL quốc gia và kế hoạch của tỉnh.
- Kiểm tra tiến độ triển khai các hoạt động theo kế hoạch
- Cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn thực hiện chương trình
- Xác định các vấn đề và tìm ra biệm pháp khắc phục, giải quyết
- Kiểm chứng và thu thập số liệu
- Ngoài các nội dung như giám sát chung cần đi sâu hơn về giám sát quytrình giám sát quản lý điều trị lao 6 tháng tại tuyến xã
* Giám sát từ tuyến xã – bệnh nhân:
Về nguyên tắc chung, bệnh nhân lao điều trị bằng công thức 6 tháng cóRifampicin trong cả liệu trình cần phải giám sát trực tiếp trong vòng 6 tháng,
Giám sát của tuyến xã đối với bệnh nhân lao điều trị công thức 6 tháng
là khâu quan trọng nhất trong quá trình giám sát để đảm bảo bệnh nhân đượcdùng thuốc đúng, đủ và đều
* Quy trình giám sát quản lý điều trị lao 6 tháng tại tuyến xã:
Bệnh nhân lao sau khi được đăng ký điều trị tại tuyến huyện – chuyển
về xã quản lý điều trị:
Đăng ký vào sổ quản lý điều lao tuyến xã
Tiếp tục thực hiện ghi chép phiếu điều trị có kiểm soát theo quy định
mà tuyến huyện đã lập
Nếu bệnh nhân chuyển về xã điều trị từ giai đoạn tấn công:
Nếu sử dụng công thức có tiêm (S): bệnh nhân lao hàng ngày đến TYT
xã tiêm và sau đó uống thuốc trước mặt nhân viên y tế
Nếu sử dụng công thức không có tiêm (S): cán bộ phụ trách lao xã sẽcấp thuốc cho bệnh nhân 7 ngày/lần, tư vấn cho bệnh nhân cách dùng thuốc
và hẹn đến khám, nhận thuốc tiếp sau 7 ngày, Đồng thời cán bộ y tế xã thôngbáo cho y tế thôn bản phụ trách địa bàn (nơi bệnh nhân sinh sống) giám sátbệnh nhân: quy định giám sát trực tiếp bệnh nhân ít nhất 2 lần/7 ngày, ghichép vào phiếu giám sát điều trị bệnh nhân lao (phát cho y tế thôn bản ghichép sau mỗi lần giám sát trực tiếp bệnh nhân)
Nếu bệnh nhân chuyển về xã điều trị từ giai đoạn duy trì: cán bộ phụtrách lao tuyến xã cấp thuốc cho bệnh nhân 7 ngày/lần, tư vấn cho bệnh nhâncách dùng thuốc và hẹn đến khám, nhận thuốc tiếp sau 7 ngày, Đồng thời cán
bộ y tế xã thông báo cho y tế thôn bản phụ trách địa bàn (nơi bệnh nhân sinhsống) giám sát bệnh nhân: quy định y tế thôn bản giám sát trực tiếp bệnh nhân
Trang 9ít nhất 2 lần/7 ngày, ghi chép vào phiếu giám sát điều trị bệnh nhân lao (phátcho y tế thôn bản ghi chép sau mỗi lần giám sát trực tiếp bệnh nhân).
Tuyến xã nhận thuốc hàng tháng tại huyện và quản lý cấp phát thuốccho các bệnh nhân lao tại xã
Nội dung giám sát bệnh nhân của cán bộ y tế xã trong mỗi đợt cấp thuốc:
Hỏi bệnh nhân về diễn biến của bệnh trong quá trình điều trị, xác địnhtác dụng phụ của thuốc
Yêu cầu bệnh nhân nhắc lại cách sử dụng thuốc để xem bệnh nhân có
sử dụng thuốc đúng không và có những tư vấn phù hợp
Thu lại và kiểm tra vỏ thuốc của đợt cấp thuốc trước – để xác địnhthêm bệnh nhân có sử dụng thuốc đều hay không ?
Điền phiếu điều trị có kiểm soát và ghi chép vào phiếu giám sát điều trịbệnh nhân lao (mỗi lần bệnh nhân đến lĩnh thuốc và được tư vấn được coi như
1 lần giám sát bệnh nhân)
1.2 Tình hình mắc lao trên Thế giới,
Theo báo cáo của TCYTTG năm 2014 mặc dù đã đạt được một sốthành tựu đáng kể trong công tác chống lao thời gian qua, bệnh lao vẫn đangtiếp tục là vấn đề sức khỏe cộng đồng chính trên toàn cầu, TCYTTG ước tínhnăm 2013 trên toàn cầu có khoảng 9 triệu người mắc lao[ 9]; 13% đó có đồngnhiễm HIV, Bệnh lao là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trong cácbệnh nhiễm trùng với khoảng 1,3 triệu người tử vong do lao, trong đó khoảng510,000 phụ nữ chết do lao, Số tử vong này làm cho lao là một trong các bệnh
ở nữ giới Tình hình dịch tễ lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp vàxuất hiện ở hầu hết các quốc gia Năm 2013 trên toàn cầu ước tính tỷ mắc lao
đa kháng thuốc là 3,5% trong số bệnh nhân mới và là 20,5% trong số bệnhnhân điều trị lại [9]
Xu hướng dịch tễ bệnh lao toàn cầu nói chung đang có chiều hướnggiảm với tỷ lệ mới mắc trong khoảng thời gian dài và có tốc độ giảm khoảng2% năm
1.3 Tình hình mắc lao tại Việt Nam:
Theo ước tính của WHO dựa trên nguy cơ nhiễm lao hàng năm làkhoảng 1,7% thì mỗi năm ở Việt Nam có 150,000 người mới mắc bệnh, trong
đó chừng 65,000 người bị lao phổi khạc ra vi khuẩn lao trong đờm, số ngườichết do lao ước chừng 20,000 người một năm, Như vậy số người bệnh lao
Trang 10mới mắc có AFB (+) vào khoảng 76/100,000 dân, tổng số người bệnh laochung các thể 171/100,000 dân [9].
Theo ước tính của (WHO) dựa trên cơ sở chỉ số nguy cơ nhiễm lao hàngnăm của Việt Nam trung bình là khoảng 1,7% và tỷ lệ bệnh nhân lao có vikhuẩn mới mắc hàng năm là khoảng 50/100,000 dân tương đương với 1%nguy cơ nhiễm lao
Các nghiên cứu về bệnh lao và quản lý chương trình lao cũng đã đượcquan tâm ngay từ những ngày đầu thành lập Chương trình chống lao, tuynhiên vì những lý do khách quan và chủ quan mà các nghiên cứu này chưamang tính đại diện toàn quốc
1.4 Một số đặc điểm về công tác phòng chống lao ở tỉnh Nghệ An
* Công tác tổ chức
Mạng lưới phòng chống lao tỉnh Nghệ An, gồm có Bệnh viện Lao vàbệnh Phổi, 21 tổ chống lao tại các Trung tâm y tế huyện và 2 Tổ chống lao tạitrại giam số 3 và số 6
Tuyến tỉnh: Có Bệnh viện Lao và bệnh Phổi ngoài nhiệm vụ quản lý
CTCL tỉnh còn khám phát hiện và thu nhận điều trị lao cho những trường hợpnặng, khi điều trị ổn định, người bệnh được chuyển về Trung tâm Y tế huyện,trạm Y tế xã để quản lý điều trị ngoại trú tại cộng đồng
Tuyến huyện:
Chức năng: Chăm sóc sức khỏe ban đầu, cũng là tuyến đầu tiên, cơ bản
để triển khai chương trình phòng mục tiêu y tế quốc gia trong đó có chươngtrình Phòng chống lao
Phối hợp với các tổ chức, ban ngành, đoàn thể trong huyện: Hội phụ
nữ, hội nông dân, hội chữ thập đỏ, đoàn thanh niên, Phòng giáo dục tuyêntruyền giáo dục sức khỏe, huy động xã hội, xã hội hóa công tác phòng, chốngbệnh lao trên địa bàn huyện
Theo dõi báo cáo số liệu hoạt động theo hướng dẫn của chương trình,
Trang 11Thực hiện quản lý chương trình tại huyện: Lập kế hoạch chi tiết vàtriển khai các hoạt động chống lao; Kiểm tra giám sát tuyến xã, phường vàngười bệnh; Thực hiện ghi chép sổ sách, báo cáo; Đảm bảo việc quản lý, sửdụng thuốc chống lao theo chương trình chống lao trên địa bàn huyện,
Tuyến xã:
Đây là tuyến cơ sở của hệ thống chăm sóc y tế ở tuyến xã, phường có mộtcán bộ chịu trách nhiệm theo dõi các bệnh xã hội bao gồm bệnh lao do đó tuyến
xã có nhiệm vụ sau:
- Xác định người có triệu chứng nghi lao ho khạc đờm kéo dài trên 2 tuần
và chuyển họ tới Tổ chống lao hoặc trung tâm y tế huyện,
- Giám sát việc điều trị ngoại trú có kiểm soát của người bệnh,
- Ghi chép thuốc men vào sổ lĩnh, nhập thuốc
- Đánh dấu, ký tên vào phiếu điều trị có kiểm soát của người bệnh
- Thăm người bệnh tại nhà trong giai đoạn điều trị củng cố
- Giám sát 100% thời gian đối người điều trị phác đồ tái phát
- Giáo dục sức khỏe cho người dân hiểu biết về bệnh lao và các tác nhânảnh hưởng tới bênh
• Công tác phát hiện bệnh nhân lao tại tỉnh Nghệ An từ năm 2011-2015
phổi mới
AFB(-) laongoài phổikhác
Trang 12• Công tác điều trị bệnh nhân lao tại tỉnh Nghệ An từ năm 2014.
2011-Năm Khỏi Hoàn thành Tử vong Thấtbại Bỏ trị Chuyển
- Về dịch tễ bệnh lao, theo thống kê hằng năm Nghệ An phát hiệnkhoảng 2600 – 2800 ca lao các thể, tỷ lệ bệnh nhân lao được phát hiện thấp
90 ca/100.000 dân (toàn quốc 110/100.000 dân), Bệnh nhân lao phổi AFB(+)
35 ca/100.0000 dân, (toàn quốc 54/100.000 dân) công tác phát hiện, quản lý
và điều trị bệnh lao còn thấp so với toàn quốc
Việc tuân thủ các quy trình điều trị của của người bệnh, người nhà bệnhnhân và còn nhiều yếu kém Kiến thức quản lý chương trình phòng chống laocủa của cán bộ tuyến Y tế cơ sở còn nhiều hạn chế
Nhận thức về bệnh lao và biện pháp phòng chống của người bệnh vàcộng đồng còn nhiều hạn chế, việc quản lý bệnh nhân lao trong quá trình điềutrị cũng như tại cộng đồng còn kém, năng lực quản lý chương trình tại một sốnơi chưa đạt yêu cầu
Tính đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu sâu nào về thực trạng,kiến thức, thái độ, thực hành của cán bộ làm công tác phòng chống lao trênđịa bàn toàn tỉnh
Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thựchành của cán bộ làm công tác phòng chống lao và một số yếu tố liên quan tạitỉnh Nghệ An năm 2016” là thực sự cần thiết để đánh giá thực trạng đội ngũcán bộ trực tiếp quản lý và thực hiện chương trình phòng chống Lao tại cơ sở
để từ đó đưa ra những khuyến nghị từng bước nâng cao chất lượng quản lýchương trình trong thời gian tới
Trang 13CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu,
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu.
- Nghiên cứu được tiến hành tại tỉnh Nghệ An
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu,
- Cán bộ y tế làm công tác phòng chống Lao tại tuyến huyện
- Chuyên trách làm chương trình Phòng chống lao của xã, phường
- Sổ sách, báo cáo, biên bản giám sát chương trình PCL lưu lại xã,huyện, thành phố năm 2015
2.1.3 Thời gian nghiên cứu,
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
- Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu:
* Cỡ mẫu
Toàn bộ cán bộ y tế làm công tác phòng chống Lao tuyến xã của cáchuyện được chọn ngẫu nhiên theo vùng miền trên địa bàn Tỉnh Nghệ An, saukhi tiến hành lập danh sách các huyện theo 3 khu vực : Miền núi, Trung du vàđồng bằng Tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên kết quả
- các huyện khu vực miền núi được lựa chọn vào nghiên cứu : Kỳ Sơn,Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp, Thanh Chương
- Khu vực trung du được lựa chọn vào nghiên cứu : Yên Thành, ĐôLương, Nam Đàn
- Khu vực đồng bằng : Diễn Châu, Quỳnh Lưu
Tổng số xã của các huyện được chọn vào nghiên cứu : 303 xã , tổng sốphiếu thu thập 313 có 10 phiếu của 10 cán bộ chuyên trách tuyến huyện, theotiêu chuẩn loại trừ một số cán bộ chuyên trách mới tiếp nhận vị trí công tác nên
có 10 phiếu không đáp ứng tiêu chuẩn, cỡ mẫu của nghiên cứu : N = 303
* Kỹ thuật chọn mẫu
- Phương pháp thiết kế mẫu: chọn mẫu chùm , lập danh sách tất cả cáchuyện trên địa bàn tỉnh , phân làm 3 khu vực các huyện miền núi , trung du vàđồng bằng, đánh số các huyện dùng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên lấy 1nữa số huyện ở từng khu vực vào nghiên cứu, trong huyện thì chọn toàn bộcán bộ y tế huyện , xã làm công tác phòng chống Lao
Trang 14- Phương pháp loại trừ: Các đối tượng hoạt động chưa đủ 6 tháng, vắngmặt, ốm điều trị dài ngày.
2.3 Phương pháp thu thập số liệu:
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi đã đượcthiết kế sẵn
- Báo cáo chương trình phòng chống lao
- Sổ quản lý chương trình phòng chống lao
- Sổ xuất nhập thuốc
- Biên bản giám sát tuyến huyện, thành phố, xã
- Phiếu giám sát bệnh nhân dùng thuốc
không được sử dụng hoặc nhập chung bộ số liệu nghiên cứu.
Phương pháp làm sạch số liệu:
+ Giám sát 10% số phiếu phỏng vấn, giám sát 10% số liệu đã nhập+ Sử sụng phần mên SPSS, lệnh Frequency để kiểm tra tính logic giữacác biến
2.5 Biến số - định nghĩa biến: Xem phụ lục.
2.6 Sai số và cách khống chế:
Để hạn chế sai số chúng tôi tiến hành nghiên cứu thăm dò kiểm tra chấtlượng thông tin và bộ câu hỏi tại Bệnh viện trước khi tiến hành điều tra thuthập số liệu Bên cạnh đó hướng dẫn kỹ càng cho điều tra viên tham gia để có
thể khai thác đúng thông tin theo mục tiêu của đề tài.
2.7 Vấn đề đạo đức nghiên cứu đề tài:
Đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt bởi hội đồng khoa học Bệnhviện Lao và bệnh Phổi,
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được điều tra viên giải thích cụ thể vềmục đích, nội dung nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quátrình nghiên cứu đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên cứu,
Trang 15Các thông tin thu được đảm bảo giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục tiêunghiên cứu, Trên cơ sở kết quả thu được xây dựng kế hoạch can thiệp nângcao chất lượng đội ngũ công tác phòn chống lao trên toàn tỉnh,
Mọi thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu màkhông phục vụ cho các mục đích khác, các thông tin về đối tượng nghiên cứu
sẽ được giữ bí mật
2.8 Hạn chế của nghiên cứu
Đây chỉ là nghiên cứu bước đầu, tạo tiền đề cho những nghiên cứu sâuhơn, Số lượng mẫu ít nên tính đại diện chưa cao, và không thể phân tích sâuhơn các yếu tố liên quan Do điều kiện thời gian, kinh phí có hạn nên nhómnghiên cứu chưa thể tiến hành trên toàn bộ cán bộ các cán bộ có liên quan đếncôn tác phòng, chống bệnh lao Việc thực hiện phỏng vấn trực tiếp trên cácvùng địa bàn vùng núi gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào các buổi giaoban tuyến huyện với chuyên trách xã, và các buổi giám sát tập huấn
Trang 16CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ( n = 303)
Bảng 1: Đặc điểm của đối tương nghiên cứu:
Nhận xét: Có sự cân bằng giữa giới tính nam và nữ tham gia vào công tác phòng
chống Lao, về độ tuổi tham gia phần lớn là độ tuổi từ 26- 40 tuổi chiếm 71, 6%
Về trình độ chuyên môn của cán bộ ở các tuyến có 15,2 % là Bác Sỹ, 42,2 % là Y
sỹ và 34 % là cán bộ điều dưỡng viên, 2% là cán bộ thuộc đối tượng khác như nữ
hộ sinh, dược sỹ Về thâm niên công tác thấp nhất là dưới 1 năm công tác chiếm15,2 %, số cán bộ có thâm niên công tác từ 1- 5 năm và trên 5 năm chiếm tỉ lệngang nhau là 42,2 % và 42,6 %.Về tập huấn chuyên môn có 75,6 % cán bộ đãđược tập huấn chuyên môn, có 25,4 % cán bộ không được tập huấn chuyên môntrong vòng 2 năm qua Thành phần dân tộc cán bộ tham gia chủ yếu dân tộc kinhchiểm khoảng 80,9 % Về các khu vực được đưa vào nghiên cứu số xã thuộc khu
Trang 17vực miền núi chiếm 40,6 %, khu vực trung du là 29,4 % và đồng bằng là 30%, ởmức tương đối cân bằng.
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao.
Bảng 2: Tỷ lệ cán bộ y tế cơ sở trả lời về triệu chứng nghi lao:
Nhận xét: Nhìn chung trên 80 % cán bộ được hỏi có câu trả lời là có đối với từng
triệu chứng đặc trưng của bệnh Lao, triệu chứng ho, khạc đờm kéo dài > 2 tuần có98,7 % cán bộ được hỏi trả lời là có, sốt về chiều có 93,4 %, triệu chứng gầy sụtcân, chán ăn là 90,8 %
Biểu đồ 3.2.1 Mô tả tỷ lệ cán bộ y tế trả lời về các triệu chứng nghi lao
Bảng 3: Kiến thức về xét nghiệm đờm chẩn đoán và theo dõi
Trang 18Nhận xét: - Tỉ lệ cán bộ trả lời số mẫu đờm cần lấy là 2 mẫu chiếm 79,5 %, số cán
bộ trả lời trên 2 mẫu chiếm 13,9 % và 1 mẫu là 6,6 %, Số lượng đờm đúng là 2ml/mẫu có 82,8 % trả lời đúng
- Quy trình hướng dẫn bệnh nhân lấy mẫu đờm : chỉ 41,6 % cán bộ trả lời đạt vềquy trình này, có 58,4% không đạt về quy trình hướng dẫn bệnh nhân lấy mẫuđờm
- Thời điểm lấy mẫu đờm khi có bệnh nhân đến khám có 64,7% cán bộ trả lời đúng
và 35,3% chưa đúng
- Về thời điểm xét nghiệm đờm theo dõi với bệnh nhân Lao phổi AFB(+) có 44,6
% đạt về kiến thức này và có 55,4% không đạt về các thời điểm cần lấy mẫu đờmxét nghiệm
Bảng 4: Kiến thức về yếu tố nguy cơ mắc lao và cách phòng bệnh lao
Trang 19Trẻ suy dinh dưỡng tiếp xúc
Người bệnh nghiện ma túy,
Cách phòng bệnh lao
Phát hiện sớm và chữa khỏi
Nhận xét: Trong tổng số 303 cán bộ đánh giá có 97% trả lời người nhiễm
HIV/AIDS là yếu tố nguy cơ mắc lao, có 84,5% trả lời trẻ suy dinh dưỡng tiếp xúcnguôn lây là yếu tố nguy cơ mắc lao Các yếu tố khác người mắc bệnh mãn tính vàngười nghiện ma túy, rượu, bia thuốc lá ở mức thấp hơn là 62 % và 68,6 % Vềcách phòng bệnh lao, tiêm vacxin BCG có 98,3% cán bộ trả lời có, cách ly hoàntoàn người bệnh 65,7% cán bộ trả lời có, 34,3% cán bộ trả lời là không Có 81,2 %cán bộ trả lời điều trị dự phòng INH là cách phòng bệnh lao và có 18,8% trả lời làkhông , với biện pháp phát hiện sớm và chữa khỏi người bệnh lao có 80,5% cán bộtrả lời có, tỷ lệ này ở biện pháp sử dụng phương tiện bảo hộ là 74,9 %
Bảng 5: Kiến thức về các nguyên tắc điều trị lao
Nguyên tắc điều trị bệnh lao
n= 303
Điều trị sớm để cắt đứt nguồn lây 273 90,1 30 9,9
Phối hợp các loại thuốc chống lao 256 84,5 47 15,5
Điều trị đủ thời gian 2 giai đoạn: tấn
Nhận xét : Trong tổng số 303 cán bộ được hỏi về nguyên tắc điều trị lao, tỷ lệ cán
bộ nắm được các nguyên tắc điều trị ở mức cao, nguyên tắc điều trị sớm để cắt đứtnguồn lây 90,1 % trả lời có, phối hợp các loại thuốc chống lao là 84,5 % , vềnguyên tắc dùng thuốc đúng liều, đều đặn có 94,1 % cán bộ trả lời có với nguyêntắc này, nguyên tắc điều trị đủ thời gian 2 giai đoạn : tấn công, duy trì có 93,1%cán bộ trả lời có với nguyên tắc này, tỉ lệ cán bộ không biết về các nguyên tắc điềutrị ở mức thấp 1,3%
Trang 20Biểu đồ 3.2.2 Mô tả về kiến thức nguyên tắc điều trị lao của cán bộ y tế.
Bảng 6 Kiến thức về thời gian điều trị lao mới, số loại thuốc hàng 1 và phác đồđiều trị lao hiện nay
Thời gian điều trị 6 tháng lao mới 230 75,9 73 24,1
Đúng phác đồ chỉ định điều trị Lao 181 59,7 122 40,3
Nhận xét: Về thời gian điều trị lao mới trả lời đúng có 75,9%, sai là 24,1 % Về
thuốc lao hàng 1( trả lời đúng có 5 loại ) đúng là 62,4 %, sai là 37,6 % Về các loạiphác đồ chỉ định điều trị Lao hiện nay , đúng 59,7% và sai là 40,3%
Bảng 7 Kiến thức về DOTS của cán bộ y tế
Trang 21Người thực hiện giám sát DOST
Quản lý, điều trị bệnh nhân tại cộng đồng
- Đến gia đình thăm hỏi người
Nhận xét: Nhiệm vụ DOST cần thực hiện, số cán bộ nắm được cả 2 nhiệm vụ
chiếm 70 %, có 30 % không nắm được Người thực hiện giám sát DOST có 45,5
% cán bộ trả lời đủ 2 đối tượng , có 54,6 % trả lời không đủ Về quản lý , điều trịbệnh nhân tại cộng đồng có 77,9 % trả lời đủ tất cả các nhiệm vụ, có 22,1 % khôngnắm được đầy đủ các nhiệm vụ Giám sát DOST có 81,2 % trả lời đúng về giaiđoạn giám sát DOST và có 18,8 % trả lời sai
Bảng 8 Thái độ của CBYTCS đối với thực hiện DOTS
Nhận xét: Khi bệnh nhân Lao bỏ trị có 82,8 % cán bộ được hỏi thực hiện cả 3 biện
pháp trên, có 17,2 % không thực hiện đủ cả 3 biện pháp.Khi bệnh nhân dị ứngthuốc có 59,7 % cho dừng thuốc điều trị, có 40,3% không tư vấn cho bệnh nhândừng thuốc Có 85,5 % tư vấn và chuyển tuyển trên để kiểm tra và 14,5 % cán bộ
Trang 22được điều tra có câu trả lời là không Hướng dẫn bệnh nhân tiếp tục uống thuốc thì
có 8,6 % cán bộ được phỏng vấn tiếp tục hướng dẫn cho bệnh nhân uống thuốc và91,4 % là không
Bảng 9 Thực hành về việc cấp phát thuốc cho bệnh nhân lao của cán bộ y tế
Cấp thuốc giai đoạn duy trì
Nhận xét: Về thực hành có 32,3 % cán bộ trả lời cấp thuốc giai đoạn tấn công
theo hàng tháng , có 25,1 % là không biết, không trực tiếp cấp phát thuốc cấpthuốc hàng tuần 15,5 % và hàng ngày là 27,1 %
Về cấp thuốc giai đoạn duy trì thì có 24,1 % cán bộ không trực tiếp, không biếtthời gian cấp phát thuốc ở giai đoạn này, có 64,7% cấp thuốc hàng tháng và 11,2cấp thuốc hàng tuần giai đoạn duy trì Qua số liệu nhận thấy được hiểu biết về cấpthuốc giai đoạn duy trì và tấn công của cán bộ còn khá hạn chế
Bảng 10 Thông tin về việc hướng dẫn bệnh nhân uống thuốc
Nhận xét: Về thực hành giám sát bệnh nhân có 83,8 % có tần suất giám sát 1
tháng/lần, có 16,1 % giám sát 1 tuần /lần Về thực hành hướng dẫn uống thuốc thì
có 82,8% hướng dẫn bệnh nhân uống thuốc 1 lần vào lúc đói, 10,2% là 1 lần sau
no và 6,9 % không biết về kiến thức này
Bảng 11 Thực hành của cán bộ y tế khi có bệnh nhân nghi lao đến khám