Dưới ánh sáng của chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là sự cố gắng của đội ngũ cán bộ KHCN, hoạt động KHCN đã có những bước chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả nhất định đang phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng. KHCN không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội mà góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Bởi lẽ trong giai đoạn hiện nay khoa học công nghệ là một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia.
Trang 1Đề tài: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phát triểnKH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
A MỞ ĐẦU
Với chiến lược phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát huy mọi nguồn lực có thể, trong đóđặc biệt chú trọng việc phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) Coi đónhư là một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần vào thắng lợicủa sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Thực tế những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại
đã và đang góp phần to lớn thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, nângcao năng suất lao động, làm thay đổi mạnh bộ mặt kinh tế - xã hội của loàingười Đảng ta đã sớm nhận thức được điều này nên ngay từ năm 1981trong Nghị quyết số 37 - NQ/TW của Bộ chính trị về chính sách khoa học
và kỹ thuật, sau đó tiếp tục được khẳng định trong các văn của Đảng: Nghịquyết số số 26 - NQ/TW của Bộ Chính trị: "Về KH&CN trong sự nghiệpđổi mới", ngày 30 tháng 3 năm 1991, Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng địnhKH&CN phải trở thành nền tảng và động lực cho sự nghiệp công nghiệp,hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về định hướngchiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Đại hộiĐảng lần thứ IX nhấn mạnh tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý
để KH&CN thực sự trở thành động lực phát triển đất nước, Nghị quyếtTrung ương 6 (khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2
(khóa VIII) khẳng định KH&CN nước ta đã có những đóng góp thiết thực
cho việc phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội Đảng lần thứ X chú trọng pháttriển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN
Trang 2Dưới ánh sáng của chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhànước ta, đặc biệt là sự cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN, hoạt độngKH&CN đã có những bước chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quảnhất định đang phục vụ trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
an ninh quốc phòng KH&CN không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế
-xã hội mà góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế Bởi lẽtrong giai đoạn hiện nay khoa học công nghệ là một trong những tiêu chí đểđánh giá trình độ phát triển của một quốc gia
Với mụch đích nâng cao nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối
với sự phát triển KH&CN nên tác giả tập trung nghiên cứu đề tài “Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với phát triển KH&CN trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Thông qua đề tài này mong
muốn trình bày những quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về chiến lược pháttriển KH&CN
Trang 3Công nghệ:
_ Công nghệ là tập hợp những hiểu biết (các phương pháp, các quytắc, các kỹ năng) và sự vận dụng những hiểu biết đó hướng vào cải tạo thếgiới khách quan phục vụ cho nhu cầu của con người Công nghệ là hiệnthân của văn minh xã hội và sự phát triển của nhân loại
Lịch sử phát triển KH&CN cho thấy, nhờ hoạt động thực tiễn conngười đã dần tích luỹ được những kinh nghệm nghề nghiệp nhất định, vàviệc tổng kết các kinh nghiệm này đã tạo nên những bộ môn công nghệkhác nhau Việc hệ thống hoá các tri thức tích luỹ được đã dẫn tới sự ra đờicủa khoa học Nhưng trong giai đoạn cách mạng khoa học - kỹ thuật ngàynay, nhờ những phát minh lớn của khoa học, một xu thế mới đã hình thành
là nhiều nghành công nghệ mới như: điện tử và tin học, công nghệ sinhhọc, công nghệ vật liệu, công nghệ vũ trụ, lại là kết quả trực tiếp của việcvận dụng các thành quả của hoạt động nghiên cứu khoa học
Giữa KH&CN có mối quan hệ gắn bó với nhau, bởi những tri thức vềthế giới khách quan là cơ sở để con người cải tạo thế giới phục vụ nhu cầucủa con người
Trang 42 Vị trí, vai trò của KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất
ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) thắng lợi" Chúng ta phải quán triệt quan điểm cơ bản trên để quyết tâm xây
dựng, phát triển nền KH&CN nước ta, bảo đảm cho KH&CN thực hiệnđược vai trò nhận thức và cải tạo thế giới khách quan
Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay KH&CN ngày càng khẳng địnhđược vai trò to lớn trong đời sống xã hội Những thành tựu khoa học đãtrực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, trong sự tự động hóa sản xuất thìtri thức khoa học được kết tinh trong mọi nhân tố của lực lượng sản xuất.Người lao động không còn là nhân tố thao tác trực tiếp trong hệ thống dâytruyền kỹ thuật mà chủ yếu là vận dụng tri thức khoa học để điều khiển,kiểm tra quá trình sản xuất
Vì thế Đảng ta xác định CNH, HĐH đất nước là nhiệm vụ trung tâmcủa thời kỳ quá độ, trong đó phát triển KH&CN là lĩnh vực ưu tiên
3 Đảng lãnh đạo KH&CN là một tất yếu khách quan
Các nhà kinh điển mác - xít đã chỉ ra rằng: Để đánh giá trình độ pháttriển của xã hội loài người không phải thông qua việc con người đã sảnxuất ra cái gì mà sản xuất bằng “phương tiện” gì
“Phương tiện” mà các nhà kinh điển muốn nói đến ở đây chính lànhững công cụ, máy móc, trang thiết bị và tri thức mà con người đã vậndụng vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm Có thể thấy rằng các nhà m, mác - xít đã sớm khẳng định vai trò của KH&CN trong đời sống xã hội.Đối với nước ta KH&CN là nền tảng và động lực đẩy mạnh sự nghiệpCNH, HĐH và phát triển bền vững của đất nước
Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ vai trò then chốt của cách mạng khoahọc và kỹ thuật Mỗi bước tiến của KH&CN và những đóng góp của nó
Trang 5trong đời sống xã hội đều mang đậm dấu ấn vai trò lãnh đạo của Đảng.Nước ta đang trong giai đoạn mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, việc “đi tắtđón đầu” để tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại có ýnghĩa quan trọng Nó giúp cho ta khắc phục được nguy cơ tụt hậu so vớithế giới Để làm được điều đó cần phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo củaĐảng đối với phát triển KH&CN Nhờ có Đảng lãnh đạo mà KH&CN cónhững chiến lược phát triển đúng đắn, đi đúng mục tiêu là phục vụ sựnghiệp CNH, HĐH đất nước, mang lại lợi ích cho các tầng lớp nhân dân.
Chương II: Nội dung quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
I Thực trạng phát triển KH&CN
1 Thành tựu
1.1 Tiềm lực KH&CN đã được tăng cường và phát triển
Với chiến lược phát triển KH&CN, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiềuchủ trương, chính sách ưu tiên tạo điều kiện cho KH&CN phát triển Tiềmlực KH&CN từng bước nâng cao, thúc đẩy việc đưa các tiến bộ KH&CNvào sản xuất và đời sống, góp phần đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủngkhoảng kinh tế - xã hội, tạo những tiền đề vững chắc để bước vào thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH Hiện nay, nước ta có khoảng 2.250.000 người cótrình độ đại học và cao đẳng, trên 18.000 thạc sỹ và 16.000 tiến sỹ (trong
đó có khoảng 610 tiến sỹ khoa học), trên 2 triệu công nhân kỹ thuật Bình
quân có 193 cán bộ khoa học công nghệ trên 10.000 dân Theo Báo cáo Phát triển con người năm 2004 của UNDP, ở Việt Nam có khoảng 50.000
người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ Trong số này có hơn 37.000 người (72% có trình độ đại học trởlên) làm việc trong các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ của Nhà nước
Trang 61.2 KH&CN đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội.Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng lý giải và khẳngđịnh giá trị khoa học và thực tiễn mang tính thời đại của Chủ nghĩa Mác -
Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam,mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN), cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủtrương của Đảng, góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới
Các kết quả của khoa học tự nhiên đã tạo luận cứ cho việc xây dựngcác chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
KH&CN đã gắn bó hơn với sản xuất và đời sống, góp phần quan trọngtrong việc tiếp thu, làm chủ và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từnước ngoài Nhờ đó trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch
vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranhcao hơn Đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp KH&CN đã tạo ra nhiềugiống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần chuyểnđổi cơ cấu kinh tế nông thôn
Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, côngnghệ sinh học, công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạomáy, đã góp phần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực côngnghệ tiên tiến, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngànhkinh tế
KH&CN trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình
độ nguồn nhân lực, đời sống nhân dân được nâng cao, sức khoẻ của nhândân được chăm sóc tốt hơn, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huytruyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc
1.3 Cơ chế quản lý KH&CN từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lý Nhà nước về KH&CN được tổ chức từ Trung ươngđến địa phương đã đẩy mạnh phát triển KH&CN, góp phần thực hiện cácmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương Thực hiện
Trang 7Luật KH&CN (năm 2002), các chương trình, đề tài, dự án KH&CN đã bámsát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Quyền tự chủ của các tổ chức,
cá nhân trong hoạt động KH&CN được tăng cường Hợp tác quốc tế vềhoạt động KH&CN được mở rộng
Việc phân công, phân cấp trong quản lý Nhà nước về KH&CN từngbước được hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ vàtrách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương
1.4 Trình độ nhận thức và ứng dụng KH&CN của nhân dân ngàycàng được nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạtđộng tích cực của các tổ chức KH&CN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư
và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của KH&CN đếnsản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thứcKH&CN của người dân đã tăng lên rõ rệt Hoạt động KH&CN ngày càngđược xã hội hoá trên phạm vi cả nước
Có được những thành tựu trên đây, trước hết là do có đường lối đúngđắn của Đảng, do nhu cầu phát triển kinh tế đòi hỏi đưa tiến bộ KH&CNvào sản xuất, nhờ sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, KH&CN Mặt khác,đội ngũ cán bộ KH&CN đã từng bước trưởng thành và có nhiều cố gắngtrong hoạt động nghiên cứu KH&CN
2 Hạn chế
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chungKH&CN nước ta còn nhiều mặt yếu kém, còn khoảng cách khá xa so vớikhu vực và thế giới, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lựcthúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH
2.1 Năng lực KH&CN còn nhiều yếu kém
Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ có trình độ chuyên môngiỏi, đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ có trình độ cao Cơ cấu nhân lực
Trang 8KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý Đầu tư của xãhội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp.Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rấtthiếu, không đồng bộ, lạc hậu Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứngyêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối vớinhững lĩnh vực KH&CN mũi nhọn.
Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấnchuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượngcòn yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng cácyêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế Thiếu sự liên kết hữu cơ giữanghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh, thiếu sựhợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đạihọc với các doanh nghiệp So với các nước trong khu vực và trên thế giới,nước ta còn có khoảng cách rất lớn về tiềm lực và kết quả hoạt độngKH&CN: tỷ lệ cán bộ nghiên cứu KH&CN so với số dân và mức đầu tưcho nghiên cứu khoa học theo đầu người thấp, các kết quả nghiên cứu -phát triển theo chuẩn mực quốc tế còn rất ít
2.2 Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu.Ngoài những công nghệ tiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành,lĩnh vực như: bưu chính - viễn thông, dầu khí, hàng điện tử tiêu dùng, sảnxuất điện, xi măng, nhìn chung trình độ công nghệ của các ngành sản xuấtnước ta hiện lạc hậu khoảng 2 - 3 thế hệ so với các nước phát triển trongkhu vực Tình trạng này là nguyên nhân hạn chế năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta trong bối cảnh hội nhập.2.3 Cơ chế quản lý KH&CN chậm được đổi mới, vẫn mang nặng tínhhành chính
Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầuvào, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra vàứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ KH&CN chưa
Trang 9thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Công tácđánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu chưa tương xứng với chuẩn mựcquốc tế
Việc quản lý các tổ chức KH&CN chưa phù hợp với đặc thù của thểchế kinh tế thị trường định hướng XHCN Các tổ chức KH&CN chưa cóđược đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc
tế để phát huy tính năng động Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độcông chức không phù hợp với hoạt động KH&CN
Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự do chính kiến, pháthuy khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật.Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN
và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bấthợp lý, không khuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệpKH&CN
Thị trường KH&CN chậm phát triển Hoạt động mua, bán công nghệ
và lưu thông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổchức trung gian, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộhữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ
Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triểnKH&CN chậm được thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật, việc tổ chức,triển khai chỉ đạo thực hiện thiếu triệt để, hiệu quả đem lại chưa cao
Trang 103.2 Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý KH&CN các cấpcòn bộc lộ nhiều yếu kém.
Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức và thóiquen của không ít cán bộ KH&CN và quản lý KH&CN đã tạo ra sức ỳkhông dễ khắc phục trong cơ chế mới, không đáp ứng được yêu cầu về đổimới quản lý KH&CN trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt độngKH&CN mà Nhà nước cần đầu tư phát triển như: các lĩnh vực KH&CNtrọng điểm, ưu tiên nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển, nghiêncứu cơ bản,
Quản lý Nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệptrong hệ thống KH&CN chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tácquản lý các tổ chức KH&CN còn mang nặng tính hành chính
3.3 Đầu tư cho phát triển KH&CN còn hạn hẹp
Đầu tư xây dựng tiềm lực KH&CN trong thời gian dài còn chưa đượcchú trọng đúng mức, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫnđến cơ sở hạ tầng KH&CN lạc hậu, hiệu quả đầu tư thấp
Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao ở cáclĩnh vực KH&CN ưu tiên, đặc biệt là cán bộ KH&CN đầu ngành
3.4 Cơ chế quản lý kinh tế chưa tạo môi trường thuận lợi cho pháttriển KH&CN
Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp củaNhà nước, độc quyền của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinhdoanh, làm cho các doanh nghiệp Nhà nước có tư tưởng ỷ lại, chưa quantâm đến ứng dụng các kết quả nghiên cứu KH&CN và đổi mới công nghệ.Thiếu chính sách hữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với sản xuất - kinhdoanh và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứuKH&CN