TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNGKHOA KINH TẾ QUỐC TẾ TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG “TÌM HIỂU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ, LẠM PHÁT, VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ XUẤT KHẨU RÒNG ĐẾN GIÁ TRỊ GDP BÌNH QUÂN ĐẦU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG
“TÌM HIỂU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ, LẠM PHÁT, VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ XUẤT KHẨU RÒNG ĐẾN GIÁ TRỊ GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI”
Trang 2Hà Nội, ngày tháng năm 2017
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
1 Vấn đề nghiên cứu: 2
2 Lý do chọn đề tài: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 2
4 Lý thuyết về GDP bình quân đầu người trong vĩ mô: 2
5 Lý thuyết đưa biến phụ thuộc và các biến độc lập vào mô hình: 4
5.1 Dân số: 4
5.2 Giá trị xuất, nhập khẩu: 4
5.3 Tỷ lệ lạm phát: 5
5.4 Vốn đầu tư nước ngoài: 6
6 Các nghiên cứu có liên quan: 6
6.1 Tác động của FDI lên GDP: 6
6.2 Tác động của lạm phát tới GDP: 7
6.3 Tác động dân số tới GDP: 8
6.4 Tác động của cán cân thương mại đến GDP: 8
6.5 Tình hình GDP ở Việt Nam hiện nay: 8
CHƯƠNG II: XÂY DỰNG MÔ HÌNH 10
1 Phương Pháp Luận: 10
1.1 Nêu ra các giả thuyết hay giả thiết về mối quan hệ giữa các nền kinh tế: 10 1.2 Định dạng mô hình toán học: 10
Trang 31.3 Định dạng mô hình kinh tế lượng: 10
1.4 Thu thập số liệu: 11
1.5 Ước lượng các tham số của mô hình: 12
1.6 Kiểm định giả thiết: 12
1.7 Dự báo: 12
1.8 Sử dụng mô hình để kiểm tra hoặc đề ra chính sách: 12
2 Mô tả số liệu: 14
2.1 Nguồn số liệu: 14
2.2 Mô tả thống kê số liệu: 14
3 Tương quan giữa các biến: 15
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ SUY DIỄN THỐNG KÊ 17
1 Kết quả hồi quy: 17
2 Kiểm định các hệ số hồi quy: 18
2.1 Khoảng tin cậy: 18
2.2 Kiểm định dựa vào giá trị P_value: 18
2.3 Kiểm định dùng giá trị tới hạn: 19
2.4 Kiểm định sự phù hợp của mô hình: 19
2.5 Kiểm định thu hẹp hồi quy: 19
Kết luận 21
1 Tóm tắt sơ lược: 21
2 Các lệnh sử dụng trong STATA: 21
3 Kết luận: 21
4 Khiếm khuyết của mô hình: 21
5 Giải pháp: 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 24
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và phát triển toàn cầu, Việt Nam đang dần tiến lênquá trình hội nhập trong khu vực và quốc tế Điều này tạo nên sự thuận lợi trongviệc phát triển kinh tế, quan hệ quốc tế, học tập phát triển và lưu thông buôn bánhàng hóa trở nên dễ dàng hơn
Trong vòng 20 năm trở lại đây là những năm đầy biến động về kinh tế,khủng hoảng tài chính toàn cầu đã có ảnh hưởng không hề nhỏ đến tổng giá trị xuấtkhẩu ròng, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư nước ngoài và dân số ở hầu hết các nước trênthế giới trong đó có Việt Nam
Việc nghiên cứu sự tác động của tổng giá trị xuất khẩu ròng, lạm phát, vốnđầu tư nước ngoài và dân số giúp ta biết được sự ảnh hưởng của chúng lên tổng sảnphẩm quốc nội như thế nào Thông qua việc tìm hiểu lý thuyết cũng như những chỉtiêu, hiểu được những đặc điểm tính chất và xu hướng phát triển để từ đó đưa rađịnh hướng, giải pháp tối ưu nhất
Vừa qua, Việt Nam đã thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giaiđoạn 2001-2010 Trong quá trình thực hiện nước ta đã thu được những thành côngcũng như vẫn còn những hạn chế, tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia kinh
tế việc duy trì tăng trưởng GDP của Việt Nam là một trong những thành công lớncủa Chiến lược Hiện nay Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-
2020 đã được trình Đại hội Đảng XI Hy vọng với những bài học rút ra từ Chiếnlược trước, Việt Nam sẽ vững bước đưa nền kinh tế phát triển toàn diện hơn
Xuất phát từ vấn đề này, trong khuôn khổ một tiểu luận, chúng em lựa chọn
nghiên cứu “Mối quan hệ giữa tổng thu nhập quốc nội trên đầu người với tổng
giá trị xuất khẩu ròng, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư nước ngoài và dân số” giai
đoạn 1995-2016 Từ đó đưa ra gợi ý chính sách từ kết quả nghiên cứu Trong quátrình thực hiện tiểu luận, nhóm em đã cố gắng để hoàn thành bài một cách tốt nhấtsong chắc chắn không thể tránh khỏi có những sai sót, kính mong cô góp ý đểchúng em hoàn thiện hơn bản báo cáo này
Chúng em chân thành cám ơn cô!
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Vấn đề nghiên cứu:
Thử nghiệm xây dựng mô hình Kinh tế lượng để phân tích những ảnh hưởng tácđộng của dân số, tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu ròng lên tổngsản phẩm quốc nội GDP bình quân đầu người
2. Lý do chọn đề tài:
GDP bình quân đầu người được xem như là một trong những chỉ số quan trọngnhất để đánh giá tình trạng sức khỏe nền kinh tế của một quốc gia Nó đại diện chotình hình sản xuất, sự tăng trưởng kinh tế, là thước đo thể hiện chất lượng cuộcsống của người dân
Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, hầu hết cácnước đều xác lập cho mình những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Trong đó,sự tăng trưởng kinh tế được coi là tiền đề cần thiết cho phát triển, là mục tiêu đầutiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu sự tiến bộ trong mỗi giaiđoạn của các quốc gia Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong xu thế toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế
GDP bình quân đầu người là một chỉ tiêu có tính cơ sở phản ánh sự tăng trưởngkinh tế, quy mô kinh tế, trình độ phát triển kinh tế bình quân đầu người, cơ cấukinh tế và sự thay đổi mức giá cả của một quốc gia trong đó có Việt Nam Và việcnghiên cứu những yếu tố tác động đến tăng trưởng GDP là cần thiết để có thể từnhững nghiên cứu đó đưa ra chính sách tốt hơn, đảm bảo sự tăng trưởng GDP vàtăng trưởng kinh tế
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng nền kinh tế nước ta trong các năm qua
Các nhân tố tác động đến GDP bình quân đầu người
Mô hình hồi quy của một số tác giả nghiên cứu
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Trang 7 Thời gian từ 1986 đến 2016
Các vấn đề liên quan đến GDP bình quân đầu người, tỷ lệ lạm phát, xuất khẩu ròng, nguồn vốn FDI và thống kê dân số giai đoạn 1995-2016
4. Lý thuyết về GDP bình quân đầu người trong vĩ mô:
Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hayGDP là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ratrong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1năm)
Như vậy GDP đánh giá kết quả của những hoạt động kinh tế xảy ra bên trong lãnhthổ của đất nước Những hoạt động này do công ty, doanh nghiệp của công dânnước đó hay công dân nước ngoài sản xuất tại nước đó, nhưng lại không bao gồmkết quả hoạt động của công dân nước sở tại tiến hành ở nước ngoài
GDP có thể tính là tổng của các khoản tiêu dùng, hoặc tổng của các khoảnchi tiêu, hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế Về lý thuyết, dù theo cách tínhnào cũng cho kết quả tính GDP như nhau Nhưng trong nhiều báo cáo thống kê, lại
có sự chênh lệch nhỏ Đó là vì có sai số trong thống kê
Theo cách tính GDP là tổng tiêu dùng, các nhà kinh tế học đưa ra một côngthức như sau:
GDP = C + I + G + NX
Trong đó:
C là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế
I là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh Đây được coi là tiêudùng của các nhà đầu tư Lưu ý, không bao gồm đầu tư mang tính đầu cơ tíchtrữ vào thị trường chứng khoán và trái phiếu
G là tổng chi tiêu của chính quyền (tiêu dùng của chính quyền) Quan hệ củaphần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khảdụng (có thể đem đi tiêu)
NX là xuất khẩu ròng của nền kinh tế Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nềnkinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sảnxuất) trừ đi nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sảnphẩm và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất)
Trang 8Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (GDP bình quân đầu người)
là một trong những chỉ tiêu thống kê kinh tế tổng hợp quan trọng phản ánh kết quảsản xuất tính bình quân đầu người trong một năm Tổng sản phẩm trong nước bìnhquân đầu người còn là chỉ tiêu được dùng để đánh giá sự phát triển kinh tế theothời gian và so sánh quốc tế
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người 1 năm (Tổng cục Thống kêcông bố theo quy định) được tính bằng cách chia tổng sản phẩm trong nước trongnăm cho dân số trung bình trong năm tương ứng Tổng sản phẩm trong nước bìnhquân đầu người có thể tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ (bằngUSD theo tỷ giá hối đoái thực tế hoặc tỷ giá sức mua tương đương); cũng có thểtính theo giá so sánh để tính tốc độ tăng
GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểmnhất định là giá trị nhận được khi lấy GDP của quốc gia hay lãnh thổ này tại thờiđiểm đó chia cho dân số của nó cũng tại thời điểm đó Theo cách tính đó ta có côngthức sau:
GDP bình quân đầu người (VNĐ/người) = Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (VNĐ) / Tổng dân số trung bình trong cùng năm
5 Lý thuyết đưa biến phụ thuộc và các biến độc lập vào mô hình:
5.1. Dân số:
Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, tác độngqua lại lẫn nhau Là một yếu tố của sản xuất, dân số được xem như chủ thể quyếtđịnh quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng nguồn lao động Là yếu tố của tiêudùng, quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng của dân số quyết định quy mô, cơcấu, phân bố và chất lượng của các ngành nghề, các lĩnh vực hoạt động sản xuất xãhội, chi phối nội dung, tính chất của việc làm trong toàn xã hội “Sản xuất ở đâu,bao nhiêu, cho ai, sản xuất cái gì?” là do quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượngdân số quyết định Qua đó, dân số ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của nền kinhtế
Mặt khác, tăng trưởng kinh tế ổn định, ở mức cao sẽ tạo điều kiện xóa đóigiảm nghèo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt trong thời đại côngnghệ hiện nay Đồng thời với đó, tăng trưởng kinh tế bền vững nâng cao được trình
độ dân trí, thúc đẩy trau dồi kiến thức kinh nghiệm
5.2. Giá trị xuất, nhập khẩu:
Trang 9Chúng ta đang sống trong nền kinh tế mở, tham gia vào nền kinh tế thế giới
và có quan hệ với các nước khác thông qua thương mại và tài chính Chúng ta xuấtkhẩu hàng hóa, dịch vụ được sản xuất rẻ nhất trong nước và nhập khẩu những hànghóa mà các nước khác có lợi thế về chi phí
Hàng xuất khẩu là những hàng hóa được sản xuất trong nước nhưng đượcbán ra cho người tiêu dùng nước ngoài Hàng nhập khẩu là những hàng hóa đượcsản xuất ở nước ngoài nhưng được mua để phục vụ tiêu dung nội địa Hàng xuấtkhẩu làm tăng GDP, hàng nhập khẩu không nằm trong sản lượng nội địa Khoảngchênh lệch giữa xuất, nhập khẩu là xuất khẩu ròng
Các nhà kinh tế tân cổ điển đã chỉ ra mối liên quan giữa mở rộng thương mại
và tăng trưởng kinh tế Họ cho rằng tăng trưởng xuất khẩu là động lực chính củatăng trưởng kinh tế Helpman và Krugman, 1985 thừa nhận rằng tăng trưởng xuấtkhẩu nhanh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc mở rộng quy mô vàchuyên môn hóa sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật Bhagwati, 1988 đã hỗ trợcho các lý thuyết tân cổ điển khi đề xuất lý thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu.Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế kích thích cả bên cung và bên cầu của nền kinh
tế Bhagwati,1988 cũng lưu ý rằng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế và ngược lại, kinh tế tăng trưởng thúc đẩy việc hình thành kỹ năngcũng như tiến bộ công nghệ, cả hai yếu tố trên góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất
và do đó tạo ra lợi thế so sánh cho đất nước Easterly, 2007 lập luận rằng xuất khẩugiúp thâm nhập vào thị trường quốc tế và mở rộng sản xuất quốc tế Ngoài ra xuấtkhẩu làm tăng hiệu quả kinh tế thông qua việc phân bổ nguồn lực được tốt hơn,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
5.3. Tỷ lệ lạm phát:
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản của kinh tế vĩ mô Sựtác động qua lại giữa hai nhân tố này rất phức tạp nhiều khi không tuân theo cácquy luật Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lêntheo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểmmột năm trước đó Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánhgiá cả của hai loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượngkhông thay đổi
Sau khi xem xét nhiều quan điểm lý thuyết của các trường phái khác nhau,
có thể thấy rằng: Mỗi trường phái có một quan điểm riêng, mô hình riêng để chứngminh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng Tuy nhiên, điểm chung trong quanđiểm của các trường phái là mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng không phải
là một chiều mà có sự tác động qua lại Cụ thể: Keynes đã đưa ra mô hình đườngtổng cung và đường tổng cầu (AD - AS) để kết nối lạm phát và tăng trưởng Theo
Trang 10lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăngtrưởng Nghĩa là, muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạmphát nhất định Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyểncùng chiều Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩytăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi.
Các lý thuyết kinh tế cũng đã chỉ ra rằng lạm phát có thể tác động tiêu cựclẫn tích cực lên tăng trưởng kinh tế: Theo Mundell, 1965 và Tobin, 1965, có mốitương quan tỷ lệ thuận giữa lạm phát và tăng trưởng; hai trường phái Keynes vàtrường phái tiền tệ đều cho rằng trong ngắn hạn, chính sách nới lỏng tiền tệ kíchthích tăng trưởng, đồng thời làm gia tăng lạm phát Dựa trên lý thuyết của Keynes,một vài quan điểm kinh tế cho rằng lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăngtrưởng (Mubarik,2005)
Trong khi đó, một số nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, lạm phát có thểtác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định.Thậm chí ngay cả khi lạm phát bằng 0 hoặc thiểu phát cũng sẽ có ảnh hưởng tiêucực lên tăng trưởng kinh tế Fisher, 1993 là người đầu tiên nghiên cứu vấn đề này
đã kết luận, khi lạm phát tăng ở mức độ thấp, mối quan hệ này có thể không tồntại, hoặc mang tính đồng biến, và lạm phát ở mức cao thì mối quan hệ này lànghịch biến Một số nhà nghiên cứu sau này như Sarel, 1996; Gosh và Phillips,1998; Shan và Senhadji, 2001 và một số nhà nghiên cứu khác, bằng các nghiên cứukhác nhau, đã tìm ra một ngưỡng lạm phát, mà tại đó nếu lạm phát vượt ngưỡng sẽ
có tác động tiêu cực (tác động ngược chiều) đến tăng trưởng
Cho đến nay, chưa có một mô hình hay lý thuyết duy nhất đúng nào có thểdiễn đạt mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng Tương quan này phải đượcxem xét cụ thể trong từng điều kiện kinh tế và tại các thời điểm xác định
5.4. Vốn đầu tư nước ngoài:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI ) là một hoạt động kinh doanh quốc tế dựatrên cơ sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, chủ yếu do các phápnhân hoặc thể nhân thực hiện theo những hình thức nhất định trong đó chủ đầu tưtham gia trực tiếp vào quá trình điều hành, quản lý và sử dụng vốn đầu tư
Bên cạnh mở cửa cho thương mại, cũng như nhiều quốc gia đang phát triểnkhác, Việt Nam đã và đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư, trước hết là khungkhổ pháp luật nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Việt Nam đã
ký hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 45 nước và vùnglãnh thổ, trong đó phạm vi điều chỉnh của các hiệp định đều mở rộng hơn so vớinhững qui định hiện hành của Luật Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam Các nỗ lực
Trang 11của Chính phủ Việt Nam đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốnFDI vào Việt Nam Chỉ tính riêng năm 2014, Việt Nam đã thu hút được khoảng 20
tỷ USD Đến nay, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài được công nhận là một bộphận cấu thành của nền kinh tế với đóng góp vào GDP ngày càng tăng, ước đạt14% vào năm 2014 Ngoài ra, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo thêm việclàm, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước
và đóng góp cho Ngân sách Nhà nước Chính vì vậy việc nghiên cứu những tácđộng của FDI đối với tăng trưởng kinh tế là rất cần thiết
6. Các nghiên cứu có liên quan:
6.1. Tác động của FDI lên GDP:
Để nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, cũng như đánhgiá được tác động của nó, phần này trình bày một khung khổ lý thuyết sử dụng môhình tăng trưởng nội sinh[1] Trong mô hình này Y là sản phẩm đầu ra của nềnkinh tế được tạo ra bởi khu vực sản xuất sản phẩm cuối cùng bằng công nghệ sảnxuất tổng quát, sử dụng các yếu tố đầu vào là vốn vật chất K và vốn con ngườiH[2]:
Y(t) = A(t) f(K(t), H(t))
Giả sử tiến bộ công nghệ gọi là A(t), tăng trưởng với tốc độ không đổi a
(hay A(t)=A(0) với A(0) là mức độ công nghệ tại thời điểm gốc), thì với hàm sản
xuất giả định ở trên trình độ công nghệ A sẽ ảnh hưởng tích cực tới cả hai yếu tốđầu vào K(t), H(t) Kết quả của cơ chế này là tiến bộ công nghệ sẽ tác động giántiếp tới sản phẩm đầu ra Y(t) Lúc này Y là tổng sản phẩm quốc nội GDP thể hiệntốc độ tăng trưởng kinh tế qua mô hình sau:
(1) g y = g GDP = [W(F(b,N/ N*)) -1 - r]
Điều quan trọng nhất rút ra từ mô hình là tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữaFDI và tăng trưởng kinh tế Thông qua FDI, không những nhiều hàng hoá vốn mớiđược tạo ra (tăng tài sản vốn vật chất của nền kinh tế) mà chi phí để sản xuất rachúng còn giảm đi, qua đó tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, tốc
độ tăng trưởng còn tỷ lệ nghịch với mức chênh lệch về công nghệ - trong bài nàyđược đo bằng tỷ lệ giữa số hàng hoá vốn mới sản xuất trong nước và hàng hoá vốnsản xuất ở các nước phát triển - giữa nước nhận FDI và các nước phát triển Tácđộng này biểu thị cho hiện tượng “bắt kịp” về tăng trưởng kinh tế của nước nghèohơn so với nước giàu hơn Các tác động trên đây là lý do khiến tất cả các nước đềurất nỗ lực thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là các nước nghèo và
mô hình ở (1) là cơ sở lý thuyết để đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh
tế ở tầm vĩ mô
Trang 12Do đóng góp của FDI tới tăng trưởng đối với các nước đang phát triển là rất có ýnghĩa nên các nhà phân tích cũng hay quan tâm tới việc xác định các yếu tố tácđộng đến thu hút và thực hiện dòng vốn này Vấn đề này sẽ được xem xét cụ thểtrong phần phân tích định lượng nhằm bổ sung cho mục tiêu chính mà đề tài đãđưa ra ban đầu.
6.2. Tác động của lạm phát tới GDP:
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề cơ bản của kinh tế vĩ mô Sựtác động qua lại giữa hai nhân tố này rất phức tạp nhiều khi không tuân theo cácquy luật Keynes: Lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế nếu đạt
ở ngưỡng nào đó Nếu ở dưới mức ngưỡng lạm phát không nhất thiết tác động tiêucực đến tăng trường kinh tế
Fisher 1993 khi lạm phát tăng ở mức độ thấp thì mối quan hệ này không tồntại khi lạm phát tăng quan hệ này là nghịch biến
Một số nhà kinh tế nghiên cứu tìm ra ngưỡng xác định sự tác động: 8% Các nướcđang phát triển 11-12% ( sanhadi), các nước công nghiệp 1-3%
Lạm phát phi mã và siêu lạm phát tác động đến nền kinh tế
Tuy quan điểm về lý thuyết và mô hình minh chứng cho mối quan hệ giữa tăngtrưởng và lạm phát của các trường phái có sự khác nhau, nhưng điểm chung củacác trường phái là mối quan hệ ấy không phải một chiều, mà là sự tác động qua lại;nếu muốn tăng trưởng cao thì phải chấp nhận lạm phát, mối quan hệ này không tồntại mãi và đến một lúc nào đó, nếu lạm phát tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tăngtrưởng; trong dài hạn, khi tăng trưởng đã đạt đến mức tối ưu thì lạm phát không tácđộng đến tăng trưởng nữa mà lúc này lạm phát là hậu quả của việc tăng cung tiềnquá mức vào nền kinh tế
Trung Quốc sau 26 năm tăng trưởng liên tục với tốc độ cao (hiện giữ kỷ lục
về thời gian tăng trưởng liên tục mà trước đó Hàn Quốc đã giữ với 23 năm), cũng
đã muốn hạ bớt tốc độ tăng trưởng nóng và kiềm chế lạm phát, bằng việc giảm đầu
tư sau mấy năm ở mức cao nhất thế giới (trên 44% so với GDP)…
6.3. Tác động dân số tới GDP:
Tăng trưởng dân số cỏ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia Tỉ lệ thu nhập gia tăng, tổng thu nhập quốc dân tính theo đầungười là một trong những chỉ tiêu đánh giá chất lượng dân cư trong chương trìnhđánh giá chỉ số phát triển con người cùa Liên hợp quốc Gia tăng dân số và tăngtrưởng kinh tế có mối quan hệ với nhau, thể hiện qua công thức: Tỉ lệ gia tăng
Trang 13GDP/người = tỉ lệ gia tăng GDP - tỉ lệ gia tăng dân số Như vậy, để tăng trườngkinh tế và nâng cao chất lượng dân cư thì nhất thiết tỉ lệ gia tăng tổng sản phẩmquốc dân phải lớn hơn tỉ lệ gia tăng dân sổ hoặc là phải hạ thấp hơn tỉ lệ gia tăngdân số trong điều kiện tổng thu nhập quốc dân không tăng lên Thực tế cho thấy,các nước đang phát triền có mức thu nhập bình quân đầu người thấp thường có tỉ lệgia tăng dân số cao hơn các nước phát triển có thu nhập bình quân đầu người cao.Như vậy, gia tăng dân số nhanh ở các nước đang phát triển đã ảnh hưởng lớn đếntăng trưởng kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng dân cư.
6.4. Tác động của cán cân thương mại đến GDP:
Trạng thái của cán cân thương mại có tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế, ví
dụ nếu thặng dư sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việclàm mới, tăng tích lũy quốc gia dưới dạng dự trữ ngoại hối, tạo uy tín và tiền đề đểđồng nội tệ tự do chuyển đổi
CCTM thâm hụt kéo dài nhiều năm, đồng nghĩa với việc phải cắt bớt nhập khẩunhư là một phần của những biện pháp tài chính và tiền tệ khắc khổ Kết quả là làmgiảm tăng trường kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng tình trạng thất nghiệp.Tuy nhiên, tình trạng của CCTM thặng dư hay thâm hụt trong ngắn hạn chưa nóilên được trạng thái thực của nền kinh tế, vấn đề là ở chỗ thâm hụt cán cân thươngmại ở mức có thể đảm bảo sức chịu đựng cùa CCTKVL và nợ nước ngoài
6.5. Tình hình GDP ở Việt Nam hiện nay:
Mới đây, đánh giá “Việt Nam đạt chất lượng sống ngang các nước có GDPbình quân đầu người 10.000 USD ?” được đưa ra tại cuộc họp báo sáng nay (23/3)của Công ty Tư vấn quản lý Boston Consulting Group (BCG) tại Hà Nội
Cụ thể, BCG đã dựa trên Bộ công cụ Đánh giá phát triển kinh tế bền vững(SEDA) để đánh giá trong một báo cáo riêng về Việt Nam “Duy trì thành tựu ấntượng của Việt Nam về cải thiện đời sống của người dân”
Thu nhập còn thấp, nhưng chất lượng sống của người dân Việt Nam đangtăng lên?
Trang 14Theo BCG, Việt Nam hiện nay đang là một quốc gia dẫn đầu thế giới -ở vị trí thứ 4trên tổng số 149 quốc gia được đưa vào nghiên cứu chung của Công ty này.
“Các nghiên cứu trong báo cáo cho thấy, với chỉ số GDP đầu người (dựa trên cânbằng sức mua) chỉ đạt 5.200 USD nhưng Việt Nam lại thuộc nhóm quốc gia cóbiểu đồ phát triển ổn định, có khả năng đạt chất lượng sống ngang bằng với cácquốc gia có GDP tính theo đầu người trung bình đạt 10.000 USD”, ông ChrisMalone, Thành viên hợp danh của Công ty BCG kiêm Tổng giám đốc BCG ViệtNam nói
Tuy cho rằng, Việt Nam đã có những thành công nhất định trong chuyển đổi tăngtrưởng kinh tế thành chất lượng sống khi so sánh với các quốc gia có thu nhập caohơn nhưng ông Chris Malone cũng cho biết, báo cáo nghiên cứu của Công ty nàycũng cho rằng, có nhiều thách thức lớn mà Việt Nam phải giải quyết