DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ADF Augemented Dickey Fuller Test CPI Chỉ số giá tiêu dùng Consumer Price Index DN Doanh nghiệp EX Tỷ giá hối đoái Exchange Rate FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THỊ HOÀNG OANH
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tôi viết và kết quả nghiên cứu là của riêng tôi, không sao chép của ai Nôi dung luận văn có tham khảo và sử dụng các thông tin được đăng tải trên các ấn phẩm, sách báo, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Dương Thị Hoàng Oanh
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa thực tiễn đề tài nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT 1
1.1 Khái niệm công ty cổ phần sản xuất chế biến chế tạo 1
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần 1
1.1.2 Công ty cổ phần sản xuất chế biến chế tạo 2
1.2 Cổ phiếu 3
1.2.1 Khái niệm Cổ phiếu 3
1.2.2 Phân loại giá cổ phiếu 3
1.2.2.1 Mệnh giá của cổ phiếu 3
1.2.2.2 Giá trị sổ sách 4
1.2.2.3 Giá trị nội tại 4
1.2.2.4 Giá trị thị trường 4
Trang 41.3 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu 4
1.3.1 Lạm phát 6
1.3.2 Tổng sản phẩm quốc nội 8
1.3.3 Cung tiền 8
1.3.4 Tỷ giá hối đoái 9
1.3.5 Lãi suất 10
1.4 Sự cần thiết nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến biến động giá cổ phiếu 11 1.4.1 Đối với nhà đầu tư 11
1.4.2 Đối với chính phủ 11
1.4.3 Đối với thị trường 12
1.5 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về tác động của các yếu tố vĩ mô lên giá chứng khoán 12
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến giá chứng khoán 12
1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến giá chứng khoán 14
1.6 Thiết kế mô hình và phương pháp nghiên cứu 15
1.6.1 Mô hình nghiên cứu 16
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu 17
1.6.2.1 Thu thập dữ liệu 17
1.6.2.2 Phân tích dữ liệu thu thập 17
1.6.2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
1.6.2.4 Các bước thực hiện 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT19
Trang 52.1 Lịch sử hình thành và phát triển Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh 19
2.2 Thực trạng biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong giai đoạn từ 2009 đến 2013 .20
2.2.1 Lạm phát 20
2.2.2 Chỉ số sản xuất công nghiệp 21
2.2.3 Cung tiền 23
2.2.4 Tỷ giá hối đoái 24
2.2.5 Lãi suất 26
2.3 Thực trạng tình hình hoạt động của các công ty cổ phần ngành sản xuất chế biến chế tạo niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.4 Đo lường tác động các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu công ty cổ phần niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh 42
2.4.1 Mô hình nghiên cứu 42
2.4.2 Chọn mẫu dữ liệu 43
2.4.3 Các bước thực hiện 46
2.4.4 Kết quả nghiên cứu 46
2.5 Đánh giá chung tác động các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu công ty cổ phần niêm yết .53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ SỰ TÁC ĐỘNG BẤT THƯỜNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ NHẰM ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 57
3.1 Định hướng phát triển Thị trường chứng khoán Việt Nam 57
3.2 Giải pháp hạn chế sự tác động bất thường của các yếu tố vĩ mô nhằm ổn định Thị trường Chứng khoán Việt Nam 59
3.2.1 Nhóm giải pháp cho Chính sách kinh tế vĩ mô 60
3.2.1.1 Giải pháp cho Lạm phát 60
Trang 63.2.1.2 Giải pháp cho Lãi suất 62
3.2.1.3 Giải pháp cho Cung tiền 63
3.2.1.4 Giải pháp cho Tỷ giá hối đoái 64
3.2.1.5 Giải pháp cho Chỉ số sản xuất công nghiệp 65
3.2.2 Nhóm giải pháp cho các Công ty niêm yết 66
3.2.3 Nhóm giải pháp cho Thị trường chứng khoán 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70
KẾT LUẬN CHUNG 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF (Augemented Dickey Fuller Test)
CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)
DN Doanh nghiệp
EX Tỷ giá hối đoái (Exchange Rate)
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investmen)
FE Ảnh hưởng cố định (Fixed Effect)
FGLS Phương pháp bình phương tối thiểu có trọng số (Feasible Generalized Least
Squares) GDP Tổng Sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HNX-Index Chỉ số giá chứng khoán SGDCK Hà Nội
HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh Stock
Exchange) IIP Chỉ số giá sản xuất (Index-Industry Products )
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
IR Tỷ lệ lãi suất (Interest Rate)
LR Lãi suất dài hạn (Long Rate)
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares)
PP Kiểm định Phillip Person
REE Mã cổ phiếu Công ty Cổ phần Cơ Điện Lạnh
S&P 500 Chỉ số giá cổ phiếu S&P 500 của Mỹ (Standard & Poor's 500 Stock Index) SAM Mã cổ phiếu Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Sacom
SGDCK Sở Giao dịch Chứng khoán
SR Lãi suất ngắn hạn (Short Rate)
TTCK Thị Trường Chứng khoán
VAR Mô hình Véc tơ tự hồi quy (Vector Autoregressive)
VECM Mô hình vecto hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model)
VN–Index Chỉ số giá chứng khoán SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lợi nhuận của các công ty nhóm thực phẩm giai đoạn 2009 – 2013 29
Bảng 2.2: Lợi nhuận của các công ty nhóm thuỷ sản giai đoạn 2009 - 2013 31
Bảng 2.3: Lợi nhuận của các công ty nhóm dƣợc phẩm y tế giai đoạn 2009 – 2013 33
Bảng 2.4: Lợi nhuận của các công ty nhóm khác giai đoạn 2009 - 2013 35
Bảng 2.5: Mô tả biến quan sát 42
Bảng 2.6: Mô tả nguồn các biến sử dụng 44
Bảng 2.7: Kết quả hồi quy có trọng số 46
Bảng 2.8: Thống kê số lƣợng công ty chịu tác động của các biến 49
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Diễn biến Lạm phát giai đoạn 2009 – 2013 20
Biểu đồ 2.2: Diễn biến Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2009 -2013 22
Biểu đồ 2.3: Diễn biến tốc độ tăng cung tiền giai đoạn 2009 – 2013 24
Biểu đồ 2.4: Diễn biến tỷ giá hối đoái giai đoạn 2009 – 2013 25
Biểu đồ 2.5: Diễn biến lãi suất giai đoạn 2009 – 2013 27
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
TTCK Việt Nam là một thị trường mới ra đời sau so với các nước trong cùng khu vực và trên thế giới TTCK là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành và mua bán chứng khoán, giúp cung ứng các nguồn vốn nhanh chóng cho nền kinh tế TTCK đặc biệt nhạy cảm với những thông tin và thay đổi của các chính sách của Chính phủ
Từ đó, TTCK có nhiều biến động làm cho giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng nhiều Việc nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu là một trong những vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm khi đưa ra quyết định đầu tư, giúp chính phủ có chính sách hợp lý can thiệp vào thị trường một cách hiệu quả
Trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, giá chứng khoán Việt Nam
đã sụt giảm đáng kể do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng này Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi giá chứng khoán Tại Việt Nam số lượng các nghiên cứu về tác động của các yếu tố vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán nhiều nhưng ít có nghiên cứu về tác động của các yếu tố vĩ mô đến từng công ty riêng lẽ hoặc từng nhóm ngành
cụ thể Do đó, tác giả sẽ đi vào phân tích mối quan hệ của các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực công nghiệp Nhóm ngành công nghiệp được chia theo quy định về hệ thống ngành kinh tế Việt Nam vào năm 2007 Các công ty chọn lựa theo danh sách phân ngành các công ty niêm yết của SGDCK thành phố Hồ Chí Minh năm 2013
Để tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến giá chứng khoán thì tác giả
thực hiện nghiên cứu: “Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết” Luận văn thực hiện trên cơ sở xem xét ảnh hưởng của
5 yếu tố vĩ mô: lạm phát, GDP, cung tiền, tỷ giá và lãi suất có tác động như thế nào đến giá cổ phiếu ở các công ty cổ phần niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh
Trang 112 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô: lạm phát, GDP, tỷ giá hối đoái, lãi suất, cung tiền đến giá cổ phiếu của các công ty cổ phần thuộc lĩnh vực sản xuất, chế biến, chế tạo niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, vận dụng sự tác động các yếu tố nhằm hạn chế sự biến động bất thường của các yếu tố này đến sự phát triển TTCK Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố kinh tế vĩ mô lạm phát, GDP, cung tiền, tỷ giá và lãi suất trong nền kinh tế và tác động của các yếu tố này đến giá cổ phiếu các công ty công nghiệp, chế biến, chế tạo niêm yết trên HOSE
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: 5 yếu tố lạm phát, GDP, cung tiền, tỷ giá và lãi suất đến giá cổ phiếu niêm yết trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, chế tạo trên HOSE
Lĩnh vực công nghiệp là lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế đang dần hướng đến công nghiệp hoá như hiện nay Đây là lĩnh vực quan trọng để có thể phát triển nền kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá của Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu các công ty trong lĩnh vực công nghiệp đóng vai trò quan trọng, biến động trong giá cổ phiếu của các công ty này ảnh hưởng không nhỏ đến TTCK và có thể dự báo tình hình của khu vực công nghiệp
Không gian: các công ty niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian: từ năm 2009 đến năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính phân tích từ các dữ liệu thu thập
Dữ liệu chọn nghiên cứu là: lạm phát, GDP, cung tiền, tỷ giá và lãi suất của Việt Nam nguồn từ Quỹ Tiền Tệ thế giới IMF và các số liệu giá chứng khoán của
32 công ty niêm yết trên sàn HOSE Giá chứng khoán được chọn là giá đóng cửa ngày cuối mỗi tháng
Trang 12Phương pháp phân tích: thu thập dữ liệu, dùng phần mềm Eviews để phân tích
dữ liệu thu thập được
Mô hình nghiên cứu: xem xét mối quan hệ giữa giá cổ phiếu là biến phụ thuộc với các biến độc lập: lạm phát, GDP, cung tiền, tỷ giá và lãi suất ở Việt Nam
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xác định tác động các yếu tố vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết Mức độ tác động của từng yếu tố từ đó đề ra các giải pháp phát triển TTCK Việt Nam
Điểm nổi bật của luận văn so với các nghiên cứu trước đó là luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu của từng công ty niêm yết riêng
lẽ
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu công
ty cổ phần thuộc ngành sản xuất chế biến chế tạo niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2: Thực trạng các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu của các công ty cổ phần thuộc ngành sản xuất chế biến chế tạo niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp vận dụng tác động của các yếu tố vĩ mô nhằm hạn chế sự tác động đến Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT
1.1.1 Khái niệm công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập
và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn có sự tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Trong công ty cổ phần,
số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các
cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một Công ty Cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Công ty cổ phần là một trong các loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau là cổ phần và được phát hành ra ngoài thị trường nhằm huy động vốn tham gia đầu tư từ mọi thành phần kinh tế Người sở hữu cổ phần được gọi là các cổ
đông
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì công ty cổ phần là: Doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông là những người sở hữu các giấy chứng nhận cổ phần Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Cổ đông có quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ
Trang 14trường hợp pháp luật có quy định khác Cổ đông nói chung có thể là tổ chức, cá nhân,
số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy động vốn
1.1.2 Công ty cổ phần sản xuất chế biến chế tạo
Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được chế tạo, chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ về công nghệ, khoa học và kỹ thuật
Sản xuất chế biến chế tạo là các hoạt động làm biến đổi về mặt vật lý, hoá học của vật liệu, chất liệu hoặc làm biến đổi các thành phần cấu thành của nó, để tạo ra sản phẩm mới Vật liệu, chất liệu, hoặc các thành phần biến đổi là nguyên liệu thô từ các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, khai thác mỏ hoặc quặng cũng như các sản phẩm khác của hoạt động chế biến Những thay đổi, đổi mới hoặc khôi phục lại hàng hoá thường được xem xét là hoạt động chế biến Các đơn vị chế biến ở đây còn bao gồm các hoạt động xử lý vật liệu hoặc ký kết với các đơn vị chế biến khác về vật liệu của họ Cả hai loại hình của các đơn vị này đều là hoạt động chế biến Đầu ra của quá trình sản xuất có thể được coi là hoàn thiện dưới dạng là sản phẩm cho tiêu dùng cuối cùng hoặc là bán thành phẩm và trở thành đầu vào của hoạt động chế biến tiếp theo
Công ty cổ phần sản xuất chế biến chế tạo là các công ty cổ phần có các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp mà doanh thu chủ yếu từ các lĩnh vực này theo quy định phân ngành Chuẩn phân ngành Việt Nam VSIC 2007
Trang 151.2 Cổ phiếu
1.2.1 Khái niệm Cổ phiếu
Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó
Theo Luật chứng khoán Việt Nam, Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần Người mua cổ phiếu thường trở thành cổ đông thường hay cổ đông phổ thông
Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần Người mua cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu Như vậy, Cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu
1.2.2 Phân loại giá cổ phiếu
1.2.2.1 Mệnh giá của cổ phiếu
Mệnh giá cổ phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa là giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu Mệnh giá của cổ phiếu ít có ý nghĩa kinh tế
Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi sổ sách kế toán của công
ty Mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư khi đã đầu tư, nên nó không liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu đó, nó chỉ có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu thường lần đầu huy động Mệnh giá thể hiện số tiền tối thiểu công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành ra Một
số nước luật pháp cho phép công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thường không
có mệnh giá
Trang 161.2.2.2 Giá trị sổ sách
Là giá cổ phiếu ghi trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn cổ phần của công ty ở một thời điểm nhất định Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tổng tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành Trường hợp công ty phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành
1.2.2.3 Giá trị nội tại
Là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, được tính toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường Đây là căn cứ quan trọng của nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào cổ phiếu, đánh giá được giá trị thực của
cổ phiếu, so sánh với giá của thị trường và lựa chọn phương án có hiệu quả nhất
Giá của cổ phiếu phản ánh tình hình hoạt động của từng công ty, giá cổ phiếu nhạy cảm với mọi thông tin và các sự kiện bất ngờ khó đoán chịu ảnh hưởng bởi rất
Trang 17nhiều yếu tố Giá cổ phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm cả các yếu tố vi mô và yếu tố vĩ mô
Các yếu tố vi mô bao gồm các lĩnh vực kinh doanh của từng công ty, vốn và cơ cấu vốn, các chỉ số tài chính của công ty, chính sách phát triển, tỷ lệ chia cổ tức của công ty ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của mỗi công ty So sánh với các đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành thì thương hiệu, chất lượng sản phẩm, mạng lưới hoạt động là những yếu tố có tác động đến giá cổ phiếu của công ty Những yếu tố nội tại gắn liền với doanh nghiệp phát hành như: yếu tố về kỹ thuật sản xuất: trang thiết bị máy móc, công nghệ, tiềm năng nghiên cứu phát triển Những yếu tố về thị trường tiêu thụ: khả năng về cạnh tranh và mở rộng thị trường, yếu tố về con người: chất lượng ban lãnh đạo, trình độ nghề nghiệp của công nhân, tình trạng tài chính của DN là yếu tố quan trọng tác động đến kết quả kinh doanh của DN có những ảnh hưởng đến lợi nhuận từ
cổ phiếu do đó có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu của bản thân DN đó Do đó, khi đầu tư cổ phiếu nhà đầu tư cần quan tâm tìm hiểu và phân tích tác động của các yếu
tố tới cổ phiếu mình đang đầu tư, để đưa ra các quyết định đầu tư thích hợp
Các yếu tố vĩ mô tác động đến giá cổ phiếu bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô, các yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật Các yếu tố về chính sách thuế của Nhà nước đối với thu nhập từ chứng khoán: Nếu mức thuế đánh vào thu nhập từ chứng khoán cao (hoặc tăng lên) sẽ làm cho số người đầu tư giảm xuống vì mức thuế đánh trên lợi nhuận cao khó thu hút được nhà đầu tư, từ đó làm cho giá chứng khoán giảm Những biến động về tình hình chính trị, xã hội, quân sự của quốc gia: Đây là những yếu tố phi kinh tế có những ảnh hưởng không nhỏ đến giá cổ phiếu trên thị trường
Các yếu tố kinh tế vĩ mô từ nền kinh tế đều có tác động đến TTCK Các yếu tố kinh tế vĩ mô như giá dầu, tăng trưởng tín dụng, kim ngạch xuất nhập khẩu, lãi suất, cung tiền, tỷ giá, GDP, lạm phát… đặc biệt có tác động đến giá cổ phiếu Trên thế giới
có rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện việc nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá chứng khoán và có những kết quả khác nhau đối với từng nền kinh tế Mỗi kết
Trang 18quả nghiên cứu giúp cho các cá nhân và tổ chức liên quan có nhận định về những yếu
tố tác động đến TTCK như thế nào và có giải pháp thích hợp trong chọn cổ phiếu đầu
tư Từ những vấn đề tìm hiểu các yếu tố tác động trực tiếp cũng như gián tiếp, cấp vi
mô đến vĩ mô đối với TTCK cũng như giá cổ phiếu của từng công ty thì tác giả xin được chọn phạm vi nghiên cứu là 5 yếu tố kinh tế vĩ mô là lạm phát, GDP, cung tiền, tỷ giá, lãi suất để xem xét sự tác động của nó đến giá cổ phiếu như thế nào Do hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như việc tìm kiếm và thu thập số liệu nên luận văn sẽ nghiên cứu 5 yếu tố kinh tế vĩ mô này
1.3.1 Lạm phát
Lạm phát được hiểu là tốc độ gia tăng giá cả hàng hóa và dịch vụ, sự gia tăng giá cả trong nền kinh tế Tuy nhiên các nhà kinh tế thích đo lường bằng chỉ số cụ thể hơn, đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI tính theo tỷ lệ phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá tiêu dùng theo thời gian CPI là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ dùng trong sinh hoạt của dân cư và các hộ gia đình Bởi vậy, nó được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian Khi CPI tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng và ngược lại Chỉ số giá tiêu dùng đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở:
CPIt =Chi phí để mua giỏ hàng hóa thời kỳ t
Chi phí để mua giỏ hàng hóa kỳ cơ sở∗ 100%
CPI thể hiện sự thay đổi tính theo phần trăm của bình quân giá hàng tiêu dùng qua một giai đoạn nhất định Do không thể tính giá của tất cả hàng hóa trên thị trường, CPI được tính trên cơ sở bình quân gia quyền của tập hợp một số hàng hóa đại diện
Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy, sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp khiến
Trang 19giá cổ phiếu giảm Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá
và ngược lại
Lạm phát là một trong những yếu tố vĩ mô quan trọng có tác động đến thị trường chứng khoán Lạm phát ảnh hưởng đến cung cầu về chứng khoán nhất là đối với các chứng khoán có thu nhập cố định Giá trị các khoản đầu tư về cổ phiếu luôn bị ảnh hưởng trực tiếp đối với những thay đổi của lạm phát Đây là rủi ro khi đầu tư vào
cổ phiếu do ảnh hưởng của yếu tố lạm phát, gây ảnh hưởng tới giá cả của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường
Tác động của lạm phát ảnh hưởng gián tiếp đến thị trường chứng khoán thông qua tác động đến tình hình sản xuất hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp nói chung
và các doanh nghiệp niêm yết nói riêng Lạm phát tăng làm chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tăng Do đó, làm cho lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm Lợi nhuận kỳ vọng của các doanh nghiệp giảm, dẫn đến giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng bị suy giảm theo
Lạm phát cũng tác động đến tâm lý của nhà đầu tư và giá trị của các khoản đầu
tư trên TTCK Nếu lạm phát tăng cao chứng tỏ nền kinh tế bất ổn, nhà đầu tư sẽ mất niềm tin vào thị trường, từ đó tạo tâm lý lo sợ và mất niềm tin vào nền kinh tế Họ sẽ bán tháo cổ phiếu làm giá cổ phiếu giảm giá trị hơn so với lúc nền kinh tế khi lạm phát chưa tăng Lúc này, TTCK trở nên kém hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư Vì vậy, giá của
cổ phiếu của các công ty cũng bị ảnh hưởng
Lạm phát tác động gián tiếp đến chỉ số giá chứng khoán thông qua lãi suất Khi lạm phát gia tăng để có thể kiềm chế lạm phát ổn định thị trường, Chính phủ sẽ có chính sách tiền tệ thích hợp như việc gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát Việc gia tăng lãi suất tác động đến nhà đầu tư khi họ tìm thấy kênh sinh lợi hơn TTCK nơi họ đầu tư là cổ phiếu của các doanh nghiệp khi lợi nhuận kỳ vọng giảm do chi phí sản xuất và lãi suất vay tăng cao Họ bắt đầu chuyển sang nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn
Trang 20như gửi tiền vào ngân hàng Điều này làm cho cổ phiếu bớt tính hấp dẫn hơn, làm cho giá cổ phiếu sụt giảm
1.3.2 Tổng sản phẩm quốc nội
Trong kinh tế học, tổng sản phẩm nội địa tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển và giảm khi nền kinh tế kém phát triển Bởi khi đó, khả năng về kinh doanh có triển vọng tốt đẹp, nguồn lực tài chính tăng lên, nhu cầu cho đầu tư lớn hơn nhiều so với nhu cầu tích luỹ và như vậy, nhiều người sẽ đầu tư vào cổ phiếu Tuy nhiên, không phải khi nền kinh tế tăng trưởng thì giá tất cả các cổ phiếu cũng tăng theo mà nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tình hình sản xuất kinh doanh của từng ngành của từng công ty Nhìn chung với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định qua từng năm thì thu hút được các nhà đầu tư hơn
1.3.3 Cung tiền
Là khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông bao gồm các tài sản là tiền và các tài sản khác được coi là tiền nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch và nhu cầu cất trữ giá trị của các chủ thể phi ngân hàng
Mức cung tiền, hay còn gọi là cung ứng tiền tệ hoặc cung tiền, là một khái niệm kinh tế vĩ mô, để chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp (không
Trang 21vốn thấp, kích thích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, nền kinh tế tăng trưởng, giá cổ phiếu cũng gia tăng Tuy nhiên, việc tăng cung tiền vừa phải phù hợp sẽ kích thích nền kinh tế, ngược lại gia tăng cung tiền quá mức sẽ gây ra lạm phát, lạm phát tăng làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế khiến lãi suất phải gia tăng do đó ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK
1.3.4 Tỷ giá hối đoái
Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định Vì vậy, giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia gọi là tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở một khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau theo tiêu chuẩn nào đó
Việc so sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiện bằng so sánh sức mua của hai tiền tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa tiền của các quốc gia được quyết định bởi cung và cầu ngoại tệ Cung ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào bằng các đồng nội tệ Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ sẽ làm cho giá ngoại tệ giảm, tức tỷ giá hối đoái tăng Ngược lại, khi cầu ngoại tệ lớn hơn cung ngoại tệ giá ngoại tệ sẽ tăng, tức tỷ giá giảm Ở vị trí cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ xác định trạng thái cân bằng không có áp lực làm cho tỷ giá thay đổi nhưng thực tế thì tỷ giá hối đoái luôn thay đổi Sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái sẽ giúp xác định một đồng tiền lên giá hay giảm giá (đồng tiền đó mạnh hơn hay yếu hơn)
Trường hợp với các doanh nghiệp có xuất khẩu khi tỷ giá hối đoái tăng (đồng nội tệ giảm giá) làm tiền nội tệ thu được nhiều hơn Lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng, khi tình hình hoạt động của doanh nghiệp phát triển thì thu hút các nhà đầu tư hơn vào cổ phiếu của doanh nghiệp đó, làm cho giá cổ phiếu tăng lên Ngược lại, đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, nguyên vật liệu thì khi tỷ giá hối đoái gia tăng sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp khi cần nhiều tiền nội tệ hơn để thanh toán chi
Trang 22phí, do đó chi phí đầu vào tăng cao ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm, tình hình hoạt động của công ty xấu đi sẽ không hấp dẫn đối với các nhà đầu tư làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp này sẽ giảm
Tỷ giá hối đoái có những ảnh hưởng đến TTCK nếu có biến động tăng thì tăng dòng chu chuyển vốn từ nước ngoài vào thị trường để đầu tư, kinh doanh chứng khoán hưởng lợi từ chênh lệch giá nhờ tỷ giá tăng Nhưng cũng chính tỷ giá tăng làm cho các nhà đầu tư nước ngoài chịu lỗ tỷ giá khi cùng một lượng nội tệ sẽ thu về ít ngoại tệ hơn Điều này gây ảnh hưởng đến các nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia vào TTCK Việt Nam Do đó, biến động của tỷ giá có tác động đến TTCK thông qua dòng chu chuyển vốn từ nước ngoài
đi, từ đó cải thiện lợi nhuận của doanh nghiệp Lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với doanh nghiệp, điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp nên tỷ lệ thanh toán
cổ tức sẽ thấp Cổ tức từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với nhà đầu tư tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao Do đó, lãi suất tăng sẽ làm giảm giá cổ phiếu
Hơn nữa, lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của doanh nghiệp vì nó khuyến khích doanh nghiệp giữ lại tiền nhàn rỗi, hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó mở rộng sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, lãi suất tăng sẽ dẫn đến giá cổ
Trang 23phiếu giảm Ngược lại, lãi suất giảm có tác động tốt cho doanh nghiệp vì chi phí vay giảm và giá cổ phiếu thường tăng lên
phiếu
1.4.1 Đối với nhà đầu tư
Các nhà đầu tư phải tìm hiểu kỹ các thông tin cũng như có những dự báo về các yếu tố vĩ mô tác động đến chỉ số giá chứng khoán nói chung và giá cổ phiếu nói riêng cho từng ngành Từ đó có cái nhìn toàn diện hơn, lựa chọn được những công ty có khả năng đem lại lợi nhuận đầu tư cao, so sánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến từng ngành và có lựa chọn hợp lý cơ cấu danh mục đầu tư khi muốn đa dạng hoá các công ty chọn lựa đầu tư Các nhà đầu tư cũng cần tìm hiểu xem nhóm nhân tố nào có tác động mạnh nhất đối với giá cổ phiếu của từng ngành
Đối với các nhà đầu tư chứng khoán cần phải tìm hiểu rõ những thông tin, tránh trường hợp thông tin bất lợi gây tâm lý ảnh hưởng kết quả đầu tư Dự báo các biến kinh
tế vĩ mô trước khi quyết định đầu tư
1.4.2 Đối với chính phủ
Nâng cao công tác chất lượng dự báo và phân tích diễn biến của TTCK, dự báo các diễn biến của các chỉ số vĩ mô, các chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá trong nước và tình hình quốc tế để có giải pháp thích hợp tránh bị ảnh hưởng đến nền kinh tế TTCK là phương tiện giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế tài chính ổn định vĩ mô nền kinh tế
Một trong những chính sách quan trọng của Chính phủ trong việc ổn định và phát triển TTCK là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Hai chính sách này có mối quan hệ mật thiết với nhau và cùng tác động đến nền kinh tế Do đó, chính phủ cần phối hợp hai chính sách này một cách thống nhất và hiệu quả hơn, từ đó phát huy hết tác dụng ổn định tiền tệ của chính sách tiền tệ, phân bổ nguồn lực một cách hợp lý của chính sách tài khoá Việc điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nới lỏng hay thắt
Trang 24chặt đều ảnh hưởng không nhỏ đến tính thanh khoản của TTCK Do đó, chính phủ cần
có chính sách hợp lý khéo léo để có thể điều tiết hạn chế tác động mạnh đến TTCK
1.4.3 Đối với thị trường
TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn của nền kinh tế hoạt động mua bán chứng khoán diễn ra sôi động trên thị trường, chịu ảnh hưởng nhiều từ các thông tin kinh tế vĩ mô Do đó, việc nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK là vấn đề cần thiết nhằm tăng cường và củng cố thông tin giúp ổn định thị trường
TTCK ổn định giúp nền kinh tế huy động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, gia tăng sức hút vốn đầu tư nước ngoài Thông qua TTCK mà nhà đầu tư nước ngoài có những nhận định về nền kinh tế Việt Nam Có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cung cấp lượng vốn lớn cho nền kinh tế, tăng tính thanh khoản của thị trường
Nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu giúp các công ty có chiến lược hợp lý trong đầu tư, và có biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của các yếu tố vĩ
mô đến tình hình hoạt động kinh doanh của công ty mình
giá chứng khoán
Có rất nhiều các nghiên cứu trước đây nhằm xác định các yếu tố tác động đến giá chứng khoán Tuy nhiên, tuỳ vào mỗi quốc gia khác nhau thì có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến giá chứng khoán Vì vậy, rất khó để có thể liệt kê tất các các yếu tố Sau đây là một số các nghiên cứu tiêu biểu tác động lên giá chứng khoán của các nhà nghiên cứu trên thế giới và các nghiên cứu tại thị trường Việt Nam
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ
mô đến giá chứng khoán
Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về ảnh hưởng các yếu tố vĩ mô đến chỉ
số giá chứng khoán Sau đây là một vài nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đã thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau:
Trang 25Islam, Watanapalachaikul và Billington (2003) thực hiện nghiên cứu trên TTCK Thái Lan có kết quả là có mối tương quan trong dài hạn giữa chỉ số giá chứng khoán và lạm phát Ratanapakorn và Sharma (2007) thực hiện nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan
hệ giữa lạm phát và giá chứng khoán, kết quả nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa giá chứng khoán và lạm phát Humpe và Macmillan (2009) đưa kết quả nghiên cứu là có tác động ngược chiều của lạm phát đến giá cổ phiếu
Fama (1981) đã kiểm tra mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc gia và giá chứng khoán và cho thấy rằng có mối quan hệ mạnh mẽ giữa giá cổ phiếu và tổng sản phẩm quốc gia Humpe và Macmillan (2009) khám phá mối quan hệ tích cực trong dài hạn giữa giá cổ phiếu và chỉ số giá sản xuất công nghiệp Mỹ Theo nghiên cứu của Nishat
và Shaheen (2004) kiểm tra mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến kinh tế vĩ mô và chỉ số giá chứng khoán tại Pakistan từ năm 1973 đến năm 2004 Kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực nhất trong các biến vĩ mô là chỉ số sản xuất công nghiệp với chỉ
số giá chứng khoán
Fama (1981) nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chỉ số giá chứng khoán ở thị trường mới nổi Sri Lanka thấy rằng tỷ giá hối đoái và chỉ số giá chứng khoán có mối quan hệ ngược chiều Abdulrasheed Zubair (2013) nghiên cứu mối quan
hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán tại Nigeria từ 2001 – 2011, kết quả nghiên cứu này không tồn tại mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán tại Nigeria trong giai đoạn này
Các mối quan hệ giữa cung tiền và giá cổ phiếu đã được thử nghiệm rộng rãi cho nhiều nền kinh tế Ratanapakorn và Sharma (2007) khám phá mối quan hệ tích cực giữa giá cổ phiếu và cung tiền ở Mỹ Trong khi, Humpe và Macmillan (2009) tìm thấy tác động tiêu cực của cung tiền trên chỉ số giá chứng khoán tại Nhật Bản
Lena Shiblee (2009) nghiên cứu ảnh hưởng của 4 yếu tố kinh tế là lạm phát, GDP, tỷ lệ thất nghiệp và cung tiền đến giá cổ phiếu của 10 công ty lựa chọn Nghiên cứu này nhằm mục tiêu xem xét mối quan hệ giữa giá cổ phiếu của 10 công ty và các
Trang 26yếu tố kinh tế vĩ mô Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động mạnh nhất là cung tiền đến giá cổ phiếu, nó có tác động tích cực đến giá cổ phiếu của hầu hết các công ty trong mẫu Biến GDP mức độ tác động thứ 2 theo hướng tích cực với giá cổ phiếu, đối với 2 biến lạm phát và thất nghiệp đều có mức tác động yếu đến giá cổ phiếu của các công ty trong mẫu nghiên cứu
Adaramola, Anthony Olugbenga (2011) thực hiện nghiên cứu trên giá cổ phiếu của 36 công ty trong ngành công nghiệp và tác động của 6 yếu tố kinh tế vĩ mô: cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, giá dầu và GDP đến giá cổ phiếu của các công
ty này Nghiên cứu theo quý từ năm 1985 đến năm 2009 của 6 biến vĩ mô và 36 công
ty riêng lẽ tại Nigeria theo phương pháp dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu cho thấy 2 yếu tố lãi suất và tỷ giá hối đoái có mối quan hệ ngược chiều với giá cổ phiếu, 4 yếu tố cung tiền, lạm phát, giá dầu và GDP có mối quan hệ cùng chiều với giá cổ phiếu của
36 công ty nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp
Từ các nghiên cứu trên của các tác giả trên thế giới về mối quan hệ giữa các yếu
tố vĩ mô đến thị trường chứng khoán Kết quả nghiên cứu cho thấy có những tác động khác nhau giữa mỗi nước nghiên cứu Vì vậy, để có thể biết được mức độ tác động của các yếu tố vĩ mô đến TTCK nói chung và giá cổ phiếu của các công ty ngành công nghiệp chế biến chế tạo như thế nào thì tác giả sẽ đi vào nghiên cứu tác động của 5 yếu
tố kinh tế vĩ mô: cung tiền, lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát và GDP dựa trên mô hình của tác giả Adaramola, Anthony Olugbenga
1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về sự tác động của các yếu tố kinh tế vĩ
mô đến giá chứng khoán
Huỳnh Thế Nguyễn, Nguyễn Quyết (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái, lãi suất và chỉ số giá chứng khoán tại SGDCK thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị, nhân quả Granger, mô hình VAR và hàm phân rã phương sai Cho thấy rằng có mối liên hệ nhân quả một chiều giữa tỷ giá hối đoái, lãi suất và chỉ số giá chứng khoán
Trang 27Phan Thị Bích Nguyệt, Phạm Dương Phương Thảo (2013) nghiên cứu 6 yếu tố
vĩ mô: cung tiền, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá dầu, hoạt động kinh tế thực đến giá chứng khoán từ tháng 7/2000 đến tháng 9 năm 2011 Sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị phần dư Engle Granger, kiểm định Wald, kiểm định Durbin – Watson Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến: cung tiền, lạm phát, sản lượng công nghiệp (đại diện cho hoạt động kinh tế thực), giá dầu có tương quan cùng chiều, còn lãi suất và tỷ giá hối đoái có tương quan ngược chiều với chỉ số giá chứng khoán
Nguyễn Minh Kiều và cộng sự (2013) nghiên cứu 4 yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến thị trường chứng khoán là: lạm phát, tỷ giá hối đoái, cung tiền và giá vàng Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kiểm định DF bổ sung là ADF (Augemented Dickey-Fuller test), kiểm định đồng tích hợp bằng phương pháp của Johansen và Juselius, kiểm định nhân quả Granger Trong dài hạn, kết quả nghiên cứu cho thấy: lạm phát có mối quan hệ nghịch biến đến chỉ số giá chứng khoán, lượng cung tiền M2 và giá vàng trong nước có mối quan hệ cùng chiều với chỉ số giá chứng khoán; trong khi
đó tỷ giá hối đoái lại không có ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán Còn trong ngắn hạn, chỉ số giá chứng khoán hiện có mối quan hệ với chỉ số giá chứng khoán tháng trước với tương quan cùng chiều và ngược chiều với tỷ giá hối đoái Kiểm định nhân quả Granger cũng cho thấy tỷ giá hối đoái là nguyên nhân gây ra biến động của chỉ số giá chứng khoán
Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô đến giá chứng khoán tại nhiều thị trường khác nhau Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng có những mối quan hệ tích cực và tiêu cực khác nhau giữa các biến nghiên cứu tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia khác nhau Để có thể xem xét tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá
cổ phiếu của Việt Nam như thế nào có khác biệt so với các nền kinh tế khác hay không thì tác giả tiến hành nghiên cứu tại TTCK Việt Nam dựa trên bài nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu ở Nigeria của tác giả Adaramola, Anthony
Trang 28Olugbenga (2011) bằng cách tiếp cận vi mô hơn đối với sự ảnh hưởng của các công ty Nghiên cứu theo quý từ năm 1985 đến năm 2009 của 6 biến vĩ mô và 36 công ty riêng
lẽ theo phương pháp dữ liệu bảng Phương pháp nghiên cứu hồi quy gộp sử dụng mô hình tác động cố định Luận văn sẽ thực hiện áp dụng theo phương pháp này tại TTCK Việt Nam Tác giả giả định rằng có 5 biến kinh tế vĩ mô độc lập tác động đến giá cổ phiếu là: lạm phát, chỉ số sản xuất công nghiệp, tỷ giá hối đoái, lãi suất và cung tiền Đại diện là các công ty niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh
1.6.1 Mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá chứng khoán của các nhà nghiên cứu trên thế giới rất nhiều Mỗi nghiên cứu các biến được chọn lựa theo nhiều cách khác nhau phù hợp với mục tiêu và khả năng nghiên cứu cũng như tình hình thực
tế tại mỗi nước khác nhau Việc đi vào phân tích tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá
cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực công nghiệp như luận văn này thực hiện vẫn chưa nhiều Vì thế tác giả quyết định chọn phương pháp nghiên cứu cụ thể cho từng công ty trong mẫu chọn Vấn đề nay là cần thiết đối với TTCK Việt Nam, thị trường còn tương đối mới mẻ so với lịch sử phát triển lâu đời của các nền kinh tế lớn trên thế giới, so với các nước trong khu vực TTCK Việt Nam là nước đi sau, thị trường còn mới nên rất nhạy cảm với những biến động của các yếu tố vĩ mô tác động từ bên ngoài
Do đó, để thực hiện nghiên cứu này tác giả sẽ linh hoạt sử dụng các biến nghiên cứu có chọn lọc từ các mô hình nghiên cứu trên thế giới phù hợp với thực tế tại Việt Nam cũng như những giới hạn về thời gian và dữ liệu Tác giả thực hiện phân tích định lượng dựa trên các biến được chọn từ các mô hình là:
Xem xét và phân tích mối quan hệ giữa giá cổ phiếu là biến phụ thuộc với các biến độc lập: lạm phát, GDP không tính theo tháng được thay bằng chỉ số sản xuất công nghiệp, cung tiền, tỷ giá và lãi suất ở Việt Nam
Trang 29Chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng (gọi tắt là IIP) do Tổng cục Thống kê công bố được tính toán trên khối lượng sản xuất bao gồm các ngành: khai khoáng, sản xuất và phối điện, khí đốt, nước
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu
1.6.2.1 Thu thập dữ liệu
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp sản xuất, chế biến, chế tạo niêm yết trên SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh tính đến thời điểm 31/12/2013 Dữ liệu thu thập từ các công ty chọn là giá cổ phiếu của mỗi công ty theo giá đóng cửa cuối mỗi tháng Các dữ liệu vĩ mô được thu thập từ trang website của Quỹ tiền tệ thế giới IMF, Tổng cục thống kê Việt Nam, và trang website thống kê dữ liệu vĩ mô Việt Nam Các dữ liệu được chọn phân tích theo tháng
từ năm 2009 đến năm 2013 có tất cả 60 tháng quan sát
1.6.2.2 Phân tích dữ liệu thu thập
Để đo lường mối quan hệ tác động của các yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu tác giả
sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng với phương pháp FGLS được sử dụng trong luận văn thay vì phương pháp hồi quy OLS thông thường vì nó có thể kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi Phương pháp FGLS sẽ ước tính
mô hình theo phương pháp OLS (ngay cả trong trường hợp có sự tồn tại của hiện tượng
tự tương quan và phương sai thay đổi) và phương pháp tác động cố định (Fixed Effect)
1.6.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn tác giả sẽ sử dụng dữ liệu bảng, các số liệu được thu thập đầy
đủ, nên đây sẽ là dữ liệu bảng cân đối Nghiên cứu sẽ sử dụng mô hình bảng gộp bằng cách chọn lựa 32 công ty trong lĩnh vực công nghiệp Gộp các công ty để chạy mô hình nghiên cứu chung sử dụng phương pháp FGLS hồi quy có trọng số để tránh hiện tương phương sai thay đổi, đồng thời sẽ dùng phương pháp tác động cố định (FE: Fixed Effect) để cố định các phần dư riêng lẻ của mỗi công ty
Trang 30Sau đó sử dụng phương pháp hồi quy đơn biến để phân tích mối tương quan của từng yếu tố vĩ mô đến giá cổ phiếu của các công ty cụ thể
Bước 4: Chạy kết quả riêng lẽ cho từng công ty nghiên cứu
Bước 5: Phân tích kết quả
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 tìm hiểu tổng quan các lý thuyết nghiên cứu cũng như các mô hình và các nghiên cứu trước đây của các tác giả trên thế giới và các nghiên cứu thực tế tại TTCK Việt Nam Từ đó, làm tiền đề tiến hành nghiên cứu thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đến giá chứng khoán nói chung từ giai đoạn mới thành lập đến nay Qua đó, tiến hành nghiên cứu ở lĩnh vực nhỏ hơn khi xem xét tác động của các yếu tố
vĩ mô đến giá cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực công nghiệp được thực hiện trong chương 2
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT
Chí Minh
Hai năm sau ngày ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, vào ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên vớ i 2 mã cổ phiếu niêm yết đã chính thức là REE và SAM được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Năm 2005 tiến hành triển khai đấu giá các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá qua Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Với thị trường liên tục phát triển trong năm 2006 tiếp tục gia tăng lên 3 đợt khớp lệnh định kỳ một ngày
Ngày 11/05/2007, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh , đươ ̣c chuyển đổi theo Quyết đi ̣nh 599/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thành SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2007 cũng là năm VN – Index đạt mức cao nhất 1,170.67 điểm Năm 2009, Sở giao dịch chứng khoán tiến hành triển khai giao dịch trực tuyến
Trong năm 2012, HOSE đã nghiên cứu và xây dựng chỉ số VN30 bao gồm 30
cổ phiếu hàng đầu về giá trị vốn hóa, chiếm khoảng 80% giá trị vốn hóa toàn thị trường, 60% về giá trị giao dịch Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường, HOSE cũng
đã triển khai lệnh MP và đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng sản phẩm ETF (Exchange Traded Fund) để đưa vào giao dịch
Tháng 10 năm 2013 đánh dấu một bước phát triển sâu rộng của SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh khi trở thành thành viên chính thức của Liên đoàn các Sở giao dịch thế giới
Trang 322.2 Thực trạng biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong giai đoạn từ 2009 đến 2013
Tình hình kinh tế vĩ mô trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013 có những chuyển biến phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Từ sau khủng hoảng kinh
tế năm 2008, các chỉ số kinh tế vĩ mô có những thay đổi
Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của Việt Nam khi tốc độ tăng trưởng GDP trong quý 1 năm 2009 chỉ tăng 3.1% so với cùng kỳ năm 2008 Đây là mức tăng GDP thấp nhất trong những năm gần đây Điều này cũng cho thấy sự tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới có tác động nặng nề đến nền kinh tế của Việt Nam
2.2.1 Lạm phát
Tình hình lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn năm 2009 đến năm 2013 có nhiều biến động khi lạm phát gia tăng ở mức cao nhất năm 2011 cả năm tăng 18.58%, khi lạm phát xảy ra thì nhà đầu tư tìm kiếm kênh đầu tư có lợi hơn kênh chứng khoán nhằm bảo vệ giá trị của đồng tiền Diễn biến của lạm phát được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Diễn biến Lạm phát giai đoạn 2009 - 2013
Trang 33Lạm phát tại Việt Nam bùng nổ trong năm 2008, là năm chứng kiến sự bùng nổ của tốc độ gia tăng lạm phát trong hơn một thập kỷ qua khi tỷ lệ lạm phát năm 2008 là 23.12% Tình hình có vẻ nhanh chóng được kiểm soát trong năm 2009 khi Chính phủ quyết tâm hơn trong việc phòng chống lạm phát và đạt được những thành quả nhất định Lạm phát tính theo cuối kỳ năm 2009 chỉ ở mức 6.52%, tính trung bình cả năm đạt 6.88% Đây được xem là mức vừa phải có thể chấp nhận được, nhưng ngay sau đó là mức gia tăng năm 2010 và 2011 làm cho tình hình kinh tế trở nên xấu đi Chính sách tiền tệ khá nới lỏng trong năm 2009 tác động không nhỏ tới lạm phát góp phần làm gia tăng lạm phát vượt mức kiểm soát, nhờ có chính sách can thiệp từ Chính phủ khi thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ,cung tiền giảm, lãi suất được đẩy tăng cao làm cho lạm phát dần được cải thiện Lúc này cung tiền giảm, lãi suất tiền gửi hơn 20% thu hút các nhà đầu tư gửi tiền vào Ngân hàng và chuyển sang đầu tư các kênh sinh lợi khác cao hơn Dòng vốn chảy ra khỏi thị trường chứng khoán chảy vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, nên chỉ số giá chứng khoán giai đoạn này có sự sụt giảm mạnh
Tốc độ tăng chỉ số tiêu dùng năm 2012 được kiềm chế ở mức 6.81% so với năm
2011 ở mức 18.13%, do chịu ảnh hưởng từ việc thắt chặt chính sách tiền tệ của chính phủ nhằm nỗ lực thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, sức mua trong nước yếu nên giá
cả tăng rất ít trên thị trường, tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng sụt giảm Lạm phát giảm
từ đầu năm đến giữa quý 3 có hiện tượng giảm phát xảy ra trong hai tháng 6 và 7 sau đó tăng ở tháng 8 và tăng đột biến vào tháng 9 nhưng lạm phát cả năm vẫn nằm trong mức mục tiêu đặt ra là 7% Khi tình hình lạm phát dần ổn định thì chính sách tiền tệ nới lỏng
sẽ giúp phục hồi nền kinh tế trong năm 2013 Lạm phát năm 2013 đã được kiểm soát tốt khi nó duy trì ở mức thấp
2.2.2 Chỉ số sản xuất công nghiệp
Tình hình tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2009 đạt 5.32% Việt Nam trở thành nước có mức tăng trưởng GDP cao nhất trong khu vực và là một trong những
Trang 34nước tăng trưởng cao nhất thế giới Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 tăng 6.78% so với năm 2009, GDP năm 2011 tăng 5.89%, năm 2012 là 5.03%, năm 2013 tăng 5.4% Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013 do ảnh hưởng từ suy thoái kinh
tế nên tốc độ tăng trưởng kinh tế có giảm xuống Tuy nhiên, năm 2013 GDP đã tăng trở lại cho thấy sự khởi sắc và phục hồi của nền kinh tế Đại diện cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung là chỉ số sản xuất công nghiệp, lĩnh vực công nghiệp đóng góp giá trị lớn trong tổng giá trị sản phẩm trong nước
Biểu đồ 2.2: Diễn biến Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2009 -2013
(Đơn vị tính: %)
(Nguồn: Số liệu từ IMF)
Chỉ số sản xuất công nghiệp có sự tăng trưởng qua các năm tuy nhiên trong vài tháng có sự sụt giảm mạnh do tình hình kinh tế gặp khó khăn Tiếp tục gia tăng khi tình hình vĩ mô được cải thiện, thúc đẩy sản xuất phát triển Giữa chỉ số sản xuất công nghiệp và chỉ số giá chứng khoán có mối quan hệ cùng chiều với nhau Khi tình hình kinh tế phát triển, tăng trưởng cao thì dự báo về lợi nhuận cao cho các công ty thu hút nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận khi đầu tư vào công ty có tình hình kinh doanh tốt Tình hình kinh doanh tăng trưởng tạo tâm lý tốt cho nhà đầu tư Trong năm 2009 nền kinh tế
Trang 35khôi phục sau khủng hoảng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng, tình hình kinh tế phục hồi kéo theo chỉ số giá chứng khoán VN – Index cũng tăng lên Những tác động từ hoạt động sản xuất và tăng trưởng của các doanh nghiệp làm cho thị trường chứng khoán trở nền trầm lắng hơn
2.2.3 Cung tiền
Sau khủng hoảng năm 2008, Chính phủ bơm lượng tiền lớn vào nền kinh tế thông qua các gói kích cầu để khôi phục lại nền kinh tế Cung tiền gia tăng, tăng trưởng tín dụng theo các chuyên gia kinh tế lượng tiền nay đổ vào kênh đầu tư chứng khoán, khiến thị trường chứng khoán trở nên sôi động hơn Năm 2009 chứng kiến sự tăng trưởng bất ngờ của thị trường chứng khoán khi các chỉ số VN – Index tăng vượt sau thời kỳ khủng hoảng, thời gian tăng kéo dài 8 tháng Sau khi thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ năm 2009 đến đầu năm 2010 tình hình lạm phát bắt đầu có dấu hiệu tăng trưởng Chính phủ tiến hành chính sách thắt chặt tiền tệ, giảm cung tiền, tăng lãi suất
để kiềm chế lạm phát Việc áp dụng các biện pháp ổn định kinh tế vĩ mô đột ngột tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế Năm 2011 khi tình hình lạm phát tăng cao chính sách thắt chặt tiền tệ được thực thi, một lượng tiền lớn được rút ra khỏi nền kinh tế nhằm làm giảm lạm phát Sự biến động của tình hình kinh tế vĩ mô, cung tiền giảm, lạm phát tăng cao vào thời điểm cuối năm 2011
Qua năm 2012 lạm phát ổn định, Chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, lượng cung tiền tăng lên, đà tăng trưởng kéo dài đến năm 2013 khi nền kinh tế dần hồi phục
Trang 36Biểu đồ 2.3: Diễn biến tốc độ tăng cung tiền giai đoạn 2009 – 2013
(Đơn vị tính: %)
(Nguồn: Số liệu từ IMF)
Mức độ gia tăng cung tiền qua các công cụ của nền kinh tế như lãi suất hay nghiệp vụ thị trường mở có tác động một cách gián tiếp đến nền kinh tế cũng như giá
cổ phiếu Thông qua kênh lãi suất thì chính phủ tiến hành giảm lãi suất để tăng cung tiền hay tăng lãi suất để giảm cung tiền trong nền kinh tế Cung tiền đạt mức đỉnh tháng 08/2009 thì sau đó chứng khoán cũng đạt mức đỉnh vào tháng 10/2009 với mức 587.1 điểm Sau đó là giai đoạn cung tiền và chỉ số giá chứng khoán cùng giảm chạm mức đáy vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012
2.2.4 Tỷ giá hối đoái
Những biến động của tỷ giá hối đoái tác động đến các nhà đầu tư nước ngoài khi
tỷ giá ổn định lượng tiền đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam tăng tạo cho thị trường sự sôi động cần thiết, đa dạng các nhà đầu tư và thu hút lượng vốn từ nước ngoài nhiều Nếu biến động tỷ giá thì nhà đầu tư nước ngoài e ngại đồng tiền mất giá khi chuyển đổi, thị trường trở nên kém hấp dẫn hơn so với các thị trường ổn định
Trang 37Biểu đồ 2.4: Diễn biến tỷ giá hối đoái giai đoạn 2009 – 2013
(Đơn vị tính: đồng)
(Nguồn: IMF)
Tình hình tỷ giá hối đoái cuối năm 2009 tăng mạnh khi giá 1USD trên thị trường tự do gần với mức 20,000 đồng Tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng cũng được nhà nước liên tục điều chỉnh tăng, tình hình tại các ngân hàng thương mại tỷ giá luôn được niêm yết với mức trần, sự mất cân đối trong cung cầu ngoại tệ ngày càng gia tăng do chính phủ thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong thời gian dài tạo ra tâm lý
lo ngại cho nhà đầu tư về rủi ro lạm phát tăng cao Do đó, các nhà đầu tư có xu hướng chuyển đổi sang nắm giữ đồng USD thay vì giữ đồng nội tệ
Tình hình mất cân đối cung cầu ngoại tệ thúc đẩy Ngân hàng nhà nước có những bước điều chỉnh khi cuối tháng 11/2009 tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 17,961 VND/USD (tăng 5.44% so với ngày trước đó) và giảm biên độ dao động
Trang 38và dự trữ ngoại hối thấp ảnh hưởng tâm lý nhà đầu tư khi họ chuyển sang nắm giữ USD thay vì VND đã làm cho tình trạng mất cân đối trong cung cầu ngoại tệ khiến tỷ giá niêm yết của các ngân hàng luôn ở mức chạm trần
Tiếp qua năm 2011, tỷ giá VND/USD có nhiều biến động vào đầu năm khi Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 20,693 VND/USD
và thu hẹp biên độ giao động từ +/-3% xuống mức +/- 1% Sau khi điều chỉnh thì tỷ giá luôn dao động có lúc lên 20,733VND/USD, dần về cuối năm tỷ giá điều chỉnh trở lại tương đối ổn định và kết thúc năm ở mức 20,828VND/USD
Do tình hình lạm phát được kiểm soát nên tỷ giá hối đoái trong năm 2012 và năm 2013 tương đối ổn định Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước duy trì ở mức 20,828 VND/USD và đến tháng 06/2013 tỷ giá giảm còn 20,036 VND/USD Tỷ giá hối đoái ổn định là do cung ngoại tệ dồi dào cầu ngoại tệ có xu hướng giảm Cầu ngoại tệ giảm là do chính sách duy trì mức lãi suất đồng VND cao tương đối so với mức lãi suất của đồng USD cùng với các quy định chặt chẽ hơn về quản lý ngoại hối, từ đó điều chuyển hướng của các dòng ngoại tệ tự do đưa vào góp phần tăng cường dự trữ ngoại hối
2.2.5 Lãi suất
Lãi suất và chỉ số giá chứng khoán có mối quan hệ mật thiết với nhau Những thay đổi trong lãi suất sẽ tác động ngay đến giá chứng khoán Lãi suất là yếu tố quan trọng và nhạy cảm trong nền kinh tế Bất kỳ sự thay đổi nào trong lãi suất cũng gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán
Trang 39Biểu đồ 2.5: Diễn biến lãi suất giai đoạn 2009 - 2013
(Đơn vị tính: %)
(Nguồn: IMF)
Khi khủng hoảng xảy ra, Chính phủ đưa ra hàng loạt các biện pháp đối phó Chỉ trong năm 2008 chính phủ đã 8 lần điều chỉnh lãi suất, 5 lần điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi bắt buộc, chính những thay đổi đó đã có tác dụng, đến năm
2009 chính phủ thực hiện gói kích cầu giúp nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng bằng chính sách tiền tệ nói lỏng thông qua việc hỗ trợ lãi suất 4% đưa dòng vốn giá rẻ vào nền kinh tế Đến cuối năm 2009, Chính phủ bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ, hạn chế cho vay và nâng lãi suất cơ bản.Nửa cuối năm 2009, lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh từ 7%/năm lên 8%/năm và tiếp tục duy trì đến tháng 10/2010 Hai tháng cuối năm 2010 lãi suất cơ bản tăng lên 9%/năm Việc thắt chặt tín dụng cuối năm tác động tiêu cực đến thị trường làm cho chỉ số VN – Index tháng 12 giảm 27% so với đỉnh trong năm và đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng cao trong tháng 12 Do chính sách tiền tệ
từ cuối năm 2009 đã được điều hành theo hướng thắt chặt cùng với một số yếu tố làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn với mức lãi suất hợp
lý Trước những khó khăn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, chính phủ buộc phải điều chỉnh theo hướng nới lỏng hơn chính sách tiền tệ vào giữa năm 2010 khi lạm phát
Trang 40có dấu hiện giảm Qua đầu quý IV/2010 lạm phát bắt đầu tăng cao trên 1%, NHNN nâng lãi suất cơ bản thêm 1% tức là lên 9%
Sau năm 2010, với nhiều bất ổn trong nền kinh tế cùng với áp lực lạm phát tăng cao xấp 12%, tỷ giá chịu áp lực lớn phải điều chỉnh thì năm 2011 Chính phủ thực hiện theo hướng chính sách tiền tệ thắt chặt hơn để ổn định nền kinh tế Lãi suất cơ bản được duy trì ở mức 9% trong cả năm nhưng lãi suất chiết khấu tăng từ 7% lên 12% trong quý 1 và lên 13% trong quý 3 và 4, lãi suất tái cấp vốn điều chỉnh tăng từ mức 9% trong tháng 1 lên 15% trong quý 4
Việt Nam nhanh chóng có gói kích cầu 1 tỷ USD thông qua bù lãi suất.Gói hỗ trợ này là tác động chính đối với lãi suất cho vay khá mềm trong năm 2009 Tuy nhiên, những năm sau đó lãi suất cho vay liên tục leo thang, đặc biệt là sự ngột ngạt năm
2011 Nửa cuối năm 2012 và đến năm 2013, lãi suất cho vay mới bắt đầu hạ nhiệt khi lạm phát được kiềm chế
biến chế tạo niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Các công ty được chọn nghiên cứu trong luận văn thuộc ngành công nghiệp, chế biến, chế tạo niêm yết cổ phiếu trên HOSE thời gian niêm yết trên 5 năm Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của 32 công ty qua 5 năm từ 2009 đến năm 2013 được thể hiện qua những đánh giá về hoạt động của các công ty này
Lĩnh vực công nghiệp, chế biến, chế tạo là lĩnh vực quan trọng trong nền kinh
tế, là một bộ phận không thể thiếu trong bất kỳ nền kinh tế nào, nó có vai trò chủ đạo, tạo ra sản phẩm mới thông qua việc sản xuất, chế tạo góp phần thúc đẩy những ngành kinh tế khác phát triển
Tình hình kinh doanh của 32 công ty thuộc ngành công nghiệp, chế biến, chế tạo chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực thuỷ hải sản, thực phẩm, bao bì Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2013 các công ty đều hoạt động có hiệu quả, doanh thu và lợi