Phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều hoạt động phong phú đa dạng, hiệu quả góp phần quan trọng vào việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - *** -
PHẠM THU HƯƠNG
VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
THAM GIA XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ
CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Là một bộ phận trong hệ thống chính trị nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò và trách nhiệm quan trọng trong việc tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân Vai trò quan trọng này đã được xác định trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, như văn kiện các Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng; Nghị quyết 07 (khoá IX) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Thể chế hoá các quan điểm của Đảng về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đã quy định khá đầy
đủ về trách nhiệm và quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
Phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có nhiều hoạt động phong phú đa dạng, hiệu quả góp phần quan trọng vào việc tham gia xây dựng chính quyền; xứng đáng là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Nhà nước, cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; phát huy tinh thần yêu nước, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tích cực vận động các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua lao động, chiến đấu, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Qua thực tiễn 20 năm đổi mới của đất nước, đặc biệt là từ khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1992 đến nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã từng bước củng
cố, mở rộng về tổ chức, tích cực đổi mới phương thức hoạt động của mình; tăng cường mối quan hệ với cơ quan nhà nước; phối hợp và thống nhất hành động với các tổ chức thành viên ở từng cấp; góp phần quan trọng vào quá trình tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực; tiếp tục làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính
Trang 3quyền nhân dân, xứng đáng là cầu nối vững chắc giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước
Tuy nhiên, trên phương diện lý luận và thực tiễn, công tác Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền đến nay chưa được nghiên cứu, tổng kết một cách toàn diện, hệ thống; mặt khác còn có những nhìn nhận, đánh giá khác nhau, thậm chí chưa thật đầy đủ, thiếu thống nhất về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia công tác này, từ đó làm hạn chế phần nào kết quả trong việc thực hiện quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời gian qua
Từ thực tiễn của lịch sử và trước yêu cầu đổi mới của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát huy hơn nữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì việc tìm hiểu và nghiên cứu về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác này là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Qua nghiên cứu, tìm hiểu để thấy được những đóng góp to lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời tìm ra những nguyên nhân của sự hạn chế, đề xuất các biện pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài "Vai trò của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân" để làm đề
tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong từng lĩnh vực cụ thể như bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, hoặc ở lĩnh vực giám sát đã trở thành đối tượng nghiên cứu của một số công trình khoa học riêng biệt hoặc trong phạm vi tổng thể chung của một số công trình Về giám sát thì có khá nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các luận án tiến sỹ, thạc
sỹ đã nghiên cứu, như: công trình Đổi mới tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt
Nam và các tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta hiện nay do Thang Văn Phúc và
Trang 4Nguyễn Minh Phương chủ biên, HN 2007; Đề tài khoa học cấp bộ "Những căn cứ
lý luận và thực tiễn sửa đổi Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" do Giáo sư Lưu Văn
Đạt làm chủ nhiệm đề tài, HN 7/2009 "Chuyên đề: Phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát và phản biện xã hội góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh do Nguyễn Văn Pha là chủ nhiệm,
HN 8/2009
Đối với vai trò tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần thiết được nghiên cứu một cách tổng thể, trực tiếp riêng biệt và chuyên sâu Đặc biệt, trước yêu cầu của việc đổi mới hệ thống chính trị trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và yêu cầu của thực tiễn đời sống chính trị xã hội đặt ra; thì việc tìm hiểu, nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng
và củng cố chính quyền nhân dân là hết sức cần thiết; có giá trị về lý luận và thực tiễn cao
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích của luận văn:
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; đánh giá tổng quan về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác này; trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới Trên cơ sở mục đích khoa học đó, luận văn góp phần vào việc tuyên truyền, giải thích những kết quả đã đạt được của Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền; nhằm khẳng định vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Nêu lên khái niệm, đặc trưng, vai trò, lịch sử về vai trò và nội dung cơ bản công tác tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phân tích, đánh giá thực trạng về những kết quả đạt được và hạn chế trong việc tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân trong thời gian vừa qua, rút ra những nguyên nhân của hạn chế Đề xuất các giải
Trang 5pháp, kiến nghị thiết thực để phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu về vai trò một số nội dung, lĩnh vực chính của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
- Trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam trong tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay (tức là trong giai đoạn đổi mới), đặc biệt là từ khi có Hiến pháp năm 1992 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1999 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc
- Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được các yêu cầu đặt ra đối với luận văn, việc nghiên cứu đề tài được tiến hành dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử, so sánh Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu qua thực tiễn công tác để hoàn chỉnh luận văn
6 Những đóng góp mới của luận văn
6.1 Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, chuyên sâu về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
6.2 Luận văn góp phần làm sáng tỏ các quy định của pháp luật, đồng thời chứng minh sứ mệnh lịch sử to lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền với vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân
6.3 Luận văn đưa ra một số kiến nghị về phương hướng, giải pháp chủ yếu
về cơ chế, chính sách nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
7 Kết cấu của luận văn
Trang 6Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
Chương 2: Thực trạng về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham
gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
Chương 3: Phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở nước ta hiện nay
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THAM GIA XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN
1.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và công tác xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân
1.1.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
Ngày 18 tháng 11 năm 1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh – hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp lực lượng nhân dân làm cách mạng giải phóng dân tộc Từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam suốt chặng đường gần 80 năm không bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận
Trải qua các thời kỳ cách mạng, với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một hình thức
tổ chức của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay
Về vị trí, Cương lĩnh Đảng năm 1991 ghi “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở
chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa
là người lãnh đạo Mặt trận” Năm 1999, Nhà nước thể chế hoá Nghị quyết Đại hội
Đảng VIII và qua tổng kết 10 năm đổi mới đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, trong đó xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính
trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo” Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng sử dụng từ hội nghị TW6 (khoá VI),
hệ thống đó bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội Như vậy, từ đó đến nay, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được xác định rõ trong xã hội và hệ thống chính trị Luận văn sẽ chủ yếu, tập trung đi sâu vào mối quan hệ với Nhà nước để thấy được vai trò tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Trang 8Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhà nước đều là bộ phận của hệ thống chính trị Tuy chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của Mặt trận và Nhà nước có khác nhau nhưng đều là công cụ để nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Sự phối hợp này là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của Mặt trận lẫn Nhà nước Bởi lẽ, củng cố và tăng cường đoàn kết phải trên cơ sở chính sách pháp luật Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác quản lý, tạo điều kiện để nhân dân được làm những việc mà pháp luật không cấm Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội Mặt trận phải chăm lo xây dựng, bảo vệ và giám sát Nhà nước Phối hợp với Nhà nước thì Mặt trận mới có khả năng và điều kiện thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình
Nhà nước điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật, nhân dân là người trực tiếp thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhà nước cần tôn trọng và tạo điều kiện
để Mặt trận và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh
có tổ chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước Trong quá trình ban hành các văn bản về quản lý và điều hành, cơ quan Nhà nước các cấp cần lắng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể Nhà nước căn cứ quy chế tổ chức và cơ chế hoạt động để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và Mặt trận Nhà nước cần thể chế hoá quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận trong việc tham gia quản lý kinh tế - xã hội Nhà nước cùng với Mặt trận chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào để thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế - xã hội Mặt trận giới thiệu những người
có đủ tiêu chuẩn và điều kiện để nhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia xây dựng pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước Cải cách bộ máy Nhà nước trong giai đoạn hiện nay còn bao hàm một nội dung quan trọng là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Để Mặt trận làm
Trang 9tròn trách nhiệm là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cùng với nhà nước chăm
lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, do đó đòi hỏi sự phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nước ngày một chặt chẽ hơn Trong bài phát biểu với Mặt trận, đồng chí Trường Chinh đã từng nói:
Chúng ta không nên tưởng rằng có bộ máy nhà nước trong tay, có pháp luật thì chỉ cần ra lệnh cho quần chúng tuân theo là mọi việc xong suôi cả Tưởng như thế là quan liêu, mệnh lệnh Bất cứ chủ trương, chính sách gì,
kể cả Hiến pháp và pháp luật, quy chế và điều lệ, nếu không đem tuyên truyền phổ biến trong quần chúng nhân dân, kiên nhẫn giải thích, thuyết phục và giáo dục cho quần chúng hiểu và tự nguyện thi hành thì những cái
đó cũng chỉ nằm trên giấy tờ Chính quyền cách mạng của nhân dân có thể dùng hai biện pháp: thuyết phục và bắt buộc, kết hợp thuyết phục với bắt buộc, dựa trên cơ sở thuyết phục mà thực hiện bắt buộc, nói chung thuyết phục vẫn là chính Làm thế nào để thuyết phục quần chúng thi hành những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Đảng đã nắm chính quyền thì những chủ trương, chính sách quan hệ đến quyền lợi thiết thân của toàn dân cần được biến thành quy định của Nhà nước để toàn dân thi hành Đảng lãnh đạo chính quyền, chứ không bao biện thay chính quyền Song để tránh quan liêu, mệnh lệnh, chính quyền cần dựa vào Mặt trận và các thành viên của Mặt trận; sử dụng những tổ chức đó vào việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng để quần chúng thấu suốt và hăng hái thi hành
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước [ 28, tr.56-57]
Trở lại mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước, Điều 9 Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thể chế hoá quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội
và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trang 10Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.[17, tr 14]
Cũng trong Hiến pháp, tại điều 87 quy định về quyền trình dự án Luật ra trước Quốc hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận Tại Điều 111 quy định: “Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề liên quan” Tại Điều 112 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ
có nhiệm vụ: “Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân
trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức
đó hoạt động có hiệu quả” và tại Điều 125 quy định:
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ở địa phương [17, tr 67 ]
Như vậy, Hiến pháp có 5 điều quy định những nội dung cơ bản về quyền
và trách nhiệm của Mặt trận; về trách nhiệm của Nhà nước, của Quốc hội, Chính
Trang 11phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đối với Mặt trận và mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước Đây là những quy định có tính Hiến định quy định mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước Sở dĩ cơ quan nhà nước phải phối hợp với Mặt trận vì bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước có chức năng quản lý, Mặt trận Tổ quốc
là tổ chức liên minh chính trị, là nhân dân có tổ chức do nhân dân lập ra Để thực hiện tốt chức năng quản lý, Nhà nước phải dựa vào Mặt trận, phối hợp với Mặt trận Quan hệ phối hợp ở đây được hiểu là sự bình đẳng, tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trên cơ sở các quy định thống nhất giữa hai bên để thực hiện một chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc Mặt trận có trách nhiệm phối hợp với Nhà nước để thực hiện tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quyền và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật, trong đó có trách nhiệm tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Phương thức phối hợp giữa Mặt trận và Nhà nước được thực hiện thông qua các quy chế phối hợp công tác do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
cơ quan nhà nước cùng cấp ban hành ngày càng thiết thực và có hiệu quả Từ khi
có Luật Mặt trận Tổ quốc (năm 1999) đến nay, thực hiện điều 5 về quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước, ở trung ương đã xây dựng và ban hành được 21 văn bản liên tịch, trong đó có 5 quy chế phối hợp công tác, 8 nghị quyết liên tịch, 8 thông
tư liên tịch với cơ quan nhà nước ở trung ương, trong số đó phần lớn là văn bản liên tịch với Chính phủ, các bộ Ở địa phương, tất cả các tỉnh đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợp giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với Hội đồng nhân dân, giữa Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc với Uỷ ban nhân dân cùng cấp Ở cấp huyện có 98% số huyện, ở cấp xã có 95% số xã đã xây dựng và ban hành quy chế phối hợp giữa Mặt trận với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp Hàng năm, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc đều phối hợp với cơ quan nhà nước, chính quyền cùng cấp liên quan tổ chức hội nghị liên tịch giữa hai bên để kiểm điểm việc thực hiện quy chế và thống nhất chương trình, nội dung phối hợp công tác của năm tới; sửa đổi,
bổ sung quy chế phối hợp công tác
Trang 121.1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với việc tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân và thực tiễn hoạt động của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, gần tám thập kỷ qua cho thấy Đảng ta luôn coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, xây dựng
và củng cố chính quyền, đề cao vai trò giám sát và tham gia góp ý kiến của các tổ chức này Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập và rèn luyện Đảng ta khi nói về
chính sách đại đoàn kết dân tộc như sau: "Trong bầu trời không có gì quý bằng
nhân dân, trong thế giới, không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân", "làm việc gì cũng phải có quần chúng, không có quần chúng, không thể thực hiện được" Vì thế, Nhà nước và Mặt trận đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo và đều là
bộ phận của hệ thống chính trị Tuy chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có khác nhau nhưng đều là công cụ để quần chúng nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng viết: Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân cần được đổi mới về tổ chức và hoạt động để thực sự góp phần thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia các công việc quản lý Nhà nước; giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân…" [8, tr.364-365]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII viết: "Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nước ta bao gồm rộng
rãi các giai cấp, các tầng lớp, tạo thành cơ sở chính trị, chỗ dựa vững chắc của Nhà nước ” [8, tr.378]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam viết: "Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động
tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các
Trang 13đoàn thể Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện cho Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả" [8, tr 367]
Nghị quyết Đại hội X Đảng ta đã tiếp tục khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân” Quan điểm nêu trên của Đảng ta về vai trò
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là phù hợp với nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam và không chồng chéo, mâu thuẫn với vai trò, chức năng của Nhà nước là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Bởi lẽ, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ
nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “toàn bộ hoạt động của
Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân” mà Đảng
là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Nhà nước là người tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng thông qua việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật
và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật đó thì đương nhiên mọi hoạt động của Nhà nước cũng đều phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của các tầng lớp nhân dân Nhà nước có quyền và trách nhiệm trọng đại là quản lý và điều hành đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng phải bằng pháp luật và pháp luật đó phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân Để đạt được mục đích đó thì quá trình xây dựng chính sách, pháp luật cần lấy
và tiếp thu ý kiến của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn
thể nhân dân và ở mức độ cao hơn là “phản biện xã hội” Mặt khác, khi chính sách
pháp luật của nhà nước được ban hành, thì chính nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức, thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của chính sách, pháp luật đó, nhất là những chính sách, pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Thực tiễn những năm qua, có những chính sách, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, trong những lý do chủ yếu đó là còn có những vi phạm từ phía cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, do vậy, rất cần có sự giám sát của nhân dân Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát và nhân dân thực hiện giám sát qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân Tức là nhân dân có tổ chức mới tạo ra sức mạnh, cá nhân mỗi người dân
Trang 14tự đứng ra để thực hiện quyền giám sát của mình thì không thể tạo ra sức mạnh và hiệu quả sẽ thấp
1.2 Lịch sử về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân
Sự ra đời của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh như một tất yếu lịch sử của dân tộc Trải qua các giai đoạn lịch sử, Mặt trận có nhiều tên gọi khác nhau phù hợp với yêu cầu của cách mạng Tiền thân là Hội phản đế đồng minh được thành lập ngày 18/11/1930, Phản đế Liên minh (tháng 3/1935), Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế (tháng 10/1936), Mặt trận Dân chủ Đông Dương (tháng 6/1938), Mặt trận thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương (tháng 11/1939), Việt Nam độc lập đồng minh hội gọi tắt là Mặt trận Việt Minh (19/5/1941), Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam gọi tắt là Liên Việt (29/5/1946), thống nhất Việt Minh-Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt (3/3/1951), đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tháng 9/1955), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (20/12/1960), Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968) Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền thành một Mặt trận dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (4/2//1977)
Lịch sử cho thấy, khi chưa có chính quyền, Mặt trận vận động nhân dân làm cách mạng giành chính quyền, khi chính quyền về tay nhân dân, Mặt trận vận động nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính quyền, vì đó là chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Mối quan hệ giữa Mặt trận với chính quyền
và Mặt trận mang yếu tố lịch sử và cách mạng suốt gần 80 năm qua, đó là mối quan hệ tất yếu, khách quan trong công cuộc giành, giữ, bảo vệ chính quyền và xây dựng, phát triển đất nước
1.2.1 Vai trò của Mặt trận thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (1930-1975)
Tính tất yếu của Mặt trận dân tộc thống nhất trong Cách mạng nước ta được lịch
sử chứng minh: Cách mạng càng tiến lên, Mặt trận Dân tộc thống nhất không bị co hẹp
lại, mà ngày càng được củng cố và phát triển rộng rãi
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, với chính sách cai trị phản động, hà khắc; đời sống nhân dân ta, nhất là giai cấp nông dân phải chịu kiếp sống lầm than,