Trong trường hợp sau khi lấy phân mà chưa xét nghiệm ngay hoặc lấy phân tại nhà ở xa, nên bảo quản phân bằng cách để phân trong các dung dịch định hình fixative để trứng giun, sán không
Trang 1BỘ Y TẾ
GIÁO TRÌNH
KÝ SINH TRÙNG
THỰC HÀNH(DÙNG CHO ĐÀO TẠO CỬ NHÂN XÉT NGHIỆM)
MÃ SỐ: ĐK.01.Z.15
Chỉ đạo biên soạn:
VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
Chủ biên:
PGS TS LÊ THỊ XUÂN
Trang 2
Tham gia tổ chức bản thảo:
ThS PHÍ VĂN THÂM
TS NGUYỄN MẠNH PHA
Thực hiện một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục & Đào tạo và Bộ Y tế đã ban hành chương
trình khung đào tạo Cử nhân xét nghiệm Bộ Y tế tổ chức biên soạn tài liệu dạy – học các môn cơ sở và
chuyên môn theo chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách đạt chuẩn chuyên môn trong công tác đào tạo nhân lực y tế
Giáo trình KÝ SINH TRÙNG THỰC HÀNH được biên soạn dựa vào chương trình giáo dục của Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt Giáo trình được PGS.TS Lê Thị Xuân (Chủ biên), CN Võ Thị Mỹ Dung, CN Nguyễn Thị Hiện, CN Trịnh Tuyết Huệ, CN Nguyễn Hồ Phương Liên biên soạn theo phương châm: kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam
Giáo trình KÝ SINH TRÙNG THỰC HÀNH đã được Hội đồng chuyên môn thẩm định sách và tài liệu dạy – học chuyên ngành Cử nhân xét nghiệm của Bộ Y tế thẩm định năm 2008 Bộ Y tế quyết định ban hành tài liệu dạy – học đạt chuẩn chuyên môn của ngành trong giai đoạn hiện nay Trong thời gian từ
3 đến 5 năm, sách phải được chỉnh lý, bổ sung và cập nhật
Bộ Y tế chân thành cảm ơn các tác giả và Hội đồng chuyên môn thẩm định đã giúp hoàn thành cuốn sách; cảm ơn PGS.TS Vũ Đức Chính, PGS.TS Hoàng Tân Dần đã đọc và phản biện để cuốn sách sớm hoàn thành, kịp thời phục vụ cho công tác đào tạo nhân lực y tế
Trang 3Lần đầu xuất bản, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, các bạn sinh viên và các độc giả để lần xuất bản sau sách được hoàn thiện hơn
VỤ KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
Giáo trình Ký sinh trùng thực hành được biên soạn cho sinh viên khoa Kỹ thuật Y học có mục
đích hướng dẫn cho những sinh viên học môn Ký sinh trùng nhằm hoàn thiện khả năng chẩn đoán dựa trên một số thông tin lâm sàng cơ bản và xét nghiệm bệnh phẩm bằng cách xem kính hiển vi, cấy Một số kỹ thuật miễn dịch cũng được đề cập đến
Nội dung các kỹ thuật trình bày trong giáo trình này có thể không được đầy đủ, nhưng nó cũng chứa đựng các phương pháp phổ biến nhất và đủ dùng cho các phòng xét nghiệm lâm sàng ở nước ta Trong cuốn giáo trình này, chúng tôi đã cố gắng trình bày những điểm đặc trưng về hình thể để phân biệt ký sinh trùng và giải thích làm thế nào để xác định chúng
Phần ba: Phụ lục, giới thiệu các hóa chất thường dùng trong xét nghiệm ký sinh trùng đường ruột; các
hóa chất, thuốc nhuộm và môi trường trong xét nghiệm nấm
Những hình ảnh minh họa, mặc dù không hoàn chỉnh nhưng cũng khá đầy đủ về số lượng và chất lượng, cung cấp một cách khái quát về hình thái của ký sinh trùng và vi nấm cũng như các kỹ thuật phát hiện chúng
Các tác giả là những người làm việc ở phòng thí nghiệm trong nhiều năm qua và có kinh nghiệm giảng dạy về môn Ký sinh trùng, hy vọng rằng cuốn sách này sẽ cung cấp những thông tin có giá trị cho sinh viên nhằm giúp họ có kiến thức về thực tiễn chẩn đoán ký sinh trùng, giúp cho việc phòng, chữa bệnh đạt hiệu quả
Do trình độ và thời gian có hạn, chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót về chuyên môn cũng như in ấn, rất mong nhận được sự góp ý của các sinh viên và đồng nghiệp để lần xuất bản sau giáo trình được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
CÁC TÁC GIẢ
Trang 4
Đa số ký sinh trùng (KST) không thể nhận thấy bằng mắt thường mà cần có những dụng cụ quang học để phóng đại chúng lên như kính lúp, kính hiển vi Tùy theo yêu cầu của kỹ thuật, kính hiển vi còn cần có những phụ tùng để đo kích thước KST, tụ quang nền đen,…
1 NHẮC LẠI CẤU TRÚC CỦA KÍNH HIỂN VI
Kính hiển vi là một công cụ thường dùng và quan trọng nhất của một phòng xét nghiệm KST Kính hiển vi có thể có những hình dạng khác nhau tùy theo mẫu sản xuất, nhưng cấu tạo cơ bản
Trang 5 Kính tụ quang: tập trung ánh sáng
Màng chắn ánh sáng: để cho ánh sáng qua nhiều hay ít để vào vật kính
Gương tròn dùng để lấy ánh sáng, thường có 2 mặt:
– Mặt lõm: khi sử dụng vật kính x10, x40
– Mặt phẳng: khi sử dụng vật kính x100
Những loại kính dùng ánh sáng của bóng đèn gắn trong thân máy không có gương
Tiểu xa: dùng để giữ tiêu bản được gắn với một trục có một ốc dùng để di chuyển sang trái, sang phải và một ốc dùng để di chuyển phía trước, về sau
Thân kính mang ống kính, bàn mang mẫu vật, kính tụ quang, ốc vi cấp, ốc thứ cấp và gương
Chân: có chức năng giữ cho kính được vững và ổn định
Cấu tạo kính hiển vi quang học
Trang 62 CÁCH SỬ DỤNG KÍNH HIỂN VI
Đặt tiêu bản lên bàn mang tiêu bản
Điều chỉnh ánh sáng với gương tròn, kính tụ quang và màn chắn sáng
Xoay trục mang vật kính x10 vào đúng vị trí
Vặn ốc thứ cấp để thấy rõ vật
Nếu cần quan sát với độ phóng đại lớn thì đổi qua vật kính lớn hơn x40, dùng ốc vi cấp để điều chỉnh đến khi thấy rõ vật Khi sử dụng vật kính x100, ta phải dùng dầu soi kính Nhỏ 1 giọt dầu lên tiêu bản rồi đổi qua vật kính x100
3 CÁCH BẢO QUẢN KÍNH HIỂN VI
Đặt kính hiển vi đúng chỗ, xa hơi nóng và chỗ ẩm ướt
Cầm kính hiển vi bằng thân kính, tay kia đỡ chân của kính Phải để đứng kính hiển vi, không được để kính nghiêng
Cẩn thận không làm rơi chất ăn mòn hay bất cứ một dung dịch nào lên bàn kính
Không được để tay ướt hay bẩn lên kính hiển vi
Lau thị kính và vật kính bằng giấy lau kính trước và sau khi dùng Khi soi với vật kính dầu, thấm giấy lau kính với một giọt xylen để lau vật kính Sau khi lau với xylen, phải lau khô ngay bằng giấy lau kính, nếu không xylen có thể làm bong những thấu kính gắn trong vật kính
Trước khi cất kính hiển vi, để vật kính nhỏ ở vị trí quan sát và hạ thấp ống kính bằng ốc lớn Vặn nhẹ nhàng, đừng ấn mạnh ống kính Nếu cẩn thận hơn, hạ tụ quang kính xuống Nếu tụ quang kính bẩn, lau bằng giấy lau kính khô
Để gương nghiêng, mặt phẳng ra phía ngoài để tránh bụi
Che kính hiển vi bằng bao của kính Cất kính vào đúng chỗ của kính, để lui vào phía trong, đừng để mấp mé phía ngoài
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Trình bày cách sử dụng kính hiển vi để quan sát một mẫu phân tươi
2 Khi sử dụng kính hiển vi để soi lam máu, anh (chị) cần chú ý đến yếu tố nào để có thể nhìn thấy
rõ KST sốt rét (KST SR) trên phết máu nhuộm?
3 Sau khi soi lam máu tìm KST SR, anh (chị) bảo quản kính hiển vi như thế nào trước khi cất vào
tủ kính?
Bài 2 CÁCH CHUẨN ĐỘ KÍNH HIỂN VI
Xác định loài KST cần dựa vào nhiều tiêu chuẩn, trong đó có tiêu chuẩn kích thước của KST Ta
có thể ước lượng kích thước KST bằng cách so sánh với một vật đã biết kích thước trước như hồng cầu, nhưng cách này không cho ta kết quả chính xác Để đo được chính xác kích thước KST, ta dùng
Trang 7– Thước trắc vi thị kính (chia thành 50 đơn vị)
– Thước trắc vi nền với 2 độ chia 0,1 và 0,01mm
Đặt thước trắc vi nền lên bàn kính hiển vi
Di chuyển bàn kính sao cho 2 thước nằm chồng lên nhau, vạch 0 trên thước trắc vi thị kính trùng với vạch 0 trên thước trắc vi nền
Nhìn phía bên phải vạch 0 của thước trắc vi nền để tìm điểm mà 1 vạch của thước trắc vi thị kính trùng với 1 vạch của thước trắc vi nền, điểm trùng này gọi là điểm Y Khoảng cách sẽ thay đổi tùy theo các vật kính sử dụng (x10, x40, x100)
Đếm số vạch chia trên thước trắc vi thị kính, từ số 0 đến vạch trùng lắp (Y) Đếm số vạch chia (0,1mm) trên thước trắc vi nền từ vạch 0 đến vạch trùng lắp (Y), Tính đoạn đếm được trên thước trắc vi thị kính theo công thức sau:
N = Số vạch đếm được trên thước trắc vi nền (mm)
n = Số vạch đếm được trên thước trắc vi thị kính (mm)
Ví dụ: Ở vật kính x10, ta có N = 0,3mm, n = 40
Trang 8
Ví dụ: Đo chiều dài của trứng giun kim
Đặt tiêu bản lên bàn kính, quan sát trứng với vật kính 10, chiều dài của trứng giun kim tương ứng với 8 khoảng chia của thước trắc vi thị kính
Ta đã có đơn vị thị kính ở vật kính x10 là 7,5mm, chiều dài của trứng giun kim sẽ là 7,5mm x 8
= 60mm
Lưu ý:
– Mỗi độ phóng đại của vật kính (x10, x40 và x100) có đơn vị thị kính khác nhau, vì mỗi vạch của thước trắc vi nền sẽ thay đổi kích thước trong khi vạch của thước trắc vi thị kính vẫn duy trì kích thước cũ Vì vậy, cần phải chuẩn độ cho từng loại vật kính và ghi lại các đơn vị này lên kính hoặc tờ giấy dán gần kính để dễ tra cứu
– Khi muốn có số đo của KST thì chỉ cần nhân số vạch đo được với đơn vị thị kính để có kích thước thật
– Sau khi mỗi vật kính đã được chuẩn độ, ta không trao đổi thị kính chứa thước trắc vi và những vật kính của kính hiển vi này với thị kính hoặc vật kính của kính hiển vi khác Phải sử dụng vật kính
và thị kính đã được chuẩn độ
– Nên chuẩn độ định kỳ để bảo đảm tính chính xác
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Tạo sao cần phải biết kích thước của KST?
Trang 91.1 Chuẩn bị bệnh nhân trước khi lấy phân
Nhiều kết quả xét nghiệm phân là âm giả tạo do bệnh nhân không được hướng dẫn đầy đủ hay hướng dẫn không đúng cách Phải hướng dẫn bệnh nhân một cách cẩn thận; tốt nhất là phòng thí nghiệm đưa cho bác sĩ điều trị những bản in sẵn những chi tiết cần thiết để phát cho bệnh nhân được chỉ định xét nghiệm phân
Dặn bệnh nhân trong 3 ngày trước khi lấy bệnh phẩm, tránh dùng những loại thuốc và thực phẩm
có thể làm cho việc nhận dạng KST khó khăn như:
– Thuốc: Bismuth, Magnesium, Kaolin, Baryte, thuốc đặt vào hậu môn có dầu, mỡ
– Thực phẩm nhiều cặn bã: ngũ cốc, bắp cải, salad, quả có nhiều hạt nhỏ, nhiều chất béo, dầu,
Trang 10làm biến dạng đơn bào
+ Nếu cho bệnh nhân uống thuốc xổ, chỉ nên cho uống sulfat natri và sẽ lấy phân khi bệnh nhân
đi ngoài lần thứ hai hay thứ ba sau khi uống thuốc
– Lượng phân cần lấy:
+ Thay đổi tùy theo mục đích và kỹ thuật xét nghiệm, thường chỉ cần khoảng 5 – 10 gam phân (khoảng bằng hạt lạc) để có thể đủ làm nhiều phương pháp
+ Trong một số trường hợp như tìm giun, đốt sán, các bệnh về bộ tiêu hoá phải lấy toàn bộ số lượng phân được thải ra để có thể thấy được KST và màng nhày hay mô bì bị tróc ra cùng với phân
1.2.2 Ngoài phòng xét nghiệm
Lấy phân ở ngoài phòng xét nghiệm là điều bất đắc dĩ, cần tôn trọng những nguyên tắc sau: – Phải gửi đến phòng xét nghiệm trong thời gian ngắn nhất, đặc biệt là đơn bào, phân phải luôn được giữ ấm
– Không được giữ ở nhiệt độ lạnh quá
– Nếu ở xa: giữ hộp phân trong nước ấm 37oC và đồng thời lấy một chút phân cho vào một trong những dung dịch cố định:
+ MIF: Merthiolate Iod Formol
PVA: Polyvinyl Alcohol
F2AM: Formol + Phenol + Alcool + Xanh Methylene
Sau khi thu hồi bệnh phẩm cần xét nghiệm ngay, càng sớm càng tốt Thời gian từ khi lấy mẫu đến khi khảo sát:
– Phân bình thường cần xét nghiệm trong vòng 12 – 24 giờ hoặc có thể để 1 – 2 ngày trong tủ lạnh – Phân mềm, nhão, lỏng hay có màng nhày và máu cần phải xem ngay trong vòng 30 phút sau khi lấy
Trong trường hợp sau khi lấy phân mà chưa xét nghiệm ngay hoặc lấy phân tại nhà ở xa, nên bảo quản phân bằng cách để phân trong các dung dịch định hình (fixative) để trứng giun, sán không phát triển, đơn bào không bị thoái hóa
2 HÓA CHẤT BẢO QUẢN PHÂN
– Để bảo quản hình thể và ngăn sự phát triển tiếp tục của trứng và ấu trùng giun, sán, phân được đựng trong chất bảo quản ngay lập tức sau khi lấy (bệnh nhân lấy) hoặc khi phòng xét nghiệm nhận bệnh phẩm
– Một số chất cố định được ưa dùng là: formol, sodium acetat–acetic acid–formol (SAF), dung dịch Schaudinn, polyvinyl alcohol (PVA)
– Khi chọn phương pháp cố định, phải đảm bảo chất cố định được chọn phù hợp với kỹ thuật xét nghiệm sẽ làm Vì mỗi chất cố định có tính chất riêng, không thể dùng cho tất cả các loại kỹ thuật xét nghiệm
Trang 11100%
Bào nang đơn bào, trứng nang của trùng bào tử, trứng giun, sán và ấu trùng được bảo quản lâu dài trong formol 10% Formol nóng (60OC) có thể dùng đối với bệnh phẩm có trứng giun, sán (vì trong formol lạnh, một vài loại trứng dày sẽ tiếp tục phát triển, gây nhiễm và sống trong một thời gian dài)
Lấy vài gram phân trộn kỹ trong dung dịch formol 5 – 10%
– Không bảo quản thể hoạt động
– Hình dạng KST không đẹp trên phết nhuộm cố định
2.2 Sodium acetat – acetic acid formol (SAF)
SAF được dùng để bảo quản trứng và ấu trùng giun, sán, bào nang và thể hoạt động đơn bào,
trứng nang trùng bào tử và bào tử Microsporidia
Bệnh phẩm cố định trong SAF đều dùng được với phương pháp tập trung phân và làm phết nhuộm cố định Khi làm phết phân để nhuộm, nên trộn thêm albumin vào phân để tăng độ dính của bệnh phẩm vào lam kính
SAF được coi là chất cố định mềm hơn thủy ngân clorua Hình dạng KST sẽ không sắc nét bằng khi cố định trong dung dịch có thủy ngân clorua Kết hợp cố định SAF với nhuộm hematoxylin sắt cho hình dạng tốt hơn nhuộm Trichrome
– Thành phần:
Pha chế Albumin Mayer: trộn một thể tích lòng trắng trứng với một thể tích glycerin Cho một
giọt hỗn hợp này lên lam kính, cho thêm một giọt cặn lắng phân SAF, trộn đều, để khô ở nhiệt độ phòng 30 phút rồi nhuộm
Ưu điểm:
– Dùng cho tiêu bản tập trung và cố định
– Không có hợp chất thủy ngân
– Dễ pha chế, bảo quản lâu
– Cặn lắng có thể làm kỹ thuật miễn dịch men
Trang 12– Cố định tiêu bản từ mẫu phân tươi hoặc niêm mạc ruột
– Bảo quản tốt thể hoạt động và bào nang đơn bào
Nhược điểm:
– Không khuyến cáo dùng trong phương pháp tập trung
– Dung dịch có chứa thủy ngân clorua, nên đặt ra vấn đề xử lý nước thải
– Ít dính với bệnh phẩm lỏng hoặc nhày
2.4 Polyvinyl alcohol (PVA)
PVA là một nhựa dẻo phối hợp với dung dịch cố định Schaudinn Bột PVA được dùng như chất dính cho bệnh phẩm phân khi hỗn hợp phân – PVA được trải trên lam kính, còn việc cố định vẫn là dung dịch Schaudinn
Dung dịch cố định PVA được dùng để bảo quản tất cả các thể của KST đường ruột, nhất là bào nang
và thể hoạt động đơn bào cho những kỹ thuật chuyên sâu
PVA cũng được dùng để cố định bệnh phẩm cần gửi qua bưu điện đến những phòng thí nghiệm chuyên sâu, rất tốt với bệnh phẩm lỏng và pha theo tỷ lệ 3 phần PVA với 1 phần phân
Cách pha chế:
Trộn các dịch lỏng vào cốc 500ml, thêm bột PVA vào (không khuấy) Đậy cốc bằng đĩa Petri lớn, giấy sáp hoặc lá kim loại, để qua đêm Đun từ từ đến 75oC, lấy cốc ra và khuấy trong khoảng 30 phút đến khi có dung dịch đồng nhất như sữa
Ưu điểm:
– Có thể làm tiêu bản cố định và phương pháp tập trung
– Bảo quản tốt bào nang và thể hoạt động đơn bào
– Bảo quản lâu (hàng năm) trong lọ kín ở nhiệt độ phòng
– Bệnh phẩm có thể gửi bằng bưu điện đến phòng thí nghiệm chuyên sâu
– Trứng Trichuris trichura và bào nang Giardia lambia trong phương pháp tập trung dễ nhận ra
như trong phương pháp formol–ether
Nhược điểm:
– Hình dạng ấu trùng Strongyloides stercoralis không đẹp như cố định bằng formol Trứng nang
Isospora belli có thể không quan sát được (formol tốt hơn)
– Dung dịch có chứa thủy ngân, nên đặt ra vấn đề xử lý nước thải
– Có thể trở nên trắng và sệt do mất nước hay do làm lạnh
– Khó pha chế trong phòng thí nghiệm
– Không thể dùng tiêu bản để làm kỹ thuật miễn dịch men
2.5 PVA cải tiến
PVA được cải tiến không chứa thủy ngân, mà thay vào đó người ta dùng sulfat đồng hoặc sulfat
Trang 13kẽm Sulfat đồng không cho kết quả tốt như thủy ngân clorua Sulfat kẽm được dùng trong nhuộm Trichrome
Ưu điểm:
– Dùng được cho phết nhuộm cố định và phương pháp tập trung
– Không chứa thủy ngân
– Cố định bằng sulfat kẽm cho kết quả tốt hơn vì thế nhiều người thích dùng PVA có chứa sulfat kẽm hơn sulfat đồng
3 KỸ THUẬT LƯU GIỮ KÝ SINH TRÙNG TRONG BỆNH PHẨM
Giữ bệnh phẩm ở 40oC, có thể giữ được trứng giun, sán và bào nang đơn bào nhiều ngày, nhiều tuần mà vẫn có thể định danh được dễ dàng Muốn giữ lâu phải dùng dung dịch định hình
3.1 Trứng, ấu trùng giun, sán và bào nang đơn bào
a) Lưu giữ trên tiêu bản làm từ phân ướt
– Để tránh loang phải dùng lam kính sạch, rửa sạch mỡ trong dung dịch đồng thể tích cồn –ether
– Để tránh khô do tiếp xúc với không khí, không bay hơi, người ta hàn tiêu bản bằng:
+ Vaselin: mẫu không giữ lâu hơn vài giờ, dùng để quan sát KST sống
+ Paraffine:
Loại paraffine dùng cho mô học, hơ nóng chảy hay để ở tủ ấm 56oC Phương pháp này dễ thực hiện nhưng tiêu bản dễ bị vỡ khi va chạm
+ Thuốc sơn móng tay:
* Phải để tiêu bản bốc hơi, khô bớt ở viền hàn, ấn xem còn hở không Sau đó hàn lần thứ 2 và để khô Phương pháp này giản dị không cần dụng cụ đặc biệt
* Nếu hàn kín, mẫu lưu giữ tốt, trứng giun, sán còn nguyên vẹn; ngược lại bào nang và dạng hoạt động lưu giữ không tốt
b) Lưu giữ KST lâu dài
Dùng dung dịch formol mà nồng độ tùy thuộc vào độ cứng của phân (phân rắn dùng formol 5%; phân sệt: formol 10%), phân có trứng giun có sức chịu đựng cao (20%, F2AM)
– Quy trình thực hiện:
Cho phân vào dung dịch cố định theo thể tích:
1 thể tích phân + 3 thể tích dung dịch bảo quản
Nghiền đều, lược qua lưới kim loại để loại những cặn bã lớn
Để 1 phút ở bình thủy tinh có chân để loại trừ những phần tử nặng
Đổ phần trên vào chai có nút và có nhãn
Ghi KST có trong mẫu, ngày lấy mẫu, nồng độ dung dịch cố định
+ KST được giữ tốt ở cặn lắng trong chai
+ Để làm giảm sự bốc hơi của formol, thêm vào dung dịch bảo quản 10% glycerine
Đối với dạng hoạt động của amíp
Trang 14+ Dùng dung dịch cố định và lưu giữ kể trên, dung dịch formol 10% chỉ giữ được amíp vài tuần, sau đó amíp sẽ bị ly giải
+ Dung dịch MIF: dung dịch này đắt tiền nhưng giữ được dạng hoạt động của amíp nhiều năm + Dung dịch PVA: giữ được dạng hoạt động của amíp và có thể làm phết nhuộm Hematoxyline sắt
Đối với dạng hoạt động của trùng roi đường ruột:
Những cách kể trên đều dùng được nhưng không tốt vì những dạng hoạt động thường thu tròn lại, không thấy được như khi quan sát trực tiếp Dung dịch tương đối tốt là MIF, F2AM
3.2 Giun, sán trưởng thành
a) Giun, sán tìm thấy đã chết trong phân
– Ít có giá trị vì chúng thường đã bị hủy hoại
– Hóa chất thường dùng là formol 5% hoặc cồn ethylic 700
b) Giun, sán còn sống trong phân
– Rửa bằng nước muối sinh lý
– Phương thức cố định thay đổi tùy theo loại giun, sán:
+ Giun:
* Lấy giun ra khỏi nước rửa để trong hộp Petri hay bát sứ
* Đổ ngay cồn ethylic 700 sôi (đun sôi cồn trong bình Erlenmeyer có khuấy từ) Cách cố định này làm giãn giun ngay lập tức
* Giữ trong bình thủy tinh có nút mài Không đậy bằng nút bấc hay cao su vì sẽ làm hư mẫu mau chóng
Lưu ý:
* Không cố định bằng cồn lạnh
* Không làm chết giun trong NaCl 0,85%
* Không dùng dung dịch formol
* Lưu mẫu trong cồn 700, trong chai thủy tinh nút mài hoặc nút cao su
c) Loại giun có kích thước nhỏ
– Để từng lô giun trong ống nghiệm chứa cồn ethylic 700, đậy nút bông gòn không thấm nước, bao miệng
– Phải dán nhãn, viết ngày bằng bút mực tàu, bút mỡ
– Để cả lô vào bình có nắp, dưới lót bông thấm nước, đổ đầy cồn ethylic 700, đậy nắp Tránh cồn bay hơi (nắp phải có vòng cao su)
3.3 Những điều cần biết khi lưu giữ KST lâu dài
Trang 15– Giun mất độ trong và màu tự nhiên: khi bị cố định trở nên đục và hơi trắng nhưng giữ được rất lâu trong cồn
– Trứng giun, sán thì dễ nhận nhưng không giống hệt như trong phân tươi Vài loại trứng nhưtrứng giun đũa, trứng giun móc sẽ bị phân bào nếu dung dịch cố định không đủ nồng độ (dạng phân bào không bao giờ gặp trong phân tươi)
– Bào nang đơn bào ở dạng tươi thì nhân có màu kém Sau một thời gian lưu, những nhân này không nhuộm màu nhưng lại rõ hơn là ở trạng thái tươi
– Dạng hoạt động của amíp mất nhanh chóng độ chiết quang trong dung dịch formol
– Trong MIF, amíp không bị ly giải, nhận ra dễ Ngược lại, sau khi để trên lam kính và đậy bằng
lá kính, màu của chúng biến mất, không thể dùng làm mẫu để lâu dài trên lam kính và lá kính
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Thế nào là thu thập phân đúng quy cách?
2 Đối với anh (chị), điều gì quan trọng trong khâu thu thập phân?
3 Theo anh (chị) hiện nay, các phòng xét nghiệm trong nước ta có chú trọng đến việc lấy bệnh
phẩm? và kết quả của việc có/không chú trọng đến việc lấy bệnh phẩm là gì?
4 Bảo quản bệnh phẩm có ích lợi gì?
5 Nêu tên những hóa chất bảo quản phân thường được dùng, cho biết ưu và nhược điểm của từng
hóa chất bảo quản được nêu
6 Cách bảo quản đơn bào khác với cách bảo quản giun, sán như thế nào?
7 Hóa chất bảo quản có ảnh hưởng gì đến KST khi KST được ngâm trong thời gian lâu dài?
Trang 16Không nên để phân ngoài trời, không có nắp đậy; không nên để lọ phân trên phiếu xét nghiệm hoặc để dồn mẫu vào cuối buổi mới xét nghiệm
Đối với phân được bảo quản trong dung dịch cố định thì quan sát đại thể không thực hiện được
Để phát hiện được KST chúng ta cần phải dùng kính hiển vi để quan sát (vi thể)
1 QUAN SÁT ĐẠI THỂ
Quan sát đại thể (bằng mắt hoặc kính lúp) để ghi nhận trạng thái, màu sắc, các chất lạ, tìm kiếm
và xác định các loại giun, sán được thải ra theo phân
– Mô liên kết: màu trắng như xà cừ Xem dưới kính hiển vi sau khi làm trong với acid acetic sẽ
thấy những sợi dài
– Máu: chỉ cần ghi nhận sự hiện diện máu tươi hoặc đã được tiêu hóa làm phân có màu đen đều – Mủ: gồm có nhiều bạch cầu đã biến dạng
– Các cặn bã thực vật chưa tiêu hóa, thường dưới hình thức sợi
2 QUAN SÁT VI THỂ
Quan sát vi thể có thể được thực hiện với kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp, tập trung KST trong phân, kỹ thuật chuyên biệt, cấy và nhuộm cố định
II KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM PHÂN TRỰC TIẾP
Kỹ thuật xét nghiệm phân trực tiếp sử dụng phân hòa tan trong nước muối cho phép phát hiện sự
di động của thể hoạt động đơn bào, trứng giun, sán, ấu trùng giun và các vật thể bất thường trong phân (hồng cầu, bạch cầu,…)
Trang 173 QUY TRÌNH LÀM TIÊU BẢN PHÂN
Lấy một tấm lam kính sạch, khô Dùng viết chì sáp chia lam kính ra làm 3 phần Ghi tên bệnh nhân vào ô nhỏ ở đầu lam kính
Nhỏ lên lam kính 1 giọt NaCl 0,85% vào ô giữa, 1 giọt Lugol ở ô cuối
Dùng que gỗ lấy một ít phân bằng đầu que diêm, hòa tan phân vào giọt NaCl 0,85%
Lấy phân lần thứ hai rồi hòa tan phân vào giọt Lugol
Bỏ que gỗ vào dung dịch sát trùng
Đậy lá kính lên 2 giọt phân
Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển
Trang 18
4 TIÊU CHUẨN CỦA MỘT TIÊU BẢN TỐT
– Không quá dày: phân nhiều sẽ làm tiêu bản đục tối, che lấp KST, khó phát hiện
– Không quá mỏng: ít phân quá sẽ không tìm thấy KST, trừ khi chúng
quá nhiều
– Tiêu bản có độ dày vừa phải khi thấy được chữ in trên tờ báo đặt dưới tiêu bản
– Tiêu bản không có bọt khí, dung dịch phân không tràn ra quanh lá kính
5 KHẢO SÁT TIÊU BẢN DƯỚI KÍNH HIỂN VI
– Khảo sát tiêu bản phân bằng vật kính x10, khi muốn nhìn rõ chi tiết thì chuyển sang vật kínhx40
– Khảo sát mẫu phân theo hình chữ chi (zic zac) để không bỏ sót vi trường nào
Lưu ý:
Trang 19– Nên để ánh sáng vừa phải
– Mẫu phân được xét nghiệm càng sớm càng tốt, để lâu KST sẽ chết hoặc thay đổi hình dạng, khó xác định
– Mẫu phân tìm trứng giun, sán: không để quá 10 giờ
– Mẫu phân tìm đơn bào: không để quá 2 giờ
6 NHỮNG SAI LẦM NÊN TRÁNH
– Phết phân không đều, chỗ dày, chỗ mỏng
– Nếu phết phân loãng quá hoặc đặc quá, nên bỏ đi, làm lại phết phân khác
– Đậy lá kính làm tiêu bản có bọt khí
– Dung dịch phân tràn ra xung quanh lá kính
– Quên không đặt lá kính lên phết phân thì phết phân sẽ chóng khô, vật kính bị bẩn và màu nhuộm sẽ nhạt rất nhanh
– Dùng nước thường để hòa tan phân thay vì dùng dung dịch NaCl 0,85%, nước thường sẽ làm biến dạng hay hủy hoại thể hoạt động của đơn bào
– Dùng nhiều ánh sáng quá Nên để tụ kính gần với bàn kính Giảm ánh sáng bằng cách đóng bớt màng chắn sáng hay dùng kính lọc màu xanh da trời lấy ánh sáng
7 CÁCH TRẢ LỜI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM PHÂN
Trên phiếu trả lời kết quả xét nghiệm phân, phải ghi các nội dung sau:
– Đặc tính của phân: phân cứng, mềm, nhão, có khuôn, lỏng,…
– Màu sắc của phân: vàng, xanh, nâu, đen,…
– Các yếu tố bất thường thấy được bằng mắt: chất nhày, máu, đốt sán,…
– Kỹ thuật sử dụng: soi trực tiếp, kỹ thuật tập trung Willis,…
– Kết quả:
+ Âm tính: tìm không thấy trứng và bào nang của KST đường ruột
+ Dương tính, viết ra các chi tiết sau:
* Tên tiếng Việt và tên khoa học của KST
* Trứng, thể hoạt động, bào nang, ấu trùng
* Mật độ nhiễm trên tiêu bản:
– Lá kính: rửa tương tự như lam kính nhưng chỉ sấy khô ở 600C
Trang 20
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Mô tả kỹ thuật làm tiêu bản phân để soi trực tiếp tìm KST
2 Nêu những sai lầm có thể gặp khi làm tiêu bản phân soi trực tiếp
3 Trình bày cách ghi phiếu trả lời kết quả xét nghiệm phân
Kỹ thuật làm tiêu bản phân
2 Ghi tên bệnh nhân lên lam kính. Ghi rõ tên hoặc ký hiệu, đối chiếu với tên
trên phiếu xét nghiệm.
3 Nhỏ lên lam kính 1 giọt NaCl 0,85% và
5 Cho phân vào giọt Lugol và khuấy. Lượng phân vừa đủ, khuấy tan đều, tiêu
bản không quá dày, không quá mỏng.
phân không tràn ra mép lá kính.
7 Đặt tiêu bản lên bàn kính hiển vi Tìm
Trang 211.1 Kỹ thuật dùng nước muối bão hòa (Phương pháp Willis)
– Phương pháp này được dùng để tìm trứng các loại giun, sán trong phân: trứng giun móc (rất
tốt), giun đũa, giun tóc, trứng sán dải (dây) và sán dải (dây) Hymenolepis sp
– Không dùng để tìm trứng sán lá, sán máng, ấu trùng giun lươn, bào nang và thể hoạt động của đơn bào
a) Nguyên tắc
Phân được hòa tan trong nước muối bão hòa Trứng giun, sán có tỷ trọng nhẹ hơn tỷ trọng của nước muối bão hòa nên nổi trên mặt nước, dính vào thủy tinh (lá kính) và được lấy ra để quan sát dưới kính hiển vi
Trang 22* Rửa lá kính sạch dầu, mỡ bằng cồn – ether :
Đổ dung dịch cồn – ether vào hộp Petri
Cho lá kính từng chiếc vào hộp Petri, ngâm trong 10 phút
Lấy ra lau khô từng chiếc và cất trong hộp Petri để dùng dần
d) Quy trình kỹ thuật
Cho khoảng 5g phân vào lọ penicilin hoặc ống nghiệm
Đổ vào lọ một ít nước muối bão hòa, khoảng 1/3 lọ
Dùng que khuấy tan phân trong nước muối
Cho thêm nước muối bão hòa vào đến khi mực nước ngang miệng lọ
Vớt bỏ các cặn bã nổi lên mặt nước
Nhỏ thêm vài giọt nước muối bão hòa vào lọ cho đến khi mặt nước cong vồng lên (không để nước muối tràn miệng lọ)
Đậy lá kính lên miệng lọ, tránh có bọt khí giữa lá kính và mặt nước
Để yên trong khoảng 10 phút
Nhấc thẳng lá kính lên (lá kính mang theo giọt nước muối ở mặt dưới) và đặt lên lam kính
Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi
Trang 23
Lưu ý:
– Nếu thời gian để ngắn quá trứng sẽ chưa nổi lên
– Nếu để lâu quá trứng sẽ ngấm nước muối và chìm xuống đáy
– Thời gian dài hay ngắn tùy theo độ cao của ống nghiệm hoặc chai lọ khi sử dụng Tốt nhất nên thử thời gian trứng nổi với ống nghiệm và chai lọ khác nhau
1.2 Kỹ thuật dùng dung dịch Sulfat kẽm
– Phương pháp này dùng để tìm trứng các loại giun và bào nang đơn bào trong phân
– Không dùng để tìm trứng sán dây, sán lá, sán máng, ấu trùng giun lươn Không dùng với phân
Trang 24 Hòa tan 5g phân với 2 – 3ml nước trong ống nghiệm
Thêm nước cho đủ 10ml
Lọc dung dịch trên qua tấm gạc vào ống ly tâm
Ly tâm 2000 vòng/phút trong 2 phút, đổ bỏ phần nước trong bên trên
Cho vào ống ly tâm một ít dung dịch Sulfat kẽm, khuấy đều, tiếp tục cho thêm dung dịch Sulfat kẽm vào ống cho đến cách miệng ống nghiệm khoảng 2 – 3cm
Trang 25 Khuấy đều phân trong ly có chân
Để lắng khoảng 1 giờ
Đổ bỏ phần nước nổi bên trên
Thêm nước, khuấy đều, để lắng 1 giờ, gạn bỏ phần nước nổi
Lập lại nhiều lần cho đến khi nước bên trên trong hẳn
Gạn bỏ phần nước nổi
Khuấy đều phần cặn, lấy 1 hoặc 2 giọt cặn khảo sát dưới kính hiển vi
a) Nguyên tắc
Mẫu phân được xử lý với formol để bảo quản KST có trong phân Chất bã được lược bỏ, dầu,
mỡ trong phân sẽ được tách ra bởi ether Sau khi ly tâm, cặn lắng xuống đáy và chứa tất cả KST có trong phân
Dùng que gỗ lấy khoảng 5g phân cho vào trong ống ly tâm
Cho 7ml dung dịch formol 10% vào ống ly tâm
Hòa tan phân và lọc phân qua lưới lọc vào ống ly tâm khác hoặc vào cốc có mỏ
Ly tâm 2000 vòng/phút trong 1 – 2 phút Hút bỏ phần nước nổi Có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi phần nước nổi trong
Cho 10ml dung dịch formol 10% và 3ml ether vào trong ống ly tâm
Đậy ống nghiệm bằng nút cao su, trộn đều bằng cách lắc mạnh trong vòng 10 giây
Mở nắp cao su, cho ống nghiệm vào máy ly tâm, quay 2000 vòng/phút trong 1 – 2 phút
Lấy ống nghiệm ra khỏi máy ly tâm, chất dịch trong ống nghiệm được chia thành 4 lớp:
Trang 26 Đổ bỏ 3 lớp dung dịch trên cùng bằng một động tác nhanh gọn, dốc ngược ống ly tâm
Dùng ống hút Pasteur lấy 1 giọt cặn nhỏ lên lam kính và khảo sát dưới kính hiển vi (có thể khảo sát cặn với dung dịch Lugol)
Lưu ý:
Ether, ethyl acetat hoặc xăng là dung môi rất dễ bay hơi và dễ cháy nên để xa nguồn điện, nguồn lửa Bảo quản các chất này trong bình hoặc chai lọ rộng, để nơi thoáng mát Không đặt các bình chứa Ether vào tủ lạnh, hơi Ether sẽ thoát ra và gây nổ
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Mục đích của phương pháp tập trung KST trong phân là gì?
2 Có bao nhiêu phương pháp làm tập trung KST trong phân?
3 Nêu ưu và nhược điểm của kỹ thuật Willis và kỹ thuật dùng formol–ether
4 Anh (chị) sẽ chọn kỹ thuật nào để làm tập trung phân? Cho biết lý do của sự chọn lựa này Xét nghiệm phân theo phương pháp tập trung Wills
1 Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất để làm
tiêu bản phân.
Dụng cụ và hóa chất đầy đủ để làm tiêu bản phân
2 Cho phân vào lọ xét nghiệm Lượng phân đúng quy định 5 gram
3 Đổ nước muối bão hòa vào lọ xét
5 Đậy lá kính miệng lọ xét nghiệm.
Không có bọt khí, bọt nước Dung dịch phân tiếp xúc với lá kính ở vị trí cân đối trong thời gian 15 phút.
Trang 27Xét nghiệm phân theo phương pháp tập trung formol–ether
ĐỂ PHÁT HIỆN KÝ SINH TRÙNG ĐƯỜNG RUỘT
6 Nhấc lá kính lên và đặt tiêu bản lên lam
kính.
Không có bọt khí, bọt nước.
Soi kính hiển vi tìm ký sinh trùng Soi đúng theo quy trình và quy định.
1 Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất để làm
tiêu bản phân.
Dụng cụ và hóa chất đầy đủ để làm tiêu bản phân
2 Cho phân vào lọ xét nghiệm Lấy nhiều nơi trên khối phân.
3 Đổ dung dịch formol 10% vào lọ xét
4 Dùng que gỗ quấy phân Lọc dung dịch
5 Quay ly tâm 2000 vòng/phút trong 1-2
phút, hút bỏ nước nổi. Hút bỏ nước nổi không làm xáo trộn cặn.
Lặp lại giai đoạn (5) nhiều lần Phần nước nổi phải trong.
6 Đổ dung dịch formol 10% vào lọ xét
nghiệm Cho thêm ether Lấy đúng 10ml formol và 3ml ether
7 Đậy nắp ống nghiệm và trộn đều phân
với formol và ether.
Nắp phải đậy kín và lắc mạnh ống nghiệm trong 10 giây.
8
Quay ly tâm 2000 vòng/phút trong 1-2
phút Lấy ống nghiệm ra khỏi máy ly
nhanh ống nghiệm xuống.
Sau khi đổ bỏ phần nước nổi, cặn không
bị xáo trộn.
11 Soi kính hiển vi tìm ký sinh trùng Soi đúng theo quy trình và quy định.
Trang 28
Trong một số trường hợp, do đặc điểm sinh học riêng biệt của một số loại giun, sán, đơn bào mà các phương pháp xét nghiệm thông thường không thể hoặc thỉnh thoảng mới phát hiện mầm bệnh trong phân
Để khắc phục tình trạng này, người ta đã nghiên cứu đưa ra các phương pháp xét nghiệm đặc thù phù hợp với những đặc điểm sinh học của từng loại KST
1 XÉT NGHIỆM TÌM TRỨNG GIUN KIM
1.1 Phương pháp GRAHAM (Phương pháp băng dính trong)
a) Nguyên tắc
Trứng giun kim thường được tìm thấy ở các nếp nhăn hậu môn, rất hiếm khi tìm thấy trong phân Vì vậy, phết hậu môn bằng keo dính được dùng để thu thập trứng giun kim Kỹ thuật này phải được thực hiện buổi sáng sớm trước khi trẻ làm vệ sinh hậu môn
– Băng keo trong
– Cây đè lưỡi hoặc muỗng dài 10cm
Đặt miếng lam kính đã dán băng keo lên cây đè lưỡi sao cho cạnh nhỏ của tấm lam kính cách
bờ cây đè lưỡi bằng 1/3 chiều dài của tấm lam kính
Gỡ băng dính ra khỏi lam kính và cuộn vòng qua đầu cây đè lưỡi, mặt dính để ra ngoài
Giữ chặt tất cả bằng bàn tay phải
Tay trái vạch hậu môn của trẻ, tay phải cầm cây đè lưỡi có dán băng keo ấn nhẹ, lật qua lật lại cây đè lưỡi chung quanh rìa hậu môn
Dán miếng băng keo lên mặt lam kính, dùng bông khô và sạch chà nhẹ miết chặt miếng băng keo xuống mặt lam kính
Khảo sát tiêu bản dưới kính hiển vi
Chú ý: Phải luôn mang găng tay trong suốt quá trình thao tác, tránh bị nhiễm KST
Trang 29– Que tăm bông
– Nước muối NaCl 0,85%
– Găng tay
b) Quy trình kỹ thuật
Dùng que tăm bông xoay chung quanh nếp nhăn hậu môn
Cho que tăm bông vào trong ống nghiệm có chứa 0,5ml NaCl 0,85%, rửa kỹ que tăm bông vào trong dung dịch nước muối
Dùng ống hút Pasteur hút nước muối ra lam kính, đậy lá kính và khảo sát dưới kính hiển vi
Trang 30Chú ý: Phải luôn mang găng tay trong suốt quá trình thao tác, tránh bị nhiễm KST
2 TÌM ẤU TRÙNG GIUN LƯƠN (PHƯƠNG PHÁP BAERMANN)
2.1 Nguyên tắc
Ấu trùng giun lươn có ái tính với nhiệt độ và ẩm độ cao và bị thu hút về nơi có nước ấm
Trang 312.3 Quy trình kỹ thuật
a) Lắp đặt hệ thống dụng cụ
Đặt phễu thủy tinh hoặc plastic lên giá
Đặt lưới kim loại lên phễu
Lắp ống cao su vào phễu
Kẹp chặt ống cao su lại
b) Thao tác
Trên lưới kim loại đặt 2 miếng gạc
Nếu phân lỏng, lót dưới miếng gạc 2 lớp giấy thấm
Đổ khoảng 150g phân tươi lên miếng gạc trên phễu
Đổ vào phễu nước ấm 45oC sao cho nước vừa sấp miệng phễu và ngập phân
Dùng bóng đèn rọi vào phễu để giữ nhiệt độ của nước
Để yên từ 1 – 3 giờ
Mở kẹp khóa ống cao su hứng nước vào cốc thủy tinh
Dùng ống hút Pasteur hút nước vào ống ly tâm
Quay ly tâm 1000 vòng/phút trong 5 phút
Gạn bỏ phần nước nổi
Dùng ống hút Pasteur hút cặn
Khảo sát cặn dưới kính hiển vi tìm ấu trùng
Chú ý: Phải luôn mang găng tay trong suốt quá trình thao tác, tránh bị nhiễm KST
Mẫu phân cũ từ 24 – 48 giờ đôi khi thấy ấu trùng giun móc
3 PHÁT HIỆN ĐẦU SÁN DẢI (SÁN DÂY) TRONG PHÂN
– Thuốc điều trị sán dải hiện nay rất hiệu quả nên việc tìm đầu sán dải trong phân cũng không
Trang 32cần thiết nữa Tuy nhiên, bệnh phẩm phân cũng nên được kiểm tra đầu sán và đốt sán mang trứng để định danh loài Khi thực hiện phải lấy cả bô phân để xét nghiệm
– Hòa phân với nước và cho qua hệ thống lọc với nhiều cỡ mắt lưới từ to đến nhỏ (sắp xếp mắt lưới từ to đến nhỏ)
– Ly tâm bỏ phần nước nổi, lấy cặn tìm đầu sán bằng kính lúp hoặc kính hiển vi
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Các phương pháp xét nghiệm phân trực tiếp có thể phát hiện được trứng giun kim, ấu trùng giun
lươn không? Tại sao?
2 Mô tả thao tác thu thập trứng giun kim
3 Kỹ thuật Baermann dùng để tìm ấu trùng giun lươn, có thể phát hiện được ấu trùng giun móc
không?
Kỹ thuật Baerman
Bài 7 CẤY PHÂN
– Cấy phân đặc biệt cần thiết để phát hiện nhiễm nhẹ giun móc, Strongyloides stercoralis và
Trichostrongylus spp và để định danh ký sinh trùng
– Ấu trùng thường gặp nhất trong phân là giun lươn
– Tùy thời gian vận chuyển trong lòng ruột và điều kiện của bệnh nhân, có thể tìm thấy ấu trùng
có thực quản phình (rhabditiform) và hiếm hơn là ấu trùng có thực quản hình ống (filariform) Cũng vậy, nếu vì một lý do nào đó mà phân bị chậm tống xuất, trứng phôi và cả ấu trùng giun móc cũng có thể tìm thấy trong phân
– Có nhiều kỹ thuật cấy: cấy qua giấy lọc Harada–Mori, cấy giấy lọc hộp thạch, cấy than
1 KỸ THUẬT HARADA – MORI
1 Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất để làm
2 Lắp đặt hệ thống cấy phân Đúng theo quy trình.
3 Để 2 lớp gạc lên lưới Gạc phải phủ toàn bộ mặt lưới
4 Để phân lên lớp gạc Lượng phân lớn, nguyên bô phân.
5 Đổ nước ấm lên phân Nước ấm khoảng 45 o C, vừa ngập phân
6 Để yên từ 1 - 3 giờ. Luôn giữ nước ấm trong suốt thời gian quy
8 Dùng ống hút Pasteur hút nước vào
Trang 331.1 Nguyên tắc
Một thanh giấy thấm có phân được cho vào ống nghiệm có ít nước ở đáy Nước thấm dần ngược lên thanh giấy trong khi ấu trùng giun di chuyển xuống đáy ống nghiệm
1.3 Quy trình kỹ thuật
Cho khoảng 3ml nước vào ống nghiệm
Trải phân lên miếng giấy thấm, cách 2 đầu khoảng 2 – 3cm
Đặt miếng giấy vào trong ống nghiệm sao cho nước chạm vào đầu dưới của miếng giấy nhưng không ngập đến phân
Lấy giấy bọc đầu ống nghiệm lại, châm lỗ để cho không khí vào trong ống nghiệm
Để ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, theo dõi hằng ngày, từ ngày 2 – 4
Hút nước ở đáy ống nghiệm, nhỏ 1 giọt lên lam kính
Nhỏ thêm 1 giọt dung dịch Lugol, đậy lá kính, để 1 phút
Quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi với vật kính x10
Chú ý: Phải luôn mang găng tay trong suốt quá trình thao tác, tránh bị nhiễm KST
2 CẤY PHÂN TRONG HỘP PETRI
Kỹ thuật này giống như kỹ thuật Harada–Mori, chỉ khác là dùng hộp Petri thay vì ống nghiệm
2.2 Quy trình kỹ thuật
Cắt giấy thấm thành hình chữ nhật 7 – 15cm
Cuốn chặt giấy thấm quanh ở miếng lam kính
Trải trên mặt giấy 1 gram phân
Để tất cả vào đáy hộp Petri có 10ml nước cất vô trùng và luôn giữ cho đáy hộp có 1 lớp nước trong suốt thời gian cấy
Trang 34 Để ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, theo dõi hằng ngày, từ ngày 2 – 4
Hút nước ở đáy hộp Petri, nhỏ 1 giọt lên lam kính
Đậy lá kính và quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi
Chú ý: Phải luôn mang găng tay trong suốt quá trình thao tác, tránh bị nhiễm KST
3 KẾT QUẢ
Nếu kết quả cấy dương tính:
– Đầu giờ thứ 48 có thể thấy:
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Về nguyên tắc, kỹ thuật cấy phân Harada–Mori có khác kỹ thuật Baermann không?
Kỹ thuật cấy phân Harada–Mori
1 Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất để làm tiêu
bản phân.
Dụng cụ và hóa chất đầy đủ để cấy phân.
2 Cho nước cất vào ống nghiệm Khoảng 3 - 5ml vào đáy ống nghiệm.
3 Trải phân lên thanh giấy, cách đầu giấy
Bọc giấy miệng ống nghiệm, châm lỗ để
không khí vào ống nghiệm.
Bọc giấy kín, châm những lỗ nhỏ để ruồi, kiến không chui vào được.
Để ống cấy ở nhiệt độ phòng trong 2 - 4
ngày.
Đủ thời gian quy định, không để nước ngập phân, không để nước cạn
6 Tháo bỏ giấy bọc miệng, hút 1 giọt nước
nhỏ lên lam kính Đậy lá kính.
Bỏ giấy vào dung dịch sát trùng.
Nước không tràn ra quanh lá kính.
7 Đặt tiêu bản lên bàn kính hiển vi Tìm KST Soi đúng theo quy trình và quy định.
Trang 35
Phương pháp soi tươi có giá trị rất lớn trong chẩn đoán các bệnh KST nói chung, nhưng không
đủ cho việc nhận dạng đơn bào Vì vậy, cần phải bổ sung thêm kỹ thuật nhuộm trong các kỹ thuật chẩn đoán bệnh KST, đặc biệt là đối với đơn bào Nhuộm cố định là kỹ thuật quan trọng nhất để xác định nhiễm đơn bào đường ruột, vì nó giúp cho việc phân biệt các bộ phận hình thể khác nhau nhờ vào sự bắt màu khác nhau của những bộ phận đó Phết nhuộm này được xem với vật kính dầu (độ phóng đại 1000 lần)
Có nhiều cách nhuộm, phổ biến nhất là nhuộm Trichrome (Wheatley – Gomori), nhuộm Haematoxylin sắt và nhuộm Zeihl – Neelsen cải tiến
1 NHUỘM TRICHOME (GOMORI – WHEATLEY)
1.1 Mô tả
– Nhuộm Trichome là một kỹ thuật nhuộm nhanh, đơn giản để nhuộm đơn bào đường ruột, nhất
là để xem các trùng roi, tế bào của người, nấm hạt men và các KST giả trong khoảng 45 phút
– Có thể dùng để nhuộm mẫu phân tươi hoặc lưu trong cồn Polyvinyl hay phân mới được gắn với dung dịch Schaudinn
– Không dùng để nhuộm mẫu phân đã được tập trung bằng formol – ether
1.2 Vật liệu, hóa chất
a) Thuốc nhuộm Trichome
– Thành phần:
– Cách pha và bảo quản:
+ Cho 1,0ml acid acetic vào các chất nói trên
+ Để yên trong 15 – 30 phút ở nhiệt độ phòng
+ Cho 100ml nước cất vào, dung dịch có màu tím
+ Bảo quản trong lọ thủy tinh hoặc nhựa ở nhiệt độ phòng Giữ được trong 24 tháng
b) Dung dịch cồn ethylic–Iod
– Thành phần:
– Bảo quản trong lọ màu tối
– Khi dùng pha loãng với cồn ethylic 70o cho tới khi có màu trà đậm
Trang 36– Giữ được khoảng 1 tuần hoặc tới khi nào thấy màu nhạt thì bỏ
c) Dung dịch Acid – Cồn ethylic
Cố định tiêu bản phân là bước rất quan trọng trong quá trình nhuộm để có được tiêu bản đẹp Trước đây, người ta thường cố định tiêu bản phân bằng dung dịch Schaudinn vì nó định hình rất tốt thể hoạt động và bào nang của đơn bào, nhưng vì dung dịch Schaudinn có thủy ngân, rất độc, nên ngày nay người ta có thể dùng dung dịch Schaudinn để cố định hay bỏ tùy người sử dụng
a) Quy trình cố định tiêu bản bằng dung dịch Schaudinn
Nhúng ngay phết phân vừa làm xong vào trong dung dịch Schaudinn, để 30 phút hoặc qua đêm, sau đó lấy tiêu bản ra và nhúng lần lượt vào:
b) Quy trình không dùng dung dịch Schaudinn
Nhúng tiêu bản phân vào:
Quan sát dưới kính hiển vi với vật kính dầu x100, nền sẽ có màu đỏ hay xanh lá cây, đơn bào có màu xám nhạt hay lá cây xanh nhạt
1.4 Kết quả
Trang 37– Thể hoạt động và bào nang của đơn bào được nhận thấy dễ dàng
– Trứng giun, sán và ấu trùng có thể khó nhận diện vì thuốc nhuộm đậm đặc
– Có thể nhận ra nấm men, sợi tơ nấm giả và các bạch cầu
– Không thấy được trùng bào tử như Cryptosporidium sp
2 NHUỘM HAEMATOXYLIN SẮT (SPENCER– MONROE METHOD)
Trang 38– Khi dùng, pha loãng với cồn ethylic 70o cho tới khi có màu trà đậm.
– Giữ được khoảng 1 tới vài tuần hoặc tới khi nào thấy màu nhạt thì bỏ
d) Dung dịch Acid – cồn ethylic
– Thể hoạt động và bào nang của đơn bào được nhận thấy dễ dàng
– Trứng giun, sán và ấu trùng có thể khó được nhận diện vì thuốc nhuộm đậm đặc
– Có thể nhận ra nấm men, sợi tơ nấm giả và các bạch cầu
– Không thấy được trùng bào tử như Cryptosporidium sp
– Các trùng bào tử đường ruột (Cryptosporidium, Cyclospora…) khó được xác định bằng cách
soi phân trực tiếp Vì vậy, người ta dùng phương pháp nhuộm để tạo sự tương phản giữa màu của KST và nền cặn bã phân
– Kỹ thuật nhuộm Ziehl–Neelsen cải tiến được dùng dựa trên đặc điểm kháng acid của các KST này Nguyên tắc của kỹ thuật này là nhuộm tiêu bản phân bằng carbon fuschin, sau đó tẩy
Trang 39màu và nhuộm nền tiêu bản bằng màu xanh Do có tính kháng acid nên các trùng bào tử giữ lại màu hồng của fuschin
– Kỹ thuật nhuộm Ziehl–Neelsen cải tiến có thể áp dụng cho phân tươi, hoặc phân được cố định trong formol, hoặc các loại bệnh phẩm khác như dịch hút tá tràng, mật, đàm (đờm)
– Xanh Malachit 1% hoặc Xanh Methylen 1%
a) Pha Carbon Fuchsin
– Dung dịch A:
– Dung dịch B:
– Trộn 10ml dung dịch A với 90ml B lại với nhau
– Bảo quản được 1 năm ở nhiệt độ phòng
b) Pha dung dịch xanh Malachit
Có thể thay xanh Malachit bằng xanh Methylen
Bảo quản được 1 năm ở nhiệt độ phòng
c) Pha dung dịch cồn – acid chlorhydric
3.4 Quy trình nhuộm
Trang 40CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1 Tại sao phải nhuộm phân?
2 Có mấy phương pháp nhuộm phân?
3 Mô tả phương pháp nhuộm Trichome
4 Nêu sự khác biệt giữa phương pháp nhuộm Trichome và Haematoxylin
Kỹ thuật nhuộm Ziehl–Neelsen cải tiến
1 Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất để làm tiêu
bản phân.
Dụng cụ và hóa chất đầy đủ để nhuộm phân.
2 Làm phết phân mỏng trên lam kính Phết phân mỏng, đều.
4 Cố định bằng methanol trong 5 phút Để
khô ngoài không khí. Đúng thời gian quy định.
5 Nhuộm với carbon–Fuchsin trong 5 phút. Phủ thuốc nhuộm phết phân, không
nghiêng đổ
6 Rửa lam kính với nước. Nhúng vào sâu vào chậu nước, tránh
cặn bám vào tiêu bản.
7 Tẩy màu bằng cồn–acid cho tới khi màu
không trôi ra nữa.
Nếu tẩy kỹ quá (thời gian tẩy kéo dài hoặc nồng độ acid đậm) sẽ làm cho KST không còn bắt màu sau khi nhuộm
8 Rửa dưới vòi nước chảy Dòng nước chảy vừa phải, không quá
mạnh