1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

97 339 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Mặc dù các chính sách đưa ra để hỗ trợ một phần tổn thất thu nhập cho người lao động thất nghiệp do bị mất việc làm nhưng trên thực tế một số nội dung của chính sách này hoạt động

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN ĐĂNG NINH

HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG

ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với đề tài “Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao

động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp

lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

TÁC GIẢ

Trần Đăng Ninh

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP 11 1.1 Khái niệm và đặc điểm người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp 11 1.2 Lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp 16 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp 27 1.4 Cơ sở pháp lý về hỗ trợ việc làm đối với lao động 30 Chương 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN 33 2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu 33 2.2 Thực trạng lao động thất nghiệp và số lao động thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp 37 2.3 Thực trạng nội dung hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp 40 2.4 Thực trạng các yếu tố tác động tới công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp 55 Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ

ĐỀ XUẤT NHỮNG BIỆN PHÁP HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN 62 3.1 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ cho lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp 62 3.2 Đề xuất các biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp 74 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế -xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải đương đầu Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là một hiện tượng khách quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ Việt Nam không nằm ngoài tác động đó Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh đến nền kinh tế Việt Nam, nền kinh tế phát triển chậm, các ngành công, nông ngư nghiệp, dịch vụ chậm lại, hàng loạt các nhà máy phân xưởng đóng cửa, giải thể, hoặc thu hẹp sản xuất dẫn đến một số lượng lớn lao động bị thất nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của người lao động nói riêng và đời sống kinh tế - chính trị của đất nước nói chung Cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, đủ năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu hoá là rất thấp, đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp với

xu hướng toàn cầu hoá dẫn đến lao động từ trình độ phổ thông cho đến lao động có trình độ chuyên môn đều thất nghiệp khó tìm kiếm được việc làm

Để thực hiện chính sách an sinh xã hội, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ lao động thất nghiệp để họ có cơ hội tìm kiếm việc làm và có thể quay trở lại thị trường lao động, được thể hiện bằng hàng loạt các chế độ của chính sách bảo hiểm thất nghiệp Sau hơn sáu năm đi vào cuộc sống (từ 01/01/2009) và hơn năm năm thực hiện chi trả, các chế độ bảo hiểm thất nghiệp đã thực sự tỏ rõ được vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái hiện nay Chính sách bảo hiểm thất nghiệp nhằm thay thế hoặc

bù đắp một phần thu nhập của người lao động bị mất việc làm và quan trọng hơn cả

là việc hỗ trợ người lao động học nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm giúp người lao động thất nghiệp nhanh chóng trở lại thị trường lao động để ổn định đời sống cho bản thân và gia đình

Trang 6

2

Mặc dù các chính sách đưa ra để hỗ trợ một phần tổn thất thu nhập cho người lao động thất nghiệp do bị mất việc làm nhưng trên thực tế một số nội dung của chính sách này hoạt động chưa thực sự hiệu quả, người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước hoặc bản thân người lao động cũng chưa thực sự quan tâm tới một số chính sách hỗ trợ này là do: các lớp tổ chức học nghề không phong phú đa dạng, các ngành nghề đào tạo chưa đáp ứng được thị trường lao động nên không thu hút được người lao động tham gia, thời gian học nghề ngắn, kinh phí hỗ trợ học nghề còn thấp, học xong lại không có cơ hội tìm kiếm việc làm hoặc không tìm được việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo; khả năng tư vấn, giới thiệu việc làm của cán bộ tư vấn cũng như cách thức tổ chức các hoạt động này còn hạn chế; hệ thống tư vấn, giới thiệu việc làm tại các cơ sở cung cấp dịch vụ việc làm chưa được chuẩn hóa; thông tin thị trường lao động chưa đa dạng,…Chính vì thế, chính sách bảo hiểm thất nghiệp mang mục đích hỗ trợ nhưng hiệu quả mang lại còn rất thấp Lao động thất nghiệp ngày càng nhiều, người lao động lại ít có cơ hội tìm được việc làm phù hợp, các nghề người lao động được đào tạo chưa đáp ứng được thị trường lao động Điều đó cho thấy việc nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp là một yêu cầu thực sự cần thiết và cấp bách

Hiện nay, có một số đề tài nghiên cứu vấn đề việc làm đối với lao động thất nghiệp Tuy nhiên, đa số là các công trình nghiên cứu về mô hình, cơ chế thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp Do đó, cần thiết có đề tài nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Hỗ trợ giải quyết việc làm đối

với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên” làm luận

văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiêncứu đề tài

* Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Thất nghiệp và lạm phát là hai vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời cũng là hai vấn đề nan giải và khó giải quyết đối với Chính phủ các nước Bởi vậy,

Trang 7

3

ngay sau khi ra đời, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã phê chuẩn Công ước thất nghiệp C2 vào năm 1919 Tiếp đến các năm sau, tổ chức này còn phê chuẩn các Công ước: Công ước phòng chống thất nghiệp C44, năm 1934; Công ước An sinh xã hội C102, năm 1952; Công ước xúc tiến, hỗ trợ và bảo vệ phòng chống thất nghiệp C168 năm 1991 Những công ước này là định hướng cho các nước (tham gia phê chuẩn Công ước) hoạch định chính sách tìm kiếm biện pháp phòng chống thất nghiệp để bảo vệ người lao động và gia đình họ Có 2 loại chính sách mà nhiều nước đã hoạch định và tổ chức thực hiện, đó là: Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp và chính sách Bảo hiểm xã hội (trong đó, có chế độ trợ cấp thất nghiệp) Để hoạch định và tổ chức thực hiện được những chính sách này là hoàn toàn phụ thuộc và điều kiện kinh tế, chính trị

và xã hội của từng nước Tuy nhiên, có một số nhà khoa học đã công bố những công trình nghiên cứu của mình liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp [8] Điển hình như: ở Cộng hoà Liên Bang Đức có Schmid, G; ở Mỹ có Wernev, H

và Wayne Nafziger, E; ở Anh có DaVid, W và Pearce, ở Nga có V.Pap Lốp

Ngoài ra, Lý thuyết của John Maynard Keynes, cho rằng, vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với chủ nghĩa tư bản là khối lượng thất nghiệp và việc làm “Lý thuyết về thất nghiệp, lãi xuất và tiền tệ”(năm 1936) Ông đã phân tích tìm

ra những nguyên nhân dẫn đến việc thất nghiệp đó là: chi tiêu và thu nhập (tổng cầu), tiết kiệm, tỉ lệ thất nghiệp; việc làm tăng thì thu nhập thực tế tăng, do đó tiêu dùng tăng (tâm lý chung) nhưng tốc độ tăng tiêu dùng chậm vì khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập tăng thêm Do đó, cầu giảm tương đối (so với sản xuất), cản trở việc mở rộng đầu tư của nhà tư bản Nhà kinh doanh sẽ thua lỗ nếu sử dụng toàn bộ lao động tăng thêm để thỏa mãn số cầu tiêu dùng tăng Để khắc phục phải có một khối lượng đầu tư nhằm kích thích quần chúng tiêu dùng phần tiết kiệm Đầu tư là đại lượng giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết thất nghiệp[16] Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu vào phản ánh thực trạng, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó trên thế giới Có một số nghiên cứu đã tiếp cận với bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp, song mới

Trang 8

4

chỉ đưa ra những định hướng về đối tượng tham gia, mức trợ cấp và thời gian trợ cấp Do đây là một vấn đề kinh tế - xã hội đặc thù của từng nước, cho nên chưa có một công trình nào bàn về hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp Chính vì vậy, những nghiên cứu của các tác giả kể trên có chăng chỉ là để tham khảo trong quá trình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

* Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Theo thống kê từ Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, từ ngày 01/01/2012 đến hết năm 2016, các Trung tâm Dịch vụ việc làm trên cả nước đã tiếp nhận được 2.533.148 lượt người đăng ký thất nghiệp (trong đó năm 2013 tăng 32.217 người (tăng 7,45%), năm 2014 tăng 51.910 người (tăng 11,17%), năm 2015 tăng 10.849 người (tăng 2,1%), năm 2016 tăng 65.108 người (tăng 12,35%); trong đó

có 2.503.303 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp; số người hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm trong năm 2012 với 342.145 lượt người, năm 2013 với 397.338 lượt người, năm 2014 với 457.273 lượt người, năm 2015 với 473.791 lượt người; số người thất nghiệp có nhu cầu học nghề và được hỗ trợ học nghề năm 2012 có 4.763 người, năm 2013 có 10.610 người, năm 2014 có 19.796 người, năm 2015 có 24.378 người, năm 2016 có 28.537 người [5]

Những năm qua ở Việt Nam đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu về chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo các nội dung khác nhau, trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi và thị trường lao động đang được hình thành Một số công trình tiêu biểu như:

Trong cuốn sách “Bảo hiểm xã hội - những điều cần biết” do Nhà xuất bản

thống kê phát hành (2001), Nguyễn Văn Kỷ đã có một bài viết: “Luật bảo hiểm xã

hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp” Nội dung bài viết chỉ tập trung vào một khía

cạnh nhỏ là: Khi xây dựng luật Bảo hiểm xã hội ở nước ta có nên hay không nên đề cập đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp [19]

Tại buổi hội thảo khoa học “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an ninh

xã hội”do Bộ tài chính tổ chức (2003), Đặng Anh Duệ đã có bài báo tham luận: “Để

xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” Bài báo này chủ

Trang 9

5

yếu tập trung nêu lên sự cần thiết phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ này [11]

Năm 2004, Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã

thực hiện một chuyên đề khoa học: “Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo

hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam” Trong chuyên đề này, một số nội dung và quan điểm khi lựa chọn hình thức

trợ cấp thất nghiệp ở nước ta đã được đưa ra Song việc phân biệt giữa bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp chưa được nghiên cứu, vấn đề tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta chưa được làm rõ[2]

Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học “Xây dựng cơ chế và mô hình tổ chức

thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp” của Bộ Lao động - Thương binh và xã

hội (2008) Báo cáo đã cho thấy một cách nhìn nhận về tầm quan trọng và thật sự cần thiết của chính sách bảo hiểm thất nghiệp mô hình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, thực trạng về thực hiện chính sách, thực trạng về lao động, việc làm và thất nghiệp [12]

Dự án “Khảo sát, đánh giá thực trạng khả năng tìm việc làm của người

hưởng bảo hiểm thất nghiệp và hiệu quả công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp” (2013) do Đặng Đình Long cùng

các cộng sự thực hiện tại Trung tâm Phát triển xã hội và Môi trường Vùng [5] Nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại, bất cập và đánh giá đúng về các nhân tố chi phối nhu cầu tìm việc của người hưởng bảo hiểm thất nghiệp cũng như các nhân tố tác động, chi phối hiệu quả của hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm và đạo tạo nghề cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính sách

BHTN nhằm tăng cường tính bền vững” (2013) do Lê Quang Trung làm Chủ

nhiệm Công trình nghiên cứu đã đề cập gián tiếp về các vấn đề liên quan tới quản

lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp, công trình cũng đã đề cập tới cơ quan thực hiện dịch vụ việc làm là các Trung tâm Giới thiệu việc làm, thực hiện chức năng là

Trang 10

6

cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua các hoạt động môi giới

Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện

nay” (2016) của tác giả Nguyễn Quang Trường [43] Trong công trình nghiên cứu

này tác giả đã đưa ra những nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước

về Bảo hiểm thất nghiệp và những tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về Bảo hiểm thất nghiệp

Các bài viết, cũng như công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến vấn đề giải quyết chế độ cũng như cơ chế hoạt động của BHTN Đối với vấn đề hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp chưa thấy có công trình cũng như bài viết nào nghiên cứu về nội dung này Đây là những vấn đề cần nghiên cứu và làm rõ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên; sử dụng phương pháp Công tác xã hội cá nhân để trợ giúp cho một đối tượng cụ thể; từ đó đề xuất, hoàn thiện các biện pháp hỗ trợ việc giải quyết việc làm cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng TCTN

Phân tích thực trạng và các hoạt động HTGQVL đối với người lao động đang hưởng TCTN từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

Phân tích thực trạng các yếu tố tác động đến hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng TCTN

Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp lao động đang hưởng TCTN

Trang 11

7

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác HTGQVL đối với lao động đang hưởng TCTN từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về đối tượng

Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng về hỗ trợ việc làm; cụ thể đó là: xác định nhu cầu hỗ trợ giải quyết việc làm; hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm; hỗ trợ đào tạo nghề; hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

* Phạm vi về khách thể

- Nghiên cứu trên tổng số 150 khách thể là người đang hưởng trợ cấp thất

nghiệp trong độ tuổi lao động

- Nghiên cứu 10 khách thể là cán bộ hỗ trợ việc làm cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, bao gồm: cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm, lãnh đạo các đơn vị, doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực hỗ trợ giải quyết việc làm cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

* Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng

Đây là phương pháp luận được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu của đề tài khi nghiên cứu hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Điện Biên Khi nghiên cứu về các vấn đề

về trình độ văn hóa, trình độ kỹ thuật, vị trí công việc, thu nhập cũng như nhu cầu của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp trong mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác của sự phát triển xã hội, cụ thể trong đề tài nghiên cứu mối

Trang 12

8

quan hệ biện chứng giữa các vấn đề của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp với việc làm, chính sách và các giải pháp về hỗ trợ giải quyết việc làm

* Phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử

Bằng cách tiếp cận phương pháp duy vật lịch sử để hiểu được thực trạng hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử, đồng thời xem xét các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ phía gia đình, cộng đồng và xã hội trong một quá trình liên tục, mang tính lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước Phương pháp này được áp dụng phân tích các tài liệu như:

- Tra cứu các tài liệu về Công ước quốc tế; các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về các chính sách trợ cấp người lao động bị thất nghiệp

và vấn đề việc làm đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Nghiên cứu các tài liệu về báo cáo, thống kê, văn bản của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến chính sách bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Nghiên cứu một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề việc làm đối với người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp

5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng cần nghiên cứu trong một không gian, thời gian

nhất định

Đề tài sẽ điều tra bằng bảng hỏi Trong đó, phát ra 10 phiếu điều tra dành cho cán bộ làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp; 150 phiếu điều tra dành cho đối tương hỏi là lao động đang hưởng TCTN (100 phiếu), lao động được hưởng TCTN đã hết thời gian hưởng TCTN (50 phiếu),

Trang 13

9

trong 150 phiếu điều tra, ngoài những nội dung câu hỏi dành riêng cho các đối tượng lao động khác nhau thì trong đó tác giả có kết hợp nội dung câu hỏi của cả 2 bảng hỏi để tổng hợp thành các nội dung làm sáng tỏ những vẫn đề còn chưa rõ và để biết thêm chi tiết các thông tin liên quan đến các vấn đề còn tồn tại và các nguyên nhân dẫn đến công tác hỗ trợ giải quyết việc làm chưa đạt hiệu quả cao, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm đưa công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đạt hiệu quả hơn

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu

và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những mong muốn nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ, thái độ của người ấy

Phương pháp tiến hành phỏng vấn sâu 20 đối tượng khách thể, trong đó gồm

15 người hưởng trợ cấp thất nghiệp và 5 người là cán bộ quản lý, nhân viên, lãnh đạo các đơn vị, doanh nghiệp có liên quan đến vấn đề hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

5.2.4 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là một phương pháp mang tính chọn lựa, có hệ thống và có mục đích để nhìn và lắng nghe về một tương tác hay một hiện tượng khi nó xảy

ra Quan sát là một cách để thu thập dữ liệu sơ cấp

Trong đề tài, phương pháp quan sát được sử dụng để ghi lại những nguyện vọng, mong muốn, thái độ của bản thân người lao động thất nghiệp về vấn đề hỗ trợ giải quyết việc làm; quan sát ghi lại những thái độ, hành vi, cách cư xử, trao đổi của nhân viên tư vấn, giới thiệu việc làm cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

5.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu điều tra, số liệu thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Trang 14

10

Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các

cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội

Các phát hiện của nghiên cứu cũng như thực trạng về vấn đề này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề, khóa luận

Giúp các cơ quan chức năng nắm bắt được thực trạng khó khăn để có biện pháp hỗ trợ và giải quyết về việc làm của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp trên địa bàn tỉnh

Tài liệu nghiên cứu chung cho vấn đề giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu đề tài có thể chỉ ra khái quát về thực trạng việc làm, đặc biệt là công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại địa phương Từ đó, giúp cho các cơ quan, đoàn thể và NVCTXH nắm bắt được vấn đề cần can thiệp và trợ giúp người lao động

Thông qua đề tài sẽ làm rõ vai trò và tầm quan trọng của NVCTXH trong công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, đồng thời đề xuất các giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm và sử dụng hiệu quả nguồn lực của chính sách bảo hiểm thất nghiệp

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các biểu, bảng, sơ đồ, luận văn gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Chương 2: Thực trạng hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại tỉnh Điện Biên

Chương 3: Ứng dụng phương pháp công tác xã hộicá nhân và đề xuất biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên

Trang 15

11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI

VỚI LAO ĐỘNG ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

1.1 Khái niệm và đặc điểm người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp

1.1.1 Một số khái niệm

* Khái niệm thất nghiệp

Tại điều 20 Công ước số 102 (1952) của tổ chức lao động Quốc tế (gọi tắt là ILO) về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội định nghĩa: “ Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sang làm việc, theo định nghĩa này để xác định tình trạng thất nghiệp cần hai điều kiện “có khả năng làm việc” và “sẵn sang làm việc”; sau đó Công ước số 168 (1988) bổ sung thêm vào định nghĩa này khái niệm “tich cực tìm kiếm việc làm”

Vậy, thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một

việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc, sẵn sàng làm việc và đang tích cực tìm kiếm việc làm

* Khái niệm trợ cấp thất nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niện trợ cấp là“cấp tiền để giúp đỡ cho người thiếu thốn, khó khăn” [20, tr.1045] Do đó, trợ cấp là khoản tiền mà Chính phủ chi cho các đối tượng đang gặp khó khăn về kinh tế cần được giúp đỡ để họ ổn định đời sống, giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn trước mắt và dần ổn định cuộc sống lâu dài cho bản thân và gia đình họ: ví dụ, trợ cấp cho người nghèo, trợ cấp cho người già cô đơn, trẻ mồ côi, người dân gặp thiên tai, hỏa hoạn, lũ lụt Ở Việt Nam, đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp là những người lao động đã từng làm việc, có tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp, bị mất việc làm, hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định của Luật lao động Đối tượng tham gia BHTN được quy định tại Điều 2 của luật BHXH số 71/2006/QH11 và mới nhất là Điều 43 của Luật việc làm

Trang 16

12

số 38/2013/QH13 Ngoài những đối tượng lao động được quy định nêu trên thì tất

cả các đối tượng lao động khác không được hưởng TCTN[17]

Vì vậy, trợ cấp thất nghiệp là khoản tiền hàng tháng được trả cho người lao

động tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ điều kiện hưởng bảo hiểm theo quy định của luật Bảo hiểm xã hội và được trích ra từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp nhằm trợ giúp cho người lao động khi bị mất việc làm giúp họ có khoản thu nhập tiếp tục duy trì, ổn định cuộc sống và nhanh chóng tìm được việc làm

* Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, trước hết phải là người thất nghiệp được quy định khoản 4, Điều 3 luật BHXH năm 2006 quy đinh: “người thất nghiệp là người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [5, tr.3]và đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo pháp luật hiện hành và nộp đầy đủ

hồ sơ đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng thời gian quy định [20]

Như vậy, người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp là những người lao

động trong độ tuổi lao động nhưng bị mất việc làm và được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí trong thời gian bị mất việc làm, đồng thời người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm

1.1.2 Một số dạng thất nghiệp của người lao động

Thất nghiệp được coi là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức xã hội nên vấn đề thất nghiệp, đặc biệt là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp được các nhà kinh tế lý giải rất khác nhau, nhưng tựu trung lại thất nghiệp thường được thể hiện dưới các dạng [19]:

- Thất nghiệp tự nguyện: Là hiện tượng người lao động từ chối một công việc nào đó do mức lương được trả không thỏa đáng hoặc do không phù hợp với trình độ chuyên môn, mặc dù họ vẫn có nhu cầu làm việc

Trang 17

13

- Thất nghiệp không tự nguyện: Là hiện tượng người lao động có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương được trả, nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người sử dụng nên trở thành thất nghiệp Ngoài ra, dựa vào những biến động của thị trường lao động và các biến động của nền kinh tế, còn phân ra 3 loại thất nghiệp:

- Thất nghiệp tạm thời: Là dạng thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không

ngừng của con người giữa các vùng, các công việc hoặc các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Trong một nền kinh tế có đầy đủ việc làm, nhưng vẫn có thể luôn có một bộ phận người lao động di chuyển từ nơi này sang nơi khác do nhu cầu của cuộc sống và chưa thể có việc làm ngay [19]

- Thất nghiệp có tính cơ cấu: Là dạng thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối

giữa cung và cầu lao động Thất nghiệp cơ cấu xảy ra trầm trọng trong giai đoạn đoạn khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế bị đình đốn, trì trệ, sản phẩm làm ra ít, kém chất lượng, tiền lương của người lao động, lãi suất, lợi nhuận đều giảm dẫn đến sức mua của xã hội cũng giảm Do đó, kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp do sự điều tiết của thị trường, khi sản xuất mở rộng thì thu hút thêm lao động, nhưng khi

bị thu hẹp thì lại dư thừa lao động Chính điều này có tác động đến cung và cầu trên thị trường lao động làm phát sinh hiện tượng thất nghiệp [18]

- Thất nghiệp chu kỳ: Là dạng thất nghiệp xảy ra khi mức cầu chung về lao

động thấp Khi tổng mức chi và sản lượng giảm, thất nghiệp sẽ tăng lên ở khắp mọi nơi trong toàn bộ nền kinh tế Khác với thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ phản ánh sự khủng hoảng, suy thoái của một nền kinh tế[19]

1.1.3 Đặc điểm, nguyên nhân và ảnh hưởng về lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

* Đặc điểm về lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Như đã nêu trên thất nghiệp là hiện tượng đang có việc làm bị thất nghiệp và có nhu cầu tìm kiếm việc làm, như vậy đặc điểm của lao động đang hưởng TCTN được thể hiện dưới các dạng như sau:

Trang 18

- Lao động đang hưởng TCTN là lực lượng đã qua đào tạo với trình độ từ sơ cấp nghề đến lao động có trình độ Đại học trở lên Đối với lao động này họ không cần phải đào tạo lại nếu công việc giống với công việc họ đã từng làm, họ có thể đáp ứng được ngay với công việc mà họ đã làm

- Lao động đang hưởng TCTN họ có nhu cầu tìm kiếm việc làm và mong muốn có việc làm ngay khi họ bị thất nghiệp Phần lớn số lượng lao động thất nghiệp này đều đã có gia đình, nên khi họ bị thất nghiệp, thu nhập của gia đình họ

bị cắt giảm dẫn đến đời sống của họ sẽ gặp khó khăn, cho nên đối với lực lượng lao động này việc làm luôn là vấn đề quan trọng nhất đối với họ

- Lao động đang hưởng TCTN theo như số liệu thống kê của Cục thống kê thì trình độ của đối tượng lao động đang hưởng TCTN này chủ yếu là công nhân (lao động phổ thông) lao động chủ yếu là lao động chân tay

* Nguyên nhân thất nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều nguyên nhân gây ra thât nghiệp,dưới đây là một số nguyên nhân chính [20]

- Do sự điều tiết của thị trường, chu kỳ kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp: Khi mở rộng thì thu hút thêm lao động, khi bị thu hẹp thì lại dư thừa lao động,

từ đó làm cho cung cầu trên thị trường sức lao động thay đổi, làm phát sinh hiện tượng thất nghiệp

- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ

thuật, đặc biệt là sự tự động hóa các quá trình sản xuất nên trong một chừng mực nhất định máy móc đã thay thế con người, làm số người thất nghiệp tăng lên

- Do sự gia tăng dân số và nguồn lao động, cùng với quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế: Nguyên nhân này chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát

Trang 19

15

triển Để hội nhập với nền kinh tế thế giới một cách nhanh chóng, các nước đang phát triển phải tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp Những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể và phá sản, số doanh nghiệp còn lại phải nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị và công nghệ, sử dụng ít lao động dẫn đến lao động dư thừa

- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm việc: Suy nghĩ của phần lớn lao động trẻ là đề cao việc học để "làm thầy" không

thích làm thợ; trình độ tay nghề của người lao động thấp, chưa bắt kịp với sự tiến bộ của phương tiện lao động kỹ thuật tiên tiến Những người này phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới và trong thời gian chưa tìm được việc làm phù hợp, họ trở thành thất nghiệp

* Ảnh hưởng của thất nghiệp

Thất nghiệp không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và gia đình

họ mà còn có tác động mạnh đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của môi quốc gia [21]

- Đối với người lao động và gia đình của họ: Thất nghiệp làm cho người lao

động hoang mang, buồn chán, thất vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng và dẫn tới khủng hoảng lòng tin Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ sẽ khó khăn

-Đối với nền kinh tế: Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội

không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa nền kinh tế đang suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư (vì vốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm, ).Thất nghiệp tăng lên cũng

là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến bờ vực của lạm phát

- Đối với chính trị, xã hội:Về khía cạnh xã hội, thất nghiệp là một trong những

nguyên nhân gây nên những hiện tượng tiêu cực, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương, luật pháp và đạo đức để tìm kế sinh nhai như: Trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, tiêm chích ma tuý, Ngoài ra, thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội

Trang 20

16

không ổn định; hiện tượng bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống tăng lên Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm.Từ đó,

có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đến biến động về chính trị

1.2 Lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm việc làm

Quan điểm của Nhà nước ta về việc làm được quy định trong khoản 2, Điều 3, Chương I của Luật Việc làm năm 2013 quy định "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm" [16,tr.1] Đây được coi là khái niệm đầy đủ nhất và là cơ sở pháp lý trong việc đề ra chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động nói chung và lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nói riêng

Do đó, trong phạm trù nghiên cứu của đề tài thì việc làm làhoạt động tạo ra

thu nhập mà không bị pháp luật cấm

* Khái niệm giải quyết việc làm

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2006- 2010, được Đại hội đại biểu toàn quốc ĐCSVN lần thứ X xác định: “Giải quyết việc làm là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chính sách xã hội, là yếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [16] Có thể hiểu rằng, giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc

và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước

Như vậy, giải quyết việc làm là để khai thác triệt để tiềm năng của người lao

động, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả

* Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm hỗ trợ được hiểu là: “Giúp đỡ lẫn nhau,

Trang 21

17

giúp đỡ thêm vào” [24,tr.457] Vì vậy, hỗ trợ là sự giúp đỡ lẫn nhau làm giảm bớt

khó khăn, bổ sung thêm những biện pháp giải quyết các vấn đề khó khăn

Hỗ trợ giải quyết việc làm có thể là hỗ trợ về vật chất và hỗ trợ về tinh thần Hỗ trợ về tài chính (hỗ trợ kinh phí cho người lao động để học nghề, hỗ trợ vay vốn để phát triển kinh tế hộ gia đình), các chương trình quốc gia về việc làm, hỗ trợ các

hệ thống dịch vụ việc làm để cung cấp các thông tin việc làm, hỗ trợ lao động các dịch vụ tư vấn miễn phí về việc làm, về pháp luật việc làm, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo mọi điều kiện để lao động có thể rút ngắn thời gian tìm kiếm việc làm để

ổn định cuộc sống

Như vậy, qua các hoạt động nêu trên có thể hiểu rằng:hỗ trợ giải quyết việc

làm là các hoạt động của Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhằm tạo ra các cơ hội, các hướng đi mới, giúp cho người lao động mất việc làm có được việc làm, đồng thời giúp cho người lao động có thể định hướng được nghề nghiệp, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với điều kiện, năng lực của bản thân từ đó ổn định đời sống hạn chế tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp

1.2.2 Nguyên tắc hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt, năm 2003 của nhà xuất bản Đà Nẵng “nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [50, tr.694] Để có kế hoạch trợ giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp do bị mất việc làm nhanh chóng trở lại thị trường lao động cần phải xây dựng các nguyên tắc

trong việc hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động, gồm:

Thực hiện theo đúng quy định của pháp luật: Công tác thực hiện hỗ trợ tư vấn,

giới thiệu việc làm, học nghề, kết nối cung – cầu lao động cần phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo tính pháp lý và độ tin cậy đối với những cơ quan, đơn vị thực hiện hỗ trợ giải quyết việc làm

Thông tin tư vấn, giới thiệu phải phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng và khả năng, trình độ của người lao động: Để thực hiện hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm

cho người lao động có hiệu quả thì việc lựa chọn thông tin phù hợp với nhu cầu

Trang 22

18

nguyện vọng và khả năng, trình độ của người lao động là rất cần thiết Qua đó, người lao động sẽ dễ dàng tiếp nhận thông tin và lựa chọn việc làm phù hợp

Phù hợp với nhu cầu lao động của thị trường: Việc tư vấn học nghề phải

hướng tới những nghề học xong sẽ tìm được việc, những nghề mà thị trường lao động đang cần; Đào tạo cần phải gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất tạo khả năng cung cấp lao động có chất lượng cao về tay nghề và sức khỏe tốt, có kỹ thuật, tác phong công nghiệp, có văn hóa,… cho thị trường trong và ngoài nước

Đào tạo nghề cần phải gắn với giải quyết việc làm: Người lao động sau khi

được đào tạo ngành, nghề cần phải được tư vấn, giới thiệu việc làm đảm bảo sau khi học xong sẽ có việc làm ổn định

Các hoạt động kết nối cung- cầu lao động phải đa dạng phù hợp với từng đối tượng: Hoạt động kết nối cung cầu lao động cần phải đa dạng với nhiều hình thức

khác nhau có như vậy mới thu hút được đông đảo lao động và người sử dụng lao động tham gia và phù hợp với các đối tượng khác nhau

Hỗ trợ kết nối cung- cầu lao động phải dựa vào số liệu phân tích, dự báo phát triển của thị trường lao động trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn:Số liệu về thị

trường lao động được phân tích, dự báo sẽ là cơ sở để xây dựng các kế hoạch tổ chức kết nối việc làm phù hợp cho người lao động Ngoài ra, còn để quản lý chặt chẽ lực lượng lao động trên địa bàn nhằm định hướng, hỗ trợ và có biện pháp khắc phục kịp thời để người lao động sớm tái hòa nhập với thị trường lao động

Phù hợp với đặc điểm tình hình của từng vùng, từng địa phương:Để đạt được

hiệu quả trong công tácHTGQVL thì ở mỗi vùng, mỗi địa phương phải có những biện pháp, chính sách phù hợp đối với các hoạt động HTGQVL từ đó khai thác tối

đa và hợp lý với những thế mạnh của địa phương mình

Đảm bảo công bằng xã hội: Mọi người lao động trong độ tuổi lao động có

nhu cầu hỗ trợ giải quyết việc làm đều được hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm không phân biệt trình độ, giới tính,…

Có thể nói rằng, việc xác định được các nguyên tắc về hỗ trợ giải quyết việc làm

là một vấn đề quan trọng để thực hiện các nội dung, biện pháp giải quyết việc làm

Trang 23

19

cho người lao động từ đó giúp cho người lao động chưa có việc làm sớm có việc làm

ổn định, giúp cho người lao động thất nghiệp sớm tìm được việc làm để quay trở lại thị trường lao động phù hợp với trình độ của họ

1.2.3 Nội dung của hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

1.2.3.1 Xác định nhu cầu hỗ trợ giải quyết việc làm của lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Để hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng TCTN được hiệu quả cao thì NVTCXH phải xác định được nhu cầu được hỗ trợ tìm kiếm việc làm của lao động đang hưởng TCTN,trên cơ sở đó tiến hành điều tra nhu cầu tìm kiếm việc làm mới và nhu cầu được hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người lao động Trước khi tiến hành điều tra cần phải xây dựng nội dung điều tra nhu cầu hỗ trợ tìm kiếm việc làm, trong đó gồm các nội dung thông tin về ngành nghề mong muốn, trình độ tay nghề, trình độ đào tạo, nơi làm việc, mức thu nhập và các chế độ phúc lợi khác

Việc xác định nhu cầu được hỗ trợ tìm kiếm việc làm giúp cho cơ quan quản

lý lao động nắm bắt được cầu về lao động, khối lượng việc làm cần phải đáp ứng là bao nhiêu và cũng đánh giá được trình độ lao động, chất lượng lao động, từ đó phân loại chất lượng lao động và tìm ra nguyên nhân bị mất việc làm của nhóm đối tượng lao động này Qua đó, giúp cho NVCTXH xây dựng kế hoạch trợ giúp và tiến hành can thiệp hỗ trợ giải quyết việc làm phù hợp cho từng nhóm đối tượng lao động

1.2.3.2 Hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm

Hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm giúp cho người lao động có thể tiếp cận được với thông tin về việc làm trên thị trường lao động, người lao động được cung cấp các thông tin về nhà tuyển dụng, vị trí việc làm, thu nhập và các thông tin phúc lợi khác Có thể nói, tư vấn giới thiệu việc làm mở ra các hướng đi mới cho lao động, nó gợi mở những bước đi sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện có của từng người lao động Với các nội dung của hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

Trang 24

20

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Bằng các kiến thức và kỹ năng chuyên môn, Nhân viên xã hội sẽ đưa ra những can thiệp để giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhận thức ra vấn đề để có những thay đổi theo chiều hướng tích cực

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về các vấn đề việc làm và làm việc với những nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực này để giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có được những dịch vụ tốt nhất

- Vai trò là người tham vấn: Nhân viên xã hội trợ giúp cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như: nhân viên xã hội tham gia tham vấn giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giải quyết các khó khăn về tâm lý, gỡ bỏ những rào cản để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ hỗ trợ giải quyết việc làm

Có thể nói, vai trò của NVCTXH trong việc tư vấn giới thiệu việc làm rất quan trọng, hoạt động này giúp cho người lao động đánh giá được trình độ năng lực hiện tại của bản thân có thể phù hợp được với những công việc nào của thị trường lao động

1.2.3.3 Hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động

Ngoài công việc và trình độ tay nghề đã có trước khi thất nghiệp, sau khi thực

sự không tìm kiếm được việc làm mới, người lao động được hỗ trợ một phần kinh phí để học nghề giúp họ sớm có được việc làm Chính vì thế, chính sách BHTN đã đưa ra chương trình hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động bị thất nghiệp bằng cách hỗ trợ kinh phí đào tạo các ngành, nghề mở ra cơ hội việc làm mới, điều này sẽ giúp người lao động có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ của người lao động

và nhu cầu thị trường lao động Với các nội dung của hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về chính sách học nghề, các ngành nghề đào tạo, thời gian học nghề, các quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia các khóa học nghề đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Trang 25

21

- Vai trò là người tham vấn: Ngoài việc giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giải quyết vấn đề tâm lý như: mặc cảm, tự ti, chán nản, thất vọng,… để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ đào tạo nghề tốt nhất thì nhân viên xã hội còn giúp tham vấn để giải quyết các vấn đề khó khăn nẩy sinh trong quá trình học nghề như nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp, khó hiểu; mâu thuẫn với các thành viên trong khóa học, với giáo viên dạy nghề, với mục đích là giúp họ thấy được tầm quan trọng khi tham gia học nghề

- Vai trò là người giáo dục: Là người cung cấp kiến thức, kỹ năng liên quan đến khóa học nghề phù hợp để họ tự nguyện tham gia hoặc thông qua các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp Với kiến thức có được sau khoa học, họ có đủ tự tin, tích cực tìm kiếm việc làm hoặc hoặc tự tạo việc làm để tạo thu nhập cho bản thân và cho gia đình

Vì vậy, thông qua hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề, NVCTXH sẽ giúp cho người lao động có được nhiều cơ hội lựa chọn ngành nghề, nhiều cơ hội có được việc làm,

tự tạo việc làm để ổn định đời sống cũng như đáp ứng nhu cầu giải quyết về việc làm cho lao động thất nghiệp

1.2.3.4 Hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động

Hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động đóng vai trò quan trọng giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có đầy đủ thông tin về thị trường lao động Hoạt động kết nối cung - cầu lao độngkhông những là dịch vụ giúp cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệpcó đầy đủ thông tin về đơn vị tuyển dụng như: ngành nghề dự tuyển, mức thu nhập, địa điểm làm việc , mà còn cung cấp cho nhà tuyển dụng những thông tin về người lao động như trình độ học vấn, trình độ tay nghề, kinh nghiệm làm việc Với các nội dung của hoạt động hỗ trợ kết nối cung - cầu lao động, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp đầy đủ thông tin về thị trường lao động, về vị trí việc làm, ngành nghề tuyển dụng, quyền lợi, nghĩa vụ và các chế độ phúc lợi khác khi đăng ký tìm kiếm việc làm

Trang 26

22

- Vai trò là người xử lý số liệu: Với vai trò này, nhân viên xã hội phải là người

am hiểu về thị trường lao động; là người nghiên cứu, thu thập, xử lý và phân tích thông tin một cách cụ thể và chính xác về thị trường lao động nhằm trợ giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp yên tâm, tin tưởng vào công việc đã được

tư vấn để họ đưa ra quyết định đúng đắn

- Vai trò là người đánh giá, kết nối dịch vụ: Với vai trò này, nhân viên xã hội

sẽ đánh giá năng lực của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp; đánh giá

về điều kiện, môi trường và tính chất công việc của các đơn vị tuyển dụng từ đó kết nối họ tới những cơ quan, doanh nghiệp phù hợp với khả năng của người lao động, đồng thời nhân viên xã hội còn là người kết nối các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được tiếp cận với các chính sách, dịch vụ và nguồn tài nguyên đang sẵn có

Có thể nói rằng, đây là một trong những giải pháp tối ưu nhằm hỗ trợ cho người lao động đang hưởng TCTN có đầy đủ thông tin về việc làm trên thị trường lao động nhanh chóng tìm kiếm được việc làm, giảm tải gánh nặng về việc làm cho người lao động một cách hiệu quả nhất

1.2.3.5 Hỗ trợ tự tạo việc làm

Đây là hoạt động mà người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng những nỗ lực cá nhân hay từ những nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để tự tạo ra những công việc phù hợp với năng lực và khả năng của bản thân.Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp có mong muốn được hỗ trợ để tự tạo việc làm sẽ được hỗ trợ đào tạo các ngành nghề mà sau khi học xong họ có thể tự phát triển nghề đã học, hỗ trợ về vốn, các hoạt động vay vốn tín dụng để người lao động tự tạo việc làm và phát triển sản xuất phù hợp với trình độ chuyên môn đào tạo Với các nội dung của hoạt động tự tạo việc làm, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: Là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng từ đó huy

Trang 27

- Vai trò là người biện hộ: Nhân viên xã hội sẽ dựa trên quyền lợi chính đáng của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệpđược quy định trong các luật, các pháp lệnh và nghị định để đảm bảo những lợi ích tối đa cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp khi bị mất việc làm trong lĩnh vực tự tạo việc làm

1.2.4 Phương pháp công tác xã hội trong việc hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Để trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội tái hòa nhập cộng đồng, theo giáo trình Công tác xã hội có đề cập đến các phương pháp công tác xã hội, đó là: phương pháp công tác xã hội cá nhân, phương pháp công tác xã hội nhóm, phát triển cộng đồng, quản trị công tác xã hội Tuy nhiên, đề tài tiếp cận và tìm hiểu ở ba phương pháp chính trong quá trình hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

1.2.4.1 Phương pháp công tác xã hội cá nhân

- Khái niệm: Công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) được xem như phương pháp

của CTXH thông qua mối quan hệ một - một giữa NVCTXH với cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi của môi trường giúp

họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường [9]

- Mục đích của công tác xã hội cá nhân: là phục hồi, củng cố và phát triển sự

thực hành bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình NVXH thực hiện điều này bằng cách giúp tiếp cận các tài nguyên cần thiết Về nội tâm, về quan

hệ giữa người với người và với kinh tế xã hội Phương pháp này tập trung vào các mối liên hệ về tâm lý xã hội, bối cảnh xã hội trong đó vấn đề của cá nhân và gia đình diễn ra và bị tác động [9]

Trang 28

24

- Tiến trình công tác xã hội cá nhân:Tiến trình là sự trao đổi tương tác giữa

những NVXH và thân chủ theo các bước với những hoạt động cụ thể nhằm giải

quyết vấn đề [19] Có 7 bước thực hiện, gồm:Bước 1.Tiếp cận và xác định vấn đề

ban đầu;Bước 2 Thu thập thông tin; Bước 3.Đánh giá; Bước 4.Lập kế hoạch trị liệu; Bước 5.Thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch; Bước 6 Lượng giá;

Bước 7 Kế thúc

1.2.4.2 Phương pháp công tác xã hội Nhóm

- Khái niệm: Công tác xã hội Nhóm (CTXHN) là phương pháp CTXH nhằm

giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với môi trường; là một công cụ quan trọng trong trợ giúp những người yếu thế bị áp bức và dễ bị tổn thương [7]

- Mục đích: Để thỏa mãn các nhu cầu và được người khác công nhận, được

quan tâm chăm sóc, được chia sẻ tình bạn, được học tập, được đóng góp cho xã hội nhằm trị liệu, giúp khả năng thích nghi, hòa đồng với xã hội, lấy lại niềm tin để đóng góp cho xã hội [7]

- Tiến trình công tác xã hội Nhóm: Trong CTXH nhóm, NVXH lấy tiến trình

sinh hoạt làm công cụ để giúp đỡ đối tượng Công cụ giúp đỡ là các hoạt động nhóm, mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân trong nhóm [53] Có 9 bước thực

hiện, gồm: Bước1 Hoạt động tiền hình thành nhóm; Bước 2.Đánh giá và lên kế

hoạch tập trung vào cá nhân; Bước 3 Lập kế hoạch hành động;Bước 4 Đánh giá

và lập kế hoạch tập trung nhóm; Bước 5 Hình thành nhóm; Bước 6 Xây dựng nhóm; Bước 7 Thực hiện Kế hoạch; Bước 8.Lượng giá và Bước 9 kết thúc

1.2.4.3 Phương pháp phát triển cộng đồng

- Khái niệm: Phát triển cộng đồng (PTCĐ) là phương pháp hay tiến trình qua

đó một cộng đồng (địa bàn, dân cư, quần thể, một tập hợp người có nhu cầu và mối quan hệ chung) dựa vào tiềm năng của chính mình và sự hỗ trợ từ bên ngoài để tự thay đổi, tự nâng cao năng lực nội tại, nhằm giải quyết các vấn đề và tiến tới mọi sự phát triễn bền vững [79]

Trang 29

25

- Mục đích: Nhằm tăng năng lực cho người dân và cải thiện điều kiện sống của

họ để cộng đồng có thể tự lực, tự cường, trong đó chú trọng cải thiện các điều kiện sống về vật chất và tinh thần và xây dựng, củng cố các nhóm, các tổ chức hợp tác trong cộng đồng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện cộng đồng; phát huy tối đa sự tham gia, nội lực của người dân trong tiến trình phát triển, đồng thời xây dựng năng lực quản lý và sự tự tin của cộng đồng để cộng đồng có thể tự phát triển

để thực hiện công bằng xã hội [79]

- Tiến trình các bước phát triển cộng đồng: Là một sự vận động phát triển

không ngừng của các giai đoạn, các bước và những hoạt động hướng đến mục đích

phát triển nhằm xây dựng các cộng đồng tự lực [110] Có 10 bước thực hiện, gồm:

Bước 1 Chọn cộng đồng; Bước 2 và 3 Đi vào và hội nhập cộng đồng; Bước 4 Tìm hiểu cộng đồng; Bước 5 Phát hiện và bồi dưỡng nhân tố tích cực; Bước 6 Lập kế hoạch; Bước 7 Tổ chức thực hiện kế hoạch; Bước 8 Liên kết với các nhóm khác trong và ngoài cộng đồng; Bước 9 Lượng giá, đánh giá;Bước10 Tiếp tục hoặc kết

thúc chương trình phát triển cộng đồng

1.2.5 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

Để có thể trợ giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tìm được việc làm phù hơp, cần phải hiểu được nhu cầu của họ là gì, họ thiếu những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và có thể tham gia vào các hệ thống đó Vì vậy, đề tài tiếp cận và áp dụng ở hai lý thuyết chính trong quá trình hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

1.2.5.1 Lý thuyết nhu cầu

Theo thuyết nhu cầu A.H.Maslow con người là một thực thể sinh - tâm lý xã hội; chính vì vậy con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống và nhu cầu cá nhân cần cho cuộc sống xã hội.Maslow là người đầu tiên đưa ra hệ thống nhu cầu con người từ thấp đến cao gồm 5 bậc, từ nhu cầu vật chất đến nhu cầu tự hoàn thiện và phát huy khả năng của cá nhân Mọi hành vi của con người đều có sự thúc đẩy của các nhu cầu và mong muốn thỏa mãn nhu cầu, là động lực để các cá nhân và nhóm hành động Mỗi cá nhân khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau sẽ có những

Trang 30

26

nhu cầu khác nhau Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc và

hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim

tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới [18, tr.165]

- Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn, uống, ngủ, không khí, nhà ở và thỏa mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất nguyên thủy nhất, lâu dài nhất của con người

- Nhu cầu an toàn: an toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…

- Nhu cầu chấp nhận và được yêu thương: Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau

- Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: lòng tự trọng và được người khác tôn trọng.Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện.Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, có địa vị, có danh dự,…

- Nhu cầu tự khẳng định mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong thang nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một

cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nhu cầu này bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu) nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

Một trong những nhiệm vụ của công tác xã hội là hướng đến hỗ trợ thân chủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản và cần thiết đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển trong xã hội Khi con người được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản thì mới có điều kiện để thỏa mãn các nhu cầu cao hơn và quan trọng là có được sự thoải mái và tính tích cực trong thực hiện các hoạt động Trong đề tài nghiên cứu, tác giả sẽ tìm hiểu về các nhu cầu và thực trạng đáp ứng các nhu cầu hỗ trợ việc làm của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, trong đó có các nhu cầu về tiếp cận thông tin về thị

Trang 31

Thuyết hệ thống được sử dụng trọng CTXH như một công cụ trợ giúp cho NVCTXH sắp xếp tổ chức một lượng thông tin lớn từ thân chủ nhằm xác định đánh giá được mức độ nghiêm trọng của vấn đề rồi tìm cách giải quyết.Do vậy, NVCTXH khi hỗ trợ GQVL đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì cần chỉ ra cho đối tượng của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và có thể tham gia vào các hệ thống đó

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

1.3.1.Yếu tố cơ chế chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động thất nghiệp

Cơ chế chính sách giải quyết việc làm của Nhà nước, của địa phương cũng là nhóm nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng TCTN Nội dung chính sách xác định đối tượng, chế độ, tiêu chí, điều kiện tham gia,…tùy từng hoạt động hỗ trợ mà có các chế độ về quyền lợi, mức hưởng và đưa ra những điều kiện ràng buộc cho các đối tượng tham gia Nội dung chính sách

Trang 32

28

còn xác định trách nhiệm của các ban ngành, địa phương trong việc thực hiện hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm.Để có thể đưa ra được các chính sách hỗ trợ phù hợp trước hết phải nắm bắt được đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh của từng đối tượng lao động Ví dụ, đối với lao động thất nghiệp thì trước hết họ có trình độ lành nghề, có thời gian thực tế trong công việc, các trang thiết bị công nghệ họ đã có thời gian thực hành và trực tiếp vận hành nó; đối với lao động nông thôn thì, kiến thức hạn chế, tác phong nông nghiệp, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; đối với lao động thanh niên thì nhóm đối tượng lao động này là lực lượng lao động trẻ có sức khỏe, có trình độ, lòng nhiệt huyết hăng say công việc từ đó mà đưa ra các chương trình hỗ trợ cho phù hợp với từng nhóm đối tượng lao động Có thể nói, các chính sách nhằm giúp đỡ cho người lao động đang hưởng TCTN của Chính phủ, chính quyền địa phương là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng TCTN, mục tiêu, nội dung của chính sách đưa ra có áp dụng vào đúng đối tượng, cần trợ giúp hay không, nếu chính sách đưa ra không đúng với mục tiêu, mục đích thì không giải quyết được việc làm cho người lao động mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu giải quyết việc làm, làm chậm lại quá trình giải quyết việc làm cho lao động đang hưởng TCTN

1.3.2 Yếu tố thuộc về cơ quan thực hiện hỗ trợ giải quyết việc làm

Các mục tiêu, nhiệm vụ của hỗ trợ giải quyết việc làm có được thực hiện tốt hay không, có đạt được kết quả tốt hay không là phụ thuộc vào các cơ quan quản lý lao động, các lãnh đạo, cán bộ của các cơ quan quản lý lao động.Nếu các nhà lãnh đạo coi trọng và nhận biết được tầm quan trọng của hoạt động giải quyết việc làm

sẽ có các quy trình,cách thức thực hiện chính sách tốt hơn, còn ngược lại, nó sẽ làm lãng phí kinh phí Nhà nước, kìm hãm tiến trình hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động và thực hiện các hoạt động chỉ mang tính chất chống đối, hình thức

Mỗi một chính sách của Nhà nước đưa ra nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động đều hướng tới giúp cho người lao động có được việc làm để ổn định cuộc sống nhưng có thực hiện được hay không đều phụ thuộc vào các cấp thực thi chính sách đó Nếu cơ quan thực thi chính sách việc làm của Nhà nước tốt thì các

Trang 33

29

chính sách mà Nhà nước hỗ trợ cho người lao động sớm đến được tay của họ nhưng nếu giải quyết không tốt thì không những quyền lợi của người lao động bị mất mà còn lãng phí kinh phí của Nhà nước bỏ ra Chính vì thế mà các ban, ngành, đoàn thể thực thi các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cần có được đội ngũ cán bộ đủ trình độ,

đủ năng lực để thực thi các nhiệm vụ chính sách của Nhà nước đề ra

1.3.3 Yếu tố về thị trường lao động

Thị trường lao động là nơi trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó Thị trường lao động luôn luôn biến động, với mỗi thời kỳ phát triển kinh tế xã hội thì nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực là khác nhau Trong thời kỳ nền kinh tế ổn định và phát triển, các lĩnh vực sản xuất phát triển, nhu cầu hàng hóa trên thị trường ngày một lớn, từ đó cầu về lao động sẽ rất lớn, các công ty, các tập đoàn tập trung phát triển sản xuất, nhu cầu nguồn nhân lực tăng nhanh chóng Lúc này thị trường lao động hoạt động rất sôi động và ngược lại khi nền kinh tế lâm vào cuộc khủng hoảng, kinh tế chậm phát triển, nguy cơ thu hẹp sản xuất, cắt giảm việc làmthì lúc này trên thị trường cầu về lao động giảm và cung lao động trên thị trường tăng cao gây áp lực về giải quyết việc làm cho lao động thất nghiệp Khả năng hỗ trợ giải quyết được việc làm cho người lao động nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ nhu cầu lao động trên thị trường

1.3.4 Yếu tố về bản thân người lao động

Một trong yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm đó là trình độ tay nghề và trình độ nhận thức của người lao động Nếu một đội ngũ lao động có trình

độ tay nghề cao, thì khả năng khai thác cung lao động cho nhóm lao động này rất thuận lợi, ngược lại, nếu trình độ của người lao động thấp thì việc khai thác các công việc gặp khó khăn Từ trước tới nay tư duy suy nghĩ thứ nhất cận thân thứ nhì cận lân đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân lao động Việt Nam Tư tưởng ỷ lại và trông chờ vào người khác sẽ giúp mình tìm kiếm việc làm mà không chủ động tìm kiếm, không tự tạo ra cho mình một hướng đi mới, nên hoạt động hỗ trợ gặp khó khăn trong công tác tuyên truyền và tư vấn cho lao đông Công tác vận động

Trang 34

30

lao động tham gia các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm của Nhà nước sẽ kém hiệu quả Tâm lý không thích thay đổi nghề nghiệp, đã từng làm việc gì rồi thì mãi muốn làm việc đó, không mạnh dạn tìm hướng đi mới trong nghề nghiệp của bản thân Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ giải quyết việc làm

1.3.5 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội thực hiện công việc hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thực tế hiện nay bao gồm: đội ngũ nhân viên tại các cơ sở dịch vụ việc làm; đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại Phòng Lao động - Thương binh xã hội các huyện, thị xã, thành phố; đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại các xã, phường, thị trấn; đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại các tổ chức đoàn thể

Năng lực của đội ngũ nhân viên công tác xã hội ở đây có thể được hiểu ở ba khía cạnh là thái độ, kiến thức và kỹ năng hỗ trợ người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp trong mọi hoạt động, nhất là giúp họ tìm được việc làm phù hợp Để trợ giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp ngoài những kiến thức chuyên môn đã được đào tạo thì họ cũng cần phải có các kỹ năng nghề nghiệp để nắm rõ những đặc điểm của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp do bị mất việc làm, những nhu cầu, mong muốn và những khả năng của người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp để xây dựng kế hoạch hỗ trợ phù hợp Tuy nhiên, trên thực tế đội ngũ nhân viên đa phần là chưa có bằng cấp chuyên môn phù hợp, chưa được đào tạo chuyên nghiệp với lĩnh vực được phân công Điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả công việc đặc biệt là các kỹ năng mềm để hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động

1.4 Cơ sở pháp lý về hỗ trợ việc làm đối với lao động

1.4.1 Cơ sở pháp lý về hỗ trợ giải quyết việc làm

Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và đã được cụ thể hóa trong Bộ luật Lao động năm 2013 đã có

Trang 35

31

Chương II về chính sách hỗ trợ việc làm, với các quy định cụ thể về chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm, chính sách hỗ trợ chuyển dịch việc làm đối với lao động ở khu vực nông thôn, chính sách việc làm công, chính sách hỗ trợ khác Việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Vì vậy, để thực hiện được điều đó, cần hoàn thiện chính sách, pháp luật về việc làm Ngoài ra, Nhà nước cũng

đã ban hành Luật Bảo hiểm Xã hội, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt Nam

đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ; Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, trong đó có những quy định về GQVL, đẩy mạnh tạo việc làm gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chủ động sửa đổi, bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện theo hướng thị trường, phù hợp dần với bối cảnh hội nhập quốc tế

Có thể khẳng định rằng, chính sách việc làm, hệ thống chính sách và giải pháp thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, phát triển thị trường lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn được xem là một trong thỏa đáng nhu cầu việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm, góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội

1.4.2 Cơ sở pháp lý về hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Ngày 16/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật việc làm trong đó có nội dung

về chính sách bảo hiểm thất nghiệp đã tạo ra khung pháp lý kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động và người sử dụng lao động trong việc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, đồng thời giúp cho việc tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp được thuận lợi hơn Ngay sau khi Luật việc làm được ban hành, Chính phủ và các

Bộ, ban, ngành đã khẩn trương xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật việc làm Nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật việc làm như sau:Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Đóng bảo hiểm thất nghiệp; Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm; Trợ cấp

Trang 36

32

thất nghiệp; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; Thông báo về việc tìm kiếm việc làm; Qũy bảo hiểm thất nghiệp; Quyền và trách nhiệm của cá nhân,

cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp

Có thể nói, hệ thống chính sách bảo hiểm thất nghiệp là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cho các cơ quan quản lý, đơn vị thực hiện giải quyết chính sách thất nghiệp được kịp thời, đúng đối tượng, đúng chế độ và đảm bảo quyền lợi cho người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp, đồng thời chính sách BHTN còn có tác động trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động và vấn đề an sinh xã hội

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp Về vấn đề người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp, đã làm rõ các khái niệm: thất nghiệp, trợ cấp người thất nghiệp, một số dạng thất nghiệp, đặc điểm, nguyên nhân và sự ảnh hưởng của thất nghiệp Về vấn

đề hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, đã làm rõ các khái niện: việc làm, giải quyết việc làm, hỗ trợ giải quyết việc làm, ngoài ra, còn đề cập đến vai trò của nhân viên công tác xã hội, các nguyê tắc hỗ trợ giải quyết việc làm, các phương pháp trong công tác xã hội, các lý thuyết ứng dụng để trợ giúp đối tượng đồng thời chỉ ra thực trạng hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và đưa ra những nội dung hỗ trợ giúp người lao động đang hưởng trợ câp cấp thất nghiệp có thể tìm được việc làm

Nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ các yếu tố thuộc chính sách, cơ quan thực thi chính sách, thông tin thị trường lao động, bản thân người lao động đến năng lực nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nhanh chóng trở lại thị tường lao động.Việc áp dụng, triển khai thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách, đúng pháp luật hiện hành là cơ sở pháp lý quan trọng trong hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng TCTN

Trang 37

33

Chương 2 THỰC TRẠNG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

* Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc; phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Phong Sa Lỳ (Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào) Tỉnh có diện tích tự nhiên là 9.562,9 km2; toàn tỉnh có 10 đơn vị hành chính trongđó có tới 05 đơn vị là thuộc huyện nghèo

Với đặc điểm điều kiện tự nhiên của tỉnh như trên thì việc thực hiện các nhiệm vụ CTXH nói chung và hỗ trợ giải quyết việc làm nói riêng gặp không ít khó khăn như: đương xá đi lại khó khăn; lao động thường có xu hướng đi lao động tự do sang nước bạn; trình độ văn hóa, tay nghề của người lao động còn ở mức thấp…

* Đặc điểm điều kiện kinh tế

Tỉnh Điện Biên có quỹ đất chưa sử dụng rất lớn (55%) mũi nhọn để phát triển nông, lâm nghiệp Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân trong giai đoạn 2011-2015 tính theo phương pháp so sánh tăng 9,12%/năm, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,53%/năm, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 7,3%/năm, khu vực dịch vụ tăng 12,95%/năm

*Đặc điểm về dân số

Tính đến 31/12/2016, dân số trung bình của tỉnh Điện Biên là 557.411 người, gồm 19 dân tộc sinh sống; trong đó dân tộc Thái chiếm 37,99%, dân tộc Mông chiếm 34,8%, dân tộc Kinh chiếm 18,42%, còn lại là các dân tộc khác như: Khơ

Mú, Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng, La Hủ… Dân số thành thị chiếm 15,1%, nông thôn chiếm 84,9% Dân số trong độ tuổi lao động là 325.750 người (chiếm 58,4% so với dân số); lực lượng lao động toàn tỉnh là 311.004 người, chiếm 95,5% so với dân số

Trang 38

34

trong độ tuổi lao động; trong đó: lực lượng lao động thành thị chiếm 15,6%, lực lượng lao động nông thôn chiếm 84,4%; số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 309.362 người

*Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất

Theo số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất tính đến ngày 31/12/2014, Điện Biên có tổng diện tích đất là 954.125,06 ha Trong đó: Đất sản xuất nông chiếm chủ yếu với 75,89% tổng diện tích.Đất phi nông nghiệp (sử dụng để ở, phục vụ mục đích công cộng, trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp…) chiếm 2,54% Đất chưa sử dụng vẫn chiếm diện tích tương đối lớn với 21,57%, chủ yếu là đất đồi núi, núi đá không có rừng cây

- Tài nguyên rừng

Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng lớn về rừng Toàn tỉnh có 350.854,79 ha đất lâm nghiệp có rừng (chiếm 48,46% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh) Trong đó: Rừng sản xuất chiếm 30,95%; rừng phòng hộ 55,31% và rừng đặc dụng chiếm 13,74%

- Tài nguyên khoáng sản

Qua tra cứu các tài liệu lịch sử liên quan cho thấy, Điện Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồm các loại chính như: nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và kim loại màu…

- Tiềm năng du lịch

Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá - lịch sử Nổi bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ - Mường Phăng; các cứ điểm Him Lam, Bản kéo, Độc lập; Các đồi A1, C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờ cát) Bên cạnh đó Điện Biên có nhiều hang động, nguồn nước khoáng và hồ nước tạo thành nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú như: Rừng nguyên sinh Mường Nhé; các hang động tại Pa Thơm (Điện Biên), Thẩm Púa (Tuần Giáo); các suối khoáng nóng Hua Pe, U Va; các hồ Pá Khoang, Pe Luông, Huổi Phạ,

Trang 39

35

2.1.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu

* Đội ngũ nhân viên làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm

Hiện nay, tại tỉnh Điện Biên, số nhân viên làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm là 177 người Trong đó, số nhân viên trực tiếp làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp là 27 người, gồm: nhân viên tại Trung tâm Dịch vụ việc làm và tại văn phòng đại diện của Trung tâm đặt tại các huyện là 17 người; Số nhân viên còn lại thuộc Phòng Lao động - TB&XH các huyện, thị xã, thành phố là 150 người Đội ngũ nhân viên làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp cơ bản là nam chiếm tỷ lệ 70,4% và có độ tuổi còn khá trẻ với độ tuổi từ 30 tuổi trở xuống chiếm tỷ lệ 55,6%, từ 30 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 44,4% Đây là nhóm tuổi còn hạn chế về kinh nghiệm nhưng lại có khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng mới để vận dụng tốt vào nhiệm vụ theo tình hình thực tế Về trình độ, đa phần đội ngũ nhân viên làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm đều có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên Tuy nhiên, số lượng nhân viên làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp còn ít so với khối lượng mà các nhân viên phải đảm nhiệm hàng ngày; đội ngũ nhân viên đa phần còn thiếu kinh nghiệm trong công tác tư vấn, định hướng nghề nghiệp, việc làm cho người lao động Do đó, phải có chiến lược, kế hoạch đào tạo phù hợp cho đội ngũ làm công tác hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp

* Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Theo số liệu thống kê, năm 2016 tỉnh Điện Biên có 1.384 cơ quan, đơn vị với 28.814 người lao động tham gia BHTN Trong đó, số lao động thất nghiệp đăng ký hưởng trợ cấp BHTN là 932 người và tăng dần qua các năm

- Độ tuổi và giới tính của người thất nghiệp: Trong nghiên cứu này, độ tuổi của người thất nghiệp trong khoảng từ 25 đến 40 tuổi (59,61%), đây là nhóm tuổi có sức khỏe lao động khá tốt cũng như có những kinh nghiệm và trải nghiệm trong công việc khi được tạo điều kiện hỗ trợ Đối với nhóm độ tuổi dưới 25 tuổi (21,35%) là độ tuổi đang ở thời điểm sung sức nhất để làm việc, nếu được cung cấp

Trang 40

36

những dịch vụ hỗ trợ cần thiết thì đây cũng là một nguồn lực đáng kể đóng góp vào thị trường lao động Về giới tính của người thất nghiệp, do đặc thù của tỉnh Điện Biên là một tỉnh miền núi, điều kiện đi lại khó khăn nên đa phần chủ yếu là lao động nam đi tìm kiếm việc làm ở xa còn lao động nữ thì làm việc ở nhà Do đó, tỷ

lệ nam giới thất nghiệp chiếm tỷ lệ cao hơn (56,7%)

- Dạng thất nghiệp của người lao động: chủ yếu người thất nghiệp ở Điện Biên

là thất nghiệp không tự nguyện (72,78%) do người lao động của tỉnh chủ yếu là lao động phổ thông và đều có nguyện vọng mong muốn được đi làm nhưng do trình độ hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu của chủ sử dụng lao động, còn lại (27,22%) là thất nghiệp tự nguyện do người lao động thấy công viêc mình làm bỏ ra nhiều công sức mà đồng lương thu về không tương xứng hoặc do công việc không phù hợp với trình độ chuyên môn Ngoài ra, còn một số dạng thất nghiệp của người lao động nữa như: thất nghiệp tạm thời chiếm 41,2% do công việc trong tỉnh không nhiều nên hầu hết người lao động đều đi xa quê để làm ăn và hàng năm số người thất nghiệp trở về địa phương nhiều, còn lại là thất nghiệp có tính cơ cấu chiếm 36,1% và thất nghiệp chu kỳ chiếm 22,7%

- Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn: Theo kết quả khảo sát về trình độ học vấn của nhóm người thất nghiệp thì có đến 57,8% số người thất nghiệp chỉ học hết tiểu học, số người thất nghiệp còn lại cũng chỉ mới hoàn thành bậc học phổ thông cơ sở (24,4%) và phổ thông trung học (17,8%) Ngoài yếu tố trình độ học vấn thì trình độ chuyên môn tay nghề cũng quyết định rất lớn đến việc làm Theo khảo sát, có đến 60,9% người thất nghiệp không có trình độ chuyên môn; 7,2% người thất nghiệp có trình độ sơ cấp; 20,3% người thất nghiệp có trình độ trung cấp; 6,2% người thất nghiệp có trình độ cao đẳng và chỉ có 5,4% người thất nghiệp có trình độ đại học Đây là một trong những khó khăn khá lớn khi hiện tại nhiều đơn vị, doanh nghiệp tuyển dụng đòi hỏi bằng cấp chuyên môn

- Vị trí và hoàn cảnh gia đình của người thất nghiệp: Kết quả khảo sát cho thấy

đa số người thất nghiệp sống phụ thuộc vào gia đình chiếm 48% (Trong đó: 9,8% phụ thuộc hoàn toàn, 38,2% phụ thuộc có giúp việc gia đình) Số còn lại là lao động thất

Ngày đăng: 12/06/2017, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2004), Chuyên đề khoa học“Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: huyên đề khoa học“Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại - vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Ban và các cộng sự tại Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2004
2. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2008), Nghiên cứu khoa học :”Xây dựng cơ chế và mô hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học :”Xây dựng cơ chế và mô hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và xã hội
Năm: 2008
3. Trần Xuân Cầu (Chủ biên), Mai Quốc Chánh (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Nxb ĐHKTQD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Xuân Cầu (Chủ biên), Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb ĐHKTQD
Năm: 2008
5. Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam MOLISA-ULSA-CFSI-ASI-AP-UNICEF (2012), Tập bài giảng: “Công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”,“Công tác xã hội làm việc với nhóm và cộng đồng”, “Công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình”, Khóa đào tạo CTXH cho các nhà quản lý cấp cao (CSWA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”", “"Công tác xã hội làm việc với nhóm và cộng đồng”, “Công tác xã hội làm việc với cá nhân và gia đình”
Tác giả: Dự án đào tạo CTXH tại Việt Nam MOLISA-ULSA-CFSI-ASI-AP-UNICEF
Năm: 2012
6. Đặng Anh Duệ (2003), Tham luận “Để xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận “Để xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Anh Duệ
Năm: 2003
8. Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh Tế Bảo hiểm - Trường Đaị học Kinh tế Quốc Dân (2000), Đề tài khoa học “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài khoa học “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh Tế Bảo hiểm - Trường Đaị học Kinh tế Quốc Dân
Năm: 2000
9. Vũ Mộng Đóa (2007), Giáo trình hành vi con người và môi trường xã hội (Lưu hành nội bộ), Khoa Xã hội học và Công tác xã hội, Đại học Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hành vi con người và môi trường xã hội (Lưu hành nội bộ)
Tác giả: Vũ Mộng Đóa
Năm: 2007
10. Nguyễn Xuân Khoát (2007), Lao động, việc làm và phát triển kinh tế- xã hội nông thôn Việt Nam, Nxb Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động, việc làm và phát triển kinh tế- xã hội nông thôn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoát
Nhà XB: Nxb Đại học Huế
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Kỷ (2001), Luật bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm xã hội – Những điều cần biết, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Kỷ
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
12. Nguyễn Ngọc Lâm (2006), Công tác xã hội với nhóm (Lưu hành nội bộ), Khoa xã hội học, Đại học mở - Bán công Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với nhóm (Lưu hành nội bộ)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2006
13. Phạm Ngọc Linh (2009), Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí kinh tế và Phát triển, (144), tháng 6/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Ngọc Linh
Năm: 2009
14. Đặng Đình Long và các cộng sự thực hiện tại Trung tâm Phát triển xã hội và Môi trường Vùng (2013), Dự án “Khảo sát, đánh giá thực trạng khả năng tìm việc làm của người hưởng bảo hiểm thất nghiệp và hiệu quả công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án" “"Khảo sát, đánh giá thực trạng khả năng tìm việc làm của người hưởng bảo hiểm thất nghiệp và hiệu quả công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề cho người hưởng bảo hiểm thất nghiệp
Tác giả: Đặng Đình Long và các cộng sự thực hiện tại Trung tâm Phát triển xã hội và Môi trường Vùng
Năm: 2013
15. Bùi Xuân Mai (2010), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
17. Nguyễn Hữu Quỳnh (Chủ biên) (1998), Đại Từ điển kinh tế thị trường, Viện Nghiên Cứu và phát triển kiến thức Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Từ điển kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Quỳnh (Chủ biên)
Năm: 1998
18. Nguyễn Tiệp (2009), Giải pháp phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm, Tạp chí Lao động và Xã hội, (369), Tháng 10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm
Tác giả: Nguyễn Tiệp
Năm: 2009
19. Lê Quang Trung (2013) Đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính sách BHTN nhằm tăng cường tính bền vững” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá và hoàn thiện cơ chế chính sách BHTN nhằm tăng cường tính bền vững
21. Nguyễn Quang Trường (2016) Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay”.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước về bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta hiện nay”
4. Cơ quan Hợp tác phát triển Đức GIZ và nhóm tác giả biên soạn Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu (Viện Khoa học Lao động và Xã hội) (11/2013), Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020 Khác
7. Nguyễn Thị Xuân Đào (2005), Tài liệu Công tác xã hội cá nhân, Trung tâm Nghiên cứu tư vấn Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng Khác
20. Trung tâm Dịch vụ việc làm Điện Biên, Báo cáo tổng kết 5 năm hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm 2012-2016, Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chính sách BHTN 2012-2016 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 2.1 Tình hình lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp (Trang 41)
Bảng 2.3: Lao động thất nghiệp theo vị trí công việc - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 2.3 Lao động thất nghiệp theo vị trí công việc (Trang 43)
Bảng 2.5: Tình hình thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cho lao động - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 2.5 Tình hình thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cho lao động (Trang 47)
Biểu đồ 2.7: Hình thức người thất nghiệp được tư vấn việc làm - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
i ểu đồ 2.7: Hình thức người thất nghiệp được tư vấn việc làm (Trang 49)
Bảng 2.9: Tình hình lao động đã  hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia hỗ trợ học nghề - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 2.9 Tình hình lao động đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia hỗ trợ học nghề (Trang 53)
Bảng 2.11: Tình hình thông tin vị trí tuyển dụng lao động phiên giao dịch việc làm - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 2.11 Tình hình thông tin vị trí tuyển dụng lao động phiên giao dịch việc làm (Trang 55)
Bảng 3.1: Vấn đề thân chủ gặp phải - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 3.1 Vấn đề thân chủ gặp phải (Trang 68)
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ sinh thái thân chủ - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ sinh thái thân chủ (Trang 70)
Bảng 3.4: Xây dựng bảng kế hoạch trợ giúp cho thân chủ - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Bảng 3.4 Xây dựng bảng kế hoạch trợ giúp cho thân chủ (Trang 72)
Sơ đồ 3.5: Mô hình huy động nguồn lực hỗ trợ cho thân chủ - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Sơ đồ 3.5 Mô hình huy động nguồn lực hỗ trợ cho thân chủ (Trang 76)
Hình sản xuất kinh doanh nhỏ - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Hình s ản xuất kinh doanh nhỏ (Trang 92)
Hình thức hỗ trợ việc làm - Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
Hình th ức hỗ trợ việc làm (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w