Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Vai trò nhân viên công tác xã hội trợ giúp người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” trình bày
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG TRÍ VIỄN
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG TRÍ VIỄN
VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Khắc Bình
Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Vai trò
nhân viên công tác xã hội trợ giúp người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm
xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” trình bày trong luận văn này được thu thập
từ kết quả hoạt động, kết quả điều tra của một số cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Bà Riạ - Vũng Tàu, tháng 3 năm 2017
Tác giả Luận văn
Dương Trí Viễn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn đầu tiên, sâu sắc và trân trọng nhất tôi xin gửi đến Quý Thầy Cô trong Hội đồng Khoa học xét duyệt đề cương Và PGS.TS Nguyễn Khắc Bình người hướng dẫn khoa học cho tôi, thầy đã tận tình, đầy trách nhiệm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Giám đốc, Phó giám đốc Học viện Quý Thầy Cô, Quý nhà khoa học trong và ngoài nước đang công tác tại Học viện Khoa học Xã hội đã hết lòng truyền đạt, trang bị những kiến thức kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện về thời gian cũng như hỗ trợ các tài liệu cho tôi tham gia học tập và nghiên cứu làm hành trang bước vào thực tiễn
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Sở LĐ-TBXH tỉnh BR – VT, lãnh đạo và viên chức quản lý, nhân viên chăm sóc Trung tâm xã hội tỉnh, Phòng LĐ-TBXH thành phố Bà Rịa, tỉnh BR – VT đã tạo điều kiện, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành thu thập số liệu phục vụ đề tài Luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên,
hỗ trợ tinh thần giúp tôi vượt trở ngại rong quá trình học tập, nghiên cứu
Dù có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót trong nội dung luận văn Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn
và góp ý chân thành của Quý nhà khoa học, Quý Thầy giáo, Cô giáo, và các đọc giả quan tâm để Luận văn của tôi được hoàn chỉnh
Xin trân trọng cảm ơn!
Bà Riạ - Vũng Tàu, tháng 3 năm 2017
Tác giả Luận văn
Dương Trí Viễn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN 8
1.1 Lý luận về người tâm thần 8
1.2 Một số lý luận về công tác xã hội 12
1.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp Người tâm thần 17
1.4 Cơ sở pháp lý về vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần 20
1.5 Một số yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần 202
Chương 2 : THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU 28
2.1 Khái quát về Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 28
2.2 Thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu 38
2.3 Một số yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm 52
Chương 3 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 57
3.1 Định hướng phát triển về nâng cao nâng chất lượng, hiệu quả vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần 57
3.2 Một số giải pháp nâng hiệu quả vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần 57
3.3 Khuyến nghị: 66
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow 9 Biểu đồ 2.1 Đặc điểm sức khỏe của người tâm thần tại Trung tâm Xã hội,% 33 Biểu đồ 2.2 Đặc điểm tâm lý của người tâm thần tại Trung tâm Xã hội 34 Biểu đồ 2.3 Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của người tâm thần đã thuyên giảm tại Trung tâm xã hội (tỷ lệ %) 34 Biểu đồ 2.4 Nhu cầu về tinh thần của NTT tại Trung tâm ( tỷ lệ %) 35 Biểu đồ 2.5 Đánh giá mức độ đầy đủ về kiến thức chuyên môn của cán bộ, viên chức quản lý, nhân viên Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc trang bị hiện nay 38 Biểu đồ 2.6 Đánh giá của CB, VCQL, NVCS Trung tâm xã hội về tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ chuyên môn 40 Biểu đồ 2.7 Thực trạng trình độ của CB,VCQL,NVCS Trung tâm xã hội tỉnh BR-VT (tỷ lệ %) 523
Bảng 2.1 Đánh giá của NTT đã thuyên giảm về khả năng đáp ứng nhu cầu cho NTT tại TTXH tỉnh BR-VT năm 2016 (tỷ lệ %) 36 Bảng 2.2 Đánh giá của cán bộ, viên chức quản lý, nhân viên chăm sóc về khả năng đáp ứng nhu cầu cho người tâm thần khi thực hiện vai trò người tham vấn năm 2016, % 41 Bảng 2.3 Đánh giá của CB, VCLĐ, NVCS về khả năng đáp ứng nhu cầu cho người tâm thần khi thực hiện vai trò người điều phối – kết nối dịch vụ năm
2016, % 44 Bảng 2.4 Đánh giá của CB, VCLĐ, NVCS về khả năng đáp ứng nhu cầu cho người tâm thần khi thực hiện vai trò người giáo dục, % 48
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực trạng ở Việt Nam nói chung và tỉnh BR -VT nói riêng số lượng người mắc các chứng rối loạn tâm thần ngày một gia tăng Việc chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần ở đại đa số Trung tâm BTXH mới chỉ dừng ở quản lý hành chính Phần lớn các Trung tâm hiện nay chỉ tập trung quản lý nuôi dưỡng NTT là chủ yếu Chưa phát huy được hết vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp hoặc tạo việc làm cho NTT đã thuyên giảm góp phần phục hồi sức khỏe Việc trợ giúp, tư vấn, lao động trị liệu giúp họ sớm bình phục thì chưa được thực sự coi trọng Nhiều gia đình NTT thuộc diện hộ nghèo chưa tiếp cận được các dịch vụ xã hội, kỹ năng chăm sóc NTT
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần và coi đây là một chính sách quan trọng không chỉ mang ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc như: Bộ Luật Dân sự, năm 2015; Quyết định 1215/2011/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí giai đoạn 2011-2020; Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội,… Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ là chủ yếu là trợ giúp xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với người tâm thần có hoàn cảnh khó khăn, trong khi hiện nay nhu cầu, đối tượng người tâm thần cần trợ giúp đa dạng Với hình thức trợ giúp truyền thống không mang tính hiệu quả bền vững, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tâm thần
Nghề công tác xã hội tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đang trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm về vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp người tâm thần chưa có và những hạn chế về ý thức, nhận thức của xã hội…Từ những
Trang 8khó khăn chung nêu trên, vai trò nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần trên địa bàn tỉnh chưa được quan tâm, đánh giá và phát huy một cách có hiệu quả, đến nay tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu chưa có một nghiên cứu nào về vấn
đề này Qua hơn 02 năm công tác (tháng 9/2014 đến nay), bản thân thật sự đồng cảm và chia sẻ những thiệt thòi của NTT so với những người bình thường và người có điều kiện, những trăn trở đó thúc đẩy tôi quyết tâm theo học lớp này để nghiên cứu và vận dụng kiến thức về CTXH trong lĩnh vực chăm sóc, nuôi dưỡng NTT có ý nghĩa góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng công tác trợ giúp cho NTT của các Trung tâm Vì vậy, tác giả chọn chủ đề “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” làm đề tài nghiên cứu trên cơ sở đó đưa ra những khuyến nghị về vai trò nhân viên CTXH đối với NTT tại các cơ sở công lập, ngoài công lập và cộng đồng nhằm thúc đẩy hoạt động trợ giúp NTT ngày một tốt hơn và theo hướng chuyên nghiệp hơn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Được biết đã có nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã quan tâm đến vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác chăm sóc sức khỏe cho người tâm thần trên nhiều phương diện Các tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về người tâm thần và vai trò của nhân viên công tác
xã hội nhằm mục đích chăm sóc người tâm thần nói chung và chăm sóc sức khỏe người tâm thần nói riêng như:
Tác giả Bùi Xuân Mai (2010), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội,
Trang 9Nghiên cứu đánh giá nhu cầu nguồn nhân lực về CTXH của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (2012) hay về chăm sóc sức khỏe tâm thần của Cục Bảo trợ xã hội và Đại học Lao động- Xã hội (2012) chỉ ra sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực CTXH nói chung hay CTXH trong lĩnh vực sức SKTT
Có thể thấy đã có những nghiên cứu liên quan tới SKTT, các rối loạn tâm thần cũng như những yếu tố ảnh hưởng Các nghiên cứu về người tâm thần thời gian trước và gần đây mới chỉ thu thập thông tin về người người tâm thần, các nghiên cứu tập trung vào một số đặc thù về người tâm thần hoặc nghiên cứu người tâm thần ở một số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra chất lượng chăm sóc người tâm thần và khuyến nghị về chăm sóc người người tâm thần
Vì vậy, việc nghiên cứu vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nhằm phát hiện, can thiệp sớm và trợ giúp, phục hồi hành vi, ứng xử của NTT, đồng thời có giá trị tham khảo đối với cơ quan, tổ chức hữu quan tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển nghề công tác xã hội nói chung, công tác xã hội đối với người tâm thần nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa một số lý luận về CTXH, vai trò nhân viên CTXH đối với người tâm thần và vai trò nhân viên CTXH nhằm đánh giá thực trạng vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị về giải pháp thiết yếu nhằm thực hiện tốt hơn vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm Xã hội nói riêng và vai trò nhân viên CTXH đối với người tâm thần tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những lý luận về CTXH, vai trò của nhân viên CTXH đối với người tâm thần và vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
Trang 10- Đánh giá thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm Xã hội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần theo hướng chuyên nghiệp tại Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò nhân viên Công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp
người tâm thần có nhiều vai trò, tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tác giả chỉ
tập trung nghiên cứu 06 vai trò cơ bản nội dung chủ yếu sau: vai trò Người
tham vấn; vai trò Người điều phối –kết nối dịch vụ; vai trò Người giáo dục; vai trò Người biện hộ; vai trò Người tạo môi trường thuận lợi; vai trò Người quản lý trường hợp
- Phạm vi về khách thể: Đề tài nghiên cứu trên 30 người tâm thần (đã
thuyên giảm) đang được chăm sóc tại trung tâm Xã hội, nhóm khách thể là
CB, VCQL, NVCS của Trung tâm xã hội
- Phạm vi về thời gian: vấn đề nghiên cứu từ 2013 đến nay
- Phạm vi về không gian: Đề tài được tập trung nghiên cứu tại Trung
tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Được tiếp cận với phương pháp luận là duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về đời sống của người tâm thần, thực trạng vai trò nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp người tâm thần trên địa bàn rút ra những
lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần trên địa bàn tỉnh
Trang 11- Nghiên cứu vấn đề mang tính hệ thống: nghiên cứu các vấn đề trong mối quan hệ trong các hệ thống có liên quan trực tiếp đến đề tài như: lương, chính sách về cơ chế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Các phương pháp thu thập thông tin
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
* Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Thông tin được thu thập từ các nguồn như: báo cáo, các văn bản sách báo, các kết quả nghiên cứu có liên quan
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi : Tiến hành điều tra bằng bảng
hỏi 25 nhân viên Công tác xã hội và 30 người tâm thần đã thuyên giảm hiện đang sống tại Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Với phương pháp này, nhằm mục đích để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng đời sống của người tâm thần, thực trạng thực hiện các vai trò trong quá trình trợ giúp người tâm thần
* Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các chuyên gia là
những người có hiểu biết sâu, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn về CTXH trong trợ giúp người tâm thần
5.2.2 Các phương pháp xử lý thông tin
* Phương pháp thống kê toán học
Trang 12Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội dung
phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích
* Các phương pháp xử lý thông tin:
Tổng hợp thống kê các nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) được quan sát, các nghiên cứu tài liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần nói riêng và lý luận về công tác
xã hội trong trợ giúp người tâm thần nói chung Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu say này liên quan đến vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp người tâm thần
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Từ những kết quả nghiên cứu thực tế, tác giả nghiên cứu đề tài sẽ phát hiện ra được những điểm mạnh, điểm yếu đạt được trong nghiên cứu thực trạng vai trò nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần, những nhu cầu cần được hỗ trợ của người tâm thần tại Trung tâm Những phát hiện trong hoạt động trợ giúp người tâm thần của nhân viên CTXH sẽ là cơ sở cho việc đổi mới và kiến nghị cho Ban Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo các cấp đề ra các giải pháp thiết thực thúc đẩy công tác trợ giúp người tâm thần ngày càng tốt hơn
Nghiên cứu này làm cơ sở để đánh giá hiệu quả về vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm Xã hội nhằm bổ sung thêm tài liệu tham khảo về ngành CTXH trong hoạt động trợ giúp NTT cho các tổ chức, cá nhân hoạt động và quan tâm
Trang 13Trong quá trình thực hiện đề tài góp phần tích lũy kinh nghiệm cho bản thân, giúp bản thân nâng cao một số kỹ năng của nhân viên CTXH
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong trợ giúp người tâm thần
- Chương 2: Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ
giúp người tâm thần tại Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò nhân viên công
tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC
XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN
1.1 Lý luận về người tâm thần
1.1.1 Khái niệm người tâm thần
Người tâm thần là những người mắc các BTT do hoạt động não bộ bị rối loạn gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, ý tưởng, tư duy, hành
vi, tác phong, tình cảm, cảm giác v.v làm cho bản thân bị giảm sút khả năng lao động, học tập, đảo lộn sinh hoạt, gây căng thẳng cho các thành viên trong
gia đình, tổn thiệt về kinh tế, tình cảm của gia đình và cộng đồng (Cục BTXH.2015 Giáo trình CTXH trong CSSKTT tập 1)
Có nhiều dạng rối loạn tâm thần được xác định bởi tổ chức y tế thế giới đó
là các dạng: Tâm thần phân liệt;Trầm cảm; Rối loạn lưỡng cực; Bệnh Alzheimer; rối loạn ăn uống; Ám ảnh; Ám sợ; Lo âu; Rối loạn tâm thần do rượu hay ma túy; Chậm phát triển trí tuệ: ….Các cá nhân ở mọi lứa tuổi đều có thể gặp phải dạng rối loạn tâm thần trên khi có những yếu tố tác động khác nhau
Những người mắc rối loạn tâm thần thường bị rối loạn về các khía cạnh tâm lý như cảm xúc, suy nghĩ và hành vi Họ có thể mắc các rối loạn này ở những mức độ khác nhau, song nhìn chung nó đều ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống, sinh hoạt và làm việc hàng ngày Họ gặp khá nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Và vì vậy họ thường bị giảm sút các chức năng xã hội, không có việc làm, khó khăn ra quyết định, giao tiếp và hòa nhập cộng đồng Nếu còn nhỏ thì họ gặp khó khăn tới trường, khó khăn trong học tập, ảnh hưởng nặng
nề về khả năng tư duy, tưởng tượng và phát triển nhân cách
1.1.2 Đặc điểm và nhu cầu của người tâm thần
* Đặc điểm về sức khỏe
Phần lớn bệnh nhân có thể ăn khỏe, chơi khỏe, đi đứng bình thường nhưng có ý nghĩ, cảm xúc, hành vi không phù hợp, kỳ dị, khó hiểu Bệnh nhân tâm thần thường không nhận thấy mình bị bệnh, từ chối điều trị tại chuyên khoa tâm thần
Trang 15* Đặc điểm về tâm lý xã hội
Những đặc điểm tâm lý chung của người tâm thần:
Thứ nhất người tâm thần thường có tâm lý tự ti, thiếu tự tin sống khép mình, không muốn giao tiếp do mặc cảm về bệnh tật và bị kỳ thị và phân biệt đối xử
Thứ hai là họ dễ bị kích động do ảnh hưởng của bệnh tật dẫn đến có những hành vi phá phách hoặc tự làm hại bản thân, gia đình hoặc người xung quanh
Thứ ba họ luôn có cảm giác cô đơn, bị cô lập trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày
* Đặc điểm về quan hệ xã hội
Đặc điểm bệnh nhân tâm thần có khuynh hướng xa lánh dần xã hội, mất dần thói quen nghề nghiệp, tự ti mặc cảm Bệnh tâm thần là một bệnh của não, người bệnh tâm thần có nhiều biến đổi sinh học phức tạp và chịu tác động rất mạnh của môi trường tâm lý xã hội không thuận lợi Người bệnh tâm thần bị nhiều thiệt thòi cho bản thân, gia đình và xã hội do bệnh gây ra các di chứng rối loạn hành vi, tình cảm, ý nghĩ bất thường
* Đặc điểm về nhu cầu con người trong xã hội
Sơ đồ 1.1 Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow
(Nguồn: Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of
needsMotivational Model)
Trang 16Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, những nhu cầu của con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp
- Tầng 1: Nhu cầu cơ bản thuộc về thể chất và sinh lý như: thức ăn, nước uống, bài tiết, hơi thở, thể dục, nghỉ ngơi Đây là những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống của con người, nếu thiếu chúng con người sẽ không tồn tại được nên họ phải đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày
- Tầng 2: Khi Nhu cầu cơ bản thuộc về thể chất và sinh lý được đảm bảo thì sẽ nãy sinh ra các nhu cầu được an toàn, được cảm giác yên tâm, được đảm bảo an toàn về thân thể, việc làm, gia đình, sưc khỏe, tài sản Để bảo vệ gia đình và cá nhân thoát khỏi những nguy hiểm trong cuộc sống họ tìm đến các tôn giáo, chùa chiềng…để thỏa mãn các nhu cầu về mặt tinh thần Các chế độ về mặt an sinh xã hội, BHXH chính là để đáp ứng các nhu cầu này
- Tầng 3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc, muốn được trong một nhóm cộng đồng, muốn được gia đình êm ấm, bạn bè thân hữu tin cậy Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn sẽ gây ra các bệnh trầm cảm, thần kinh
- Tầng 4: Nhu cầu được người khác tôn trọng, kính mến thông qua các thành quả, thành công của bản thân và nhu cầu cảm nhận quý trọng bản thân,
tự trọng và sự tự tin
- Tầng 5: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, Maslow mô tả nhu cầu này được sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhân là thành đạt Đây là nhu cầu lớn nhất của con người, được cống hiến, được tìm kiếm năng lực, trí tuệ và khả năng của mình
Thông qua thuyết nhu cầu của Maslow, các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho NTT được khái quát và tổng hợp tương tự như các bậc thang trên,
đó là dịch vụ về sức khỏe, vật chất, tinh thần và phát huy vai trò của NTT
Trang 17Chất lượng dịch vụ cho NTT cũng phát triển để đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao và ngày càng phát triển của NTT
1.1.3 Tầm quan trọng của việc trợ giúp người tâm thần
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhận định, SKTT có tầm quan trọng đứng
thứ tư sau các bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường Trên thế giới, hiện có khoảng 400 triệu người bị một trong các RLTT Hiện nay theo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các RLTT và hành vi do Tổ chức y tế thế giới xuất bản năm 1992 hiện có đến hơn 300 loại RLTT và hành vi như sa sút tâm thần: RLTT sau chấn thương sọ não hay viêm não; Các RLTT do sử dụng rượu và
ma túy; TTPL; Rối loạn hoang tưởng; Các loại rối loạn khí sắc như trầm cảm, hưng cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực…; Các loại rối loạn lo âu; Các rối loạn
ăn uống như chứng chán ăn tâm thần, chứng ăn vô độ hoặc các rối loạn giấc ngủ như chứng mất ngủ, ngủ nhiều, ác mộng, mộng du…Rối loạn tâm thần là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến trên thế giới, ước tính gây ra khoảng 14% gánh nặng bệnh tật toàn cầu
Những con số trên cho chúng ta thấy phần nào về thực trạng bệnh tâm thần hiện nay Trên thực tế, còn rất nhiều các chứng bệnh tâm thần đa dạng khác mà con người mắc phải Song do nhận thức của người dân về bệnh tâm thần còn nhiều hạn chế, nên việc phát hiện và điều trị kịp thời chưa được tốt Hoặc người dân quá coi nhẹ những triệu chứng tâm thần, họ cho đó là “bình thường” Hoặc ngược lại, với những bệnh nhân tâm thần phân liệt, cộng đồng lại có một cái nhìn kỳ thị, xa lánh và cho rằng những người như vậy “không bình thường”, là mối nguy hiểm cho mọi người xung quanh
Từ cách nhìn nhận về bệnh và người bệnh như vậy, sẽ dẫn đến hành vi chưa đúng trong chữa bệnh cũng như trong ứng xử với người bệnh Điều trị bệnh tâm thần cần đến thời gian dài Điều này liên quan đến vấn đề kinh tế của gia đình Không phải tất cả các gia đình bệnh nhân tâm thần đều có khả
Trang 18năng chi trả cho quá trình điều trị của người bệnh Vì vậy, nhiều gia đình để bệnh nhân đi lang thang, hoặc nhốt lại trong nhà
Áp lực cuộc sống và xã hội ngày càng tăng lên Bệnh tâm thần không loại trừ ai, từ những người dân lao động tay chân cho đến trí thức; những người ở các độ tuổi, vùng miền khác nhau đều có nguy cơ mắc bệnh Con số bệnh nhân và các chứng bệnh cũng ngày càng đa dạng Có thể thấy, nhu cầu chăm sóc và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần được đặt ra như một thách thức đối với cộng đồng và nhà nước
1.2 Một số lý luận về công tác xã hội
1.2.1 Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội như :
Theo C Zastrow (1996) : CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các
cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của
họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ [10, tr.03]
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị
Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: “CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành
vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề”
Hội đồng đào tạo CTXH Mỹ định nghĩa : CTXH là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả Hoạt động này bao gồm 3 nhóm:
Trang 19Phục hồi năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội Như vậy, sự có mặt của CTXH nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội, qua đó giúp họ bảo đảm chức năng xã hội đúng với vai trò
vị trí đảm nhiệm trong xã hội [15, tr.2]
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau, tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [24,tr.26]
CTXH tại Việt Nam được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình [11, tr.17]
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa khái niệm về CTXH như sau: CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo ASXH
Để cụ thể hóa khái niệm trên, Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ cũng khẳng định CTXH là góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người
và con người Hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh
Trang 20phúc cho người dân và xây dựng nhân cách sống đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc mang tính thuần phong mỹ tục
Như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [11,tr.19]
1.2.2 Mục đích công tác xã hội
Công tác xã hội hướng tới tạo ra sự thay đổi tích cực trong xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hòa giữ cá nhân, gia đình, xã hội hướng tới sự tiến bộ và công bằng xã hội
Hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội hướng tới 2 mục đích cơ bản sau: Một là, nâng cao nâng lực các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình, cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn
Hai là, cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò có hiệu quả [10,tr.4]
1.2.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội
- Khái niệm về vai trò
Vai trò trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1997) được định nghĩa là tác dụng, chức năng tổng sự hoạt động, phát triển của cái gì đó Hay vai trò còn được ám chỉ tính chất của sự vật, sự việc hiện tượng để nói về vị trí, chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó
Trang 21- Khái niệm về nhân viên công tác xã hội
Nhân viên CTXH là người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về CTXH có bằng cấp chuyên môn Đó là những người có khả năng phân tích vấn đề xã hội, có khả năng làm việc độc lập hoặc theo nhóm để giúp đỡ thân chủ của mình vượt qua khó khăn, tự vươn lên trong cuộc sống [11,tr.66]
- Vai trò nhân viên Công tác xã hội
NVCTXH có thể làm việc trong các cơ quan nhà nước ở các cấp, ở cộng đồng và trong các cơ sở cung cấp dịch vụ, trong các trung tâm như cơ sở bảo trợ xã hội, trường giáo dưỡng, mái ấm, nhà mở hay các tổ chức phi chính phủ Khi NVCTXH ở những vị trí khác nhau thì vai trò và các hoạt động của
họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm thân chủ mà họ làm việc
Theo quan điểm của Feyerico (1973) người nhân viên công tác xã hội
có những vai trò sau:
- Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân, gia đình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thụật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm
- Vai trò là người điều phối - kết nối dịch vụ (còn gọi là trung gian): NVCTXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho thân chủ các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có
từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề
- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng
- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền
Trang 22- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết
- Vai trò người tạo sự thay đổi: người NVCTXH được xem như người tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn
- Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tham gia như người cung cấp thông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người già
- Vai trò là người tham vấn: NVCTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như NVCTXH tham gia tham vấn giúp trẻ em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng
- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, NVCTXH giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: NVCTXH còn được xem như người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không
có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
- Vai trò là người xử lý dữ liệu: Với vai trò này, NVCTXH nhiều khi phải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn
- Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình,
Trang 23lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
- Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: NVCTXH đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong cộng đồng
1.3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp Người tâm thần
1.3.1 Nhu cầu đối với hoạt động trợ giúp Người tâm thần
Trước nhu cầu ngày càng cao về CSSKTT cho bệnh nhân tâm thần, nhằm giảm bớt gánh nặng do RLTT thần gây ra là những yêu cầu cấp thiết, không chỉ phụ thuộc vào yếu tố chủ quan mà còn phụ thuộc vào chất lượng, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận với các cơ sở CSSKTT của từng người Nhu cầu chăm sóc NTT đặc biệt là chăm sóc về mặt tinh thần thông qua những việc làm cụ thể, thiết thực, xây dựng mô hình CSSKTT toàn diện cho NTT, đảm bảo cho NTT được chăm sóc tốt hơn ngay tại nơi
họ sinh sống
Những người mắc rối loạn tâm thần thường bị rối loạn về các khía cạnh như tâm lý, hành vi Tùy từng bệnh nhân mà các rối loạn này ở những mức độ ảnh hưởng khác nhau nhưng nhìn chung nó đều ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, sinh hoạt và làm việc hàng ngày Họ gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Vì vậy họ thường bị giảm sút các chức năng xã hội, không có việc làm, khó khăn khi ra quyết định, giao tiếp và hòa nhập cộng đồng Thông qua các hoạt động trợ giúp, cung cấp dịch vụ CTXH cho NTT nhằm đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao như phục hồi và phát triển thể chất cũng như tinh thần cho NTT, giúp họ ngày càng phát huy vai trò của mình trong mối quan hệ gia đình, bạn bè và cộng đồng
Trang 241.3.2 Một số vai trò cơ bản của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp Người tâm thần
1.3.2.1 Vai trò người tham vấn
NVCTXH trợ giúp NTT vượt qua những biến cố trong cuộc sống, khó khăn khi bị người thân bỏ rơi hoặc không có người thân chăm sóc – nuôi dưỡng, vượt qua mọi rào cản của gia đình và xã hội, giúp họ bớt tự ti, mặc cảm với hoàn cảnh hiện tại để họ tự vượt qua khó khăn
Giúp cá nhân nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, giúp họ tự nhận thức và tự hiểu mình, hiểu hoàn cảnh hiện tại của mình để chủ động tìm kiếm giải pháp
1.3.2.2 Vai trò người điều phối – kết nối dịch vụ
Nhu cầu của NTT rất nhiều, tuy nhiên do nguồn lực hạn chế nhân viên CTXH không thể tự mình đáp ứng được hết, ví dụ các nhu cầu về chăm sóc y
tế, hỗ trợ pháp lý, chăm sóc sức khỏe tâm thần… Do đó, nhân viên CTXH cần tìm kiếm những nguồn lực, dịch vụ bên ngoài xã hội từ đó điều phối, kết nối NTT đến những dịch vụ phù hợp với nhu cầu cần thiết của họ, như: Giới thiệu tình nguyện viên, người làm theo giờ giúp NTT tại nhà về chăm sóc sức khỏe, trợ giúp phục hồi chức năng, tư vấn, điều trị tâm lý,
Trong quá trình NTT sử dụng các dịch vụ khác, nhân viên CTXH cần tiếp tục theo dõi, giám sát để đảm bảo NTT có được dịch vụ chất lượng và vận động nguồn lực để hỗ trợ vật chất khi cần thiết
1.3.2.3 Vai trò người giáo dục
NTT phải đối mặt với rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý cũng như các suy giảm về chức năng xã hội, do đó, họ cần có thêm nhiều kiến thức, kỹ năng để tự mình giải quyết lấy vấn đề của bản thân Nhân viên CTXH có thể thực hiện vai trò giáo dục – truyền thông để cung cấp những kiến thức về tâm
lý và đặc điểm của NTT và những kỹ năng về ứng xử với các thành viên trong gia đình và xã hội hay phòng ngừa các bệnh NTT thường gặp…
Trang 25Vấn đề kỳ thị/phân biệt đối xử và tự kỳ thị cũng thường xảy ra với NTT Do vai trò về xã hội và kinh tế suy giảm, NTT có thể bị suy giảm quyền lực hay quyền ra quyết định trong gia đình và cộng đồng hoặc họ có thể tự cảm thấy như vậy Trong trường hợp này, nhân viên CTXH phải sử dụng kiến thức và kỹ năng của mình để truyền thông – giáo dục bản thân NTT, gia đình và xã hội hiểu được tâm lý của NTT, thừa nhận vai trò của NTT và tạo ra một môi trường thuận lợi cho NTT được hòa nhập với gia đình và cộng đồng
1.3.2.4 Vai trò người biện hộ
Hiện nay Nhà nước đã có nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ NTT, tuy nhiên cũng có thể chưa đáp ứng hết các nhu cầu của NTT Hơn nữa, do hạn chế về khả năng xử lý thông tin, bản thân NTT có thể bỏ lỡ những cơ hội được tiếp cận đến các nguồn hỗ trợ của xã hội Do đó, Nhân viên CTXH có vai trò biện hộ để đảm bảo NTT được hưởng những quyền cơ bản của mình Biện hộ bao gồm việc phản ánh tiếng nói của NTT đến những cơ quan hoạch định chính sách để xây dựng những chính sách phù hợp, trợ giúp cho người tâm thần một cách thiết thực
1.3.2.5 Vai trò người người tạo môi trường thuận lợi
Người tâm thần là những người hạn chế trong việc thích nghi với môi trường xã hội, khả năng tự cân bằng trong cuộc sống, bản thân người tâm thần không tự nhận biết được năng lực, sở thích cá nhân và phát huy tài năng của mình thấp Vì thế để phát huy vai trò của người tâm thần trước hết phải có giải pháp tạo điều kiện cho người tâm thần tham gia các hoạt động kinh tế, tìm kiếm việc làm phù hợp với sức khỏe NTT như nấu ăn, các nghề thủ công, Đối với người tâm thần có năng khiếu trong các lĩnh vực nghệ thuật cần giúp cho họ có điều kiện tham gia vào các hoạt động văn hóa văn nghệ, từ
Trang 26đó họ có được môi trường thuận lợi để phát triển và hướng tới những suy nghĩ
và hành vi tốt đẹp hơn
1.3.2.6 Vai trò quản lý trường hợp
Quản lý trường hợp là quy trình tổ chức và điều phối các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ tới cá nhân đối tượng
Nhiệm vụ của quản lý trường hợp: Nhân viên xã hội có nhiệm vụ kết nối và điều phối các dịch vụ can thiệp cần thiết để đối tượng có thể tiếp cận và sử dụng để vượt qua những khó khăn về thể chất, tâm thần, tâm lý
xã hội, giúp họ phục hồi và phòng chống các vấn đề có thể xảy ra hoặc diễn ra
1.4 Cơ sở pháp lý về vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
Trước nhu cầu ngày càng cao về CSSKTT của nhân dân, nhằm giảm bớt gánh nặng do RLTT thần gây ra, việc hoàn thiện hành lang chính sách và Luật pháp, cũng như tăng cường vai trò nhân viên CTXH trong CSSKTT ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng, trong đó có việc xây dựng Chiến lược Quốc Gia, đào tạo nguồn nhân lực về CSSKTT nhằm đưa ra định hướng cho công tác CSSKTT toàn diện, lồng ghép và dựa vào cộng đồng làm
cơ sở pháp lý trong việc trợ giúp NTT
Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 –
2020 Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các văn
Trang 27bản quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, chức danh,
mã số các ngạch viên chức CTXH, Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý và
sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg ; Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH công lập… Như vậy, Quyết định 32/2010/QĐ-TTg đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH
NTT là một đối tượng của ngành CTXH, họ được trợ giúp các DVXH
từ NVCTXH cũng như việc bảo vệ quyền lợi, giúp NTT nói lên tiếng nói của họ; tham vấn tư vấn tâm lý, biện hộ cho họ, giúp họ đáp ứng được quyền lợi
và những nhu cầu thiết yếu
Trên cơ sở Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, để triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nghề CTXH trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 26/01/2011 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 260/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn
2010 – 2020 Mục tiêu của Kế hoạch này là phát triển nghề CTXH thành một nghề trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong đó những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch là tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân trên địa bàn tỉnh về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và CTV CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp trên địa bàn tỉnh
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu của Kế hoạch phát triển nghề CTXH, UBND tỉnh ban hành kế hoạch tuyển chọn, bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng CTV CTXH xã, phường, thị trấn Theo đó, quy định các yêu cầu về tiêu chuẩn CTV CTXH, chính sách chế độ đối với CTV CTXH và lộ trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CTV
Trang 28CTXH cấp xã trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2018 đạt trình độ chuẩn theo quy định (tối thiểu đạt trình độ trung cấp nghề CTXH) [25,tr.24]
1.5 Một số yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
1.5.1 Trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên công tác xã hội
Nghề CTXH là một nghề còn khá mới mẽ ở Việt Nam, trước đây biểu hiện truyền thống vốn có của dân tộc: cưu mang giúp đỡ lẫn nhau Giai đoạn sau này việc giải quyết các vấn đề xã hội không chỉ phụ thuộc vào phạm vi nhà nước như các vấn đề về chính sách đãi ngộ đối với thương binh, liệt sĩ, những người có công với cách mạng, những người yếu thế trong xã hội mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, gia đình và cả bản thân của đối tượng
Trước những ảnh hưởng của hội nhập quốc tế với sự du nhập trào lưu CTXH chuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách kinh tế - xã hội, lý luận và thực hành trong công tác trợ giúp của nước ta cũng có nhiều sự thay đổi
Năm 2010 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập hội đồng xây dựng khung chương trình khung CTXH với sự tham gia của các cơ sở đào tạo của các trường Đại học Khoa học và xã hội nhân văn (Hà Nội), Đại học Lao động – Xã hội, Đại học Công đoàn, Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh và sự trợ giúp kỷ thuật của UNICEF cùng một số chuyên gia, tổ chức CTXH chuyên nghiệp của thế giới
Tháng 4/2004 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã phê duyệt chương trình khung ngành học CTXH trình độ sau đại học và cao đẳng
Tháng 3/2010 Thủ tướng chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH ở Việt Nam và đến tháng 8/2010 ban hành mã ngạch CTXH cùng với chức danh tiêu chuẩn nghề CTXH
Việc triển khai thực hiện các hoạt động CTXH đối với NTT đạt kết quả phụ thuộc nhiều vào yếu tố năng lực, trình độ của NVCTXH NVCTXH sử
Trang 29dụng những kiến thức, kỹ năng để vận động, kết nối nguồn lực và cung cấp các dịch vụ xã hội cho các đối tượng cần sự trợ giúp NVCTXH là những người trực tiếp đánh giá, chuẩn đoán những vấn đề của NTT trong cuộc sống hàng ngày và xây dựng kế hoạch tiến trình trợ giúp cụ thể Vì vậy, nếu trình
độ, năng lực của NVCTXH yếu kém thì có thể đánh giá, nhận diện sai vấn đề của thân chủ dẫn đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch hành động hỗ trợ thân chủ kém hiệu quả, gây lãng phí thời gian, nguồn lực
1.5.2 Cơ chế và chính sách trong trợ giúp người tâm thần
Ngày 22/7/2011 Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Đề án Trợ giúp
xã hội và PHCN cho NTT, NRNTT trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 -
2020 theo Quyết định số 1215/QĐ-TTG của Chính phủ Trong Đề án này có
mục tiêu đào tạo 3.000 cán bộ xã hội chuyên về lĩnh vực SKTT, hướng tới nâng cao năng lực kỹ năng tham vấn cho những cán bộ xã hội đặc biệt làm trợ giúp NTT trong các Trung tâm BTXH cũng như phát triển các Trung tâm trợ giúp xã hội cho NTT tại cộng đồng
Theo chính sách BTXH Quyết định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH bao gồm nhóm đối tượng yếu thế trong đó có NTT được thụ
hưởng các chế độ như: Hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng và các mức trợ giúp xã hội khác để trợ cấp kinh phí hàng tháng và được Nhà nước cấp thẻ BHYT, trợ giúp giáo dục, hỗ trợ chi phí mai táng, hỗ trợ lương thực, hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở, hỗ trợ việc làm phát triển sản xuất Các chính sách trợ giúp xã hội được thay đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng địa phương, của đất nước và mức sống tối thiểu dân cư từng thời kỳ Một số
cơ quan, tổ chức và cá nhân cũng tham gia làm công tác thiện nguyện nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và giúp đỡ đối tượng yếu thế góp phần đảm bảo ASXH nước nhà
Trang 30Quan sát ở cộng đồng cho thấy đời sống của NTT dựa vào gia đình, người thân của họ nhưng phần lớn là hộ nghèo hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng
và tổ chức thực hiện các chính sách ASXH Coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết của các kỳ Đại hội, đặc biệt Nghị Quyết số 15-NQ/TW, ngày 01/6/2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về “Một số vấn đề về chính sách
xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã đặt ra yêu cầu: Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh
tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ ; Bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn; Bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống ASXH bao phủ toàn dân với các yêu cầu: Bảo đảm người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; Tham gia BHXH; Bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Bảo đảm cho người dân tiếp cận được
các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an
toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân Cụ thể:
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 Phê duyệt Đề án nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020
Thông tư 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ NV ban hành chức danh, mã số ngạch viên chức CTXH
Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 26/10/2011 của Bộ TC và Bộ LĐTBXH quy định chi tiết về đối tượng áp dụng và nguồn kinh phí thực hiện cũng như hướng dẫn chi tiết nội dung và
Trang 31mức chi cho các hoạt động của Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn
đã đến gần với quy trình quản lý trường hợp trong CTXH
Quyết định số 1215/2011/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và PHCN cho NTT, người RNTT dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020
Tuy chưa có Luật riêng cho CSSKTT, sự ra đời liên tục các Nghị định, Thông tư, Quyết định liên quan tới CSSKTT như đã nêu trên chứng tỏ sự quan tâm của Chính phủ trong CSSKTT đối với mọi công dân thuộc các nhóm khác nhau trong cả nước Đó là mở màng cho hành lang pháp lý, tạo sự nhận thức của toàn xã hội và khẳng định nghề CTXH trong CSSKTT của người dân là tất yếu
1.5.3 Thái độ yêu nghề của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần
Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng trọng tâm nghề nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội Các chức năng của CTXH được thực hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình làm việc với các thân chủ Chất lượng và hiệu quả của hoạt động CTXH được quyết định bởi năng lực, trình độ của nhân viên CTXH Chính vì vậy việc nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên CTXH là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 32CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và những quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi thực hành loại nghề nghiệp này
Mặt khác, CTXH là hoạt động chịu ảnh hưởng rất nhiều của mối quan
hệ tương tác với con người do vậy hoạt động nghề nghiệp này mang tính chất phức tạp, mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể khác nhau Vì vậy cần thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn cho nhân viên CTXH nhằm trang bị, cung cấp những kiến thức, kỹ năng, những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước dành cho đối với nhóm đối tượng xã hội yếu thế Đồng thời qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng giúp nhân viên CTXH hiểu đúng mục đích của hoạt động CTXH, thấy rõ vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ của mình từ đó họ có thái độ đúng đắn với nghề nghiệp, không ngừng trau dồi đạo đức, học tập nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng nghề CTXH Từ đó họ thực hiện tốt vai trò của một nhân viên CTXH nhằm trợ giúp cho NTT cũng những đối tượng xã hội yếu thế khác một cách hiệu quả nhất [25, tr.68]
thể là vai trò Người tham vấn; vai trò Người điều phối – kết nối dịch vụ; vai trò Người giáo dục; vai trò Người biện hộ; vai trò Người tạo môi trường thuận lợi; vai trò quản lý trường hợp
Trang 33Trong Chương 1 cũng đề cập đến nhu cầu đối với hoạt động trợ giúp NTT; Một số vai trò cơ bản của nhân viên CTXH trong trợ giúp NTT; Một số yếu tố tác động đến sự thực hiện vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp NTT cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên công tác xã hội; Cơ chế
và chính sách trong trợ giúp NTT; Thái độ yêu nghề của nhân viên CTXH trong trợ giúp NTT và cơ sở pháp lý về vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp NTT
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng cho
việc nghiên cứu đề tài “Vai trò nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp Người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN TẠI TRUNG TÂM XÃ HỘI
TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU 2.1 Khái quát về Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
2.1.1 Khái quát về tình hình người tâm thần trên địa bàn tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Với sự phát triển của nền kinh tế mở cửa và sự phát triển nhanh của tiến bộ kỹ thuật thông tin đã tác động mạnh mẽ đến sức khỏe tâm thần ở nước ta nói chung của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu nói riêng Theo số liệu khảo sát cuối năm 2014 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 4.406 người tâm thần, trong
đó có 3.867 người đang sinh sống tại cộng đồng và 539 người đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập Các dạng bệnh chủ yếu như: tâm thần phân liệt 1.499 người, rối loạn tâm thần: 2368 người (tại cộng đồng); tâm thần phân liệt: 248 người, rối loạn tâm thần:
291 người (tại các sở bảo trợ xã hội) Các dạng rối loạn tâm thần do rượu, nghiện game, rối loạn cảm xúc, trầm cảm, rối loạn lo âu sau tai nạn, loạn thần tuổi già đang gia tăng Đây cũng được xem là một mối nguy cơ có khả năng dẫn đến án mạng do người tâm thần gây ra mà không biết phải ngăn chặn hay kiểm soát từ đâu Sức khỏe tâm thần được xem như gánh nặng không xác định và giấu mặt bởi nó gây tổn thất về kinh tế và xã hội với gia đình, cộng đồng
Tính đến tháng 12/2016, Bệnh viện Tâm thần tỉnh BR– VT đang điều trị nội trú 157 bệnh nhận tâm thần đặc biệt nặng; Số NTT nữ là 37 người Bệnh nhân đang quản lý điều trị ngoại trú là 2.566 người Phần lớn người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí có hoàn cảnh khó khăn cả về vật
Trang 35chất lẫn tinh thần, nhiều người thuộc diện hộ nghèo, sống chủ yếu dựa vào người thân, gia đình, họ hàng và trợ cấp xã hội hàng tháng, việc đi lại, giao tiếp xã hội và tiếp cận các dịch vụ xã hội gặp nhiều khó khăn
Hiện nay, số người bị bệnh tâm thần của tỉnh có nhu cầu chữa bệnh
và điều trị bệnh, được chăm sóc, phục hồi chức năng rất cao nhưng khả năng đáp ứng còn hạn chế Nếu các đối tượng là người tâm thần đang được nuôi dưỡng tại Cơ sở bảo trợ xã hội của tỉnh thì các nhu cầu trên được đảm bảo tương đối nhưng đối với các đối tượng ngoài cộng đồng thì việc chăm sóc nuôi dưỡng phục hồi chức năng tại gia đình gặp rất nhiều khó khăn do gia đình người tâm thần chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức về chăm sóc phục hồi chức năng cho người tâm thần và họ cũng không có điều kiện đưa người bệnh đi điều trị, đồng thời tâm lý của những gia đình có người thân bị bệnh đều cho rằng đây là bệnh không thể điều trị hết được nên gia đình cũng không đưa người nhà mắc bệnh tâm thần đi điều trị
2.1.2 Khái quát về Trung tâm xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và thực trạng người tâm thần đang nuôi dưỡng
2.1.2.1 Quá trình thành lập và phát triển
Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, PHCN, giáo dục, dạy nghề lao động sản xuất cho người mắc BTT, người khuyết tật, người lang thang trên địa bàn Tỉnh, ngày 28/3/1998 UBND tỉnh BR– VT thành lập Trung tâm xã hội tỉnh theo Quyết định số 137/QĐUBND.TCHCSN từ Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh trước đây Đến ngày 27/8/2010 UBND tỉnh BR – VT ban hành Quyết định số 2117/QĐ.UBND V/v kiện toàn tổ chức bộ máy Trung tâm xã hội với những chức năng nhiệm vụ mới được bổ sung phù hợp với tình hình nhiệm vụ
và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng và an ninh trên địa bàn Tỉnh
Trang 362.1.2.2 Vị trí, địa lý, chức năng nhiệm vụ
Trung tâm được Tỉnh quy hoạch tại ấp 6, xã Tóc Tiên, huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách Trung tâm hành chính tỉnh về hướng Tây Nam khoảng 37 km Về cơ sở vật chất, ban đầu thành lập đơn vị được tỉnh giao tiếp nhận nhà ở của Trung đoàn 19 Quân khu 7 làm nơi quản lý nuôi dưỡng đối tượng và sử dụng 635.273,6m2 đất lâm nghiệp, nông nghiệp theo Quyết định số 9708/QĐ-UB ngày 21/6/2003 để lao động sản xuất cải thiện đời sống và từng bước phục hồi hành vi ứng xử, nhân cách của người lang thang, NTT thuyên giảm Đến năm 2010, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm
xã hội được xác định là tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, PHCN, giáo dục, dạy nghề lao động sản xuất cho NTT thuyên giảm thuộc các loại TTPL, RLTT đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần và có kết luận bệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo, thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được
cuộc sống; Người khuyết tật đặc biệt nặng, khuyết tật nặng (nhiễm HIV/AIDS, lao, tim mạch…) trên địa bàn tỉnh Phân loại các đối tượng do các đơn vị tập
trung chuyển đến để tham mưu Giám đốc Sở Quyết định chuyển các Trung tâm chuyên biệt thuộc Sở và giải quyết cho đối tượng hồi gia, hòa nhập cộng đồng theo quy định
2.1.2.3 Tổ chức bộ máy
Quyết định số 2115/QĐ.UBND ngày 27/8/2010 của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Trung tâm xã hội được xác định 06 phòng nghiệp vụ: Phòng Tổ chức – Hành chính; Phòng Giáo dục – Dạy nghề; Phòng Quản lý – Bảo vệ; Phòng Quản lý – Chăm sóc; Phòng Nuôi dưỡng và Phòng Y tế PHCN Tổng
số biên chế được giao là 146 biên chế sự nghiệp và HĐLĐ theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP
Trang 37Sơ đồ tổ chức bộ máy Trung tâm Xã hội tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Trung tâm gồm có Ban Giám đốc và 06 phòng chuyên môn: Phòng Tổ chức – Hành chính; phòng Quản lý- Chăm sóc; phòng Quản lý- Bảo vệ; phòng Giáo dục- Dạy nghề; phòng Y tế-PHCN và Phòng Nuôi dưỡng
* Ban Giám Đốc: gồm có 03 người, Giám đốc và 02 Phó Giám đốc
- Giám đốc: Là người đứng đầu đơn vị, lãnh đạo toàn diện và chịu
trách nhiệm trước Pháp luật và Nhà nước về toàn bộ họat động của đơn vị Giám đốc trực tiếp theo dõi và chỉ đạo một số lĩnh vực sau:
Trực tiếp chỉ đạo phòng Tổ chức – Hành chính và phòng Y tế - PHCN Công tác tổ chức bộ máy, tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức và người lao động
Công tác thi đua, khen thưởng và kỷ luật
Công tác Tài chính, cơ sở vật chất
Quá trình sàng lọc, phân loại và tiếp nhận; đánh giá tâm sinh lý, tình trạng sức khỏe, nhân thân của BNTT, NKT&NLT
Quản lý các dự án liên doanh, liên kết của Trung tâm
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG NUÔI DƯỠNG
PHÒNG
TỔ CHỨC- HÀNH CHÍNH
PHÒNG
Y PHCH
TẾ-PHÒNG QUẢN LÝ- BẢO
VỆ
PHÓ GIÁM ĐỐC
Trang 38-Trưởng các Phòng nghiệp vụ trực thuộc Trung tâm chịu trách nhiệm trước lãnh đạo Trung tâm về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và điều hành công việc do mình quản lý
- Phó các phòng nghiệp vụ trực thuộc Trung tâm là người giúp việc cho Trưởng phòng về điều hành một số công việc do Trưởng phòng giao và chịu trách nhiệm trực tiếp trước Trưởng phòng và lãnh đạo Trung tâm về những công việc được phân công phụ trách
Trang 39- Toàn bộ Cán bộ- Viên chức và người lao động Trung tâm có trách nhiệm chấp hành mọi sự phân công và chịu trách nhiệm trước lãnh đạo phòng
và lãnh đạo Trung tâm về công việc của mình
2.1.2.4 Tình hình đối tượng
Tính đến tháng 12/2016, Trung tâm xã hội tỉnh BR– VT đang tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng 569 NTT, NKT, NLT trong đó có 549 NTT đặc biệt nặng, tâm thần khuyết tật, thâm thần đã thuyên giảm; Số NTT nữ là 162 người; Theo hồ sơ quản lý thì họ có hộ khẩu thường trú ở 36/64 tỉnh, thành trong cả nước Phần lớn các gia đình có NTT là những hộ nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có điều kiện về kinh phí để chăm sóc chữa trị
kể cả điều kiện quản lý, kỹ năng chăm sóc, hoặc tiếp cận các dịch vụ xã hội
*Đặc điểm về sức khỏe:
Biểu đồ 2.1 Đặc điểm sức khỏe của người tâm thần tại Trung tâm Xã hội,%
Nguồn: Kết quả khảo sát tại Trung tâm Xã hội tỉnh BR-VT năm 2016
Kết quả khảo sát cho thấy có 55% NTT thường hay bệnh, 20% NTT có sức khỏe bình thường, 25% NTT khỏe mạnh Nguyên nhân dẫn đến tình trạng NTT tại Trung tâm có sức khỏe yếu do hệ quả từ việc không điều trị bệnh kịp thời, đa số NTT trước khi Trung tâm tiếp nhận, chăm sóc nuôi dưỡng họ là những người lang thang không nơi nương tựa, bị người thân bỏ rơi hoặc thuộc đối tượng hộ nghèo, khó khăn nên bước đầu họ chưa tiếp cận được các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe, lâu dài ảnh hưởng đến sức khỏe của họ
*Đặc điểm tâm lý:
55 20
Khỏe mạnh Bình thường
Trang 40Biểu đồ 2.2 Đặc điểm tâm lý của người tâm thần tại Trung tâm Xã hội (tỷ lệ %)
Nguồn: Kết quả khảo sát tại Trung tâm Xã hội tỉnh BR-VT năm 2016
Kết quả khảo sát cho thấy có 63% NTT tự ti, thiếu tự tin ngại giao tiếp, 29% bình thường và người tâm thần năng động, tự tin giao tiếp chiếm tỷ lệ rất thấp 8% Nguyên nhân do căn bệnh mà họ đang mắc phải làm cho họ hay lo
âu, suy nghĩ, mặc cảm với bản thân từ đó họ trở nên thiếu tự tin, không muốn giao tiếp
*Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe:
Biểu đồ 2.3 Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của người tâm thần đã
thuyên giảm tại Trung tâm xã hội (tỷ lệ %)
Nguồn: Kết quả khảo sát tại Trung tâm Xã hội tỉnh BR-VT năm 2016
63 8
29 Tự ti, thiếu tự tin
Năng động Bình thường