Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 1945 (qua hương ước) (Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
SINH HOẠT LÀNG XÃ Ở HUYỆN TỪ LIÊM TRONG CUỘC CẢI LƯƠNG HƯƠNG CHÍNH
GIAI ĐOẠN 1921-1945 (QUA HƯƠNG ƯỚC)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH LỊCH SỬ
HỆ ĐÀO TẠO: CHÍNH QUY KHÓA HỌC : QH-2013-X
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
SINH HOẠT LÀNG XÃ Ở HUYỆN TỪ LIÊM
TRONG CUỘC CẢI LƯƠNG HƯƠNG CHÍNH
GIAI ĐOẠN 1921-1945 (QUA HƯƠNG ƯỚC)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản khóa luận này là công trình khoa học của riêngtôi Tên đề tài khóa luận không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã đượccông bố Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận án được trích dẫn trungthực, khách quan và rõ ràng về xuất xứ
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2017
Nguyễn Thị Kiều Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn tận tình của các Thầy Cô, sự giúp đỡ của bạn bè, cũngnhư sự động viện, hỗ trợ của người thân
Lời đầu tiên xin cho phép tôi được bày tỏ sự trân trọng và biết ơn sâusắc tới TS Đinh Thị Thùy Hiên, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi, tạo mọiđiều kiện thuận lợi và động viện tôi trong suốt quá trình thực hiện khóaluận
Xin ghi ơn tới các Thầy Cô giáo đã bồi đắp cho tôi khối lượng kiếnthức rất quý giá trong suốt bốn năm học đại học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các phòng ban của các trung tâmnghiên cứu, đã tạo điều kiện để tôi tiếp cận khối tài liệu liên quan đến khóaluận
Gia đình, những người thân đã luôn ở bên cạnh là nguồn động viên vàchỗ dựa vững chắc để tôi không ngừng cố gắng trong quá trình thực hiệnkhóa luận
Mặc dù, đã cố gắng hết sức nhưng bài khóa luận vẫn không tránh khỏiđược những thiếu sót, kính mong các Thầy Cô đóng góp để khóa luận đượchoàn thiện hơn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý đo chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Phạm vi nghiên cứu……… 5
4. Các nguồn sử liệu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Bố cục, nhiệm vụ của khóa luận 7
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ HUYỆN TỪ LIÊM VÀ HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG TỪ LIÊM GIAI ĐOẠN 1921-1945 8
1. Vài nét về huyện Từ Liêm 8
2. Hương ước cải lương huyện Từ Liêm giai đoạn 1921-1945 16
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: SINH HOẠT CHÍNH TRỊ LÀNG XÃ TỪ LIÊM QUA HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG GIAI ĐOẠN 1921-1945 31
2.1. Thiết chế quản lý làng xã 31
2.1.1. Hội đồng tộc biểu 31
2.1.2. Hội đồng kỳ mục 37
2.1.3. Chức dịch 40
2.2. Vấn đề quản lý công làng xã 46
2.2.1.Ngân sách làng xã 46
2.2.2.Vấn đề sưu thuế 49
2.2.3.Quản lý trật tự trị an làng xã 50
2.2.4.Quản lý dân ngụ cư 55
2.2.5.Quản lý nếp sống 56
2.2.6.Bảo vệ sản xuất nông nghiệp 61
Tiểu kết chương 2 82
CHƯƠNG 3: SINH HOẠT VĂN HÓA - XÃ HỘI LÀNG XÃ TỪ LIÊM QUA HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG GIAI ĐOẠN 1921-1945 83
Trang 63.1. Sinh hoạt văn hóa làng xã Từ Liêm qua hương ước cải lương giai
đoạn 1921-1945 83
3.1.1. Hôn lễ 83
3.1.2. Tang lễ 64
3.1.3. Tế lễ 65
3.2. Sinh hoạt xã hội làng xã Từ Liêm qua hương ước cải lương giai đoạn 1921-1945 68
3.2.1. Thứ vị trong làng 68
3.2.1.1. Chỗ ngồi chốn đình trung 68
3.2.1.2. Mua danh 70
3.2.1.3. Khao vọng 71
3.2.2. Giáo dục 76
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU 80
PHỤ LỤC……… 86
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, làng xã luôn đóng vai trò quantrọng trong mọi mặt đời sống xã hội, là cơ sở, là nền tảng của văn hóa, vănminh Việt Nam Các sinh hoạt trong làng xã là thành tố góp phần tạo nênbản sắc văn hóa riêng của từng làng Khi nghiên cứu về làng xã, một nguồn
sử liệu rất quan trọng, được nhiều người sử dụng đó là hương ước
Hương ước được hiểu là tất cả những tục lệ liên quan đến cộng đồnglàng xã được văn bản hóa, gồm những quy định thành văn của các cộngđồng trong làng Hương ước biến đổi theo thời gian và thường xuyên có sựđiều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh nhất định Đến thời kì Pháp thuộc,thực dân Pháp có những chủ trương cải cách can thiệp vào bộ máy quản lýcấp làng xã Việt Nam nhằm quản lý chặt chẽ, phục vụ mục tiêu thực dâncủa mình Chính quyền thực dân đã can thiệp vào việc biên soạn và quản lýhương ước thông qua việc ban hành một mẫu hương ước với những nộidung định sẵn và các làng có nhiệm vụ điền thêm thông tin vào mẫu.Những bản hương ước được lập ra trong thời kì này gọi là hương ước cảilương
Chúng tôi chọn huyện Từ Liêm để nghiên cứu sinh hoạt làng xã quacác bản hương ước cải lương, bởi huyện Từ Liêm nằm ở cửa ngõ phía Tâycủa kinh thành Thăng Long, hiện nay là khu vực đô thị hóa nên làng xã ở
Từ Liêm mang đặc điểm làng xã vùng ven đô, có sự qua lại giữa khu vực
đô thị với khu vực nông thôn, giữa làng xã với phố phường Đến thời kìPháp thuộc, Từ Liêm là một huyện của tỉnh Hà Đông giáp ngay với HàNội, một trong những tỉnh được chính quyền thuộc địa chọn làm nơi thửnghiệm cải lương hương chính và cũng là nơi thực hiện khá thành công.Cho nên, sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm có những điểm chung và riêng
so với các khu vực khác Nghiên cứu sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm đã
Trang 9được đề cập trong một số công trình nhưng cho đến nay chưa có ai nghiêncứu về vấn đề này.
Với tất cả các ý nghĩa trên, việc tìm hiểu đời sống làng xã ở khu vựcven đô dưới tác động của cuộc cải lương hương chinh là rất cần thiết
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: Sinh hoạt làng xã ở huyện Từ
Liêm trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1921 - 1945 (qua hương ước).
Năm 1959, tác giả Nguyễn Hồng Phong đã công bố công trình Xã thôn Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa Trong công trình này, tác giả đã
trình bày một cách có hệ thống với sự phân tích sâu sắc về chế độ đẳng cấp
và bộ máy quản lý xã thôn từ thời phong kiến đến thời Pháp thuộc nước ta.Đồng thời, tác giả cũng phân tích về bản chất của bộ máy cai trị xã thôn
trên cơ sở 3 lần chính quyền Pháp ban hành về cải lương hương chính“dù
Trang 10thay đổi thế nào thì bọn cường hào, địa chủ vẫn giữ một vai trò quyết định trong các hội đồng”[36;142] Trên cơ sở nghiên cứu những thay đổi trong
bộ máy quản trị làng xã trước và sau cuộc cải lương của chính quyền Pháp,tác giả cũng đưa ra nhận xét về bộ máy tự trị ở xã thôn căn bản đều nằmtrong tay giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn [36;147] Mặc dù, cáccông trình này không đề cập trực tiếp đến toàn bộ huyện Từ Liêm nhưnggiúp cho tôi có phông nền để tìm hiểu về một làng xã cụ thể
Công trình Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: góp phần tìm hiểu cơ sở lịch sử - xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị của tác giả Dương Kinh Quốc xuất bản năm 2005.
Đây là công trình nghiên cứu toàn diện về cơ cấu tổ chức của chính quyềnthuộc địa tại Việt Nam, từ cấp cao nhất là Chính quyền liên bang ĐôngDương cho đến cơ quan thấp nhất là làng xã trước năm 1945 Trong côngtrình của mình, tác giả đã phản ánh khá chi tiết và cụ thể về tổ chức làng xãViệt Nam thời kì thuộc địa, mà trọng tâm của nó là sự biến đổi trước nhữngtác động của cuộc cải lương hương chính
Tác giả Nguyễn Lan Dung với đề tài Luận án Tiến sĩ Sử học (2015)
Bộ máy chính quyền tỉnh Hà Đông thời Cận đại, Học Viện Khoa học xã hội
(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) Trong luận án này, tác giả đãphục dựng lại bộ máy chính quyền tỉnh Hà Đông từ năm 1902 đến năm
1928 trên các phương diện: cơ cấu tổ chức và hoạt động thực tiễn, tái hiệnlại bộ máy chính quyền tỉnh Hà Đông trong giai đoạn 1902-1928 theo quanđiểm lịch sử và logic
Cũng nghiên cứu về Hà Đông, Luận án Tiến sĩ Lịch Sử Tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã ở tỉnh Hà Đông trong thời kì Pháp thuộc của tác giả Nguyễn Thị Lệ Hà (2015), Học viện
Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) Công trìnhnày đã lí giải vì sao chính quyền Pháp chọn tỉnh Hà Đông làm thì nghiệmcải lương hương chính và làm rõ mức độ tác động của chính sách cải lương
Trang 11hương chính đến bộ máy quản lý, ngân sách, kinh tế văn hóa xã hội tỉnh HàĐông thời kì Pháp thuộc Qua đó, tác giả bước đầu đánh giá thành công vàthất bại về chính sách cải lương hương chính ở Bắc Kỳ nói chung và HàĐông nói riêng
Những công trình nghiên cứu về sinh hoạt làng xã ở Thăng Long HàNội:
Tác giả Nguyễn Thế Long (2000), đã xuất bản công trình Hà Nội xưa qua hương ước trên cơ sở các bản hương ước trước năm 1945, mà phần lớn
là hương ước cổ và hương ước cải lương, phác họa lại diện mạo cuộc sốngsinh hoạt làng xã Hà Nội trước thời điểm mở rộng năm 2008 Dù dunglượng tương đối khiêm tốn, nhưng đây vẫn là công trình nghiên cứu có ýnghĩa tương đồi về đời sống làng xã Hà Nội xưa trong đó có một số làng ởhuyện Từ Liêm2 như làng Tây Mỗ, làng Đông Ngạc,
Khóa luận tốt nghiệp Sinh hoạt làng xã huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông trong cuộc cải lương hương chính giai đoạn 1915-1945 qua hương ước (Nguyễn Lan Dung, Khóa luận tốt nghiệp, 2003, Khoa Lịch Sử) cũng
mô tả lại đời sống làng xã thông qua các bản hương trong một giai đoạn từ1915-1945 Khảo sát những nội dung thuộc các vấn đề làng xã như bộ máyquản lý làng xã, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán phán ánh trong 21bản hương ước cải lương trên địa bàn huyện Hoàn Long giai đoạn 1915-
1938 Trên cơ sở đó, tác giả so sánh, đời sống thực tế sinh hoạt xã thôn vớinhững nội dung được phản ánh trong hương ước Đây là nghiên cứu khácphạm vi không gian nhưng có khả năng giúp đem lại cái nhìn so sánh sự tácđộng của hương ước cải lương giữa khu vực Hoàn Long khu vực Từ Liêm
Luận án Tiến sĩ Lịch sử về Một số biến đổi ở làng xã châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỉ XX (Qua trường hợp làng Mễ Trì)
của tác giả Kim Jong Ouk năm 2009 đã phân tích sự biến đổi điều kiện tựnhiên và môi trường sinh thái, sự biến đổi của bộ máy quản lí qua cải lương
Trang 12hương chính, sự biến đổi về tình hình sở hữu ruộng đất và cải cách giáodục ở làng Mễ Trì huyện Từ Liêm từ đầu thế kỉ XIX đến giữa thể kỉ XX Đây là các công trình nghiên cứu trực tiếp gần gũi nhất với đề tài khóaluận.
Cho đến nay, đề tài về sinh hoạt làng xã cũng như cải lương hươngước đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoàinước dưới góc độ khác nhau và đã gặt hái được nhiều thành công Mặc dù
trong cái nhìn tổng quan về tỉnh Hà Đông trong hai Luận án tiến sĩ Tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời sống làng xã ở tỉnh
Hà Đông trong thời kì Pháp thuộc và Bộ máy chính quyền tỉnh Hà Đông thời Cận đại có đề cập đến những khía cạnh nhất định nhưng chưa có ai
khảo sát riêng về sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm Chính vì thế chúngtôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu về sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêmqua các bản hương ước cải lương Những công trình gần gũi này là nguồntài liệu tham khảo rất hữu ích và phong phú để tôi có thể tham khảo
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Huyện Từ Liêm giai đoạn 1921-1945 tươngđương với phần lớn đất của 2 quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm hiệnnay
Phạm vi thời gian: Các nhà nghiên cứu đi trước đã chỉ ra cuộc cảilương hương chính bắt đầu từ năm 1906 đến trước tháng 8 năm 1945.Trong phạm vi không gian huyện Từ Liêm, số lượng hương ước trong giaiđoạn 1906-1921 rất ít, có 3 bản: hương ước làng Thụy Phương (1906)
[26;155]; hương ước xã Dương Liễu (1913); hương ước thôn Kim Hoàng (1915) [40;41] Tuy nhiên, khóa luận chỉ nghiên cứu các bản hương ước
bằng chữ Quốc ngữ nên chúng tôi chỉ khảo sát được sinh hoạt làng xã tronggiai đoạn 1921-1945
Phạm vi nội dung: Sinh hoạt làng xã là một nội dung rộng và có thểnhìn từ nhiều góc độ Trong khóa luận của mình, chúng tôi tập trung phác
Trang 13dựng lại một số khía cạnh của đời sống làng xã gồm chính trị, văn hóa, xãhội, ở huyện Từ Liêm dưới tác động của cuộc cải lương hương chính quanguồn từ liệu hương ước giai đoạn 1921-1945.
Những công trình đi trước về hương ước, về làng xã Việt Nam, về TừLiêm, về Thăng Long – Hà Nội là nguồn tài liệu tham khảo quan trọnggiúp chúng tôi có cái nhìn so sánh dưới góc độ đồng đại và lịch đại
Một nguồn tư liệu hết sức phong phú chính là những ghi chép đươngthời về cuộc cải lương hương chính và làng xã trong giai đoạn nay nhưNhân danh tạp chí, các bài báo trên tạp chí đương thời như Nam Phong tạpchí,…Tư liệu này thực sự có giá trị trong việc chỉ ra khoảng cách giữa sinhhoạt làng xã quy định trên giấy với tình hình thực tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Mục đích chính của khóa luận là tìm hiểu về sinh hoạt làng xã ở huyện
Từ Liêm trong cải lương hương chính thông qua các bản hương ước cảilương, vì vậy phương pháp mô tả được sử dụng chủ yếu Đây là một trongnhững phương pháp nghiên cứu cơ bản trên cơ sở thu thập tài liệu, phácdựng lại vấn đề, sự kiện hay nhân vật nào đó
Bên cạnh đó, phương pháp so sánh được sử dụng để nhìn thấy sự biếnđổi của đời sống làng xã dưới tác động của cải lương hương chính, thấyđược nét tương đồng và dị biệt giữa Từ Liêm với các khu vực khác cũngnhư mối quan hệ giữa quy định trong các văn bản hương ước với thực tếđời sống sinh hoạt làng xã ở huyện Từ Liêm trong giai đoạn này
Trang 14Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng phương pháp thống kê để xử lí sốliệu.
6 Bố cục, nhiệm vụ của khóa luận
a Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, khóa luận được chia làm 3chương
Chương 1: Vài nét về huyện Từ Liêm và hương ước cải lương
Từ Liêm giai đoạn 1921-1945
Chương 2: Sinh hoạt chính trị làng xã Từ Liêm qua hương ướccải lương giai đoạn 1921-1945
Chương 3: Sinh hoạt văn hóa – xã hội làng xã Từ Liêm quahương ước cải lương giai đoạn 1921-1945
b Nhiệm vụ của khóa luận
Khóa luận nhằm thực hiện nhiệm vụ khảo sát những nội dungthuộc về sinh hoạt làng xã trên địa bàn huyện Từ Liêm trong cảilương hương chính trên cơ sở các văn bản hương ước cải lương
Trang 15CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ HUYỆN TỪ LIÊM
VÀ HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG Ở HUYỆN TỪ LIÊM GIAI ĐOẠN
1921-1945
1 Vài nét về huyện Từ Liêm
Trong hệ thống đơn vị hành chính thành phố Hà Nội hiện nay không
còn tồn tại “huyện Từ Liêm” mà chỉ có hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ
Liêm Tuy nhiên, trong dấu ấn của nhiều người, Từ Liêm là một tên gọiquen thuộc, gắn với một vùng đất cổ nằm ở vùng ven Thăng long – Hà Nội,
mà lịch sử của nó gắn liền với lịch sử Thăng Long Hà Nội
Từ Liêm nằm trong vùng đồng bằng phù nhiêu, lưu vực của các dòngsông Hồng, sông Nhuệ nên nơi đây là một trong những địa bàn sinh sốngcủa cư dân Văn Lang thời Âu Lạc
Các di vật khảo cổ học cho thấy trên vùng đất Từ Liêm lúc đó đã cómột bộ phận cư dân sinh sống, cấu thành nhà nước Văn Lang của vuaHùng, chủ nhân của nền văn minh sông Hồng rực rỡ
Qua khai quật các di chỉ khảo cổ học ở thôn Ngọc Long (xã MinhKhai) cho thấy những di chỉ này thuộc văn hóa Phùng Nguyên – đầu thờiđại đồng thau cách ngày nay khoảng 4000 - 3500 trước Công Nguyên.Các di chỉ Đồng Dền, gò Chiền là tiêu biểu cho văn hóa Gò Mun.Ngôi mộ cổ khai quật ở khu vực Cầu Giếng (Thụy Phương) có niên đạikhoảng 200 năm trước Công Nguyên Những viên gạch ở Xuân Đỉnh đượctráng men nâu mỏng được xác định từ thế kỉ I đến thế III, cách ngày naykhoảng 2000 năm Nhiều ngôi mộ cổ được phát hiện dưới lòng đất làngChèm - Vẽ (Thụy Phương - Đông Ngạc) đó là khu mộ Hán có niên đại
từ thế kỉ I đến thế kỉ VI sau Công Nguyên thời nước ta thuộc ĐôngHán Di vật trong lòng mộ gồm: kiếm sắt, kiếm đồng, nhẫn vàng, bạc,tiền đồng, bình vò, cốc chén và cả mộ hình nhà, giếng nước, bếp lòbằng ngạch nung Những di vật này khằng định rằng huyện Từ Liêmlúc đó đã có dân cư sinh sống
Trang 16Ngày nay, bên cạnh các cư dân bản địa còn có các cư dân từ khắp cácđịa phương qua nhiều thời đại đến làm ăn sinh sống tạo điều kiện phát triểnkinh tế [17;11].
Từ Liêm nguyên là đất huyện Luy Lâu thời nhà Hán, sau thuộc huyệnGiao Chỉ Đến thời nhà Đường, năm Vũ Đức thứ 4 (621), tách đặt huyện
Từ Liêm vì có hai sông là sông Từ, sông Liêm Thời Minh thuộc phủ GiaoChâu Nhà Lê đặt thuộc phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây Năm Minh Mệnh thứ
12 (1831) do phủ Hoài Đức kiêm lý có 13 tổng với 87 xã thôn, sở [63;111].Năm 1927, Từ Liêm có 13 tổng với 93 xã [34; 40] Trải qua các triều đạitheo các thể chế quản lý Nhà nước khác nhau, địa giới hành chính củahuyện liên tục có sự thay đổi nhưng về cơ bản vẫn tồn tại và giữ nguyên địadanh cho đến cách mạng Tháng Tám 1945
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Quốc hội khóa II kì họp thứ hai phê chuẩnNghị quyết của Chính phủ mở rộng thành phố Hà Nội Ngày 31 tháng 5năm 1961, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về tổ chức hành chính củathành phố Hà Nội, chia các khu vực nội thành và ngoại thành của thànhphố thành 4 khu và 4 huyện, trong đó có huyện Từ Liêm Huyện Từ Liêmđược tái lập trên đất trung tâm của huyện Từ Liêm bao với 26 xã: ThụyPhương, Đức Thắng (Đông Ngạc), Phú Thượng, Nhật Tân, Tứ Liên, Quảng
An, Thái Đô (Nghĩa Đô), Xuân La, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; các xã TrungThành (Yên Lãng), Nhân Chính, Trung Hòa, Yên Hòa, Dịch Vọng, MaiDịch, Hòa Bình (Mỹ Đình), Mễ Trì; các xã Tân Dân (Thượng Cát), TânTiến (Liên Mạc), Trung Kiên (Tây Tựu), Minh Khai, Trần Phú (huyện ĐanPhượng) và các xã Xuân Phương, Hữu Hưng (Tây Mỗ, Đại Mỗ), CươngKiên (Trung Văn) huyện Hoài Đức
Đến năm 1973, xã Yên Lãng đưa về trực thuộc khu phố Đống Đaquản lí (nay là quận Đống Đa) Năm 1982 thành lập 3 thị trấn: Cầu Giấy,Cầu Diễn, Nghĩa Đô; đến năm 1990 thành lập thị trấn Mai Dịch; năm 1992thành lập thị trấn Nghĩa Tân Lúc này, Từ Liêm có 29 xã, thị trấn
Trang 17Năm 1995, lập quận Tây Hồ, huyện Từ Liêm bàn giao 5 xã về quậnTây Hồ; cuối năm 1996 chuyển xã Nhân Chính về quận Thanh Xuân Năm
1997 cắt 3 xã: Yên Hòa, Trung Hòa, Dịch Vọng và 4 thị trấn: Nghĩa Đô,Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy để thành lập quận Cầu Giấy
Huyện Từ Liêm khi chưa tách thành hai quận có 16 đơn vị hành chínhgồm thị trấn Cầu Diễn và các xã: Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc ThụyPhương, Liên Mạc, Thượng Cát, Tây Tựu, Xuân Phương, Tây Mỗ, Đại Mỗ,Trung Văn, Mễ Trì, Mĩ Đình, Phú Diễn, Minh Khai; có diện tích 75,32 km2
và dân số là 409.665 người (năm 2013) Trên bản đồ địa lý, huyện Từ Liêmnăm ở phía Tây – Tây Bắc Thủ đô, ở vị trí 1060 kinh đông và 21010 vĩ độBắc Phía Bắc giáp huyện Đông Anh (bên tả ngạn Sông Hồng); phía Đônggiáp quận Cầu Giấy, Tây Hồ; phía Tây giáp huyện Hoài Đức, Đan Phượng;phía Nam giáp quận Thanh Xuân
Theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị quyết của Chính Phủ,27/12/2013 huyện Từ Liêm được tách ra thành hai quận: Bắc Từ Liêm vàNam Từ Liêm Từ 16 đơn vị hành chính cơ sở (1 thị trấn, 15 xã) được lập
ra 23 phường, trong đó: quận Bắc Từ Liêm có 13 phường (phường CổNhuế 1, Cổ Nhuế 2, Đông Ngạc, Đức Thắng, Liên Mạc, Minh Khai, PhúDiễn, Phúc Diễn, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Xuân Đỉnh, XuânTảo); quận Nam Từ Liêm có 10 phường (phường Trung Văn, Đại Mỗ, Tây
Mỗ, Mễ Trì, Phú Đô, Mỹ Đình 1, Mỹ Đình 2, Cầu Diễn, Phương Canh,Xuân Phương
Với vị trí quan trọng là cửa ngõ phía Tây của Thăng Long - Hà Nội,
Từ Liêm có nhiều tuyến giao thông huyết mạch Từ xưa đã có đường giaothông thuỷ bộ thuận tiện Phía Bắc có sông Hồng và hai nhánh là sông Tô
và sông Nhuệ chạy dọc theo chiều dài của huyện, thuyền bè đi lại tấp nập.Trên tuyến đê sông Hồng có các bến đò cổ: Chèm, Sù, Kẻ qua sông sang
xứ Kinh Bắc Đường bộ quốc lộ 11 (nay là quốc lộ 32) nối kinh đô với xứĐoài (Sơn Tây) chạy ngang giữa huyện, đường 70 (Hà Đông - Thượng
Trang 18Cát) Đầu thế kỉ XX có thêm các tuyến đường hàng tỉnh như đường 23(Yên Phụ - Chèm), đường 65 (Nhật Tân – Ngã Tư Sở), đường 69 (DịchVọng – Chèm) Hiện nay, có tuyến đường Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng –Cầu Thăng Long đi sân bay quốc tế Nội Bài; đường 32 (Hồ Tùng Mậu –Cầu Diễn) đi Hà Tây nối các tỉnh Tây Bắc, đường Láng Hòa Lạc (TrầnDuy Hưng) nối với đường Hồ Chí Minh, đường 6 đi Hòa Bình và đường đềhữu ngạn sông Hồng đi Sơn Tây… Do đó, Từ Liêm trở thành địa bàn có ýnghĩa chiến lược về mặt quân sự Miền đất này vừa là vành đai, áo giáp,hậu cứ bảo vệ Thủ đô, vừa là cửa ngõ từ miền trung du, trung tâm quân sựSơn Tây, căn cứ địa Việt Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ, tiến vào Thànhphố Trong cao trào cách mạng 1939-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, TừLiêm được Trung ương và Xứ ủy Bắc kì chọn làm An toàn khu Đồng thời,tạo điều kiện thuận lợi cho Từ Liêm phát triển kinh tế và giao lưu văn hóavới các địa phương khác [17;10].
Văn hóa Từ Liêm gắn liền với văn hóa Châu thổ sông Hồng và sôngNhuệ Nhiều làng có tiếng Kẻ như Kẻ Đại Cát, Kẻ Đông Ba, Kẻ ThượngCát Từ Liêm có nhiều di tích lịch sử – văn hoá, kiến trúc tạo hình, gắn liềnvới những danh nhân quê hương Nhiều di tích lịch sử - văn hoá được Nhànước công nhận là những di tích cấp quốc gia và được coi là một trongnhững huyện có nhiều di tích lịch sử văn hoá Tiêu biểu là ngôi đình Chèmđược xây dựng từ thế kỷ IX thờ Lý Ông Trọng, người địa phương, mộtnhân vật nổi tiếng từ trước Công nguyên Các ngôi đình Thượng Cát, ĐạiCát thờ các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng; chùa Thánh Quang (Liên Mạc)được lập từ thế kỷ XIII, chùa Linh Ứng, chùa Hương Đỗ (Xuân Phương),chùa Thanh Lâm (Minh Khai)
Gắn với đó là các hoạt động lễ hội được lưu truyền cho đến ngày nay.Toàn huyện có trên 48 lễ hội với nội dung và hình thức phong phú… Nhìnchung, các lễ hội vẫn giữ được phong tục cổ truyền cũ tuy nhiên có sự sànglọc, cải biến một số nghi lễ cho phù hợp với điều kiện xã hội hiện nay Có
Trang 19hội 3 năm, 5 năm mới tổ chức một lần Hội thề Đồng Cổ (Minh Khai) ngày4/4, hội giao hiếu Phú Mỹ, Kiều Mai 7/1 và 10/2 Điều này chứng tỏ có sựgiao lưu văn hóa giữa các làng Nhiều lễ hội mang tính văn hóa thể thaogắn với luyện tập sức khỏe trên sông nước như lễ hội truyền thống làngĐăm Tây Tựu ngày 10/3, hội đình Chèm (xã Thụy Phương) xưa cũng có thibơi:
“Ba dân mở hội tháng năm Mười hai hạ chải, hôm rằm bơi thi”
Ba dân là ba làng: Làng Chèm - Thụy Phương, làng Hoàng Xá, làngHoàng Liên Những cuộc thi bơi nhằm biểu dương sức mạnh của người HàNội trong việc trị thủy sông Hồng, đắp đê phòng lũ lụt bảo vệ đời sốngnhân dân
Từ Liêm, vùng đất có truyền thống hiếu học Sử sách đã ghi lại từ thời
xa xưa đã sản sinh nhiều nhân vật học cao, biết rộng trong khoa cử, tiêu
biểu có 4 vùng:“Mỗ La Canh Cót tứ danh hương” Trong 16 làng khoa
bảng ở Hà Nội thì Từ Liêm có 2 làng là Tây Mỗ và làng Vẽ (Đông Ngạc).Làng Tây Mỗ có 8 người đỗ đại khoa (Tiến sĩ) và 75 người đỗ Cử nhânthời phong kiến Từ năm 1945- 1995 có 43 Tiến sĩ, Giáo sư, 840 Cử nhân[32; 34-40]
Từ Liêm nằm trong vùng đồng bằng phì nhiêu, lưu vực của các dòngsông Hồng, sông Nhuệ nên nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp Đây không chỉ là nguồn cung cấp nước dồi dào mà còn giúp đất đaimàu mỡ – một nhân tố rất quan trọng trong việc phát triển ngành trồng trọtcủa huyện Đồng thời, khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt là cơ
sở để dân cư mở rộng, đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi Đặc biệt,khí hậu mùa đông rất thích hợp với việc phát triển cây rau màu, cây thựcphẩm vụ đông để phục vụ sinh hoạt của nhân dân, nguyên liệu cho chănnuôi, chế biến rau…
Trang 20Là một vùng giáp ranh với kinh đô Thăng Long, có nhiều làng xã nằmngay cửa ngõ, thông với nội thành Hà Nội nên trong quá trình phát triển TừLiêm và Thăng Long có sự giao lưu Kinh tế Thăng Long có ảnh hưởng rõnét đến kinh tế Từ Liêm.
Trước năm 1930, Người dân Từ Liêm đã tạo ra những sản phẩm nôngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng:
“Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì Tương bần, húng Láng có gì ngon hơn”
Cùng với đó là những đặc sản nổi tiếng như: giò Chèm, nem Vẽ(Đông Ngạc, Thụy Phương), bánh đúc làng Kẻ (Thượng Cát), bưởi PhúDiễn, đào Nhật Tân …
Về tiểu thủ công nghiệp, nghề dệt thêu ren đạt kĩ nghệ tinh xảo ởMiêu Nha (Tây Mỗ); làng Vẽ (Đông Ngạc), làng Dộc Cơ (Ngọc Trục) thạonghề hàng nan với các sản phẩm: đan mũ nan, đĩa mây Đậu phụ ở làng ĐạiCát (Liên Mạc)
Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, HàNội trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước Nghề rèn ởHòe Thị (Xuân Phương) đã kéo ra phố Lò Rèn và các cửa ô để sản xuấtdao, kéo, lưỡi, liềm… phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Làng ThịCấm, Ngọc Mạch (Xuân Phương) có nghề tráng gương, thợ kim hoàn làmvàng bạc và đồ trang sức [17;13]
Bước sang thời kì đổi mới, Từ Liêm có tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiềungành nghề cũ đã không còn phù hợp với nhu cầu thị trường, buộc phảicách tân, phát triển và liên kết các nghề Cho đến ngày nay, một số làngnghề vẫn được duy trì và không ngừng phát triển
Đồng thời, quá trình đô thị hóa là cơ hội thuận lợi để huyện đẩy nhanhtốc độ chuyển đổi cơ cấu lao động từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sanglĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ, cũng là điều kiện để huyện pháttriển nhanh kết cấu cơ sở hạ tầng thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa
Trang 21nông thôn Cuối tháng 11- 2013, trên địa bàn huyện có 4 khu - cụm côngnghiệp: Phú Minh, Phú Diễn, Nam Thăng Long và cụm công nghiệp MinhKhai - Xuân Phương.
Các thế hệ dân cư Từ Liêm luôn tự hào về truyền thống hào hùng củamình Từ Liêm - với các quận, đã đô thị hóa và phát triển văn minh và hiệnđại nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống dân tộc
Trang 231.2 Hương ước cải lương huyện Từ Liêm
Bảng 1.1 Thông tin chung về hương ước cải lương Từ Liêm giai đoạn 1921-1945.
Sốđiềukhoản
Sốtrang
PhườngNghĩa Đô,Quận Cầu Giấy
Miêu Nha
TổngPhương Canh
Miêu Nha,Phường Tây Mỗ,Quận Nam
Phường
Mỹ Đình,Quận Nam
Từ Liêm
Phú Gia
TổngPhú Gia
Phú Thượng,Quận Tây Hồ
Hạ Hội
TổngTây Tựu
Trang 24Viên Viên
Phường
Cổ Nhuế,Quận Nam
Từ Liêm
DịchVọng
TổngDịch Vọng
Dịch Vọng,Quận Cầu Giấy
Dịch
VọngTiền
TổngDịch Vọng
Dịch Vọng,Quận Cầu Giấy
Thượng
XãTrung KínhTổngDịch Vọng
Trung Hòa,Quận Cầu Giấy
Tiên Thượng
Xã Nghĩa ĐôTổng Dịch Vọng
Tiên Thượng,PhườngNghĩa Đô, Quận Cầu Giấy
Trung KínhTổng Dịch Vọng
Trung Kính
Hạ, Phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy
Bá Dương
Nội
TổngThượng Trì
HuyệnĐan Phượng
Trang 25Yên Định Tổng La Nội Yên Nghĩa,
Huyện Hoài Đức
Ngọc Mạch
ThônNgọc MạchXãPhương CanhTổngPhương Canh
Ngọc Mạch,Phường Xuân Phương,Quận Nam
Từ Liêm
19 Làng Đại Mỗ Tổng Đại Mỗ 1936 60 42 Quốc ngữ Thôn
Đại Mỗ.Phường Đại Mỗ,Quận Nam
Từ Liêm
Nhân MỹTổngPhương Canh
Nhân Mỹ,Phường
Mỹ Đình,Quận Nam
Từ Liêm
Thị Cấm
XãPhương CanhTổngPhương Canh
Thị Cấm,Phường XuânPhương
Trang 26Trung Hòa,Quận Cầu Giấy
Đan Hội
TổngTây Tựu
Huyện Hoài Đức
PhùTrung
TổngThượng Hội
Thương Mỗ,HuyệnĐan Phượng
Từ Liêm
Kiều Mai
Xã Phú DiễnTổng
Cổ Nhuế
Kiều Mai,Phường Phú Diễn,Quận Bắc
Từ Liêm
Vân Hồi
XãThượng HộiTổngThượng Hội
Liên Trung,HuyệnĐan Phượng
Hanh Đàn
TổngTây Tựu
HuyệnĐan Phượng
Trang 2729 Làng
Trung Đích
XãThượng TrìTổngThượng Trì
HuyệnĐan Phượng
Phúc Lý
TổngTây Tựu
Phúc Lý,Phường Minh Khai,Quận Bắc
Đông Ngạc,Phường Đông Ngạc,Quận Bắc
Từ Liêm
Vĩnh Kỳ
XãThượng HộiTổng Thượng Kỳ
1937
85 22 Quốc ngữ Xã Tân Hội,
HuyệnĐan Phượng
Tây Mỗ
Tổng Tây Mỗ 1941 228 67 Quốc ngữ Thôn
Tây Mỗ,Phường Tây Mỗ
Trang 28Từ Liêm
Thượng Văn
XãNgọc TrụcTổng Đại Mỗ
Đại Mỗ,Quận Nam
Từ Liêm
Trung Tựu
TổngTây Tựu
Trung TựuPhường
Trang 29Tây Tựu,Quận Bắc
Mai DịchQuận Cầu Giấy
Đại Cát,Phường Liên Mạc,Quận Bắc
Hoàng Xá
Hoàng Xá,Phường Liên Mạc,Quận Bắc
Trang 30Liên Mạc,Quận Bắc
Tiên Tân
TổngThương Hội
HuyệnĐan Phượng
Xuân Tảo
TổngXuân Tảo
Xuân Tảo,Phường Xuân Đỉnh,Quận Bắc
Từ Liêm
Đầu thế kỉ XX, huyện Từ Liêm là khu vực phía Tây ngoại thành Hà
Nội với 13 tổng, 93 xã, thôn Căn cứ vào 4 đợt cải lương hương chính theo
các Nghị định của Thống sứ Bắc Kỳ ngày 12/8/1921, 25/12/1927,
13/9/1935 và đạo dụ của Bảo Đại ngày 23/5/1941 trong phạm vi không
gian huyện Từ Liêm có 52 bản hương ước cải lương được lưu tại Viện
Thông tin Khoa học xã hội Trong đó, 10 bản hương ước được lập giai
đoạn (1921-1927): 1 bản chữ Quốc ngữ và 9 bản chữ Nôm, chiếm 19,23%;
42 bản hương ước được lập trong giai đoạn (1927-1945): 14 bản chữ Quốc
ngữ và 28 bản chữ Nôm, chiếm 80,77% Điều đó cho thấy hầu hết các bản
Trang 31hương ước cải lương được lập trong giai đoạn 1927-1945, đặc biệt trongnăm 1942 có 17 văn bản hương ước cải lương.
Chữ Nôm phổ biến với 37/52 bản hương ước, chữ Quốc ngữ 15/52bản hương ước Cơ bản là hương ước viết tay, chỉ có 1 văn bản đánh máy
Về dung lượng, các hương ước có độ dài mỏng khác nhau, từ 16trang (hương ước làng Yên Định) đến 72 trang (hương ước xã Hạ Hội).Trong đó, từ 16 trang đến 30 trang gồm 15 bản; từ 31 - 40 trang gồm 12bản; từ 41- 50 trang có 12 trang, trên 50 trang có 13 bản Trung bình trung
là khoảng 39 trang/1 hương ước So sánh với Hương ước huyện Hoàn Longcùng giai đoạn có: số trang từ 9 đến 47 trang; dung lượng dưới 10 trang: 1bản; 16-30 trang: 11 bản; 31- 40 trang: 1 bản; 40 - 47 trang: 2 bản [38;bảng 2.1] thì các bản hương ước của huyện Từ Liêm dày hơn Tính riêngtừng thể loại văn bản thì văn bản hương ước chữ Nôm có dung lượng trungbình lớn hơn, xấp xỉ 54 trang/1 văn bản so với 27 trang/1 văn bản hươngước chữ quốc ngữ
Vê sự phân bố, hầu hết các Tổng trong số 13 tổng của Từ Liêm có
sự xuất hiện của hương ước cải lương, trừ Tổng Thượng Ốc (xem Bảng 1,Phụ lục)
Bảng 1.2 Điều khoản về chính trị - xã hội trong hương ước cải lương
bằng chữ quốc ngữ Từ Liêm giai đoạn (1921-1945)
Trang 34Bảng 1.3 Số điều khoản về tục lệ trong cải lương hương chính ở huyện Từ Liêm giai đoạn
Khaovọng
Hônlễ
Tếlễ
Vịthứ
Muadanh
Tanglễ
Hiệulệnh
Tôngiáo
Thôn Thị Cấm
Thôn Thượng Văn
Nhìn vào bảng 1.2 và 1.3, có thể thấy hương ước giữa các làng ítnhiều có sự giống nhau cả về bố cục và nội dung của cả 2 phần chính trị vàphong tục Tuy nhiên, trong các bản hương ước có sự chênh lệnh giữa sốđiều khoản trong các mục
Trang 35Bảng 1.2, mục Hội đồng tộc biểu, hương ước làng Đông Ngạc quyđịnh 24 điều khoản nhưng trong khi đó làng Trung Tựu hay làng DịchVọng Sở chỉ quy định có 1 điều Có chênh lệnh như vậy là do cách ghichép của từng làng, làng Đông Ngạc ghi mỗi một quy định là một điềukhoản, làng Trung Tựu và làng Dịch Vọng Sở ghi tất cả các quy định củaHội đồng tộc biểu vào một điều khoản Các mục khác của các làng có sốđiều khoản thường chênh lệch nhau rất ít.
Hay sự việc vênh ở mục chi thu do sự tách ra của các mục thuộc chithu ở các bản hương ước, làng Phú Thứ, làng Yên Nội, Thôn Trù có 17điều khoản nhưng một số làng chỉ có 1 điều khoản
Các bản hương ước chủ yếu sau năm 1927 tuy vẫn giữ các điều mụcnhư quy định, nhưng nội dung phản ánh trong đó đa dạng và phong phúhơn Phần nội dung: Canh phong, Khao vọng, Tế lễ, Hôn lễ, Tang lễ, cótrong tất cả các hương ước, nhưng một số mục khác thiếu vắng trong mộtvài hương ước như Sự giao thiệp, Kính biếu, Sự cấp cứu, Sự giáo dục(cùng 9/15 hương ước); Sổ sưu thuế, Ngụ cư, kí táng (cùng 10/15 hươngước); Sự vệ sinh, Đường xã cầu cống, Sự gian lận (11/15 hương ước); Hộiđồng tộc biểu, Số chi thu, Các của công, Sự vệ nông (cùng 13/15 hươngước) Một số mục được phản ánh ít, đáng lưu ý là Hội đồng kì mục (2/15hương ước), Mua danh (6/15 hương ước) Lý phó trưởng, Vị thứ (8/15hương ước)
Đặc biệt hương ước một số làng (Đại Mỗ, Thượng Văn, Trung Tựu,Dịch Vọng Sở, La Khê Tây), còn bổ sung thêm nhiều điều mang tính riêngbiệt về những quy định sinh hoạt làng xã như tôn giáo, cắt lính, hiệu lệnh
Kể từ Nghị định ngày 25/2/1927 có hiệu lực, Hội đồng kỳ mục đượclập lại, đứng bên cạnh Hội đồng tộc biểu với tư cách cố vấn và giám sát bộmáy quản lý làng xã Trong tổng số 18 bản hương ước thì có 16 bản hươngước lập sau thời điểm có Nghị định Tuy nhiên, chỉ hương ước Thượng Văn
Trang 36và Tây Mỗ có quy định về trách nhiệm, tư cách kỳ mục; 14 bản hương ướccòn lại không hề có hề thể hiện tinh thần sửa đổi của Nghị định.
Cấu trúc của hương ước giai đoạn này gồm: Mục lục, Chú ý cải lương,Nội dung, Niên đại, Ký kết và Ấn triện Chỉ riêng phần Mục lục chiếm sốlượng ít chỉ có 7/18 bản hương ước
Bảng 1.4 Cấu trúc chung của hương ước cải lương bằng chữ
quốc ngữ ở huyện Từ Liêm giai đoạn 1921-1945.
1 Mục lục Trung Tựu, Thôn Đỗ, Cổ Nhuế Hoàng, Quán
La Sở, La Khê Tây, Đông Ngạc, Đại Mỗ
17/18
3 Nội dung Trung Tựu, Phú Diễn, Yên Nội, Thôn Đỗ,
Tây Mỗ, Thị Cấm, Thôn Trù, Phú Thứ,Thượng Văn, Quán La Sở, Thụy Phương, PhúGia, Vĩnh Kỳ, Dịch Vọng Sở, La Khê Tây,Đông Ngạc, Cổ Nhuế Hoàng, Đại Mỗ
18/18
4 Niên đại Trung Tựu, Phú Diễn, Yên Nội, Thôn Đỗ,
Tây Mỗ, Thị Cấm, Thôn Trù, Phú Thứ,Thượng Văn, Quán La Sở, Thụy Phương, PhúGia, Vĩnh Kỳ, Dịch Vọng Sở, La Khê Tây,Đông Ngạc, Cổ Nhuế Hoàng, Đại Mỗ
18/18
5 Kí kết Trung Tựu, Phú Diễn, Yên Nội, Thôn Đỗ,
Tây Mỗ, Thị Cấm, Thôn Trù, Phú Thứ,Thượng Văn, Quán La Sở, Thụy Phương, PhúGia, Vĩnh Kỳ, Dịch Vọng Sở, La Khê Tây,Đông Ngạc, Cổ Nhuế Hoàng, Đại Mỗ
18/18
6 Ấn triện Trung Tựu, Phú Diễn, Yên Nội, Tây Mỗ, 16/18
Trang 37Thị Cấm, Thôn Đỗ, Thôn Trù, Phú Thứ,Thượng Văn, Quán La Sở, Thụy Phương,Phú Gia, Vĩnh Kỳ, Dịch Vọng Sở, Đại MỗĐông Ngạc
Nhắc đến nội dung hương ước cải lương xưa nay người ta thườngnhấn mạnh vào tính dập khuôn, cứng nhắc, không sáng tạo, mang tính quyphạm rõ ràng, thậm chí được xem là văn bản chết Nhưng nhìn từ nội dunghương ước cổ đến hương ước cải lương, có thể thấy có sự tiến triển từ chỗnội dung các điều khoản thường chỉ phản ánh một số khía cạnh nhất định,tùy thuộc vào nhu cầu, đặc điểm về sinh hoạt của cộng đồng đã tiến tới chỗcác thông tin ngày càng phong phú, đa dạng, đề cập nhiều khía cạnh củasinh hoạt làng xã [26;179]
Tiểu kết chương 1
Đầu thế kỉ XX, với vị trí là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô, với 13 tổng,
93 xã thôn, hều hết các làng xã Từ Liêm đều tiến hành cải lương hươngước Các bản hương đều giống nhau về bố cục và nội dung, chỉ khác nhautrong cách ghi chép các quy định trong các mục Sự ghi chép khác nhauphải chăng do mỗi làng lại bắt chước các bản mẫu hương ước khác nhau,một số làng học tập bản hương ước này nhưng có một số làng lại học tậpbản hương ước khác
CHƯƠNG 2:
CHÍNH TRỊ Ở LÀNG XÃ CỦA HUYỆN TỪ LIÊM QUA
HƯƠNG ƯỚCCẢI LƯƠNG GIAI ĐOẠN 1941-1945
2.1 Thiết chế quản lí làng xã
Một trong những lí do khiến chính quyền Pháp phải cải lương hươngchính là nhu cầu nội tại cần thay đổi của làng xã ở Bắc Kỳ Vì bản thân bộmáy quản trị xã thôn ngày càng tỏ ra những yếu kém, không đáp ứng được
Trang 38những yêu cầu của một đơn vị hành chính cấp cơ sở “Huynh thứ thì tiếng rằng trông nom việc làng thực, song phần nhiều có việc gì can trọng phải trù tính, thì chẳng qua chỉ lại mấy người hào cường bàn định riêng với nhau, có khi chỉ một mình Lý trưởng định đoạn, như thế thì việc quản - trị hàng - xã không rõ ai trông nom cả, thành thử không có trật - tự, không có luật lệ chút nào”[56;3]
Mặt khác, nạn tham nhũng của bộ máy chức dịch làng xã đầu thế kỉ
XX ngày càng trầm trọng hơn trước Trên thực tế, bộ máy cai trị ở làng xã
là tổ chức của một nhóm người có thế lực nhất, trên danh nghĩa là thay mặtdân quản trị công việc làng Bộ máy quản lý làng xã trở thành công cụ đểcủng cố hơn nữa quyền lực và lợi ích của bộ phận cường hào, địa chủ[50;51] Do đó, cần phải cải tổ lại bộ máy đó, đặt dưới sự chỉ đạo, khốngchế của chính quyền cấp trên
2.1.1 Hội đồng tộc biểu
Ngày 12.8.1921, Thống sứ Bắc Kỳ Monguillot ban hành Nghị định số
1949 mang tên Nghị định chỉnh đốn hương hội các xã Bắc Kỳ, với chủ
trương tạo ra một sự thay đổi trong đời sống làng xã, nhằm thay đổi mộtcách mạnh mẽ cơ chế làng xã cổ truyền để thủ tiêu những nhân tố làm giảmhiệu lực hoạt động của bộ máy quản lý làng xã theo chiều hướng có lợi chochính quyền Pháp Theo Nghị định này, Hội đồng kỳ mục truyền thống bịgiải thể thay vào đó bằng Hội đồng tộc biểu (hoặc giáp biểu) hay còn đượcgọi là Hội đồng hương chính (gọi tắt là Hương hội) Đây chính là cơ quanquản lý cấp xã do thực dân Pháp lập ra, thuộc sự quản lý của chính quyềnthực dân
Hầu hết các bản hương ước của huyện Từ Liêm có quy định về Hộiđồng tộc biểu với nội dung cơ bản chi tiết, cụ thể hơn
Chức năng và quyền hạn của Hội đồng tộc biểu: Theo Nghị định, Hộiđồng tộc biểu có chức năng và quyền hạn như Hội đồng kỳ mục, tức làquản trị mọi mặt đời sống văn hóa, xã hội, tổ chức thi hành các mệnh lệnh
Trang 39của chính quyền cấp trên, phân chia công điền, san bổ sưu thuế, đặt lệ,quản lý các tài sản Hội đồng tộc biểu vừa là cơ quan quyết định, vừa là cơquan thi hành các quyết định đó thông qua các tộc biểu và bộ phận hànhdịch trong làng.
Hình thức bầu cử: Đó là hình thức bầu cử theo dòng họ và theo tỉ lệ
“Theo số người trong họ mà cử tộc biểu, họ nhớn cử 2 hay 3 người, họ nhỏ
cử một người, họ nhỏ quá chỉ vào ba suất, thì 2,3 họ cử chung nhau một người” (Điều 2, Hương ước làng Yên Nội) Hình thức bầu cử này thực chất
là nhằm lợi dụng quan hệ huyết thống trong làng xã, buộc những ngườitrong cùng một họ phải tự quản lý lẫn nhau Qua cách thức bầu cử ấy, cóthể thấy ngay từ đầu đã tiềm tàng một sự bất công giữa các họ trong làng,bởi họ to được phép cử nhiều đại biểu hơn họ nhỏ
Thành phần tham gia ứng cử: Công dân phải có tuổi từ 25 trở lên,thông thái, có gia sản và chưa phạm bất kì tội gì làm mất quyền công dân.Thành phần được quyền đi bầu cử: Nam giới trong giáp từ 18 tuổi trởlên mà không phạm tội gì mất quyền công dân thì mới được đi bầu cử và kívào biên bản (hương ước thôn Thượng Văn)
Đây là lần đầu tiên việc bầu cử được đưa xuống các làng xã và là điềukhoản hoàn toàn mới tạo điều kiện cho mọi người được tham gia vào côngviệc của làng
Nhiệm kì của tộc biểu: Nhiệm kì của tộc biểu là 3 năm (1921), từ năm
1927 là 6 năm nhưng có 2 làng vẫn giữ hạn của một khóa Hội đồng tộcbiểu là 3 năm đó là làng Yên Nội (1942), làng Trung Tựu (1942) Trongthời gian tham gia Hội đồng, những tộc biểu này được miễn trừ tạp dịchnhư đắp đê canh phòng, tu bổ đường xá, cầu cống, Đồng thời, giáp nàokhuyết tộc biểu trong một tháng (Hương ước thôn Đỗ) hoặc nếu tộc biểunào chưa hết hạn mà xin từ chức hay vì lí do nào đó không làm nữa thuộcgiáp nào, giáp đó cử người khác thay vào (Hương ước thôn Thượng Văn).Khi hết hạn được tái cử tiếp tục làm
Trang 40Trong số các thành viên của Hội đồng tộc biểu sẽ chọn ra một ngườigiữ chức vụ hội trưởng hay gọi là Chánh hương hội, một người làm Phóchánh hương hội Hương ước làng Thượng Văn, người tộc biểu phải trên
30 tuổi mới được giữ chức vụ Chánh phó hương hội Chánh hương hội làtrưởng Hội đồng và các chức dịch, trông nom việc trật tự trong khi họp Hộiđồng, thúc đẩy triển khai thực hiện các nghị định của Hội đồng, đồng thời
có trách nhiệm bổ sưu thuế, cùng Lý trưởng và Thư ký lập sổ chi thu củalàng Phó hương hội là người giúp việc cho Chánh hương hội Khi Chánhhương hội bận việc gì vắng mặt thì Phó hương hội thay mặt giải quyết Khi
cả hai cùng vắng mặt không tham dự Hội đồng, người Tộc biểu nào có hàmcao nhất hoặc lớn tuổi nhất trong Hội đồng sẽ quản lý công việc của làng Hội đồng tộc biểu có nhiệm vụ bầu 2 người trong ban, một người làmThư kí và một người làm Thủ quỹ Thư kí phải thông hiểu thư toán, chữNho, chữ Quốc ngữ để biên chép các kì họp của Hội đồng, giữ các sổ sách,công văn của làng Thủ quỹ phải là người chính trực, có tài sản, am hiểuchữ nghĩa để thực hiện các công việc của làng liên quan đến tiền bạc Nếutrong ban không thể bầu được Thủ quỹ thì hội đồng chọn người ngoại banlàm và người đó được quyền dự hội đồng Đồng thời nếu Thủ quỹ khônglàm tròn trách nhiệm của mình thì bị cách chức và mất quyền dự hội đồng.Ngoài những quy định chung cho Thư kí và Thủ quỹ, hương ước một sốlàng có thêm điều kiện riêng cho làng mình Làng Thượng Văn, thôn Đỗ,người giữ chức vụ Thủ quỹ phải từ 30 tuổi trở lên Ở một số làng, Thủ quỹ
và Thư ký được làng trích cho một khoản tiền phụ cấp Làng Yên Nội cấpcho Thủ quỹ và Thư ký đồng niên 2 đồng/người/năm Làng Trung Tựu, 3đồng/năm/người.ThônTrù, 6 đồng/người/năm Làng Dịch Vọng sở, 5 đồng/người/năm Cách thức này nhằm khuyến khích Thủ quỹ và Thứ kí làm việc
có trách nhiệm đối với công việc được giao
Ngoài những việc khẩn cấp phải mở cuộc họp bất thường thì hầu hếtcác làng đều quy định mở phiên họp định kì vào ngày mùng 1 và 15 hàng