Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu tạo tiền đề cho các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu ứng dụng sâu hơn các lý thuyết Xã hội học và Công tác xã hội như: Công tác xã hội cá nhân, công
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ PHƢỢNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOA LƢ
TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ PHƢỢNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOA LƢ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm từ thực tiễn
huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với
các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Vũ Thị Phƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi cũng gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, chọn mẫu nghiên cứu, xử lý số liệu mẫu thống kê, kỹ thuật phân tích số liệu, Tuy nhiên, tôi đã được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi của thầy
cô, gia đình và bạn bè trong suốt quá trình nghiên cứu
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến thầy
cô, gia đình và đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn TS Hà Thị Thư đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em phòng Bảo vệ Chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới - Sở LĐTXBH tỉnh Ninh Bình, phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Hoa Lư, cán bộ LĐTBXH các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hoa Lư, cùng nhóm trẻ em, gia đình trẻ đã hợp tác, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học để luận văn của tôi được hoàn chỉnh
Ninh Bình, tháng 3 năm 2017
Tác giả
Vũ Thị Phƣợng
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM 11
1.1 Khái niệm và đặc điểm Trẻ em lao động sớm 11
1.2 Lý luận về công tác xã hội đới với trẻ em lao động sớm 16
1.3 Các yếu tố tác động đến công tác xã hội đới với trẻ em lao động sớm 28
1.4 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội với trẻ em lao động sớm 31
Chương 2.THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐÓI VỚI TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM TẠI HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH 34
2.1 Khái quát chung về địa bàn, khách thể nghiên cứu 34
2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội với trẻ em lao động sớm 42
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm 55
Chương 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH 62
3.1 Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân 62
3.2 Đề xuất biện pháp góp phần thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội với trẻ em lao động sớm 71
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Công việc trẻ đang làm hiện nay 36
Bảng 2.2 Thời gian làm việc theo nhóm nghề, công việc 37
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Nguyên nhân dẫn đến trẻ em lao động sớm 39
Biểu đồ 2.2 Mức độ trẻ em lao động sớm tiếp cận với các hình thức truyền thông 42
Biểu đồ 2.3 Trẻ em lao động sớm được tiếp cận với các nội dung truyền thông 43
Biểu đồ 2.4 Đánh giá mức độ hài lòng của trẻ em lao động sớm với người làm công tác truyền thông 45
Biểu đồ 2.5 Thực trạng nguồn lực trẻ em lao động sớm nhận được 46
Biểu đồ 2.6 Mức độ hài lòng của trẻ em khi được nhận các nguồn lực trợ giúp 47
Biểu đồ 2.7 Danh sách các nghề trẻ em được hướng nghiệp 49
Biểu đồ 2.8 Đánh giá mức độ hài lòng của trẻ về công việc được hướng nghiệp 50
Biểu đồ 2.9 Các hoạt động hỗ trợ sinh kế cho gia đình trẻ em lao động sớm 51
Biểu đồ 2.10 Hình thức hỗ trợ cha mẹ trẻ ổn định sinh kế 52
Biểu đồ 2.11 Mức độ hài lòng của trẻ và gia đình về hoạt động hỗ trợ sinh kế 53
Biểu đồ 2.12 Các yếu tố thuộc về trẻ em lao động sớm 55
Biểu đồ 2.13 Các yếu tố thuộc về đặc điểm của nhân viên CTXH 57
Biểu đồ 2.14 Các yếu tố thuộc về nhận thức của chính quyền địa phương 58
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em - mầm non của đất nước, là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của Việt Nam mà của nhiều quốc gia trên thế giới Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm
1989 đã khẳng định “Trẻ em phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt”, phát huy tinh thần đó, trong những năm qua, Việt Nam cũng như các quốc gia khác tham gia Công ước đã luôn quan tâm tới công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em để các
em được phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần
Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, một mặt mang lại nhiều cơ hội đưa đất nước theo kịp với khu vực và thế giới, mặt khác cũng tạo ra nhiều thách thức mới đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang có xu hướng gia tăng, trong đó có trẻ em phải lao động sớm Song, không thể phủ nhận trẻ em lao động sớm góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho gia đình và chính các em Lao động sớm cũng giúp nâng cao ý thức yêu lao động, tự lập vươn lên Nhưng chỉ dừng lại ở mức độ vừa với độ tuổi, sức khỏe của các em chứ không phải như một lao động thực thụ Sử dụng trẻ
em lao động sớm không được luật pháp công nhận và đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho chính các em cũng như xã hội Do tuổi đời còn ít, các em dễ bị tổn thương và gặp nhiều rủi ro về thể chất Hơn nữa, các em không còn thời gian học tập, vui chơi, giải trí, nguy cơ bỏ học cao, chậm phát triển trí tuệ, thiếu tự tin, khó hòa nhập xã hội Đây cũng là một trong những vấn đề được Chính phủ đặc biệt quan tâm nhằm đưa ra những giải pháp thiết thực để can thiệp và hỗ trợ có hiệu quả đối với nhóm trẻ em thiệt thòi này
Theo kết quả điều tra lao động trẻ em năm 2012 nước ta có khoảng 1,75 triệu lao động trẻ em trên tổng số 80 triệu dân Đây là con số rất đáng lo ngại, bởi trong
số 1,75 triệu lao động trẻ em thì có 1,5 triệu em ở độ tuổi từ 10-16 tuổi, đây là độ tuổi mà nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt phải tham gia lao động kiếm sống, phải làm việc những công việc không phù hợp với sức khoẻ và tâm sinh lý lứa tuổi của các em, có những trẻ phải lao động trong điều kiện nặng nhọc độc hại, nguy hiểm
Trang 9như khai thác đá, gia công các sản phẩm từ đá, sản xuất các sản phẩm mộc dân dụng…điều đó cũng đồng nghĩa với việc các em có nguy cơ bỏ học, hay có nguy cơ gặp phải các vấn đề xã hội Trong những năm qua, nhờ sự cố gắng của các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội, tình trạng trẻ em lao động sớm mặc dù có giảm nhưng không bền vững Nhận thức về lao động trẻ em tham gia hoạt động kinh tế còn chưa rõ ràng nên việc sử dụng lao động trẻ em tại các làng nghề vẫn còn tồn tại Lao động trẻ em có những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển về tâm lý và sức khỏe của trẻ em, hạn chế cơ hội có việc làm bền vững trong tương lai
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Châu thổ Sông Hồng với diện tích 1400 km2 Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam, phía Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình, phía Nam giáp biển; Dân số 944.431 người, có 6 huyện, 02 thành phố với 146 xã, phường, thị trấn Trên địa bàn, có 2 dân tộc cùng sinh sống là dân tộc Kinh và dân tộc Mường, 2 tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch Hiện nay có 3 khu công nghiệp, 22 cụm công nghiệp và hàng chục làng nghề truyền thống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và có khả năng thu hút khách du lịch đến thăm quan.[36]
Hoa Lư là một huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Ninh Bình, liền kề hai thành phố Ninh Bình và Tam Điệp, có nhiều tiềm năng phát triển du lịch kéo theo các hoạt động kinh tế của huyện phát triển mạnh như các khu công nghiệp, khai thác đá, làng nghề truyền thống (làng nghề chạm khắc đá mỹ nghệ, làng nghề thêu ren).v.v trong sự chuyển mình để phát huy các thế mạnh của huyện, cùng với việc truyền nghề, đào tạo nghề thì hiện nay vấn đề trẻ em tham gia lao động cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với công tác quản lý lao động trẻ em tại địa phương Trong khi đó, đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội chuyên trách các cấp làm việc với trẻ em, gia đình và cộng đồng chưa có, cán bộ chủ yếu làm công tác kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về bảo vệ trẻ em, phòng ngừa tình trạng lao động trẻ
em do đó phương pháp tiếp cận trong quá trình trợ giúp thiếu tính lý luận và toàn
Trang 10diện để phòng ngừa và có những dịch vụ can thiệp, hỗ trợ kịp thời, phù hợp cho nhóm đối tượng yếu thế
Công tác xã hội đối với trẻ em nói chung đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm tại một địa bàn cụ thể như huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình là một đề tài mới mẻ
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội đối với trẻ
em lao động sớm từ thực tiễn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” làm luận văn thạc
sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề trẻ em lao động sớm đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia trong nhiều thập kỷ nay Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện; đồng thời cũng có nhiều dự án và chương trình hành động cũng như các chiến dịch truyền thông đã được phát động nhằm chia sẻ thông tin và giải quyết tình trạng lao
động trẻ em
Nghiên cứu “Định nghĩa lao động trẻ em: đánh giá định nghĩa lao động trẻ
em trong nghiên cứu chính sách” – tên tiếng anh “Defining child labour: A review
of the definitions of child labour in policy research” được tác giả Eric V Edmonds
và ông Frank Hagemann (văn phòng IPEC tại Geneva) công bố tháng 11/2008 Nghiên cứu đã chỉ ra được một số định nghĩa về lao động trẻ em trong các chính sách về luật, văn bản dưới luật, chính sách xã hội của các quốc gia được nghiên cứu góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu thể chế chính sách nhằm làm sáng tỏ các định nghĩa, điệu kiện làm việc (môi trường, ánh sáng, thời gian) của lao động trẻ em tại các quốc gia do Tổ chức lao động thế giới tiến hành nghiên cứu [11]
Trong nghiên cứu mang tên “ Lao động trẻ em” - “ Child Labour” do Eric V
.Edmonds thực hiện 02/2007 đã chỉ ra các nội dung sau: Định nghĩa thuật ngữ thường được sử dụng trong các nghiên cứu về phân bố thời gian của trẻ em và cung cấp một cái nhìn tổng quan nhất về việc trẻ em đã sử dụng thời gian như thế nào tại đất nước có thu nhập thấp hiện nay; xem xét các loại hình lao động trẻ em phổ biến
Trang 11nhất cũng như tác động của các công việc này đối với việc học hành, sức khỏe; những hạn chế trong việc lựa chọn chính sách ảnh hưởng đến lao động trẻ em.[10]
Trong nghiên cứu “Những ảnh hưởng của lao động trẻ em đến việc đạt được thành tích học tập, bằng chứng từ Ghana” - “ What is the effect of child labour on
learning achievement? Evidence from Ghana, của Christopher Heady (công bố 10/2010) đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng của trẻ em lao động sớm đến việc hoàn thành các mục tiêu học tập tại trường học Khó khăn hạn chế của việc trẻ em vừa tham gia học tập, vừa tham gia làm việc tại Ghana như thế nào?[9]
Như vậy qua một số nghiên cứu được công bố trong thời gian gần đây của các tác giả nước ngoài có thể thấy rằng, thực trạng trẻ em lao động sớm không chỉ là vấn đề cần quan tâm trong phạm vi một quốc gia mà nó còn là vấn đề quan tâm của quốc tế Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào chỉ ra được các hoạt động công tác xã hội với trẻ em lao động sớm và những tác động của các hoạt động này đến trẻ em lao động sớm như thế nào
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Báo cáo “Vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam” (Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội, 1997) Đây là tài liệu tập trung những báo cáo được trình bày tại một cuộc tọa đàm về vấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam Những báo cáo này chỉ rõ nguyên nhân, hậu quả của lao động trẻ em trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang có nhiều sự thay đổi, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em tại Việt Nam [35]
Nghiên cứu “Ảnh hưởng của gia đình đến giáo dục trẻ lao động sớm” của
nhóm nghiên cứu Viện Khoa học giáo dục Việt Nam năm 2009 Nghiên cứu đã chỉ
ra những ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến giáo dục trẻ em lao động sớm và tầm quan trọng của nền tảng giáo dục gia đình đến nhóm trẻ em này [32]
Báo cáo “Điều tra thu thập thông tin ban đầu nhằm xác định đối tượng hưởng lợi của dự án lao động trẻ em tại 05 tỉnh Việt Nam” của Viện khoa học Lao động xã
hội thực hiện năm 2011 [33]
Trang 12Báo cáo “Điều tra quốc gia về Lao động trẻ em 2012 - Các kết quả chính” do
Tổng cục thống kê phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổ chức Lao động quốc tế tại Việt Nam thực hiện và công bố năm 2014 Báo cáo đã đưa ra một bức tranh khá toàn diện về lao động trẻ em ở Việt Nam, trong đó chỉ rõ không phải mọi hình thức lao động của trẻ em được coi là lao động trẻ em bởi trong bối cảnh của Việt Nam, kinh tế hộ gia đình còn chiếm tỷ trọng lớn, trẻ em trong những lứa tuổi nhất định có thể tham gia làm một số công việc với lượng thời gian nhất định mà không ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng sức khỏe, học tập và sự phát triển của trẻ
em Tuy vậy, một bộ phận trẻ em đã và đang tham gia vào những công việc có thời gian kéo dài, các công việc có nguy cơ thuộc nhóm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển và cơ hội học tập của trẻ, đòi hỏi phải có những giải pháp phòng ngừa, can thiệp để bảo vệ trẻ em, tạo môi trường lành mạnh cho mọi trẻ em phát triển toàn diện [7,tr.6]
Hiện nay, được sự hỗ trợ của Bộ Lao động Hoa Kỳ thông qua Tổ chức Lao
động quốc tế (ILO) đang triển khai dự án "Hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực quốc gia phòng ngừa và giảm thiểu lao động trẻ em ở Việt Nam" (từ 01/1/2015-
31/12/2019) Dự án sẽ đóng góp vào công cuộc phòng chống và xóa bỏ tình trạng lao động trẻ em tại Việt Nam thông qua hỗ trợ Kế hoạch hành động quốc gia Phòng chống và giảm thiểu lao động trẻ em, theo đó các chính sách, pháp luật liên quan tới lao động trẻ em được rà soát bổ sung, sửa đổi và xây dựng mới phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã hoặc sẽ tham gia [37]
Trong Luận văn thạc sỹ về đề tài “ Lao động trẻ em trong điều kiện độc hại nguy hiểm” do Vũ Thị Hồng Khanh, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
thực hiện vào năm 2003 đã chỉ ra những công việc mang tính chất độc hại nguy hiểm mà trẻ em đang làm việc, ảnh hưởng của chúng đến trẻ em như thế nào và gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về vấn đề trẻ em lao động sớm tại nước ta hiện nay [15]
Đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với lao động trẻ em tại Thành phố Hà Nội (nghiên cứu tại quận Ba Đình và huyện Thường Tín)” của tác giả
Trang 13Nguyễn Thị Bích Hằng – 2014 đã chỉ ra vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp trẻ em lao động phụ giúp cha mẹ làm kinh tế, lao động trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ, làm thuê giúp việc gia đình và trẻ em lang thang kiếm sống tại địa bàn quận Ba Đình và 02 xã Nhị Khê, Hiền Giang thuộc huyện Thường Tín [13]
Từ tổng quan về các công trình nghiên cứu cho thấy, đã có rất nhiều đề tài và công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về trẻ em lao động sớm Các đề tài, công trình nghiên cứu đó đã đưa ra cách nhìn chung nhất về tình hình cũng như những ảnh hưởng đối với trẻ em lao động sớm Song, phần lớn các nghiên cứu trên được tiếp cận từ góc độ xã hội học và tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về công tác xã hội với trẻ em lao động sớm Do vậy, rất cần thiết phải có những nghiên cứu mang tính chất địa phương để thấy được bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội tác động đến các hoạt động phòng ngừa, giảm thiểu tình trạng trẻ em tham gia lao động sớm, đặc biệt trong các làng nghề truyền thống tại địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích mô tả, đánh giá và phân tích thực trạng Công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này Dựa trên những kết quả nghiên cứu, tác giả đã ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ 01 trẻ em lao động sớm trên địa bàn huyện, trên cơ sở đó có những phát hiện mang tính thực tiễn làm căn cứ để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm đang diễn ra tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 14- Ứng dụng tiến trình Công tác xã hội cá nhân với trẻ em lao động sớm tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm từ thực tiễn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
4.2 Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu trên hai nhóm khách thể chính:
Thứ nhất, trẻ em lao động sớm trên địa bàn huyện Hoa Lư
Thứ hai, cán bộ làm việc với trẻ em lao động sớm
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Phạm vi đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động CTXH qua đó ứng dụng công tác xã hội cá nhân trong quá trình trợ giúp trẻ Các hoạt động mà đề tài tập trung nghiên cứu đó là: Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức; Hoạt động kết nối nguồn lực; Hoạt động hướng nghiệp - việc làm; Hoạt động trợ giúp gia đình trẻ ổn định
sinh kế
4.3.2 Phạm vi về khách thể nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu 02 nhóm khách thể chính là:
Nghiên cứu trên 100 trẻ em đang tham gia lao động sớm tại 2 xã trọng điểm xã Ninh Vân và xã Ninh Hải Bởi vì đây là 02 xã có làng nghề truyền thống (làng nghề chế tác đá mĩ nghệ và thêu ren)
Nghiên cứu 13 cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Hoa Lư, cán bộ Lao động TBXH cấp xã)
Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu đại diện cha mẹ/người thân của trẻ em lao động sớm; đại diện người sử dụng lao động (chủ cơ sở sản xuất kinh doanh) và đại diện Ban quản lý làng nghề
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá về thực trạng TE lao động sớm, thực trạng của công tác xã hội đối với TE lao động sớm trên địa bàn huyện Hoa Lư rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp
để nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với nhóm TE lao động sớm trên địa bàn huyện Hoa Lư
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống chính sách hỗ trợ đối với TE lao động sớm trong nước và quốc tế
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp một số phương pháp sau:
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Phân tích thông tin, số liệu từ
các báo cáo, ấn phẩm, tài liệu, các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến vấn đề trẻ em và lao động trẻ em, tìm hiểu các công trình nghiên cứu đã và đang thực hiện về vấn đề lao động trẻ em cả nghiên cứu trong nước và nước ngoài, đặc biệt là các tài liệu, báo cáo có liên quan đến công tác xã hội với trẻ em lao động sớm
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Là phương pháp điều tra xã hội
học, thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng trong một khu vực, trong khoảng thời gian nhất định Trong đề tài có xây dựng một bảng hỏi
là tổ hợp các câu hỏi về đặc điểm TE lao động sớm, những hoạt động CTXH với trẻ
em lao động sớm với quy mô mẫu khảo sát gồm 100 TE lao động sớm trong độ tuổi
từ 11-dưới 16 tuổi tại 02 xã Ninh Vân và Ninh Hải thuộc địa bàn huyện Hoa Lư
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: Là những cuộc đối thoại giữa người
nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng và những ảnh hưởng của hoạt động CTXH và những khó khăn mà TE lao động sớm gặp phải mà khi trả lời theo bảng hỏi các em chưa thể nói hết Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với 13 cán bộ làm công tác Bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc phòng LĐTBXH huyện Hoa Lư, cán bộ làm công tác LĐTBXH
Trang 16cấp xã; ngoài ra thực hiện phỏng vấn sâu đại diện cha mẹ trẻ, đại diện ban quan lý làng nghề/đại diện cơ sở SXKDDV
5.2.4 Phương pháp quan sát: trong quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin,
tác giả luôn sử dụng phương pháp quan sát để thu thập thêm thông tin, đồng thời kiểm tra độ chính xác của thông tin qua quan sát các biểu hiện trong giao tiếp; Quan sát công việc mà trẻ đang làm, các trang thiết bị, dụng cụ làm việc để biết được môi trường và điều kiện làm việc của trẻ; Quan sát thái độ, hành vi giữa cha mẹ - gia đình có trẻ em lao động sớm với các em
5.2.5 Phương pháp thống kê toán học: Các số liệu định lượng thu thập được xử
lý, phân tích qua phần mềm bảng tính Excell và phần mềm chuyên dụng SPSS 20.0
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận về TE tham gia lao động sớm, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá, các biện pháp can thiệp, phòng ngừa và vai trò của nhân viên CTXH đối với TE lao động sớm Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu tạo tiền đề cho các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu ứng dụng sâu hơn các lý thuyết Xã hội học và Công tác xã hội như: Công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm…vào việc trợ giúp cho các nhóm đối tượng đặc thù như nhóm trẻ em lao động sớm
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài chỉ ra cách nhìn tổng quan về tình hình TE lao động sớm, những nguy
cơ và thách thức đối với các em khi làm việc ở những môi trường độc hại, nguy hiểm và vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động thực tiễn để giảm thiểu tình trạng này
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình tham mưu, hoạch định, điều chỉnh, bổ sung các chính sách trợ giúp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và giải quyết vấn đề trẻ em lao động sớm đạt hiệu quả
Đối với địa bàn nghiên cứu: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng công tác xã hội đối với nhóm đối tượng là trẻ em lao động sớm tại huyện Hoa Lư,
Trang 17tỉnh Ninh Bình Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc hoàn thiện và phát triển các dịch vụ, hoạt động công tác xã hội để trợ giúp nhóm đối tượng này
Đối với người nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế, người nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng Từ đó giúp người nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm Chương 2 Thực trạng về công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Chương 3 Ứng dụng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em lao động sớm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả CTXH từ thực tiễn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM
1.1 Khái niệm và đặc điểm Trẻ em lao động sớm
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm Trẻ em
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với những trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”
Tại Việt Nam, khái niệm trẻ em đã được đề cập đến trong Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; Luật Trẻ em năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ
01/6/2017): “ Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”
Trẻ em trong nghiên cứu này là những người dưới 16 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý, chưa trưởng thành về xã hội do đó luôn cần được gia đình
và xã hội quan tâm Việc lựa chọn độ tuổi này dựa trên cơ sở những quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và cũng phù hợp với các nghiên cứu về lao động trẻ em trong những năm gần đây ở nước ta
* Khái niệm Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào thế giới xung quanh để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội
* Khái niệm Trẻ em lao động sớm
Thuật ngữ “Trẻ em lao động sớm” hay “lao động trẻ em” được sử dụng phổ biến trong các văn bản, tài liệu, sách báo, các công trình nghiên cứu về vấn đề lao động, việc làm liên quan đến trẻ em [38]
Đến nay chưa có khái niệm chung và thống nhất về lao động trẻ em, nhưng thông thường các quốc gia xác định lao động trẻ em là những trẻ em được sử dụng làm những công việc bị cấm theo luật pháp quốc gia, các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất theo Công ước 182 của Tổ chức Lao động quốc tế, lao động trong điều kiện có hại cho trẻ em
Trang 19Tại những nước đang phát triển, việc trẻ em tham gia lao động đã trở thành nhu cầu chính đáng của trẻ em khi các em tham gia làm những công việc nhẹ nhàng, phù hợp với sức khỏe, khả năng của mình và thời gian ngắn, không gây ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ qua đó không chỉ giúp các em có thêm thu nhập kinh tế mà còn giúp rèn luyện, phát triển nhân cách của trẻ Tuy nhiên, bên cạnh đó việc trẻ em bị bóc lột lao động khi các em phải lao động quá sớm và nhiều giờ, phải làm các công việc nặng nhọc trong những điều kiện độc hại, nguy hiểm hay ảnh hưởng đến sự phát triển các mặt: sức khỏe, giáo dục và vui chơi, giải trí…đây không còn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà trở thành mối quan tâm chung của các nước trên thế giới
Tại Việt Nam, chưa có khái niệm thống nhất về “lao động trẻ em” hay “trẻ em lao động sớm” Tuy nhiên, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam phù hợp với quan điểm của các tổ chức quốc tế về lao động trẻ em Những quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012 về cơ bản cũng phù hợp với những điều ước quốc tế về lao động trẻ em, trong đó quy định độ tuổi lao động tối thiểu là 15 tuổi (với những công việc nặng nhọc, độc hại là 18 tuổi) Bộ Luật lao động cũng đưa ra khái niệm người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi Do đó, để hài hòa giữa luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam, trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu được xác định là người lao động dưới 16 tuổi, phải làm việc nhiều giờ trong ngày
hoặc làm những công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, ảnh hưởng đến
sự phát triển của trẻ
Từ đó, có thể hiểu khái niệm “lao động trẻ em” hay “trẻ em lao động sớm” là
đề cập đến vấn đề trẻ em dưới 16 tuổi tham gia làm việc trên thị trường lao động,
có quan hệ lao động hay không có quan hệ lao động nhưng đều nhằm mục đích tạo
ra thu nhập để nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình; các em phải sử dụng hầu hết thời gian lẽ ra dành cho học tập, vui chơi, giải trí để làm việc cho người sử dụng lao động hay cho gia đình; là những trẻ em bị bóc lột sức lao động, phải làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, phải làm việc nhiều giờ trong ngày, quá sức mình ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, tâm lý, tình cảm, nhận thức, đạo đức và xã hội của trẻ em
Trang 20Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thuật ngữ “trẻ em lao động sớm” để có cái nhìn sâu sắc hơn về “nhóm người lao động đặc biệt” - chưa đủ 16 tuổi vì đây là giai đoạn đầu tiên hình thành và phát triển nhân cách, trí tuệ của trẻ vì vậy giai đoạn này trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ đặc biệt để các em được phát triển toàn diện về mọi mặt, nhưng nếu các em phải làm việc, lao động quá sức hay không phù hợp với lứa tuổi thì sẽ dẫn đến sự phát triển lệch lạc cả về thể chất và tâm hồn của các em
1.1.2 Đặc điểm tâm lý xã hội và nhu cầu của trẻ
* Đặc điểm tâm lý xã hội của trẻ em lao động sớm
Trẻ em ở giai đoạn này có đầy đủ những đặc điểm tâm lý phát triển của lứa tuổi, đây là giai đoạn quan trọng để các em hình thành nhân cách sống Tuy nhiên, hoàn cảnh sống đã không tạo môi trường thuận lợi để các em có thể phát triển bình thường như những đứa trẻ khác Do phải đi làm nên đa phần trẻ em lao động sớm
có tính cách lớn trước tuổi, suy nghĩ già dặn, hay lo nghĩ về gia đình Ở các em hình thành tính cách tự lập, có tinh thần giúp đỡ bố mẹ Nhưng cũng hay tự ái và có những hành động bộc phát không suy tính rõ ràng Trẻ em lao động sớm có những điểm cơ bản sau:[38]
- Hung hăng và phá phách: Do đặc trưng của một số nghề, để tự bảo vệ cho mình hoặc vì không thể diễn tả tâm trạng bằng lời nói nên trẻ có thể đánh đập người khác khi chúng cảm thấy căng thẳng, tức giận hoặc sợ hãi
- Hoài nghi, thiếu tin tưởng: Trẻ em lao động sớm có đủ lí do để ngờ vực, vì chúng va chạm với môi trường lao động khắc nghiệt bên ngoài khi còn quá sớm, có thể chúng đã bị dụ dỗ, lừa gạt nên luôn phải đề phòng, cách tốt nhất là không nên tin tưởng ai
- Giận dữ và luôn có ác cảm: Một số trẻ tức giận người lớn vì bị bạc đãi, các
em cứ đinh ninh sẽ bị phê bình hoặc trừng phạt
- Mặc cảm tội lỗi và tự trách mình: Trẻ hổ thẹn vì những điều xảy ra đã đến với mình như bị cưỡng dâm, bị làm nhục hoặc các em tự trách mình vì đã không tự bảo vệ được
- Không nói thật: Vì trẻ ước mơ có một hoàn cảnh khác, tránh né những đề tài đau thương, sợ bị hậu quả xấu, trẻ cố gắng lấy lòng người lớn, cố ý nói dối
Trang 21để tránh câu chuyện, không muốn tiếp xúc với người khác hoặc để gây sự chú ý với người nghe
Từ những đặc điểm trên cho thấy vì phải bươn trải kiếm sống mà các em đang
bị mất đi sự trong sáng vốn có của lứa tuổi và nhường chỗ cho những lo toan hoặc
sự tức giận, sợ hãi Bản thân các em cũng đều mong muốn có được cuộc sống bình thường, tốt đẹp hơn
* Về đặc điểm sinh lý:[38]
- Trí tuệ, nhận thức: Do hoạt động kiếm sống nên trẻ lao động sớm có nhận thức nhanh hơn trẻ bình thường, các em đã sớm phải đối diện với các tình huống phức tạp ở ngoài xã hội nên trí tuệ phát triển hơn
- Thể chất: Thường là nhỏ, còi do chế độ ăn uống không đầy đủ, hợp lí và do điều kiện làm việc khắc nghiệt
* Nhu cầu của trẻ em lao động sớm: [38]
- Nhu cầu về vật chất, sinh lý: Các em có nhu cầu được đáp ứng đầy đủ về đồ
ăn, nước uống để không bị đói, được ngủ, nghỉ sau những giờ lao động mệt mỏi, đây được xem là những nhu cầu cơ bản nhất của các em
- Nhu cầu được an toàn: Các em mong muốn có một môi trường an toàn để sống, để làm việc Có một ngôi nhà để tránh mưa, tránh nắng, được khám chữa bệnh, được chăm sóc y tế miễn phí khi bị đau ốm Mong được sống trong môi trường được bảo vệ an ninh tính mạng, được làm việc trong điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, hạn chế các yếu tố gây thương tích, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
- Nhu cầu về tình cảm xã hội: Các em luôn mong muốn được sống trong sự yêu thương, quan tâm, động viên, khích lệ và hỗ trợ của gia đình (rất sợ khi bị đơn độc), các em tự tin hơn khi được sống trong sự yêu thương đó Bên cạnh đó các em mong muốn có sân chơi dành riêng cho nhóm bạn cùng trang lứa phải đi làm như mình, được tham gia các hoạt động tập thể, sinh hoạt, vui chơi với thời gian linh hoạt; không bị mắng nhiếc; không bị sử dụng vào những công việc vi phạm pháp luật, hoặc những việc làm không chính đáng
- Nhu cầu được tôn trọng: muốn được đối xử bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường; mong muốn được cha mẹ đánh giá công bằng những việc các
Trang 22em làm và đóng góp của các em đối với gia đình Không bắt các em làm những công việc mà các em không thích hoặc không muốn Không bị trì triết, mắng chửi khi phạm lỗi trong công việc, muốn được cha mẹ chỉ bảo cách làm việc, hỗ trợ trong công việc Được trả lương công bằng với sức lao động các em bỏ ra
- Nhu cầu được hoàn thiện và phát triển: Đó là nhu cầu được đi học, được học lên cao hơn, với những em không còn đi học thì mong muốn được đào tạo nghề và giới thiệu việc làm phù hợp với lứa tuổi của các em Qua đó được phát huy tay nghề, sáng tạo trong lao động
1.1.3 Đặc điểm hoàn cảnh gia đình của trẻ em lao động sớm
Theo báo cáo “Điều tra quốc gia về Lao động trẻ em 2012- các kết quả chính” cho thấy có khoảng 50% hộ có mức thu nhập bình quân từ 2,5 - 4,5 triệu
đồng/tháng; tuy nhiên cũng có gần 22% hộ có mức thu nhập dưới 2,5 triệu đồng/tháng (so với chuẩn nghèo theo qui định hiện hành, thì hộ có thu nhập dưới 2,5 triệu/tháng thường rất dễ rơi vào nhóm hộ nghèo theo chuẩn nghèo hiện tại) Qua đó có thể thấy phần lớn trẻ em lao động sớm là con, em của các gia đình nghèo
mà công việc của cha mẹ trẻ thường có thu nhập thấp, không thường xuyên, không
ổn định hơn thế nữa một số người còn rơi vào tình trạng “bán” thất nghiệp, mất sức lao động hoặc con, em các gia đình nông dân, làm thuê mướn Với điều kiện như vậy, cha mẹ các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc trang trải, lo toan cho cuộc sống gia đình nên tất yếu dẫn tới việc trẻ em phải lao động sớm để kiếm tiền phụ giúp cha mẹ
Ngoài ra, một số trẻ sống trong gia đình có bố mẹ ly hôn, chính loại gia đình
"khuyết" này cũng là một trong những nguyên nhân đẩy các em vào tình trạng phải lao động sớm
Bên cạnh đó, một số trẻ sống trong gia đình có điều kiện kinh tế khá giả do gia đình có nghề truyền thống, vì vậy, các em được tiếp cận với nghề từ khi còn nhỏ Yếu tố truyền nghề cộng với nhận thức hạn chế của một số gia đình cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em lao động sớm Các em giống như những người học nghề thực thụ khi một số em ngoài việc học (thậm chí có em
bỏ học) đã dành quá nhiều thời gian cho việc phụ giúp cha mẹ
Trang 231.2 Lý luận về công tác xã hội đới với trẻ em lao động sớm
1.2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ ( Zastrow, 1996:5) [38]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai: CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [17] Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
Gần đây nhất, tháng 7/2014, Đại hội đồng Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế (IFSW General Meeting) và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo CTXH (IASSW General Assembly) đã thống nhất toàn cầu về định nghĩa nghề CTXH: là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao năng lực, sự
tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hộ và phát triển Nguyên tắc chủ đạo của CTXH là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội Trên nền tảng lý thuyết CTXH, khoa học xã hội, kiến thức bản địa và nhân văn, CTXH kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống [12]
* Khái niệm công tác xã hội với trẻ em lao động sớm
Trên cơ sở định nghĩa về công tác xã hội, trẻ em lao động sớm như trên thì có
thể hiểu công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm là hoạt động của nhân viên công tác xã hội sử dụng những kiến thức chuyên ngành, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp trong can thiệp, phòng ngừa, hỗ trợ giảm thiểu tình trạng trẻ
Trang 24em tham gia lao động sớm, trẻ em có nguy cơ và trẻ em lao động trái quy định của pháp luật, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ trẻ, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động trợ giúp một cách hiệu quả, giúp trẻ nâng cao năng lực, vượt qua những rào cản, khó khăn trong cuộc sống và được phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần
1.2.2 Nguyên tắc làm việc
Các nguyên tắc hành động trong công tác xã hội rất quan trọng và thường được ví như “kim chỉ nam” định hướng hoạt động nghề nghiệp cho mỗi nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp thân chủ, nhằm mang lại hiệu quả cao trong hoạt động trợ giúp Trong quá trình trợ giúp trẻ em lao động sớm, ngoài việc phải tuân theo những nguyên tắc chung trong thực hành CTXH như: Chấp nhận đối tượng; tạo điều kiện để đối tượng tham gia giải quyết vấn đề; tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng; đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp; đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của đối tượng; NVXH tự ý thức về bản thân; đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp trong làm việc với các đối tượng, thì đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải chú ý đến những nguyên tắc sau: [37]
Nguyên tắc thứ nhất, luôn lấy trẻ làm trọng tâm
Nhân viên CTXH luôn quan tâm đến lợi ích tốt nhất của trẻ trong toàn bộ quá trình trợ giúp (trẻ cảm thấy như thế nào và có thể bị ảnh hưởng như thế nào); luôn tôn trọng trẻ giống như những người đã trưởng thành, không có thái độ phán xét, coi thường, miệt thị trẻ bởi vì trẻ em lao động sớm thường rất nhạy cảm với thái độ, cư
xử của người khác vì vậy nhân viên CTXH cần có thái độ chân tình, gần gũi giúp các
em vượt qua được những rào cản hiện tại hòa nhập tốt hơn với cuộc sống xã hội
Nguyên tắc thứ hai, cố gắng hiểu được thế giới của trẻ
Nhân viên CTXH phải hiểu được toàn bộ bối cảnh, môi trường sống, môi trường xã hội của trẻ, hiểu về công việc trẻ đang làm, về ước muốn, cảm xúc của trẻ, nhân viên CTXH phải đặt mình vào hoàn cảnh của trẻ, cảm nhận, lắng nghe và khám phá được “cái nhìn” của trẻ về những sự kiện đã ảnh hưởng đến trẻ cũng như những nguy hại có thể xảy ra trong công việc hiện nay của trẻ, sự tác động về tâm
lý, tình cảm… để làm được điều đó thì nhân viên CTXH cần phải hình thành mối quan hệ tin tưởng với trẻ
Trang 25Nguyên tắc thứ ba, luôn có sự tham gia tích cực của trẻ, gia đình/người giám
hộ trẻ
Nhân viên CTXH làm việc với trẻ em lao động sớm phải luôn tạo điều kiện để trẻ tham gia tích cực trong toàn bộ quá trình trợ giúp từ việc xác định vấn đề, nêu quan điểm, lựa chọn vấn đề ưu tiên, xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch Bởi vì, hơn ai hết trẻ là người hiểu rõ nhất về hoàn cảnh, suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn và những ưu, khuyết điểm của mình, vì vậy các em phải là người tự giải quyết vấn đề của mình với sự hỗ trợ, định hướng của nhân viên công tác xã hội Trong trường hợp trẻ đưa ra quan điểm hay quyết định hoạt động nào đó có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với trẻ hoặc người khác thì nhân viên CTXH sẽ ngăn chặn hoặc bác bỏ Đồng thời, nhân viên CTXH cần phải huy động sự tham gia tích cực của cha
mẹ, người giám hộ trẻ trong quá trình hỗ trợ trẻ để không làm suy yếu đi vai trò của cha mẹ/người giám hộ, không làm ảnh hưởng đến vị trí của trẻ trong gia đình, sự tham gia đó sẽ tạo ra nhân tố tích cực thúc đẩy trẻ tự tin hành động để giải quyết vấn đề của bản thân
Nguyên tắc thứ 4, luôn động viên, khích lệ trẻ kịp thời
Do đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách nên trẻ em nói chung, trẻ em lao động sớm nói riêng rất nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc sống xã hội, một số em dễ chán nản, buông xuôi, thậm chí bỏ cuộc khi gặp những khó khăn, thất bại vì vậy nhân viên CTXH phải luôn đồng hành, hỗ trợ, định hướng giúp các em ý thức được về mình và cần phải tin tưởng vào khả năng tự giúp của mình Thường xuyên khích lệ, khen ngợi khi các em đạt được những kết quả nhất định, kịp thời chia sẻ với những “thất bại trước mắt” mà các em gặp phải trong quá trình thực hiện kế hoạch trợ giúp; hướng dẫn, động viên để các em tiếp tục nỗ lực
khắc phục, vượt qua những khó khăn đang gặp phải để đạt được mục tiêu
1.2.3 Các hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
Hoạt động CTXH được hiểu là cách thức, biện pháp thực hiện mà nhân viên CTXH sử dụng để trợ giúp thân chủ trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc hành động và các tiến trình của công tác xã hội Hoạt động CTXH bao gồm: chăm sóc nuôi dưỡng, hỗ
Trang 26trợ dạy nghề - tạo việc làm, kết nối - vận động nguồn lực, kết nối dịch vụ, vận động xây dựng chính sách, truyền thông nâng cao nhận thức, tư vấn, tham vấn, quản lý trường hợp, giáo dục, can thiệp khủng hoảng, biện hộ, giải trí nhóm
Trong hoạt động trợ giúp TE lao động sớm, nhân viên CTXH không chỉ cố gắng để hiểu thế giới của trẻ hay tìm kiếm giải pháp nội lực từ trẻ mà còn tác động vào hệ thống bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ lao động sớm như: gia đình/người giám hộ; nhà trường; doanh nghiệp; cơ quan, đoàn thể; cộng đồng mà trẻ sinh sống, làm việc Do vậy, CTXH với trẻ em lao động sớm có những đặc thù nhất định so với hoạt động CTXH chung Xuất phát từ thực tiễn đó, trong đề tài này tác giả xin trình bày bốn hoạt động chính của CTXH đối với trẻ em lao động sớm
1.2.3.1 Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức
Công tác truyền thông ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng TE tham gia lao động sớm, đặc biệt trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là hết sức quan trọng,
có tác động to lớn đến nhận thức, hành động của mỗi cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng và toàn xã hội trong việc tiếp nhận, hiểu và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức gồm có các nội dung như: Tuyên truyền về Luật và các chính sách luật pháp có liên quan đến công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, pháp luật lao động, an toàn vệ sinh lao động, các biện pháp phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ giảm thiểu tình trạng TE tham gia lao động sớm, TE có nguy cơ và
TE lao động trái quy định của pháp luật…Hình thức tổ chức gồm: Tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các hội nghị truyền thông trực tiếp tại cộng đồng; cung cấp ấn phẩm, tờ rơi; lồng ghép qua các cuộc kiểm tra, thanh tra tình hình thực hiện pháp luật lao động trong các doanh nghiệp, làng nghề truyền thống Bên cạnh đó, các ngành tập trung nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em các cấp, người làm công tác bảo vệ trẻ
em cấp xã, cộng tác viên làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Trang 271.2.3.2 Hoạt động kết nối nguồn lực
Nhân viên CTXH là người cung cấp các thông tin về các dịch vụ, chính sách
để trẻ, gia đình trẻ tiếp cận dễ dàng với các nguồn lực, chính sách trợ giúp để tăng thêm “sức mạnh” trong giải quyết vấn đề Thực hiện kết nối nguồn lực là một hoạt động nhằm khai thác được tiềm năng, phát huy các nguồn lực khác nhau, hình thành nên một mạng lưới các nguồn lực trợ giúp cho tiến trình giải quyết vấn đề của trẻ
em lao động sớm
Trẻ em lao động sớm được kết nối với các nguồn lực như các chính sách bảo vệ TE tham gia lao động được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, được tiếp cận các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, trợ giúp pháp lý, giáo dục nghề nghiệp…
Nhân viên CTXH đóng vai trò là cầu nối trung gian để liên kết các nguồn lực khác nhau đảm bảo hiệu quả của công việc hỗ trợ Ví dụ: giúp trẻ học nghề thêu, ren thì nhân viên CTXH liên kết các nguồn lực để hỗ trợ về nguyên liệu, dụng cụ học nghề … thị trường đầu ra sản phẩm Ngoài ra, nhân viên CTXH kết nối ngay chính nguồn lực trong cộng đồng để hình thành nên một mạng lưới hỗ trợ cho trẻ thông qua Nhà trường, Hội phụ nữ, Ban quản lý làng nghề, Đoàn thanh niên, các cá nhân
tổ chức có thẩm quyền … để cùng phối hợp tạo điều kiện hỗ trợ TE lao động sớm
có cuộc sống tốt hơn và tự tin hòa nhập cộng đồng
1.2.3.3 Hoạt động hướng nghiệp - việc làm
Định hướng nghề - hướng nghiệp là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động trợ giúp TE lao động sớm, thông qua đó giúp TE sẽ có những định hướng rõ ràng, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với lứa tuổi, hoàn cảnh, khả năng của bản thân, đồng thời đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Hình thức hướng nghiệp có thể thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí, qua các buổi trò chuyện, qua việc giới thiệu các nghề…Thời gian tổ chức thường linh hoạt vào những ngày cuối tuần hoặc các buổi tối, dịp nghỉ hè tại trung tâm học tập cộng đồng, nhà văn hóa các thôn, xóm nhằm giúp các em có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với chương trình
Nhân viên CTXH cũng là người hướng nghiệp, dạy nghề hoặc kết nối trẻ với những cơ sở đào tạo nghề, đồng thời kết nối hỗ trợ tạo việc làm phù hợp với độ tuổi của trẻ
Trang 281.2.3.4 Hoạt động trợ giúp gia đình trẻ ổn định sinh kế
Là những hoạt động nhằm giúp gia đình có TE tham gia lao động sớm, TE có nguy cơ và TE lao động trái với quy định của pháp luật sớm ổn định sinh kế thông qua các hoạt động cụ thể như: cung cấp kiến thức về sản xuất kinh doanh, về thông tin thị trường; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, hỗ trợ giống vật nuôi, cây trồng, tư liệu sản xuất… từ đó giúp gia đình trẻ tăng thêm thu nhập, ổn định đời sống và không để trẻ em lao động trái quy định của pháp luật Bởi vì, một trong những nguyên nhân khiến trẻ em phải tham gia động sớm là do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên các em phải bươn trải kiếm tiền để phụ giúp thêm cho cha mẹ, do đó
để ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng TE lao động sớm thì hơn hết cần phải tác động trực tiếp đến nguyên nhân gốc rễ của vấn đề…Việc hỗ trợ ổn định sinh kế sẽ giúp cải thiện đời sống sinh hoạt của trẻ, các em có nhiều cơ hội hơn để phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động này là người giáo dục, người kết nối nguồn lực trợ giúp
1.2.4 Các phương pháp công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
Để giúp thân chủ giải quyết được vấn đề của mình, nhân viên CTXH cần phải vận dụng các phương pháp trong công tác xã hội như: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm, phát triển cộng đồng, quản trị ngành công tác xã hội, nghiên cứu trong công tác xã hội Trong hoạt động trợ giúp trẻ em lao động sớm, tác giả tập trung nghiên cứu một số phương pháp sau:
1.2.4.1 Phương pháp công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân được định nghĩa là “hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối hệ một-một ”(Farley O W, 2000).[18,tr.36]
Vai trò chủ yếu của nhân viên xã hội trong phương pháp CTXH cá nhân là người tạo điều kiện, giúp cá nhân, gia đình đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh tiến đến nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của bản thân
Trang 29Một số mô hình trợ giúp cá nhân giải quyết vấn đề gồm: mô hình tập trung vào nhiệm vụ; hỗ trợ xử lý khủng hoảng; tham vấn/ trị liệu qua tác động tư duy; huấn luyện thân chủ ứng phó với căng thẳng; tham vấn/ trị liệu gia đình
Tiến trình công tác xã hội cá nhân thường 7 bước đó là:
Bước 1 Tiếp nhận ca: Việc tiếp cận thân chủ được tính từ lúc nhân viên CTXH nhận được hồ sơ hoặc có buổi tiếp đón đầu tiên Nhân viên CTXH sẽ tiếp cận, bước đầu tạo lập mối quan hệ tin tưởng với thân chủ và xác định vấn đề ban đầu qua việc trao đổi cùng thân chủ
Bước 2 Thu thập thông tin, xác định vấn đề: Những thông tin mà nhân viên CTXH cần thu thập: sức khoẻ, mối quan hệ, hôn nhân gia đình, việc làm Nguồn thông tin thu thập từ phía thân chủ, từ gia đình, hàng xóm, đồng nghiệp, các tổ chức
xã hội, tài liệu, hồ sơ qua phương pháp thu thập thông tin: bảng hỏi, vãng gia, phỏng vấn, điều tra xã hội học,…
Bước 3 Chuẩn đoán, xác định vấn đề thân chủ: Xác định trọng tâm của vấn đề trên cơ sở các thông tin dữ liệu thu thập được ở giai đoạn trước; cùng thân chủ đánh giá và xác định vấn đề; xác định nguồn lực giúp sử dụng công cụ như cây vấn đề, sơ
đồ phả hệ, biểu đồ sinh thái, bảng phân tích điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ… Bước 4 Lập kế hoạch: Việc lên kế hoạch can thiệp cần dựa trên mong muốn
và nhu cầu của thân chủ, có sự bàn bạc và chấp thuận của thân chủ; xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được và các hoạt động can thiệp
Bước 5 Thực hiện kế hoạch: Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện kế hoạch; Hỗ trợ thân chủ thực hiện kế hoạch qua các hoạt động cụ thể như: cung cấp thông tin, tham vấn…
Bước 6 Lượng giá: Đánh giá tính hiệu quả của quá trình can thiệp, thân chủ
có đạt được mục tiêu giải quyết vấn đề của mình hay không? Mức độ giải quyết mục tiêu đến đâu…
Bước 7 Kết thúc: Chấm dứt mối quan hệ nhân viên CTXH - thân chủ, khép lại
hồ sơ
1.2.4.2 Phương pháp Công tác xã hội nhóm
Công tác xã hội nhóm được Toseland và Rivas định nghĩa như sau: Công tác
xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhằm đáp
Trang 30ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng tới các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ
[18, tr.37]
Vai trò của nhân viên CTXH là người tạo ra cảm giác được thuộc về nhóm cho các thân chủ; cơ hội để cá nhân thử nghiệm thực tế thông qua môi trường nhóm; tạo ra sự hỗ trợ qua lại lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm
Đối tượng tác động của phương pháp này là toàn nhóm; công cụ tác động của nhóm chính là mối quan hệ, sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm; vai trò hỗ trợ của nhân viên xã hội trong tiến trình giúp đỡ nhóm thân chủ
Các hoạt động của công tác xã hội nhóm hướng tới phòng ngừa như trang bị kiến thức kỹ năng cho các thành viên trong nhóm
Thông thường, người ta có thể chia nhóm Công tác xã hội theo các dạng nhóm như nhóm can thiệp và nhóm nhiệm vụ
Trong Công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội đóng vai trò như người điều phối, hoạt động của nhân viên xã hội không nhằm vào hoạt động của từng người cụ thể mà tác động đến sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua vai trò điều phối các hoạt động của nhóm
Tiến trình phương pháp công tác xã hội nhóm bao gồm các bước:
Bước 1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm: Xác định mục đích; đánh giá khả năng thành lập nhóm; thành lập nhóm; định hướng cho các thành viên trong nhóm; thỏa thuận nhóm; chuẩn bị môi trường; viết đề xuất
Bước 2 Giai đoạn bắt đầu hoạt động nhóm: Giới thiệu các thành viên trong nhóm; làm rõ mục đích hỗ trợ nhóm của nhân viên CTXH; xây dựng mục tiêu nhóm; nguyên tắc bảo mật thông tin nhóm; định hướng phát triển của nhóm; thỏa thuận công việc của nhóm…
Bước 3 Giai đoạn can thiệp/thực hiện nhiệm vụ:
Nhóm can thiệp: Chuẩn bị họp nhóm, tổ chức các hoạt động can thiệp; hỗ trợ thành viên đạt mục tiêu; giám sát, đánh giá tiến bộ của nhóm
Nhóm nhiệm vụ: Chuẩn bị họp nhóm; chia sẻ thông tin; thu hút sự tham gia; giải quyết mâu thuẫn; đưa ra quyết định hiệu quả; theo dõi, giám sát…
Bước 4 Giai đoạn lượng giá và kết thúc hoạt động nhóm
Trang 31Lượng giá về chương trình và tiến trình thông qua phiếu hỏi, sự phản hồi của các thành viên; so sánh kết quả thay đổi của các thành viên sau mỗi lần hoạt động Kết thúc khi nhóm đã đạt được mục tiêu, hoàn thành nhiệm vụ, hoặc kết thúc sớm do hoạt hoạt động nhóm không có tiến triển
nhau trong phạm vi một cộng đồng [18.tr.40]
Những nguyên tắc cơ bản của phát triển cộng đồng là sự tham gia và tự quyết của nhân dân; tin vào khả năng của người dân và phát huy nội lực của chính cộng đồng Phương pháp này luôn đánh giá cao vai trò của người dân và coi đây là nhân tố
quyết định tới sự thành công trong việc phát triển cộng đồng nghèo
Tiến trình phát triển cộng đồng đi từ cộng đồng yếu kém đến cộng đồng tự lực qua các bước sau:[2]
Bước 1 Chọn cộng đồng: Là cộng đồng có vấn đề mà người dân bức xúc, có nhu cầu, mong muốn được giải quyết, có tài nguyên và tiềm năng, phát triển phù hợp với chiến lược phát triển của chính quyền địa phương và nhà tài trợ
Bước 2 Tiếp cận cộng đồng: Khi địa bàn đã chọn, tác viên chính thức bắt đầu
đi vào cộng đồng
Bước 3 Hội nhập vào cộng đồng: Thực hiện “tam cùng” với cộng đồng, việc đầu tiên là trao đổi với cán bộ địa phương, người uy tín trong cộng đồng, tham dự những sinh hoạt, công việc của cộng đồng, sống gần gũi với người dân
Bước 4 Tìm hiểu phân tích tình hình cộng đồng: Thông tin về dân số, tình hình kinh tế xã hội; các tổ chức có sẵn; nhận thức, kỳ vọng của người dân và lãnh đạo địa phương về vấn đề của họ; nguồn lực; các mối quan hệ tương tác trong cộng đồng sử dụng phương pháp PRA, phương pháp ABCD
Trang 32Bước 5 Phát hiện và bồi dưỡng nhân tố tích cực: Tác viên cần phát hiện ra nhân tố tích cự trong cộng động (người có uy tín, có kỹ năng vận động, đáp ứng được với những thay đổi mới ); hình thành, bồi dưỡng nhóm nòng cốt
Bước 6 Lập kế hoạch: Xác định mục tiêu, nguồn lực, hoạt động, giải pháp cụ thể Bước 7 Tổ chức thực hiện kế hoạch: Triển khai kế hoạch đã xây dựng, luôn phải chú ý đến sự tham gia của người dân trong từng bước thực hiện kế hoạch Bước 8 Liên kết, mở rộng với các nhóm khác nhau trong và ngoài cộng đồng: Liên kết với các nhóm có hoạt động tương tự ở các khu vực, cộng đồng khác nhằm nâng cao năng lực, mở rộng hợp tác, tăng sức mạnh cho cộng đồng
Bước 9 Đánh giá/lượng giá: Đánh giá hiệu quả hoạt động triển khai kế hoạch, kịp thời điều chỉnh, rút kinh nghiệm, luôn có sự tham gia của cộng đồng
Bước 10: Chuyển giao (Tiếp tục hoặc kết thúc chương trình phát triển cộng đồng)
1.2.5 Lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
1.2.5.1 Tiếp cận dựa trên thuyết về nhu cầu con người
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người
có những nhu cầu khác nhau
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo ông, con người là một thực thể sinh - tâm lý xã hội Do đó, con người
có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu cầu xã hội Để tồn tại, con người cần phải được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống, như: ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế ; để phát triển, con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn, như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 05 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao
Trang 33(Nguồn:congtacxahoi.net) Ứng dụng khi làm việc với trẻ em lao động sớm:
Trong mỗi trẻ khác nhau, với từng hoàn cảnh khác nhau thì nhu cầu cũng khác nhau, chính vì vậy việc tiếp cận theo nhu cầu khi làm việc trực tiếp với trẻ sẽ giúp nhân viên CTXH hỗ trợ trẻ tốt hơn Giải quyết vấn đề theo từng bậc thang trong từng trường hợp
Những thứ bậc của tháp nhu cầu trên, về cơ bản là những nhu cầu thiết yếu của con người Chính vì vậy, khi muốn thỏa mãn các nhu cầu thì cần đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao Đối với TE lao động sớm huyện Hoa Lư, với những khó khăn kinh tế nhất định, nhu cầu cao nhất của các em chính là những nhu cầu sinh lý
cơ bản Khi những nhu cầu được ăn no mặc ấm được đảm bảo sẽ xuất hiện các nhu cầu khác phù hợp với sự phát triển của văn hóa, xã hội và nhận thức lứa tuổi Việc vận dụng thuyết nhu cầu trong nghiên cứu tại địa bàn huyện Hoa Lư giúp tác giả tìm hiểu rõ hơn nhu cầu, nguyện vọng của TE lao động sớm tại địa bàn nghiên cứu theo 05 bậc thang nhu cầu Qua đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, hiện đang đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A Maslow để tiến hành nghiên cứu các biện pháp can thiệp, trợ giúp các em
Trang 341.2.5.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống được sử dụng trong công tác xã hội như một công cụ trợ giúp nhân viên xã hội khi thực hiện nhiệm vụ phải sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp Ví dụ như khi nhân viên xã hội làm việc với cá nhân/ nhóm/ cộng đồng gặp rất nhiều tác động phức tạp giữa đối tượng và những sự kiện xảy ra Việc tổ chức thông tin thành hệ thống sẽ giúp nhân viên CTXH nhìn nhận vấn đề sáng tỏ hơn Mỗi thành viên trong hệ thống gia đình đều có sự tương tác lẫn nhau và mỗi hệ thống gia đình lại tương tác với môi trường xã hội mà nó đang sống
Thuyết hệ thống sinh thái là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng triết lý của ngành CTXH nó nói lên sự liên hệ giữa các hệ thống (các tổ chức nhóm) và vai trò của cá nhân trong môi trường sống Lý thuyết này dựa trên giả thiết rằng, mỗi cá nhân đều trực thuộc vào môi trường và hoàn cảnh sống Cả cá nhân và môi trường đều được coi là một sự thống nhất mà trong đó các yếu tố liên hệ và trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ (Compton, 1989) Trong mỗi môi trường sinh thái, các hệ thống hoạt động vừa có tính chất riêng biệt và phức tạp vừa có sự trao đổi liên kết chặt chẽ giữa chúng Để hiểu biết về một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải nghiên cứu để hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh của nó Vì vậy, trong CTXH bất cứ một việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó
Trong lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ Mọi người trong hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hưởng lẫn nhau và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ với một người sẽ có ảnh hưởng đến những yếu tố xung quanh Vì thế, trong các hoạt động CTXH chúng ta phải nhìn vấn đề cần thay đổi trên nhiều phương diện và ở nhiều mức độ khác nhau, trên lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội
Ứng dụng thuyết hệ thống sinh thái trong nghiên cứu:
Lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên trẻ em lao động sớm, trẻ có
Trang 35nguy cơ tham gia lao động sớm Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích
sự tương tác giữa trẻ em và hệ thống sinh thái - môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ đều có hoàn cảnh sống khác nhau, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, tác giả nhận thấy cơ quan bảo vệ trẻ em tại huyện Hoa Lư là hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: nhân sự (cán bộ lãnh đạo, cán bộ làm công tác trẻ em), trẻ em, gia đình, các chính sách, cơ sở vật chất,… Mặt khác, cơ quan bảo vệ trẻ em huyện Hoa Lư cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống bảo vệ bảo trẻ em rộng lớn hơn là cơ quan bảo vệ trẻ em cấp tỉnh, cấp trung ương Ngoài ra, cơ quan bảo vệ trẻ em huyện Hoa Lư còn nằm trong
hệ thống kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình Do đó, để tiến hành những can thiệp trợ giúp trẻ em lao động sớm tại đại bàn huyện, tác giả thực hiện đồng bộ phối kết hợp với các bộ phận khác, với tiểu hệ thống khác như trong quá trình tiến hành thu thập thông tin, tác giả thực hiện các nhóm đối tượng khác nhau: nhóm trẻ em lao động sớm, nhóm trẻ có nguy cơ lao động sớm, nhóm cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em, nhóm chủ sử dụng lao động, nhóm gia đình trẻ Do vậy, kết quả thu thập thông tin phản ánh thông tin chính xác và khách quan về tình hình lao động TE trên địa bàn và qua đó giúp nhân viên CTXH có cái nhìn tổng thể để tiến hành trợ giúp tốt hơn Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động bảo vệ trẻ em trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, tác giả tiến hành phân tích mối quan hệ giữa trẻ với các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh thái, ở đó, các mối quan hệ có sự tác động qua lại với nhau do đó tác giả có thêm nhiều thông tin về cá nhân trẻ cũng như gia đình trẻ, nơi sinh sống và điều kiện làm việc của các em
1.3 Các yếu tố tác động đến công tác xã hội đới với trẻ em lao động sớm
Để triển khai hiệu quả hoạt động trợ giúp đối với trẻ em lao động sớm phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố về trình độ, năng lực cán bộ, yếu tố về trẻ, gia đình trẻ, về nhận thức của cộng đồng… Mỗi yếu tố đều có những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động công tác xã hội Trong phạm vi đề tài, tác giả đưa ra ba yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm
Trang 361.3.1 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Thực tiễn đã chỉ ra rằng, xã hội càng phát triển thì càng phát sinh nhiều vấn đề
xã hội, đòi hỏi những biện pháp khắc phục, do đó đòi hỏi nghề CTXH tại Việt Nam phải phát triển từng bước chuyên nghiệp hóa để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội, góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh những khuyết tật của xã hội, hướng tới xây dựng một xã hội hài hoà, bình đẳng và hạnh phúc cho mọi người Để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội thì việc phát huy năng lực, vai trò của đội ngũ nhân viên công tác xã hội đặt ra yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết
Để thực hiện tốt những vai trò của mình trong việc trợ giúp đối tượng trong hoạt động công tác xã hội nói chung và trong hỗ trợ trẻ em lao động sớm nói riêng, ngoài việc phải được đào tạo cơ bản về kiến thức, kỹ năng thực hành CTXH thì nhân viên CTXH phải có phẩm chất, đạo đức, có niềm đam mê nghề nghiệp và sự cam kết với nghề
Là người trực tiếp làm việc với trẻ em lao động sớm, sử dụng các thao tác kỹ thuật trong công tác xã hội để trợ giúp trẻ nên nhân viên CTXH có ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ quá trình trợ giúp Để quá trình giúp đỡ trẻ đạt hiệu quả, nhân viên CTXH cần phải vận dụng linh hoạt các thao tác kỹ thuật của CTXH Từ đó có thể
dễ dàng tiếp cận, tạo dựng mối quan hệ với trẻ, nhận biết được các nhu cầu của trẻ, đứng trên quan điểm phát triển đề giải quyết các vấn đề của trẻ, là cầu nối giúp các
em tiếp cận được với những nguồn lực xung quanh như gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội Chính vì vậy, nhân viên công tác xã hội có vai trò rất to lớn trong hoạt động hỗ trợ xã hội cho trẻ em lao động sớm Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội còn hạn chế về số lượng và chất lượng, một số cán bộ chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành công tác xã hội nên chưa thực sự có phương pháp làm việc chuyên nghiệp, khoa học, đa số phải làm việc kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực nên chưa thực sự tập trung vào chuyên môn, hiệu quả công việc chưa cao
1.3.2 Yếu tố về đặc điểm trẻ và gia đình trẻ em lao động sớm
Trẻ em lao động sớm đa phần có tính cách lớn trước tuổi, suy nghĩ già dặn, hay lo nghĩ về gia đình do các em phải bươn trải để lo cuộc sống mưu sinh từ nhỏ
Ở các em hình thành tính cách tự lập, có tinh thần giúp đỡ bố mẹ Tuy nhiên, các
em đang ở trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách, nên nhiều trẻ hay tự
Trang 37ái và có những hành động bộc phát không suy tính rõ ràng như hung hăng, phá phách, mặc cảm, tự ti
Bên cạnh đó, kinh tế cũng là yếu tố quyết định cuộc sống và mức độ sinh hoạt của mỗi gia đình Khi kinh tế ổn định, nhu cầu cơ bản của trẻ được thỏa mãn thì các
em có điều kiện được chăm sóc về vật chất, tinh thần, được đến trường học hành, được quan tâm đầy đủ Ngược lại nếu kinh tế gia đình khó khăn hoặc nghèo đói thì việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản của các em ở mức thấp, những lo lắng về “cơm
áo, gạo tiền” sẽ chiếm hết thời gian của cha mẹ và các em Do đó, trẻ ít được quan tâm hơn, nhiều gia đình do kinh tế khó khăn các em buộc phải nghỉ học để ở nhà phụ giúp cha mẹ, chính điều đó đã dẫn đến tình trạng trẻ em lao động sớm
Cùng với yếu tố về kinh tế thì nhận thức của trẻ, gia đình trẻ cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến trẻ em phải tham gia lao động sớm Do khó khăn về kinh tế, người dân không có điều kiện học hành nâng cao nhận thức, nhiều bậc cha
mẹ của trẻ có trình độ thấp, chưa hiểu hết những hậu quả của việc trẻ em tham gia lao động sớm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Do đó, để giải quyết những khó khăn trước mắt, họ đã sử dụng con em mình vào lao động trước tuổi và kéo dài thời gian làm việc Bên cạnh đó, do trình độ dân trí thấp, nhiều người dân nông thôn chưa tiếp cận được với những quy định của nhà nước trong Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nên chưa hiểu được trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ đối với trẻ
1.3.3 Quan điểm nhận thức của chính quyền địa phương, nhận thức về lao động trẻ em
Chính quyền địa phương là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia Các cán bộ chính quyền địa phương là dân địa phương [33]
Sự nhận thức của chính quyền địa phương về hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm là một yếu tố quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến riêng trẻ, gia đình trẻ mà còn ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với TE lao động sớm như họ không quan tâm đến việc tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; không thực hiện đảm bảo công tác an toàn vệ sinh lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh, trong các làng nghề, lĩnh vực phi chính
Trang 38thức; lồng ghép vấn đề quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương với hoạt động trợ giúp trẻ, giúp tạo môi trường sống an toàn, phát triển toàn diện cho trẻ Chính quyền địa phương đôi khi chưa nhận thức sâu sắc về các hoạt động của CTXH đối với TE lao động sớm, vì vậy việc tổ chức, thực hiện các hoạt động còn hạn chế, chưa thiết thực, chưa mang màu sắc của công tác xã hội
1.4 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội với trẻ em lao động sớm
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn có quan điểm và chính sách nhất quán về quyền trẻ em, theo đó, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được coi là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương, là một vấn đề ưu tiên trong mọi chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã ghi
nhận sự bảo đảm quyền trẻ em, đó là: “Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”
(Điều 14) Quan điểm nhất quán về bảo vệ, chăm sóc trẻ em được thể hiện xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, Hiến pháp sửa đổi 1992 và Hiến pháp 2013 Vấn đề lao động TE đã được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Ngay từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 29-SL ngày 12/3/1947 quy định rất cụ thể về từng vấn đề có liên quan đến TE và lao động TE Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn hai Công ước cơ bản của ILO liên quan đến lao động trẻ em, đó là Công ước về Tuổi tối thiểu được phép lao động (Công ước
138, 1973) và Công ước cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức
lao động trẻ em tồi tệ nhất (Công ước 182, 1999) Sau khi phê chuẩn công ước, Việt
Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết vấn đề lao động trẻ em, trong đó Bộ luật lao động 1994 là văn bản pháp lý toàn diện nhất quy định các vấn đề có liên quan đến trẻ em tham gia lao động và lao động vị thành niên
Bộ Luật Lao động năm 2012, tại điều 163 quy định không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu đến nhân cách; thời gian làm việc của người từ
đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không được quá 08 giờ trong một ngày và 40 giờ trong
Trang 3901 tuần, thời giờ làm việc của người dưới 15 tuổi không được quá 4 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần và không được sử dụng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề và công việc theo quy định của Bộ LĐTBXH
Các chương trình quốc gia phòng ngừa lao động trẻ em
Từ đầu những năm 1990, Việt nam đã xây dựng một số chương trình bảo vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó có vấn đề bảo vệ trẻ em lao động Một số chương trình: Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 1991 – 2000 Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 (Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26/2/2001)
Chương trình Hành động quốc gia về Bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002 (Quyết định số 134/1999 ngày 31/5/1999) tập trung chủ yếu vào tình trạng trẻ em đường phố, trẻ em làm việc trong điều kiện nặng nhọc, trẻ em bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
Chương trình phòng ngừa trẻ em đường phố, lạm dụng tình dục trẻ em và trẻ
em làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004 - 2010
Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2011) tập trung vào giảm thiểu và trợ giúp trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có vấn đề lao động trẻ em
Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em giai đoạn 2016 - 2020 (Quyết định số 1023/QĐ-TTg ngày 07/6/2016)
Ngày 28/10/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình ban hành Kế hoạch số 92/KH-UBND thực hiện Quyết định 1023/QĐ-TTg ngày 07/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh
Ngày 25/03/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 –
2020 Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán
bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về
Trang 40chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Như vậy Quyết định 32 đã tạo
ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính
ổn định sinh kế
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên công tác xã hội; đặc điểm của trẻ và gia đình trẻ; nhận thức của chính quyền địa phương
Ngoài ra, luận văn cũng đưa ra các cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với trẻ
em lao động sớm
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng Công tác xã hội đối với trẻ em lao động sớm từ thực tiễn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình