Tên đề tài: Xây dựng mô hình thử nghiệm tận dụng thức ăn truyền thống của địa phương kết hợp với men vi sinh dùng trong chăn nuôi lợn.. nhanh hơn, tốt hơn thì không dùng vi sinh vật tro
Trang 1THUYẾT MINH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CƠ SỞ
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI:
1 Tên đề tài: Xây dựng mô hình thử nghiệm tận dụng thức ăn truyền thống của
địa phương kết hợp với men vi sinh dùng trong chăn nuôi lợn
2 Thời gian thực hiện: 05 tháng (từ tháng 05/2017 đến tháng 09/2017)
3 Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 104,990 triệu đồng,
Trong đó:
Nguồn kinh phí
Tổng số (triệu đồng)
- Từ Ngân sách sự nghiệp khoa học
45,560
- Vốn tự có của cơ quan chủ trì
59,430
- Khác
0
4 Chủ nhiệm đề tài:
Họ và tên: Lê Mạnh Hùng
Ngày, tháng, năm sinh: 21/9/1963 Giới tính: Nam
Trình độ chuyên môn: Kỹ sư trồng trọt
Điện thoại: (CQ) 0210.3820.040 (Mobil) 0912.812.323
E-mail: phongkinhtetxpt@gmail.com
Tên tổ chức đang công tác: Phòng Kinh tế - UBND thị xã Phú Thọ
5 Tổ chức chủ trì thực hiện đề tài
Tên tổ chức chủ trì đề tài: Phòng Kinh tế - UBND thị xã Phú Thọ
Điện thoại: 0210.3820.040
Fax: 0210.3820.040
Địa chỉ: 64 đường Bạch Đằng, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ/
Họ và tên thủ trưởng tổ chức: Nguyễn Đức Dũng
Số tài khoản: 3711.2.0310314
6 Cán bộ thực hiện đề tài
tác
Nội dung công việc tham gia
Thời gian làm việc cho
đề tài
(công)
Trang 21 Lê Mạnh Hùng Phòng Kinh tế
Nghiên cứu tổng quan; Tổng kết, đánh giá
20
2 Nguyễn Thị Lan Hương Phòng Kinh tế
Nghiên cứu tổng quan; Tổng kết, đánh giá
8
3 Lê Quỳnh Trang Phòng Kinh tế
Nghiên cứu tổng quan; Tổng kết, đánh giá
3
4 Trần Trung Kiên Phòng Kinh tế Tổng kết, đánh giá 4
7 Xuất xứ
Trong khẩu phẩn thức ăn chăn nuôi hiện nay, tỷ lệ các chất bột như cám gạo, bột ngô, bột sắn phải chiếm tới trên 80%; Nếu phần cám, bột ngô, bột sắn này không được làm chín thì chăn nuôi sẽ kém hiệu quả vì thức ăn không được tiêu hóa tốt do vậy tiêu tốn và chi phí thức ăn lớn Các động vật nuôi như lợn, gia cầm, cá cũng giống con người chỉ tiêu hóa hấp thụ tốt thức ăn khi đươc làm chín
Như đã biết làm chín rau cải, thịt lợn sống, tôm sống để làm thành các món
ăn ngon, dễ tiêu là dưa, nem chua, mắm chua đó là phương pháp lên men thức
ăn nhờ có các vi sinh vật có lợi sẵn trong tự nhiên (trong nước và không khí) Trong chăn nuôi, để lên men làm chín cám, bột ngô, bột sắn nhanh hơn, tốt hơn thì không dùng vi sinh vật trong tự nhiên mà cần một nhóm vi sinh vật có lợi được chọn lọc thuần khiết, thông qua một quy trình sản xuất chặt chẽ để tạo
ra chế phẩm “men vi sinh”
Sử dụng thức ăn lên men bằng men vi sinh sẽ đạt được hiệu quả như:
- Sinh trưởng phát triển tốt, tăng trọng nhanh
- Giảm tiêu tốn và chi phí thức ăn, có thể sử dụng các nguồn thức ăn sẵn
có, giá rẻ để chăn nuôi thay vì sử dụng thức ăn hỗn hợp sẵn nên cũng góp phần giảm chi phí thức ăn
- Giảm tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt là các bệnh đường ruột nên giảm chi phí thuốc
- Tạo môi trường trong sạch, ít bị ô nhiễm: Lượng phân thải ít, phân ít mùi hôi
8 Tổng quan và tính cấp thiết của đề tài
8.1 Tổng quan chung
Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nông nghiệp hiện đại Sản phẩm từ chăn nuôi nhằm cung cấp lợi nhuận và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của con người Trong những năm qua, việc phát triển ngành chăn nuôi của toàn Tỉnh nói
Trang 3chung và thị xã nói riêng luôn được quan tâm chú trọng, trong đó chăn nuôi lợn
là một trong những ưu tiên chú trọng phát triển
Tuy nhiên, tình hình chăn nuôi trong thời gian gần đây đang gặp rất nhiều những khó khăn: nguồn nguyên liệu đầu vào (giống, cám thức ăn, thuốc thú y ) liên tục tăng cao, trong khi giá thành lợn hơi giảm sút mạnh gây ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người chăn nuôi cũng như chiến lược phát triển chăn nuôi của các địa phương
Trong chăn nuôi lợn, thức ăn chiếm 70-80% chi phí đầu tư Do đó việc sử dụng nguồn thức ăn hợp lý vừa đáp ứng nhu cầu dưỡng chất các loại lợn ở giai đoạn khác nhau để cho sức sản xuất tối đa vừa bảo đảm chi phí thấp nhất nhằm tạo lợi nhuận cao nhất luôn là trăn trở của các nhà chăn nuôi
Vấn đề nghiên cứu tìm giải pháp thay thế nguồn thức ăn hỗn hợp trên thị trường bằng các nguồn thức ăn có sẵn của địa phương (cám ngô, gạo, sắn…) kết hợp với men vi sinh hoạt tính đang là hướng đi mới nhằm giải quyết những khó khăn của người chăn nuôi Việc sử dụng thức ăn ủ men sinh học giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhờ đặc tính thức ăn lên men giúp lợn dễ tiêu hóa, tỷ lệ hấp thu cao, hạn chế bệnh tiêu chảy, tăng sức đề kháng cho lợn Lợn sinh trưởng nhanh, tăng trọng cao (rút ngắn thời gian nuôi so với nuôi bằng thức ăn hỗn hợp công nghiệp trước đó từ 15-20 ngày), chất lượng thịt được nâng cao (màu sắc đẹp, nạc mềm, thơm ngon nên được người tiêu dùng và thương lái ưu tiên lựa chọn) So với phương thức nuôi lợn bằng thức ăn hỗn hợp công nghiệp trước đó thì sử dụng thức ăn tự chế biến và ủ men sinh học đã giảm chi phí đầu tư 20-30% Ngoài ra, thức ăn lên men được lợn hấp thu triệt để nên lượng phân thải ra
ít và ít mùi hôi nên góp phần cải thiện môi trường, hạn chế nguy cơ gây ô nhiễm
Xuất phát từ thực tiễn trên phòng Kinh tế thị xã Phú Thọ để xuất xây dựng đề tài “Xây dựng mô hình thử nghiệm tận dụng thức ăn truyền thống của địa phương kết hợp với men vi sinh dùng trong chăn nuôi lợn”
8.2 Một số căn cứ pháp lý
Căn cứ kế hoạch hành động số 92/KH-UBND ngày 08/01/2014 của UBND tỉnh thực hiện đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” tỉnh Phú Thọ đến năm 2020; Quyết định số 326/QĐ-UBND ngày 09/2/2017 của UBND thị xã Phú Thọ về việc hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2017-2020
8.3 Luận cứ về công nghệ
* Giới thiệu về men vi sinh:
Trang 4- Men vi sinh được dùng để lên men thức ăn, sẽ giúp chúng ta làm chín thức
ăn chăn nuôi mà không phải đun nấu
- Men vi sinh có thể thực hiện lên men thức ăn với lượng nước ít được gọi là lên men khô (ẩm) đồng thời nó còn có thể lên men thức ăn với nhiều nước được gọi là lên men ướt, tạo điều kiện thuận lợi cho người chăn nuôi lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế của mình
- Men vi sinh còn có thể lên men tốt các phụ phẩm của chế biến như bã đậu,
bã sắn và cả các loại rau
- Lên men tốt trong mọi điều kiện thời tiết khí hậu
- Men vi sinh cho lên men với lượng thức ăn bột nhiều hơn
- Khi dùng thức ăn lên men với men vi sinh thì chỉ cần trộn với thức ăn đậm đặc là đủ mà không cần phải dùng thêm bất cứ loại thức ăn hỗn hợp, thức ăn tăng trọng hay chất bổ sung nào khác nữa mà vẫn đạt hiệu quả chăn nuôi cao
* Nguồn nguyên liệu dùng để lên men:
- Các loại thức ăn giàu chất bột: tấm, cám gạo, thóc nghiền, bột ngô, bột sắn khô, bột khoai khô, bã sắn song không phải là có đủ tất cả các loại trên mà có thể dùng 1 loại hay 2 loại, 3 loại bột phối hợp tùy theo điều kiện thực tế
- Tốt nhất nên sử dụng nguyên liệu chính là bột ngô (bắp): Có thể chỉ dùng riêng bột ngô hoặc có phối hợp thêm một phần cám gạo, tấm, bột sắn nhưng tỷ
lệ bột ngô trong hỗn hợp thấp nhất phải đạt 60-65% Còn trong chăn nuôi gà thường dùng ngô phối hợp với một lượng cám ít hơn
- Bột sắn dùng với phối hợp với ngô nhưng tỷ lệ không quá 30%
- Bã đậu, sẵn: các loại này thường chỉ dùng trong chăn nuôi lợn, tỷ lệ dùng phối hợp với các loại bột khác không quá 25%
* Phương pháp lên men:
Lượng men vi sinh sử dụng: 0,5 kg men dùng để lên men cho 100kg bột
+ Phương pháp lên men ướt: Đây là phương pháp đơn giản, dễ làm, đỡ tốn
công, cho lên men nhanh trong mọi điều kiện; có thể lên men cả bã đậu, bã sắn, các loại rau và thức ăn lên men đạt chất lượng tốt
Dùng trong nuôi lợn:
- Để lên men cho 100 kg bột ngô, cám gạo lấy 0,5 kg men và 4 kg bột ngô hoặc cám cho vào thùng sau đó cho vào 100 lít nước sạch (nước không có sắt, nhiễm mặn ), khuấy đều để trong 01 giờ; cân số bột còn lại, trộn sơ qua cho đền, đổ từ từ vào thùng có nước men cho đến hết, nếu thấy nước hơi ngập mặt bột là được, nếu chưa đủ nước thì cho thêm, còn nếu thừa nước thì lần sau bớt
đi
- Chú ý: trước khi đổ bột vào thùng cần phải khuấy đề nước men; để hở miệng 4-5 giờ sau mới đậy kín thùng; thùng được để ở nơi ấm trong mùa đông, thoáng mát trong mùa hè để lên men được tốt
Trang 5- Thời gian lên men: Phụ thuộc vào nhiệt độ ngoài trời, nhiệt độ trên 300C trở lên thì khoảng 24 giờ, nhiệt độ từ 300C trở xuống thì từ 24-48 giờ, khi nào thức
ăn có mùi thơm mát và chua nhẹ là được
Chú ý: Khi lên men thức ăn bị đẩy nổi lên trên, vì thế không được cho bột vào đầy mà phải để cách miệng chừng 15cm; mùa thu, đông thời tiết mát mẻ, lạnh có thể thực hiện một lần lên men để cho ăn vài ngày Nếu trời nóng, nhiệt
độ thường xuyên trên 300C thì chỉ nên cho ăn kéo dài khoảng 02 ngày là tốt nhất Nếu thùng lên men bị lọt khí hay bị mở ra nhiều lần sẽ dẫn đến nấm trắng trên mặt nên cần chú ý đậy thật kín thùng lên men và tốt nhất chỉ nên cho lên men lượng thức ăn trong 1-2 ngày vào một thùng Nếu bị 1 ít nấm trắng thì vẫn dùng cho heo lớn ăn được Trước khi cho ăn phải ấn chìm phần bột ở trên xuống
để được trộn đều với dịch lên men ở dưới
- 100kg bột sau khi lên men ướt sẽ được 200kg thức ăn đã lên men (trong đó
có trên dưới 100 kg nước)
+ Phương pháp lên men ẩm: Đây là phương pháp lên men đòi hỏi điều kiện
chặt chẽ hơn, làm tốn công hơn và chỉ dùng lên men được với các loại bột mà thôi (không tận dụng được bã đậu, bã sắn ) Phù hợp với mô hình nuôi lợn số lượng lớn hoặc khi cần thức ăn có độ ẩm thấp để dùng máng ăn tự động, nuôi gà
và nuôi cút nhốt trong lồng, nuôi cá và để người chăn nuôi muốn ủ trong bao tải cho tiết kiệm
Để lên men cho 100kg bột ngô và cám gạo:
- Cho 0,5kg men vào 02 kg bột ngô hoặc cám vào thùng có 40-50 lít nước sạch, khuấy và để trong 1 giờ
- Trộn ngô và cám cho đều sau đó tưới nước men lên Sau khi dùng xẻng trộn qua thì dùng tay xoa (hoặc dùng sàng) làm cho bột tơi và ẩm đều Ở cơ sở chăn nuôi lớn, phải sử dụng khối lượng thức ăn lớn có thể dùng máy trộn
- Cách trộn: cho các nguyên liệu vào máy trộn sơ qua sau đó cho men vào trộn cho đến khi bột tơi và ẩm đều
- Bốc vào thùng hoặc bao tải có lót ni lông nhưng không được lèn và dỗ chặt,
để hở miệng 5-6 giờ thì buộc chặt hoặc đậy kín, để ở nơi ấm (trời lạnh), nơi thoáng mát (trời nóng) để ủ
- Thời gian ủ lên men: Nhiệt độ ngoài trời cao (trên 300C) 24-36 giờ, nhiệt độ ngoài trời thấp (dưới 250C) thường từ 36-48 giờ, thức ăn có sự tăng nhiệt độ và
có mùi thơm mát và chua nhẹ là được
- Có thể thực hiện một lần ủ men để cho ăn vài ngày nhưng chú ý lượng thức
ăn mỗi ngày nên ủ vào một túi hoặc 1 thùng để ăn hết trong ngày Khi ủ thức ăn cho cá cần ủ trên dưới 3 ngày để hạt thức ăn xốp nhẹ dễ nổi trong nước
- 100 kg bột sau khi lên men ẩm sẽ được 135-140 kg thức ăn đã lên men (trong đó có 35-40kg nước)
Trang 6- Chú ý trong phương pháp lên men ẩm: không được nén và dỗ chặt thức ăn khi cho vào bao hoặc thùng, không để các bao đè lên nhau; đảm bảo nhiệt độ khi
ủ tốt, đặc biệt trời lạnh phải ủ nơi ấm Nếu túi hoặc thùng không được buộc dây kín, túi bị rách thủng hoặc do túi thức ăn ủ bị mở ra nhiều lần (một túi mà cho ăn kéo dài 2-3 ngày nên phải lấy ra nhiều lần) sẽ xuất hiện đám mốc trắng
* Phương pháp cho ăn:
- Tùy theo động vật nuôi thích ăn dạng thức ăn nào mà để nguyên thức ăn lên men ( đã trộn thêm thức ăn đậm đặc) hoặc trộn thêm nước dạng lỏng
- Phải dùng phối hợp với thức ăn đậm đặc để bổ sung đạm và các thành phần vitamin và khoáng vi lượng để con vật tăng trọng nhanh, sinh sản tốt, tiết kiệm thức ăn Trước khi cho ăn mới trộn thức ăn lên men với thức ăn đậm đặc Lưu ý cần chọn loại thức ăn đậm đặc có hàm lượng đạm trên 45% được bán tại các công ty sản xuất thức ăn có uy tín thì mới có hiệu quả nuôi dưỡng cao như ý muốn
- Lượng thức ăn: thường cho ăn ngày 02 bữa, lượng thức ăn không hạn chế.Tuy nhiên để đạt hiệu quả tốt có thể cho ăn theo định lượng như sau:
Phương pháp trộn thức ăn đậm đặc với thức ăn đã lên men và định lượng cho ăn:
* Khi sử dụng phương pháp lên men ướt: 100 kg bột sau khi lên men ướt sẽ được 200 kg thức ăn đã lên men (trong đó có trên dưới 100 lít nước) Tỷ lệ phối trộn đậm đặc với thức ăn đã lên men và định lượng cho ăn như sau:
Heo lai F1: Heo tách mẹ – 15 kg: 1 phần đậm đặc/5-6 phần thức ăn đã lên men Lượng thức ăn cho ăn: 0,7 – 1,1 kg/ngày Heo từ 16-30 kg: 1 đậm đặc/6-7 phần thức ăn đã lên men Lượng thức ăn cho ăn: 1,2 – 1,7 kg/ngày Heo từ
31-60 kg: 1 đậm đặc/7-8 phần thức ăn lên đã men Lượng thức ăn cho ăn: 1,7 – 3,3 kg/ngày Heo từ 61 kg đến xuất chuồng: 1 đậm đặc/9 phần thức ăn lên đã men Lượng thức ăn cho ăn: 3,4-4kg/ngày Heo nái nuôi con: 1 đậm đặc/8 thức ăn đã lên men Heo nái chửa và hậu bị: 1 đậm đặc/11 thức ăn đã lên men Lượng thức
ăn lên men đã trộn với đậm đặc cho heo nái ăn sẽ tăng hơn 80-90% so với dùng thức ăn hỗn hợp cho ăn hay thức ăn viên (vì thức ăn lên men có trên 80-90% là nước) Ví dụ: Nếu dùng thức ăn hỗn hợp cho ăn là 2,0 kg/ngày thì lượng thức ăn lên men cho ăn sẽ là 3,6-3,8kg/ngày
Heo siêu nạc: Heo tách mẹ – 15 kg: 1 đậm đặc/4-5 thức ăn đã lên men Heo
từ 16-30 kg: 1 đậm đặc/5-6 thức ăn đã lên men Heo từ 31-60 kg: 1 đậm đặc/6-7 thức ăn lên đã men Heo từ 61 kg đến xuất chuồng: 1 đậm đặc/8 thức ăn đã lên men Lượng thức ăn sử dụng giống như nuôi heo lai F1 Heo nái nuôi con: 1 đậm đặc/7 thức ăn đã lên men Heo nái chửa và hậu bị: 1 đậm đặc/10 thức ăn đã lên men Lượng thức được tính tương tự như nuôi heo lai F1
* Khi sử dụng phương pháp lên men ẩm: 100 kg bột sau khi lên men ẩm sẽ được 135-140 kg thức ăn đã lên men (trong đó có 35-40 kg nước) Tỷ lệ phối trộn đậm đặc với thức ăn đã lên men và định lượng cho ăn như sau:
Trang 7Heo lai F1: Heo tách mẹ – 15 kg: 1 đậm đặc/4-5 thức ăn đã lên men Lượng thức ăn cho ăn: 0,5 – 0,8 kg/ngày Heo từ 16-30 kg: 1 đậm đặc/5-6 thức ăn đã lên men Lượng thức ăn cho ăn: 0,8-1,2 kg/ngày Heo từ 16-60 kg: 1 đậm
đặc/6-7 thức ăn đã lên men Lượng thức ăn cho ăn: 1,2-2,3 kg/ngày Heo từ 61 kg đến xuất chuồng: 1 đậm đặc/8 thức ăn lên đã men Lượng thức ăn cho ăn: 2,3-3,0 kg/ ngày Heo nái nuôi con: 1 đậm đặc/7 thức ăn đã lên men Heo nái chửa và hậu bị: 1 đậm đặc/10 thức ăn đã lên men Lượng thức ăn lên men đã trộn với đậm đặc cho heo nái ăn sẽ tăng hơn 35% so với dùng thức ăn hỗn hợp cho ăn hay thức ăn viên (vì thức ăn lên men có trên 35% là nước) Ví dụ: Nếu dùng thức ăn hỗn hợp cho ăn là 2,0 kg/ngày thì lượng thức ăn lên men cho ăn sẽ là 2,7-2,8 kg/ ngày
Heo siêu nạc: Heo tách mẹ – 15 kg: 1 đậm đặc/3-5 thức ăn đã lên men Heo
từ 16 – 30 kg: 1 đậm đặc/4-5 thức ăn đã lên men Heo từ 31 kg đến 60 kg: 1 đậm đặc/5-6 thức ăn đã lên men Heo từ 61 kg đến xuất chuồng: 1 đậm đặc/7,5 thức
ăn đã lên men Lượng thức ăn sử dụng giống như nuôi heo lai F1 Heo nái nuôi con: 1 đậm đặc/6,5 thức ăn đã lên men Heo nái chửa và hậu bị: 1 đậm đặc/9 thức ăn đã lên men Lượng thức ăn cho heo nái ăn tương tự như nuôi heo nái lai F1
8.4 Khả năng ứng dụng, chuyển giao nhân rộng kết quả của đề tài
Các thực nghiệm chứng minh khi cho heo ăn thức ăn “ủ men” cho tăng trọng hàng tháng cao hơn 14-27% và thức ăn tiêu tốn giảm 7-22% so với heo ăn sống không “ủ men” Có thể sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có, giá rẻ để chăn nuôi thay vì sử dụng thức ăn hỗn hợp sẵn có trên thị trường nên cũng góp phần giảm chi phí thức ăn Giảm được tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt là bệnh đường ruột nên giảm chi phí thuốc Men vi sinh hoạt tính được dùng để lên men thức ăn, giúp làm chín thức ăn chăn nuôi mà không phải đun nấu
Với thực trạng chăn nuôi như hiện nay (giá giống vật tư đầu vào cao, giá đầu
ra thấp và không ổn định) việc đưa ra giải pháp và áp dụng nhằm giảm chi phí đầu vào trong khi vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm lợn thịt sẽ là một giải pháp hữu ích, có khả năng khuyến cáo rộng rãi (phù hợp với cả quy mô hộ gia đình và quy mô trang trại) để tiếp tục duy trì và phát triển ngành chăn nuôi lợn trong thời gian tiếp theo
II MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG ÁN TRIỂN KHAI ĐỀ TÀI
9 Mục tiêu:
9.1 Mục tiêu chung
Xây dựng mô hình thử nghiệm tận dụng thức ăn truyền thống của địa phương kết hợp với men vi sinh dùng trong chăn nuôi lợn
Từ thành công mô hình sẽ nhân rộng, khuyến cáo bà con nông dân mở rộng quy mô áp dụng vào sản xuất thực tiễn
9.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 8Xây dựng mô hình thử nghiệm tận dụng thức ăn truyền thống của địa phương kết hợp với men vi sinh dùng trong chăn nuôi lợn góp phần giảm chi phí đầu vào nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm thịt lợn
Thông qua đề tài, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật quy trình ủ men vi sinh, quy trình chăn nuôi, chăm sóc lợn hướng thịt an toàn cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn thị xã
10 Nội dung:
10.1 Khảo sát địa bàn triển khai đề tài
a Điều tra khảo sát địa bàn triển khai đề tài:
Khảo sát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ, tập quán chăn nuôi và đối tượng hộ nông dân sẵn sàng đáp ứng các điều kiện cần thiết cho việc triển khai thực hiện đề tài
- Điều tra thực trạng về tình hình chăn nuôi: giống, kỹ thuật, hướng nuôi, nguồn thức ăn, hình thức nuôi tại các gia đình, trang trại
- Điều tra thực trạng về qui mô, cơ sở vật chất nuôi, nguồn thức ăn cung cấp chính tại các cơ sở
- Chọn các hộ dân tại xã Hà Thạch có kinh nghiệm chăn nhiều năm, điều kiện cơ sở chuồng trại có khả năng nuôi với quy mô >=20 con/hộ, phù hợp với nội dung của đề tài
b Điều tra khảo sát thị trường:
- Đối với các hộ trong vùng thực hiện đề tài: Điều tra về giống, sản lượng thịt xuất chuồng, giá thành sản phẩm, sức tiêu thụ trên địa bàn
- Đối với người kinh doanh tại các chợ: Điều tra nguồn cung cấp sản phẩm thịt lợn hơi, nhu cầu về lượng và độ an toàn, đánh giá sơ bộ về nhu cầu thị trường
- Người tiêu dùng: Điều tra nhu cầu về số lượng, độ an toàn, chất lượng sản phẩm thịt lợn của các đối tượng cán bộ, công nhân viên chức, nông dân, các nhà
ăn tập thể…
- Sau khi điều tra vùng thực hiện tổ chức hội nghị, thảo luận xây dựng tổ chức triển khai thực hiện mô hình
10.2 Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn
Xây dựng mô hình điểm với quy mô 20 con, đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, đúng tiến độ, đạt chất lượng cao, là mô hình mẫu trong vùng
10.3 Quy trình kỹ thuật chăn nuôi
Tiến hành tập huấn về kỹ thuật cho cán bộ và hộ dân trong vùng thực hiện đề tài
10.4 Tổng kết mô hình và hoàn thiện quy trình
Trang 9Tiến hành đánh giá và tổng kết mô hình, xây dựng phương án nhân rộng mô hình để phát triển chăn nuôi trong thời gian tiếp theo
11 Phương án triển khai
* Phương án tổ chức thực hiện
Cơ quan chủ trì phòng Kinh tế thị xã trực tiếp chỉ đạo triển khai thực hiện, phối hợp với các cơ quan liên quan: cơ quan chuyển giao; cơ quan phối hợp; lập danh sách các hộ trực tiếp tham gia đề tài
UBND thị xã thành lập hội đồng thẩm định đề tài: gồm lãnh đạo UBND thị
xã, phòng Kinh tế, trạm Thú y Phòng Kinh tế trực tiếp thực hiện đề tài, các hoạt động phải gắn với hoạt động của Hội đồng KHCN của thị xã
* Phân tích và đánh giá các điều kiện triển khai đề tài
Sau khi tiến hành khảo sát, dự kiến quy mô và địa điểm triển khai dự án cụ thể: Đối với hộ chăn nuôi tối đa 10 hộ dân, đối với quy mô trang trại tối đa 02 trang trại
Điều kiện đối với các hộ dân, trang trại phải có tập quán, kinh nghiệm chăn nuôi gà nuôi gà nhiều năm; có đủ các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết đáp ứng theo yêu cầu của đề tài
* Phương án tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm thịt lợn hơi sẽ được cung cấp cho các lò mổ trên địa bàn, lái buôn phục vụ cho xuất khẩu
12 Tiến độ thực hiện đề tài
TT Các nội dung, công việc thực hiện chủ yếu Sản phẩm phải đạt Thời gian (BĐ-KT)
Người, cơ quan thực hiện
1 Khảo sát địa bàn
Lựa chọn địa điểm, quy mô triển khai thực hiện mô hình
4/2017
Phòng Kinh tế thị xã
2 Xây dựng thuyết minh Thuyết minh đềtài 5/2017
Phòng Kinh tế thị xã
3 Xét duyệt thuyết minh tại thị xã
Được chấp thuận
5/2017 UBND thịxã
4
Sở KH&CN phê duyệt thực
hiện
Được chấp thuận
3/2017 KH&CNSở
5 Chuẩn bị triển khai dự án:
Trang 10- Ký hợp đồng thực hiện với các bên liên quan
Kịp thời, đảm bảo tính pháp lý 6/2017 Phòng
Kinh tế
- Tổ chức tập huấn kỹ thuật
Phát quy trình đến các hộ, chuyển giao kỹ thuật tới các hộ dân
6/2017 Phòng
Kinh tế
- Cung ứng giống, vật tư, chỉ đạo mô hình
Cung cấp giống, vật tư cần thiết cho các hộ dân tham gia thực hiện
6/2017 Kinh tếPhòng
6 Theo dõi đánh giá, kết quả mô hình
Đảm bảo yêu cầu
kỹ thuật theo quy trình 6/2017 đến8/2017 Kinh tếPhòng
7 Tổng kết đánh giá nghiệm thu đề tài tại thị xã
Thông qua báo cáo, tài chính, chuyên môn 9/2017 Kinh tếPhòng
13 Sản phẩm của đề tài
TT Tên sản phẩm Chỉ tiêu kinh tế - Kỹ thuật
1 Mô hình chăn nuôi
lợn sử dụng 20 con
Lợn sau 3 tháng tuổi, đạt trọng lượng 100-120 kg/ con
2 Tập huấn nông dân Tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho 40 lượt người
3
Báo cáo tổng kết toàn
diện kết quả thực hiện
đề tài kèm theo các
tài liệu liên quan
Báo cáo tổng kết xây dựng mô hình
14 Phương án phát triển của đề tài sau khi kết thúc
Sau khi đề tài kết thúc tiến hành đánh giá hiệu quả đề tài, từ đó xây dựng phương án thông tin tuyên truyền phổ biến thành công mô hình tạo sức lan tỏa