Giới thiệu về chủ đề nghiên cứu Thời gian qua bên cạnh những chủ trương, biện pháp kinh doanh về chiến lược phát triển của Ngân hàng thương mại NHTM có nhiều đổi mới tích cực có tác dụn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN BỬU CHÂU
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN BỬU CHÂU
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các thông tin, số liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu được hình thành và phát triển từ quan điểm cá nhân của tác giả, do tác giả
tự tìm hiểu, phân tích
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, quý Thầy, Cô thuộc Khoa Đào tạo sau Đại học, các cán bộ thuộc Phân hiệu Kiên Giang đã tạo điều kiện cho cá nhân tôi và tập thể lớp Cao học QTKD Kiên Giang khóa 56CH có môi trường học tập, nghiên cứu và cung cấp những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Đề hoàn thành được Luận văn này, tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Vinh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Để có được những số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài, ngoài những nỗ lực của cá nhân, các chuyên gia là cán bộ quản lý của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển - Chi nhánh Kiên Giang, các Ngân hàng trên địa bàn còn có sự giúp đỡ của đồng nghiệp, khách hàng, bạn bè và người thân
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Người thực hiện luận văn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC CÁC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 8
1.1 Lý thuyết cạnh tranh 8
1.1.1 Khái niệm, phân loại, vai trò của cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm 8
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm 8
1.1.1.2 Phân loại cạnh tranh 11
1.1.2 Phân loại năng lực cạnh tranh 13
1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia 13
1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 14
1.2.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ 14
1.2 Các lý thuyết ở lợi thế cạnh tranh 14
1.3 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh .16
1.3.1 Các tiêu chí thuộc sản phẩm 16
1.3.2 Các tiêu chí trên thị trường 17
1.3.3 Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng 18
1.3.4 Một số tiêu chí khác 18
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh 19
1.4.1 Nhân tố bên trong 19
1.4.1.1 Về tài chính 19
1.4.1.2 Về máy móc thiết bị và công nghệ 20
1.4.1.3 Về nguồn nhân lực 21
Trang 61.4.2 Nhân tố bên ngoài 23
1.4.2.1 Về khách hàng 23
1.4.2.2 Về nhà cung cấp 24
1.4.2.3 Về đối thủ cạnh tranh 25
1.4.2.4 Về môi trường vĩ mô 25
1.5 Một số mô hình cạnh tranh 26
1.5.1 Mô hình 5 nhân tố của M.Porter 26
1.5.2 Mô hình phân tích SWOT 28
1.6 Nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của NHTM 29
1.6.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại và các dịch vụ sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng 29
1.6.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 29
1.6.1.2 Các dịch vụ sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp ngân hàng 29
1.6.2 Các đặc điểm dịch vụ ngân hàng và hoạt động kinh doanh của NHTM 31
1.6.2.1 Các đặc điểm dịch vụ sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp ngân hàng 31
1.6.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM 31
1.6.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của NHTM trước xu thế hội nhập 33
1.7 Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 34
1.7.1 Kinh nghiệm các nước 34
1.7.1.1 Bài học kinh nghiệm từ Deutsche Bank của Đức: 34
1.7.1.2 Bài học kinh nghiệp từ City Bank của Mỹ: 34
1.7.2 Kinh nghiệm của các NHTM ở Việt Nam 35
1.7.2.1 Ngân hàng ANZ Việt Nam 35
1.7.2.2 Ngân hàng CitiBank 36
1.7.3 Bài học của Việt Nam 37
Tóm tắt chương 1 39
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV KIÊN GIANG 40
Trang 72.1 Giới thiệu về BIDV- Chi nhánh Kiên Giang 40
2.1.1 Lịch sử hình thành 40
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 42
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhiệm vụ các phòng, ban 43
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy 43
2.1.3.2 Nhiệm vụ các phòng, ban 44
2.2 Đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp BIDV- Chi nhánh Kiên Giang 49
2.2.1 Hoạt động kinh doanh của BIDV Kiên Giang 49
2.2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp thông qua lợi thế của BIDV Kiên Giang 56
2.2.2.1 Lợi thế về nguồn lực sản phẩm ngân hàng 56
2.2.2.2 Chiến lược và uy tín của chi nhánh 60
2.2.3 Phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp thông qua các công cụ 60
2.2.3.1 Sản phẩm 60
2.2.3.2 Giá cả 64
2.2.3.3 Marketing và hệ thống phân phối 66
2.2.4 Phân tích năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu 70
2.2.4.1 Thị phần 70
2.2.4.2 Lợi nhuận 71
2.2.4.3 Năng suất lao động 74
2.2.4.4 Năng lực quản trị 76
2.3 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 80
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế 80
2.3.2 Nguyên nhân tồn tại, hạn chế 81
2.3.2.1 Nguyên nhân chủ quan 81
2.3.2.2 Nguyên nhân khách quan 82
Tóm tắt chương 2 84
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV KIÊN GIANG 85
Trang 83.1 Cơ sở đề suất giải pháp 85
3.1.1 Dự báo phát triển của hệ thống ngân hàng 85
3.1.2 Chiến lược kinh doanh của BIDV Kiên Giang 86
3.1.3 Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại BIDV Kiên Giang 87
3.2 Các giải pháp nâng cao cạnh tranh sản phẩm tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại BIDV- Chi nhánh Kiên Giang 90
3.2.1 Giải pháp về chất lượng sản phẩm tín dụng doanh nghiệp 90
3.2.2 Giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm 92
3.2.3 Giải pháp về chi phí và giá bán sản phẩm 94
3.2.4 Giải pháp về Marketing và phân phối sản phẩm 96
3.2.5 Các giải pháp điều kiện 101
3.2.5.1 Tăng cường năng lực tài chính 101
3.2.5.2 Nâng cao năng lực hoạt động 104
3.2.5.3 Nâng cao năng lực quản trị điều hành 107
3.2.5.4 Phát triển công nghệ thông tin 111
3.2.5.5 Phát triển nguồn nhân lực 113
3.3 Kiến nghị 114
3.3.1 Với cơ quan Nhà nước, Chính phủ 114
3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 115
Tóm tắt chương 3 116
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Marketing mix
Marketing hỗn hợp là tập hợp các công cụ tiếp thị được doanh nghiệp
sử dụng để đạt được trọng tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu
Techcombank Ngân hàng TMCP Kỹ thương
NHTMCP Ngân hàng Thương mại cổ phần
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV
Kiên Giang 50
Bảng 2.2: So sánh kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Kiên Giang qua 51
các năm 51
Bảng 2.3: Tình hình tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang qua các năm 53
Bảng 2.4: Tình hình dư nợ bình quân khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang qua các năm 54
Bảng 2.5: Phân loại các nhóm khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang qua các năm 54
Bảng 2.6: Cơ cấu khách hàng doanh nghiệp theo ngành nghề kinhdoanh của BIDV Kiên Giang qua các năm 55
Bảng 2.7: Kết quả kinh doanh các sản phẩm tín dụng (2012-2015) 61
Bảng 2.8: Việc đáp ứng của chi nhánh và mong muốn của khách hàng 63
Bảng 2.9: Biểu tính lãi suất bình quân áp dụng doanh nghiệp 65
Bảng 2.10: Mạng lưới giao dịch của các NHTM trên địa bàn tỉnh 69
Bảng 2.11: Thị phần tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh 70
Bảng 2.12: Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh giai đoạn 2012 -2015 72
Bảng 2.13: Thực trạng nhân lực tại BIDV Kiên Giang 74
Bảng 2.14: Đánh giá sản phẩm tín dụng doanh nghiệp của khách hàng DN 79
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Giới thiệu về chủ đề nghiên cứu
Thời gian qua bên cạnh những chủ trương, biện pháp kinh doanh về chiến lược phát triển của Ngân hàng thương mại (NHTM) có nhiều đổi mới tích cực có tác dụng nhất định đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp, song còn nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế: Chủ trương, biện pháp hoạt động kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng Công Thương Việt Nam (BIDV) nói chung, BIDV- Chi nhánh (CN) Kiên Giang nói riêng còn mang nặng tính hành chính bao cấp, chưa bám sát với hoạt động thực tiễn làm hạn chế không nhỏ đến năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp trước cạnh tranh khốc liệt với các NHTM khác tại tỉnh Kiên Giang Đây là thách thức lớn để BIDV Kiên Giang trong thời gian tới cần thiết cải thiện năng lực cạnh tranh sản phẩm của
ngân hàng mình
2 Mục tiêu của nghiên cứu
Luận văn hướng trọng tâm vào những mục tiêu chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh, các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của BIDV Kiên Giang
- Phân tích thực trạng môi trường hoạt động của BIDV Kiên Giang trong lĩnh vực kinh doanh Một số kinh nghiệm của các nước và bài học của Việt Nam về nâng cao năng lực cạnh tranh
- Đề xuất một số giải pháp phát huy những điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu, tận dụng được các cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang đến năm
2020
3 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá năng
Trang 13lực cạnh tranh, các công cụ xây dựng giải pháp (mô hình 5 nhân tố của M Porter và
ma trận hình ảnh cạnh tranh, ma trận SWOT);
- Các phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, thống kê, tổng hợp, nhằm phản ánh kết quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang;
- Phương pháp so sánh, đối chiếu với một số đối thủ cạnh tranh chính nhằm đánh giá tương quan năng lực cạnh tranh của BIDV Kiên Giang với các đối thủ;
- Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn, thảo luận nhóm với các chuyên gia, những cán bộ trong hệ thống BIDV) và khảo sát ý kiến khách hàng đang sử dụng các sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp để xây dựng các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong BIDV Kiên Giang Tác giả đã sử dụng bản câu hỏi được xây dựng để phỏng vấn các chuyên gia, những cán bộ trong ngành và khách hàng về mức độ quan trọng và điểm phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
4 Tóm lược các kết quả nghiên cứu đã đạt được
- Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang;
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc về môi trường bên trong và môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh về sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang thông qua việc tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu về tính năng, chất lượng, giá cả, tiện tích mẫu mã; doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối; sự thỏa mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu
- Nghiên cứu thực trạng kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hoạt động kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang và một số NHTM khác có cùng mục tiêu, thị trường chiến lược tại địa bàn tỉnh Kiên Giang Nghiên cứu thực trạng
Trang 14kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang từ năm
2012 đến năm 2014
Từ cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp, kết hợp một số công trình nghiên cứu trước đây Tác giả vận dụng vào thực tế BIDV Kiên Giang rút ra được như sau:
- Về mặt khoa học: đề tài này hệ thống hóa những lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tác giả trong và ngoài nước từ đó rút ra khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV chi nhánh Kiên Giang
- Về mặt thực tiễn: từ phân tích các mô hình lý thuyết phân tích cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh để đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
5 Kết luận và kiến nghị
Sau khi phân tích những mặt còn hạn chế về năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng tại BIDV Kiên Giang, tác giả đã đề xuất các giải pháp tập trung vào các vấn đề sau :
- Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng khách hàng doanh nghiệp;
- Kiểm soát chặt chẽ giai đoạn trong và sau khi cho vay;
- Hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ;
- Tiếp tục nghiên cứu phát triển các sản phẩm tín dụng bán lẻ;
- Duy trì, củng cố và tiếp tục phát huy thế mạnh của hoạt động thanh toán xuất nhập
khẩu; Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ngoại tệ
6 Từ khóa
Ngân hàng thương mại, BIDV, sản phẩm tín dụng, bán lẻ
Trang 15LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ngày càng sâu rộng, các NHTM Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt với các ngân hàng hùng mạnh trên thế giới Nhằm thích ứng với bối cảnh đó, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và mở rộng thị trường ra bên ngoài lãnh thổ, nhiều nước đã và đang không ngừng gia tăng quy mô các NHTM, tăng doanh thu và lợi nhuận, xây dựng và phát triển các NHTM, trong đó có sự phát triển của hệ thống BIDV nói chung và BIDV Kiên Giang nói riêng Việc xây dựng và phát triển các NHTM vừa bảo đảm phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế toàn cầu vừa cho phép khai thác được những lợi thế so sánh vốn có của quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước
Nhận rõ vị trí, tầm quan trọng của các NHTM, Nhà nước đã nhấn mạnh việc thúc đẩy việc hình thành một số NHTM mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong
đó có ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối… Để các NHTM đi vào hoạt động thực sự đạt được hiệu quả cao, đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề, từ việc lựa chọn mô hình tập đoàn thích hợp, hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt động cuả NHTM, đến việc đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý… Trong số các vấn đề đó, có vấn đề làm sao nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của NHTM Đây có thể xem, được nhìn nhận từ góc độ chủ trương, biện pháp của nhà nước đối với hoạt động của NHTM Thời gian qua bên cạnh những chủ trương, biện pháp kinh doanh về chiến lược phát triển của NHTM có nhiều đổi mới tích cực có tác dụng nhất định đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp, song còn nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế: Chủ trương, biện pháp hoạt động kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV nói chung, BIDV chi nhánh Kiên Giang nói riêng còn mang nặng tính hành chính bao cấp, chưa bám sát với hoạt động thực tiễn làm hạn chế không nhỏ đến năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại tỉnh Kiên Giang Vấn đề “tái cấu trúc” dường như đã là một phương châm, một hướng đi tất yếu trong thời kỳ khó khăn, suy thoái đối với không chỉ là Chính phủ, các tổ chức kinh tế, định chế tài chính mang tầm vóc lớn hay cả đối với mỗi doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam; đồng thời, vấn đề
Trang 16quốc tế BIDV cũng không thể nằm ngoài xu hướng chung là phải tự soát xét lại chính mình để nhận diện những tồn tại yếu kém, những khó khăn thách thức và xác định những điểm mạnh, ưu thế trên các mặt
Theo số liệu từ NHNN chi nhánh Kiên Giang, có đến 55 Chi nhánh NHTM và TCTD hiện diện trên địa bàn Tỉnh (Gồm 33 Chi nhánh NHTM và 22 QTDND) Điều này cho thấy sự cạnh tranh đã và đang diễn ra rất gay gắt giữa các ngân hàng nhằm tìm kiếm, xác lập và phát triển thị phần BIDV chi nhánh Kiên Giang là một đơn vị đã có mặt sớm nhất tại tỉnh, với quy mô mạng lưới rộng khắp các huyện, thị, thành phố trực thuộc BIDV chi nhánh Kiên Giang nhiều năm liền hoạt động có hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển chung của toàn hệ thống BIDV và sự phát triển KT-
XH tỉnh Kiên Giang Tuy nhiên, sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt trong lĩnh vực ngân hàng đang trở thành một thách thức to lớn đối với BIDV chi nhánh Kiên Giang
Để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh nói chung cũng như
sản phẩm tín dụng nói riêng trong bối cảnh mới, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao
năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp BIDV chi nhánh Kiên Giang” để nghiên cứu luận văn thạc sĩ Hy vọng rằng những đề xuất đổi mới
chiến lược kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp sẽ góp thêm ý tưởng trong việc hoàn thiện cơ chế và kế hoạch phát triển tín dụng của Chi nhánh trong thời gian tới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới góc độ lý thuyết, đánh giá thực tiễn cũng như tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước
Liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng, có thể kể đến một số công trình sau đây:
+ Phạm Tấn Mến (2008) với đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trong xu thế hội nhập” Luận văn cao học
chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã góp phần bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, khái quát xu thế cạnh tranh của các NHTM trong thời gian sắp tới, đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu, những thời cơ và thách thức của NHNo&PTNT
VN, đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
Trang 17NHNo&PTNT VN, làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập về chuyên ngành
+ Nguyễn Văn Thụy, Đặng Ngọc Đại (2014): “Ảnh hưởng của năng lực cạnh
tranh đến kết quả kinh doanh của các NHTM cổ phần trên địa bàn TP.HCM”.Tạp chí
Kinh tế và phát triển số 203 (II), tháng 5/2014, trang 99-110 Nghiên cứu đã góp phần
khám phá các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh và xác định ảnh hưởng của nó tới kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại TP Hồ Chí Minh Thông qua kết quả phân tích hồi quy cho thấy có 5 nhân tố năng lực cạnh tranh tác động lên kết quả kinh doanh của các NHTMCP Các nhân tố có ảnh hưởng quan
trọng nhất là khả năng quản trị rủi ro, khả năng tài chính, khả năng marketing
+ Đặng Văn Sang (2007) với đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam-chi nhánh Đồng Tháp từ 2007 đến 2015”
Luận văn cao học chuyên ngành Tài chính-Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Tác giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam-CN Đồng Tháp giai đoạn 2007 - 2015 và
là cơ sở các NHTM khác ứng dụng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
+ Lê Thị Kim Nhạn (2013): “Đánh giá năng lực cạnh tranh của BIDV” Tạp
chí Nghiên cứu và trao đổi số 22 (32), tháng 5-6/2015, trang 24-31 Nghiên cứu này sử dụng mô hình CALMS để đánh giá năng lực cạnh tranh của BIDV với các yếu tố: Hệ thống kinh doanh lõi và công nghệ; quy mô và mô hình tổ chức kinh doanh; tiềm lực tài chính, khả năng sinh lời; chất lượng nguồn nhân lực; thương hiệu, thị phần; dịch vụ ngân hàng…và đã khái quát được 6 điểm mạnh, lợi thế và 6 điểm yếu, hạn chế của BIDV
+ Đặng Hoàng An Dân (2010), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng Đầu Tư & Phát triển Việt Nam đến năm 2015 Luận văn cao học chuyên
ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường từ đó vận dụng vào đáng giá năng lực cạnh tranh của BIDV Đồng thời, nghiên cứu cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV thông qua hệ thống các chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh và tác giả đã đưa ra những nhận xét về điểm mạnh, điểm yếu, cũng như những tồn tại và lợi thế trong cạnh tranh của BIDV Qua phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV,
Trang 18những cơ hội và thách thức trước mắt, luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV, trong đó tập trung vào các giải pháp chính: Tăng cường năng lực tài chính, nâng cao hiệu quả quản trị điều hành, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
+ Nguyễn Tuấn Minh (2011), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty Cổ phần xây dựng công trình giao thông Bến Tre Luận văn cao học chuyên
ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này đã vận dụng lý thuyết cạnh tranh trong đánh giá năng lực cạnh tranh của Công
ty Cổ phần Xây dựng công trình giao thông Bến Tre Trên cơ sở đó đề tài xây dựng các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty Trên cơ sở đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty thông qua hệ thống chỉ tiêu phản ánh: về vốn, về hiệu quả kinh doanh, về công nghệ, về nguồn nhân lực, về đối thủ cạnh tranh; nghiên cứu này cũng đã đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Công ty Cổ phần xây dựng công trình giao thông Bến Tre
+ Lê Lương Huệ (2011), Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty Map Pacific Viet Nam đến năm 2015 Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành
Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lạc Hồng, tỉnh Đồng Nai Tác giả đã nghiên cứu một cách tổng quan về năng lực cạnh tranh của công ty Map Pacific Việt Nam trên cơ sở phân tích các yếu tố nội, ngoại vi của doanh nghiệp để làm cơ sở đưa ra các giải pháp thích hợp Những giải pháp nêu trong đề tài có thể được sử dụng để vận dụng trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm khai thác năng lực vốn có để đạt nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
+ Nguyễn Phong Thiên (2014), với đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Kiên Giang” Luận
văn thạc sỹ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Nha Trang Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của Agribank Kiên Giang trong tương quan so sánh với một số Ngân hàng đối thủ khác đang hoạt động trên địa bàn tỉnh để có sự nhìn nhận đúng đắn, đầy đủ về những điểm mạnh và điểm yếu, cơ hội và thách thức của Agribank Kiên Giang, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của Chi nhánh trong thời gian tới
Liên quan đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng, có một số công trình nghiên cứu có thể được tham khảo kế thừa như sau :
Trang 19+ Luận văn cao học của Trần Thị Trâm Anh (2011), Nâng cao chất lượng dịch
vụ ngân hàng bán lẻ tại NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, chuyên ngành Kinh tế
Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài đã đánh giá đúng thực trạng chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Eximbank và phân tích các nguồn lực tác động đến chất lượng dịch vụ; chỉ ra những mặt đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch
vụ bán lẻ tại Eximbank trong thời gian tới
+ Luận văn cao học của Trần Thị Lệ Hằng (2013), với đề tài:” Nâng cao năng lực
cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của Vietcombank tại thị trường thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa”, chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Trường Đại học Nha Trang
Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng hoạt động tín dụng cũng như năng lực cạnh tranh của Vietcombank Cam Ranh, nhận định ra những mặt đạt được cũng như những tồn tại cần giải quyết; khảo sát ý kiến khách hàng về chất lượng dịch vụ tín dụng của Vietcombank Cam Ranh; tác giả đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tín dụng của Vietcombank Cam Ranh
Mặc dù có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng hoặc của doanh nghiệp nhưng không vì thế mà nó mất đi tính thời sự
Do mục đích và yêu cầu khác nhau, hầu hết các nghiên cứu chỉ mới tập trung nghiên cứu, phân tích năng lực cạnh tranh hiện tại trên một số lĩnh vực của ngân hàng, một số giải pháp mà các nghiên cứu đưa ra còn mang tính chung chung, nhiều chỗ còn mang tính lý thuyết, chưa kết hợp được nhiều so với thực tiễn hoạt động của ngân hàng hay của doanh nghiệp nói chung Bản thân nền kinh tế luôn vận động, biến đổi không ngừng, nhất là đối với ngành ngân hàng – một ngành có tốc độ phát triển rất nhanh Các NHTMCP đang tích cực tăng cường nâng cao nội lực cạnh tranh bằng nhiều hình thức khác nhau như: tăng vốn điều lệ, mở rộng mạng lưới, phát triển nguồn nhân lực, trang bị phần mềm hiện đại …, nhằm hỗ trợ cho hoạt động của ngân hàng hoàn thiện hơn nữa
Đặc biệt, hiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu áp dụng mô hình sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại BIDV chi nhánh Kiên Giang Việc tác giả
đi sâu vào nghiên cứu sản phẩm dịch vụ tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp để đánh giá những mặt được, mặt chưa được, cơ hội và thách thức, từ đó đề ra các giải
Trang 20pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của một NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới là hết sức cần thiết và mới mẻ đối với Chi nhánh
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đề xuất một số giải pháp phát huy những điểm mạnh, hạn chế những điểm yếu, tận dụng được các cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của luận văn về Năng lực cạnh tranh
sản phẩm tín dụng và những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
Phạm vi nghiên cứu : đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động kinh doanh sản
phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang và một số NHTM khác có cùng mục tiêu, thị trường chiến lược tại địa bàn tỉnh Kiên Giang
Số liệu thứ cấp phục vụ phân tích thực trạng kinh doanh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang được thu thập trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm :
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
- Các phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, thống kê, tổng hợp, nhằm phản ánh kết quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang;
Trang 21- Phương pháp so sánh, đối chiếu với một số đối thủ cạnh tranh chính nhằm đánh giá tương quan năng lực cạnh tranh của BIDV Kiên Giang so với các đối thủ
- Phương pháp chuyên gia (phỏng vấn, thảo luận nhóm với các chuyên gia, những cán bộ trong hệ thống BIDV) và điều tra khảo sát ý kiến khách hàng Tác giả đã
sử dụng bản câu hỏi được xây dựng để phỏng vấn các chuyên gia, những cán bộ trong ngành và khách hàng về mức độ quan trọng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang Đồng thời tiến hành khảo sát ý kiến khách hàng đang sử dụng các sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp để đánh giá năng lực cạnh tranh trong BIDV Kiên Giang theo các tiêu chí chất lượng dịch vụ
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về mặt khoa học: đề tài này hệ thống hóa những lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tác giả trong và ngoài nước từ đó rút ra khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
- Về mặt thực tiễn: từ phân tích các mô hình lý thuyết phân tích cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh để đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tín dụng khách hàng doanh nghiệp của BIDV Kiên Giang
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung đề tài gồm các chương sau đây:
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương 2 : ĐÁNH GIÁ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV KIÊN GIANG
Chương 3 : GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI BIDV KIÊN GIANG
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM TÍN
DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Lý thuyết cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm, phân loại, vai trò của cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm
a/ Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế khách quan, là quan hệ kinh tế giữa những người cùng sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, nó vừa là môi trường, vừa là động lực phát triển kinh tế
Trong kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là sự giành giật thị trường để
tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp Theo C Mác: "cạnh tranh là sự ganh đua,
đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được những lợi nhuận siêu ngạch" [2]
Đây là định nghĩa khái quát nhất về cạnh tranh nói lên được mục đích của cạnh
tranh nhưng chưa nói lên cách thức để giành thắng lợi trong cạnh tranh
Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa những người sản xuất hàng hóa dựa trên thực lực kinh tế của họ Cơ sở của cạnh tranh là chế
độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất Chế độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau, " cá lớn nuốt cá bé" Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội Do vậy cạnh
tranh có thể được hiểu như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được lợi nhuận cao.[2]
b/ Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Trang 23Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình
trên thị trường trong một thời gian dài
Năng lực cạnh tranh là khả năng chiếm lĩnh thị trường của một mặt hàng, là khả năng mà doanh nghiệp có thể đạt được những điều kiện thuận lợi trong tiêu thụ hàng
hóa của mình
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/hàng hóa còn được thể hiện ở vị trí của mặt hàng đó trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với sản phẩm/hàng hóa trên thị trường, là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng
Tóm lại: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/hàng hóa là sự biểu hiện “tính
trội” của hàng hóa về chất lượng, giá cả và hình thức lưu chuyển của nó trên thị trường, tạo nên sự hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng nó Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng giành lợi thế, chiếm ưu thế trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại trên cùng đoạn thị trường tại cùng thời điểm.[3]
Cần phân biệt " năng lực cạnh tranh của sản phẩm/hàng hóa " và " năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp " Hai khái niệm này liên quan mật thiết với nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/hàng hóa là một trong những nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của của sản phẩm/hàng hóa thể hiện năng lực của hàng hóa đó thay thế một hàng hóa khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính, chất lượng hoặc giá cả hàng hóa Trên thực tế, hai khái niệm này có thể sử dụng thay thế cho
nhau
Các yếu tố cấu thành
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của sản phẩm/hàng hóa bao gồm: sự khác biệt (vượt trội) về chất lượng, số lượng, giá cả, mẫu mã, độc đáo hay kiểu dáng, tính tiện dụng, hình thức phân phối sản phẩm/hàng hóa đến tay người tiêu dùng, dịch
vụ sau bán hàng, lòng tin của khách hàng đối với hàng hóa đó… so với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm Năng lực cạnh tranh còn thể hiện qua mức độ chiếm lĩnh thị trường (thị phần của nó) tốc độ tăng thị phần, khả năng gây ấn tượng đối với người sử dụng…
Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm [3]
Trang 24Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm Việc phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã ); (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối ); (3) điều tra xã hội học - chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu ) Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường tại cùng thời điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động
vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực cạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực cạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu) Nói cách khác: nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của
nó so với đối thủ khác (chứ không phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh của nó [3]
Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khác với việc hoàn thiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm đó trở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau Vì vậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác
c/ Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cả người
tiêu dùng và nền kinh tế:[3]
- Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi
doanh nghiệp do khả năng cạnh tranh tác động đến kết quả tiêu thụ mà kết quả tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định trong việc doanh nghiệp có nên sản xuất nữa hay không Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm
ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Cạnh tranh quyết
Trang 25định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thông qua thị phần của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh
- Đối với người tiêu dùng: Nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người
tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với
chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ
- Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh là động lực phát triển của các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế Cạnh tranh là biểu hiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật Cạnh tranh là điều kiện giáo dục tính năng động của nhà doanh nghiệp bên cạnh đó góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phẩm mới Điều này chứng tỏ chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao Tuy nhiên cạnh tranh cũng dẫn tới sự phân
hoá giàu nghèo có thể dẫn tới xu hướng độc quyền trong kinh doanh
1.1.1.2 Phân loại cạnh tranh [3]
a/ Căn cứ vào chủ thể tham gia
- Cạnh tranh giữa người bán với người mua
Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, người bán luôn mong muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua lại muốn mua sản phẩm đó với mức giá thấp nhất Sự cạnh tranh này được thực hiện qua quá trình "mặc cả", kết thúc quá trình này, người bán sẽ chỉ đồng ý bán sản phẩm của mình
và người mua sẽ chỉ chấp nhận mua sản phẩm với giá chấp nhận là giá thỏa thuận giữa
người bán và người mua
- Cạnh tranh giữa những người mua
Đây là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu Loại cạnh tranh này xảy ra khi mức cầu đối với một hàng hóa hay dịch vụ nào đó trên thị trường lớn hơn lượng hàng hóa, dịch vụ nào đó mà người bán có thể cung cấp Do đó, cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt hơn khi càng có ít người bán nhưng lại nhiều người muốn mua và giá cả hàng hóa, dịch vụ sẽ được người bán đẩy lên cao Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi
nhuận cao, sang người mua phải chịu thiệt thòi
- Cạnh tranh giữa những người bán
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp khác nhau để tạo cho mình thế mạnh nhằm vượt lên trên đối thủ hoặc thôn tính lẫn nhau để tranh giành khách hàng và thị trường
Trang 26Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh là việc tăng doanh
số tiêu thụ và tăng tỉ lệ thị phần, theo đó tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở
rộng sản xuất
b/ Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Đây là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong nội bộ ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch Để cạnh tranh cùng với đối thủ cùng ngành, các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, nâng cao năng xuất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa doanh nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá
trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch
- Cạnh tranh giữa các ngành
Đây là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau, nhằm giành nơi đầu tư có lợi nhất Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp bị hấp dẫn bởi khách hàng nên đã chuyển vốn đầu tư từ ngành ít lợi nhuận sang ngành lợi nhuận cao Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự phân phối hợp
lý giữa các ngành sản xuất và hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành
c/ Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh thị trường[3]
- Cạnh tranh hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và người mua độc lập với nhau, không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởng tới giá cả Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự khác biệt về quy cánh phẩm chất mẫu mã Tất cả người mua và bán đều có hiểu biết đầy đủ về thông tin liên quan đến việc trao đổi Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi tất cả người mua
và người bán đều có liên hệ với tất cả những người trao đổi tiềm năng, biết tất cả các đặc trưng của các mặt hàng trao đổi, biết tất cả giá người bán đòi bán và giá người mua trả Không có gì ngăn cản việc gia nhập và rút khỏi thị trường Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá cả trên thị trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sản phẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Trang 27Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm là không đồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn hiệu đều mang hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, mức độ cạnh tranh gay gắt và các hình thức cạnh tranh cũng hết sức đa dạng Bằng nhiều hình thức khác nhau của cạnh tranh, người bán lợi dụng uy tín của mình, hay sử dụng các biện pháp khuếch trương sản phẩm, khuyến mại, các dịch vụ đặc biệt sau bán hàng có thể có những lợi thế hơn, có được những điều kiện bán hàng tốt hơn, cạnh tranh tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đáp ứng tối ưu các nhu cầu của khách hàng, duy trì và ngày càng mở rộng hơn thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình kết quả của cạnh tranh là dẫn đến cuộc chiến về giá cả giữa người bán với nhau
- Cạnh tranh độc quyền
Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà ở đó chỉ có một hay một số ít người bán cung cấp một loại sản phẩm đồng nhất hoặc chỉ có một hay một số ít người mua một loại sản phẩm đó Số ít người này có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm bán ra hay mua vào thị trường
Thị trường có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh được gọi là thị trường cạnh tranh độc quyền Trong thị trường này không có cạnh tranh về giá như ở thị trường cạnh tranh không hoàn hảo mà các nhà độc quyền quyết định về giá cả Việc định giá này nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà độc quyền
1.1.2 Phân loại năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Đây là một khái niệm phức tạp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng thời cũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư ,bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân Một số tổ chức quốc tế (như diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), viện phát triển quản lý (IMD) ở Lausanne, Thụy Sĩ ) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới Các xếp hạng đó áp dụng các phương pháp luận tương tự như nhau và đi đến kết quả giống nhau về xu thế, tuy không hoàn toàn giống nhau về xếp hạng do có những khác biệt trong phương pháp luận (thí dụ như về trọng số cho từng yếu tố, về cơ
Trang 28sở dữ liệu ) Các nhà đầu tư quốc tế thường tham khảo các xếp hạng này như một căn
cứ để lựa chọn địa điểm đầu tư, vì vậy, các xếp hạng đó có ý nghĩa quan trọng đối với các chính phủ và doanh nghiệp
1.1.2.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước
và ngoài nước Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch
vụ, vì vậy cần phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với khả năng cạnh tranh
của sản phẩm, dịch vụ
1.2.2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ thường được đo lường bằng thị phần
của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường
Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết qua lại với nhau,
tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, ngược lại
để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh thì môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm
và dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao
1.2 Các lý thuyết ở lợi thế cạnh tranh
Thuyết thương mại quốc tế cổ điển sử dụng lợi thế của năng suất lao động để định nghĩa lợi thế cạnh tranh [3], có thể xem xét lý thuyết của học thuyết lợi thế so sánh qua mô hình đơn giản sau đây:
Trên thế giới khi một quốc gia có thể sản xuất ra một loại sản phẩm có giá thấp hơn quốc gia khác thì số hàng hóa này có thể được xuất khẩu để bù đắp cho việc nhập các loại hàng hóa có giá trị cao hơn nhằm đem lại lợi ích cao nhất
Adam Smith (1723- 1790) đã dẫn chứng ví dụ về lợi điểm tuyệt đối mà cả 2 quốc gia có thể thu được lợi nhuận từ thương mại Lý thuyết của Adam Smith đã sử dụng yếu tố năng xuất lao động để định nghĩa lợi thế cạnh tranh, theo ông thì một quốc gia
Trang 29nên lựa chọn những ngành sản xuất mà có lợi thế so sánh về năng suất lao động đồng thời áp dụng các biện pháp tác động nhằm tác động gián tiếp hoặc trực tiếp lên lợi thế sẵn có để sử dụng một cách hiệu quả nhất (đào tạo nâng cao tay nghề lao động, đầu tư
tranh thiết bị cho lao động ) đó chính là lợi thế cạnh tranh
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh thuyết truyền thống của David Ricardo và lý thuyết của hai nhà kinh tế học Scandinavian, Heckscher và Ohlin Theo Heckscher - Ohlin thì lợi thế cạnh tranh khác nhau giữa các nước là do sự khan hiếm tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau, sự khan hiếm khác nhau đó còn do cơ cấu các nguồn lực sẵn có và các giai đoạn phát triển khác nhau
* Nguốn gốc của Lợi thế cạnh tranh
-Lợi thế về kỹ thuật: Một nước có thể có lợi thế về kỹ thuật trong sản xuất cả hai sản
phẩm hơn nước kia nhưng sự khác nhau về lợi thế có thể lớn hơn trong một mặt hàng
-Các khoản thiên phú: Một nước như Ấn Độ, có thể được thiên phú nhiều hơn
các nước khác chẳng hạn như Phần Lan về nguồn lực lao động, tài nguyên thiên nhiên sẵn có, đất đai, khí hậu đó là những lợi thế so sánh sẵn có, nhưng không hẳn là đó là những lợi thế cạnh tranh nếu như không biết khai thác, biến cái lợi thế so sánh đó
thành lợi thế cạnh tranh của mình
Từ cơ sở các học thuyết trên cho thấy việc sử dụng lợi thế cạnh tranh trong một nền kinh tế là quá trình lựa chọn cơ cấu ngành phù hợp, phát huy được những lợi thế hiện có thành lợi thế cạnh tranh Theo lý thuyết này thì các hàng hóa khác nhau đòi hỏi
sự kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau, mỗi nước phải lựa chọn một cơ cấu ngành
phù hợp với cơ cấu nguồn lực hiện có
Cơ cấu các nguồn lực của một quốc gia luôn luôn thay đổi, do đó cách thức khai thác các nguồn lực cũng phải thay đổi theo Một nền kinh tế khai thác tốt lợi thế cạnh tranh sẽ nhanh chóng nhận ra sự thay đổi đó Theo các học thuyết cổ điển, các yếu tố đầu vào của sản xuất bao gồm đất đai, tài nguyên khoáng sản, kết cấu hạ tầng, lao động, vốn trong đó, đất đai hoặc tài nguyên khoáng sản là những yếu tố có giới hạn bởi vậy phải " sử dụng như thế nào" Phải tìm ra một tỉ lệ sử dụng các nguồn lực và phân bố sản xuất như thế nào cho từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế để khai thác lợi thế cạnh tranh một cách tốt nhất, bên cạnh đó phải có kế hoạch khôi phục phát triển các nguồn lực một cách bền vững
Trang 301.3 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh [2]
1.3.1 Các tiêu chí thuộc sản phẩm
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một sản phẩm thì phải dựa trên các yếu tố thuộc về sản phẩm để đánh giá, các yếu tố về: Tính năng, chất lượng, giá cả, sự tiện
ích, mẫu mã
- Tính năng của sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu của khách hàng hay không:
Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách hàng sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối thủ cạnh
tranh Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường xem xét mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của mình hay không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm
- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh Rõ ràng
giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm nào có giá thấp hơn Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của marketing và quá trình khác biệt hoá sản phẩm hiện nay hầu như không thể tìm thấy hai sản phẩm hoàn toàn giống nhau trên thị trường Doanh nghiệp hoàn toàn có thể định giá cho sản phẩm của mình tùy
theo mục đích kinh doanh cụ thể
Doanh nghiệp có thể đi theo chiến lược giá cao hoặc theo chiến lược giá thấp chỉ
cần mức giá đó bù đắp được chi phí, bù đắp được chi phí, đạt được mục đích đặt ra và doanh nghiệp vẫn có thể có lãi Nếu sự định giá cho sản phẩm tạo ra sự chênh lệch cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đồng thời đem lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì sản phẩm sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn trên thị trường, sản phẩm sẽ ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng doanh số bán hàng và sẽ có được thị
trường lớn trên thị trường
Để có thể cạnh tranh bằng chiến lược giá thấp thì doanh nghiệp cần phải xem xét
khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị mình Tuy nhiên khả năng hạ giá thành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chi phí sản xuất, chi phí quản lý, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp, khả năng bán hàng, phân phối sản phẩm Việc hạ giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy,
Trang 31để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, cần phải đánh giá thêm tiêu chí khác như :
- Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm hàng đầu sản
phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sản phẩm đó vượt trội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường Yếu tố này có thể đánh giá thông qua
so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng, độ bền tiện ích trong sử dụng… Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng không thể đánh giá ngay được chất lượng của sản phẩm Do đó khách hàng sẽ đánh giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua
uy tín của người sản xuất, của nước sản xuất…
1.3.2 Các tiêu chí trên thị trường
Để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường, năng lực cạnh tranh so các đối thủ khác trên cùng một thị trường dựa vào các chỉ tiêu: Doanh số bán, thị phần, hệ thống
phân phối
- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh cũng
biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường Nếu sản phẩm có doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ cạnh tranh chứng tỏ sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so
với đối thủ cạnh tranh
Doanh thu = số lượng hàng hóa tiêu thụ * giá cả hàng hóa
(trong một khoảng thời gian nhất định)
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường: Thị phần của một hàng hóa trên thị
trường là tỷ lệ phần trăm mà một mặt hàng chiếm lĩnh được trên thị trường đó
Thị phần của hàng hóa A trên thị trường = mA / M
mA: Số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M: Tổng số lượng được tiêu thụ trên thị trường
Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên mức độ chiếm lĩnh thị trường của một sản phẩm Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá mức độ cạnh tranh của một sản phẩm so với sản phẩm cùng loại khác
Tuỳ theo loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thể xem xét năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị phần của sản phẩm đó Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường khi
Trang 32chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại được bán trên thị trường Tuy nhiên, cũng phải vận dụng chỉ tiêu này một cách linh hoạt Với một số sản phẩm mới
ra đời, chưa chiếm lĩnh được thị trường thì không thể sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó phân tích sẽ có sự sai
lệch nhất định
- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm đó có thể so sánh theo tính lịch sử, tức là
năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao Và ngược lại nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh tranh
- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì thị phần
do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn Hệ thống phân phối được thiết kế hợp lý so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác, vùng với việc đẩy mạnh xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh tranh của sản phẩm do đáp ứng được kịp thời yêu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà sản xuất dễ dàng hơn như dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng
1.3.3 Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng
Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm các yếu tố định tính khác như hình ảnh của các doanh nghiệp tham gia thị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm, thương hiệu của sản phẩm…
1.3.4 Một số tiêu chí khác
- Tăng trưởng xuất khẩu của sản phẩm: Việc tăng trưởng xuất khẩu sản phẩm
nhanh cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng Ngược lại nếu tốc độ tăng trưởng giảm hoặc đình trệ cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm thấp Với những yếu tố khác không đổi, những sản phẩm xuất khẩu tăng trưởng nhanh, dù được thể hiện bằng những con số tuyệt đối nhỏ, cho thấy những sản phẩm này có năng lực cạnh tranh cao
- Các cơ hội cung: Một số nhân tố quyết định các điều kiện cung và năng lực
cạnh tranh sản phẩm là năng lực của các ngành phụ trợ, khả năng tiếp cận nguyên liệu thô, công nghệ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh nội địa v.v Các điều kiện
Trang 33cung và năng lực cạnh tranh càng cao thì tiềm năng xuất khẩu càng cao, với điều kiện các yếu tố khác không đổi
- Ưu tiên quốc gia: Chính phủ các nước đều đề ra các ưu tiên trong hầu hết các
chiến lược xuất khẩu của mình Những ưu tiên này phần nào phản ánh những nhận định kinh tế, như tốc độ tăng trưởng, hình thái cầu thế giới và tình hình cung sản phẩm
đó trên thị trường Tuy nhiên, những ưu tiên này cũng phản ánh những mối quan tâm khác như an ninh lương thực, cung của thị trường nội địa, tạo việc làm, ưu tiên vùng, tiến bộ công nghệ v.v Đối với những sản phẩm mà Chính phủ ưu tiên, Chính phủ cũng
sẽ có những hình thức hỗ trợ đặc biệt như các chính sách khuyến khích, ưu tiên đầu tư
Do đó, nếu những yếu tố khác không đổi, khi sản phẩm càng được ưu tiên thì năng lực xuất khẩu càng lớn
- Chất lượng môi trường và xã hội của sản phẩm xuất khẩu: Giá trị của sản phẩm
xuất khẩu có thể được phản ánh không chính xác nếu chỉ xét trên yếu tố kinh tế vì nó còn có những tác động phụ và/hay những tác động ngoại lai tích cực hoặc tiêu cực Nhất là những tác động ngoại lai liên quan đến môi trường, sản phẩm xuất khẩu có thể
có những tác động tiêu cực lớn hoặc nhỏ đối với môi trường tuỳ theo công nghệ được
áp dụng Những chi phí này xã hội phải gánh chịu, chứ không phải là người nhập khẩu hay thị trường Những tác động tích cực bao gồm tạo việc làm, trực tiếp hỗ trợ những nhóm người nghèo, nâng cao hơn sự tham gia và tầm quan trọng của phụ nữ Do đó, xuất khẩu sản phẩm có tiềm năng tạo ra nhiều việc làm, không gây ra hoặc chỉ gây ra những hậu quả thấp đối với môi trường, mang lại những lợi ích đặc biệt cho phụ nữ và người nghèo, đặc biệt ở vùng nông thôn, cần được chú ý nhiều hơn với điều kiện những yếu tố khác không đổi Hiện nay nhiều thị trường nhập khẩu đã sử dụng tiêu chí này để áp dụng các rào cản thương mại đối với một số sản phẩm như sản phẩm dệt may phải áp dụng tiêu chuẩn SA8000…Nếu sản phẩm của nước nào đó đáp ứng được tốt hơn các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn Trong quá trình phân tích, cần phải kết hợp đánh giá một cách tổng hợp, phải dựa trên tất cả các mặt, các yếu tố liên quan đến sản phẩm, thị trường, nhu cầu, thị hiếu của khách hàng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
1.4.1 Nhân tố bên trong
1.4.1.1 Về tài chính
Trang 34Nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không nhắc đến bởi nó có vai trò quyết định đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp Trước hết, nguồn lực tài chính được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Quy mô vốn tự có phụ thuộc quá trình tích luỹ của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàng năm cao, phần lợi nhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy mô vốn tự có sẽ tăng Doanh nghiệp có quy mô vốn tự có lớn cho thấy khả năng tự chủ về tài chính và chiếm được lòng tin của nhà cung cấp, chủ đầu tư và khách hàng…[6] [7] [8]
Để đáp ứng các yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhà cung cấp, hoặc khách hàng, vay các tổ chức tài chính hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào mối quan hệ của doanh nghiệp với các bên cung ứng vốn và sự phát triển của thị trường tài chính Lựa chọn phương thức huy động vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài
chính
Mặt khác để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp cũng cần xem xét kết cấu vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp Kết cấu vốn hợp lý sẽ có tác dụng đòn bẩy góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Có những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn nhưng không mạnh, đó là do kết cấu tài sản và nguồn vốn không phù hợp với quy mô và đặc điểm sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đó chưa biết cách khai thác và
sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của mình Ngược lại, có những doanh nghiệp
có quy mô vốn không lớn nhưng vẫn được coi là mạnh vì doanh nghiệp đó đã duy trì được tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất những sản phẩm đáp ứng các nhu cầu của thị trường mục tiêu Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có điều kiện thuận lợi trong đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, giữ vững được sức cạnh tranh và củng cố vị thế của mình trên thị trường
1.4.1.2 Về máy móc thiết bị và công nghệ
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định, nó
là những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh Nếu máy móc thiết bị và trình độ
Trang 35công nghệ thấp kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng các chi phí sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp sẽ không đạt các yêu cầu về tiêu chuẩn hoá và thống nhất hóa sẽ rất khó xuất khẩu, tham gia vào thị trường khu vực và
thế giới
Để đánh giá về năng lực máy móc thiết bị và công nghệ có thể dựa vào các đặc
tính sau:
-Tính hiện đại của thiết bị công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như hãng sản
xuất, năm sản xuất, công suất thiết kế, giá trị còn lại của thiết bị
-Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị, công nghệ với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm do
công nghệ đó sản xuất ra
-Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị sẵn có để phục vụ
mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp
-Tính đổi mới: Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động, máy móc thiết bị phải thích ứng được với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng giai đoạn, từng phương án sản xuất kinh doanh, nếu máy móc thiết bị không thể sử dụng linh hoạt và
chậm đổi mới thì sẽ không đảm bảo năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Cùng với máy móc thiết bị, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo M Porter, mỗi doanh nghiệp phải làm chủ hoặc ít ra là có khả năng tiếp thu các công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Không đơn giản là việc có được công nghệ mà điều quan trọng hơn là khả năng áp dụng công nghệ, đó mới là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh Để áp dụng được công nghệ, các doanh nghiệp phải kết hợp nhiều yếu tố khác nữa Có thể khẳng định một doanh nghiệp với hệ thống máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và đảm bảo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
1.4.1.3 Về nguồn nhân lực
Nhân tố con người là vô cùng quan trọng đối với hoạt động của mỗi doanh nghiệp, để quản lý tốt các hoạt động sản xuất kinh doanh trước hết phải làm tốt công tác về quản lý nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không đảm bảo về số lượng và chất lượng là nguyên nhân giảm sút năng suất và chất lượng sản phẩm Làm tốt công tác quản lý nguồn nhân lực là con đường dẫn tới thành công của các doanh nghiệp bởi
Trang 36quản lý nguồn nhân lực giúp doanh nghịêp khai thác được mọi tiềm năng của người lao động đóng góp vào sự phát triển, sử dụng chi phí tiền lương một cách hiệu quả nhất, ngăn chặn mọi sự di chuyển lao động ra khỏi doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến
hoạt động của bộ máy
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ đối với từng vị trí làm việc Yêu cầu đối với giám đốc và quản trị viên các cấp không chỉ cần trình độ về nghiệp vụ mà còn phải có khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, sự nhanh nhẹn, linh hoạt trong thu thập và xử lý thông tin, sáng suốt dự báo và đối phó với các biến động của thương trường Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp:
- Ban giám đốc doanh nghiệp: Là những người vạch ra các chiến lược kinh doanh, trực tiếp điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp Những thành viên của ban giám đốc cần có kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ và hiểu biết về các hoạt động của doanh nghiệp, biết cách động viên sức mạnh tập thể cùng phấn đấu cho sự nghiệp chung
- Cán bộ quản trị cấp trung gian và cấp cơ sở: Là những người trực tiếp điều hành
và thực hiện các kế hoạch, phương án kinh doanh do ban giám đốc đề ra Họ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp Họ cần thành thạo chuyên môn và có kinh nghiệm quản lý, năng động, có khả năng ra quyết định và tham mưu cho ban
giám đốc
- Đội ngũ công nhân: Để đứng vững trên thị trường không chỉ cần cán bộ lãnh đạo giỏi mà còn cần có đội ngũ công nhân lành nghề, trung thực và sáng tạo Họ là những người trực tiếp tạo nên chất lượng sản phẩm, lòng hăng say nhiệt tình làm việc của họ là yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.1.4 Khả năng liên doanh liên kết của doanh nghiệp
Liên doanh liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế để tạo ra một pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về kinh nghiệm và khả năng tài chính Đây là một trong những yếu tố đánh giá năng lực của doanh nghiệp Nhất là đối với những doanh nghiệp thường tham gia các dự án với quy mô lớn, những yêu cầu đôi khi vượt năng lực một doanh nghiệp đơn lẻ trong cạnh tranh Để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường vấn đề mở rộng các quan hệ liên doanh liên kết dưới nhiều hình thức thích
Trang 37hợp là giải pháp quan trọng và thích hợp Qua đó doanh nghiệp có thể đáp ứng một
cách toàn diện những yêu cầu của dự án có quy mô lớn và độ phức tạp cao
Liên doanh liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang, tức là doanh nghiệp sẽ liên kết với các doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận các dự án lớn Liên kết theo chiều dọc là hình thức liên kết với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu hoặc trang thiết bị nhờ đó có thể giảm giá thành sản phẩm Dù liên doanh liên kết dưới hình thứ
nào cũng đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi
Liên doanh liên kết tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đi sâu chuyên môn hóa, khai thác được những thế mạnh, khắc phục những điểm yếu, thích ứng với cơ chế thị trường, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, từ đó nâng cao năng lực
cạnh tranh cho doanh nghiệp
1.4.2 Nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp là khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh
1.4.2.1 Về khách hàng
Thị trường hay nói chính xác là khách hàng là nơi bắt đầu và cũng là nơi kết thúc quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Căn cứ vào nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp đưa ra các quyết định sản xuất và khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm của doanh nghiệp lại được đưa ra thị trường để đáp ứng các nhu cầu đó Số lượng khách hàng quyết định quy mô thị trường hàng hoá của doanh nghiệp Nếu quy mô thị trường lớn, doanh nghiệp có thể tăng đầu tư sản xuất sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường và tăng sản lượng bán
Bên cạnh đó, khả năng thanh toán của khách hàng sẽ quyết định sức mua hàng hoá của doanh nghiệp Nếu khách hàng có khả năng thanh toán cao, đó là một thị trường có nhiều tiềm năng, doanh nghiệp có thể tăng cường cải tiến mẫu mã, tăng chất lượng sản phẩm đẩy mạnh xúc tiến bán hàng để mở rộng thị trường Để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải căn cứ vào nhu cầu và sức mua của thị trường Đặc tính của nhu cầu có vai trò quyết định hình thành đặc tính của sản phẩm và tạo ra những áp lực để nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sử dụng và
phát triển sản phẩm mới
Khách hàng hoặc người mua của mỗi doanh nghiệp có thể là người tiêu dùng (nếu sản xuất hàng tiêu dùng), có thể là các doanh nghiệp, tổ chức (nếu sản xuất
Trang 38nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…), có thể là các chủ đầu tư (nếu doanh nghiệp nhận thầu các dự án, công trình…) Mặc dù đối tượng có thể khác nhau song người mua nói chung có xu hướng muốn tối hóa lợi ích của mình với chi phí thấp nhất nên họ luôn tìm mọi cách gây áp lực để doanh nghiệp giảm giá hàng hóa, mặc cả để có chất lượng tốt hơn và được phục vụ nhiều hơn Cơ sở để đưa ra quyết định mua bán là bình đẳng, đôi bên đều có lợi nhưng do sức ép cạnh tranh doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những đòi hỏi của khách hàng Để phòng thủ trước những sức ép đó, việc phải xem xét lựa chọn nhóm khách hàng mục tiêu là một quyết định rất quan trọng đảm bảo sự tồn
tại của doanh nghiệp
Doanh nghiệp còn cần phải xây dựng được mối quan hệ bền vững với khách hàng, nhất là xây dựng quan hệ bạn hàng tin cậy với những khách hàng lớn, có nhu cầu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp một cách ổn định và lâu dài Việc doanh nghiệp sử dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi về giá cả, thời gian giao hàng, phương tiện vận chuyển, khuyến mại, với những khách hàng lớn, khách hàng truyền thống rất có sức hấp dẫn và củng cố sự tin cậy lẫn nhau Nhờ vậy duy trì được thị phần hiện
có và tăng khả năng mở rộng thị phần cho doanh nghiệp Giữ được khách hàng là một yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp
1.4.2.2 Về nhà cung cấp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không thể thiếu được các yếu tố đầu vào, đó là vật tư, máy móc thiết bị, vốn,…Vai trò của nhà cung cấp đối với doanh nghiệp thể hiện ở áp lực về giá các yếu tố đầu vào Giữa nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động đến khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp như nâng giá, giảm chất lượng vật tư kỹ thuật mà họ cung ứng, không đảm bảo tiến độ giao hàng theo yêu cầu, gây ra sự khan hiếm giả tạo
Nếu trên thị trường có nhiều nhà cung cấp thì doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung cấp, điều đó tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường yếu tố đầu vào, có tác dụng làm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp Thế mạnh của nhà cung cấp tăng lên nếu số lượng nhà cung cấp ít, không có hàng thay thế, doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp hoặc loại vật tư được cung ứng là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm hoặc hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Trang 39doanh nghiệp Do đó, nhà cung cấp nói chung có ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.2.3 Về đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp Trong một ngành nào đó mà tồn tại một hoặc một số doanh nghiệp thống lĩnh thì cường độ cạnh tranh ít hơn và doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉ đạo giá Trong trường hợp này nếu doanh nghiệp không ở vị trí thống lĩnh thì sức cạnh tranh là rất kém Nhưng nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp có thế lực và quy mô tương đương nhau thì cạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt Cần phải coi trọng lợi thế so sánh của mình
và biến nó thành lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp nào có nhiều lợi thế cạnh tranh thì
doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao hơn
Trong thị trường tự do cạnh tranh, gần như không có rào cản gia nhập thị trường, luôn có các đối thủ tiềm ẩn, sẵn sàng tham gia thị trường bất cứ lúc nào Sự xuất hiện của đối thủ mới có thể gây ra những cú sốc mạnh cho các doanh nghiệp hiện tại vì thông thường những người đi sau thường có nhiều căn cứ cho việc ra quyết định hơn
và các chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ
Để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cố năng lực cạnh tranh của mình bằng cách không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, bổ sung những đặc tính mới ưu việt hơn cho sản phẩm, luôn phấn đấu giảm chi phí để sẵn sàng tham gia các cuộc cạnh tranh về giá
1.4.2.4 Về môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô của mỗi doanh nghiệp bao gồm ba yếu tố: thực trạng nền kinh
tế xã hội, hệ thống pháp luật và bối cảnh chính trị xã hội
Nếu nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, thu nhập quốc dân tính trên đầu người cao sẽ tạo điều kiện tăng tích luỹ, tăng đầu tư cho sản xuất, thị trường
có sức mua lớn là môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển
Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Nhà Nước sẽ có tác dụng tạo điều kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị
trường, Nhà Nước có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường cạnh tranh
Nhà Nước thúc đẩy và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua các chính
sách như:
Trang 40- Nhà Nước đầu tư nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực Hỗ trợ nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, đầu tư cho cơ sở hạ tầng Tạo điều kiện về cơ sở vật chất và
các yếu tố đầu vào
- Thực hiện các chính sách kích cầu để mở rộng và tăng dung lượng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp Đồng thời với công cụ chi tiêu Chính Phủ, Nhà Nước cũng là
người mua với nhu cầu đa dạng
- Nhà Nước quy hoạch và tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ
giúp doanh nghiệp có điều kiện chuyên môn hóa cao từ đó tăng năng lực cạnh tranh
Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp Mức độ ổn định của hành lang pháp lý
sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển Ngược lại doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi phải đối diện liên tục với những thay đổi làm suy yếu năng lực cạnh tranh Nhà Nước cần tạo khuôn khổ pháp luật đồng bộ, phù hợp các nguyên tắc kinh doanh thương mại quốc tế, đảm bảo cho sự cạnh tranh công bằng, bình đẳng Những chính sách đó phải giữ đúng vai trò là môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp, tránh can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh, giảm tính tự chủ của doanh nghiệp Luật “Chống độc quyền” của Mỹ, đạo luật về “Độc quyền và hợp nhất” ở Anh đều nhấn mạnh khía cạnh quan trọng là đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp
Yếu tố thứ ba của môi trường vĩ mô là các yếu tố chính trị xã hội Một quốc gia
có nền chính trị ổn định sẽ giúp doanh nghiệp phát triển thuận lợi, các nhà đầu tư trong
và ngoài nước tin tưởng, yên tâm đầu tư cho sản xuất kinh doanh Các nhân tố về xã hội như phong tục tập quán, mức sống, dân số,…quyết định thái độ tiêu dùng và khả năng thanh toán của khách hàng mục tiêu Khoảng cách giàu nghèo, trình độ dân số là
một trong những cản trở đến trình độ văn hóa và chất lượng nguồn nhân lực
1.5 Một số mô hình cạnh tranh
1.5.1 Mô hình 5 nhân tố của M.Porter
Theo quan điểm của M Porter [6] [7] [8], có thể tổng hợp thành 5 nhóm nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường