Thắng có nghĩa vụ chứng minh 25/04/2007 Hoà giải k thành TAND Q.Tân Bình và các bên liên quan BB hoà giải k thành thoả thuận k thành chi tiết các khoản nhận và chưa nhận BB hoà giải k th
Trang 1Diễn biến vụ án hồ sơ lao động 02
Ngày kiện sự chủ thể hình thức nội dung
luật điều chỉnh
Căn cứ, tài liệu chứng cứ chứng minh
29/12/2003
QĐ điều động CB
Cty xăng dầu Hàng không
văn bản, ký tên đóng dấu
điều ôNG Thắng về làm việc tại VPĐD cty XDHK Tp.HCM
BLLĐ 2002
(Gđ đại diện ký)
số 249/XDHK-TCCB
từ 1/1/2004
Điều lệ; Qđ 1694/HĐQT;
QĐ số 88
01/07/2004 HĐLĐ
Cty XDHL và ông Thắng
hợp đồng lao động số 04
đđ làm việc:
VPĐD tại TP.HCM
BLLĐ 2002
hợp đồng k thời hạn từ 1/7/2004
26/04/2006 đơn
nghỉ
ô Thắng văn bản nghỉ phép
thăm bố mẹ
bllđ 2002
Trang 2phép vợ ở Nam Định
Gửi GĐ và P.TCCB Cty XDHK
từ 4/5 đến hết phép 2006
27/04/2006 Báo cáo ô Thắng văn bản
gửi GĐ và BCH công đoàn Cty XDHK fax đnghị giải quyết phép
bản tự khai ngày
11/4/2007
03/05/2006 BB họp ô Thắng BB cuộc họp
k đồng ý đơn 26/4 vì trong t5 có đoàn vào giải quyết khiếu kiện
bllđ 2002
Ô Thắng có ý kiến nếu t5 cty
k giải quyết phép sẽ tự nghỉ
ô Tộ, Chánh
VP và ô.Vịnh,
NV hành chính
k có ô
Thắng ký
từ 4/5 đến hết phép 2006
yêu cầu xác định ngày giải quyết phép, nếu k sẽ làm việc với TCT
thuộc TCT quản lý
03/05/2006 Đề ô Thắng văn bản Tbáo giải Tbáo giải
Trang 3quyết knại
số 07/XDHK-VPĐN ngày 6/3/06 báo t4/2006 xử lý
quyết knại
số 07/XDHK-VPĐN ngày 6/3/06
gửi GĐ và BCH công đoàn Cty XDHK
họp xử lý sau nghỉ phép đnghị giải quyết phép hoặc tự nghỉ 04/05/2006 thông báo ô Thắng fax 9g sáng
Báo GĐ cty
sẽ nghỉ phép
từ 7/5/06
cần 2 bản fax
fax 16g chiều
Báo Chánh
VP sẽ nghỉ phép từ 7/5/06
mẹ vợ bệnh (giấy tờ)
15/05/2006
lập
BB tự
ý bỏ việc
Các NV
Ô Thắng k đến VP từ 7/5-15/5/06 vẫn chưa có mặt
người làm chứng 4g30 ngày
15/5/2006
Trang 415/05/2006 Báo cáo Chánh VP văn bản
Ô Thắng k đến VP từ 7/5-15/5/06 vẫn chưa có mặt
Bảng chấm công và BB
gửi
4g30 ngày 15/5/2006 16/05/2006 Đề nghị ô Thắng văn bản
giải thích đã báo thời gian nghỉ
fax
gửi GĐ và BCH công đoàn Cty XDHK
yêu cầu biết ngày phép còn 2006
đồng gửi TCCB và BCH
CĐ TCT
17/05/2006
Đơn nghỉ k lương
ô Thắng văn bản
nghỉ 2 tháng
từ 21/5/2006;
nếu cty k giải quyết sẽ tự nghỉ
đồng gửi TCCB và BCH
CĐ TCT
fax lúc 14g20
gửi GĐ và BCH công đoàn Cty XDHK
lý do mẹ đẻ
bị ung thư
Trang 517/05/2006 thông báo chánh vp
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
Gđ cty chưa đồng ý vì chưa có ý kiến của VPĐD là nơi quản lý
số 23/VPĐD-TB
VP trả lại đơn, k phải P.TCCB trả
Phiếu báo phát
EMS
Phiếu báo
đã phát bưu điện
đã chuyển phát thư lúc 6g ngày 18/5
số 708942596
Bà Lan ký nhận (có thể
ô Thắng giả chữ ký)-Phát tại TP.HCM
21/05/2006 thông báo
chánh vp gửi bà Lan
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
k biết Ô Thắng ở đâu, bỏ việc
từ 7/5-21/5/2006
số 24/VPĐD-TB
thbáo về việc Ô Thắng vắng mặt
Trang 621/05/2006 Báo cáo ô Thắng văn bản
thbáo nghỉ k lương từ 17/5/2005
đơn xin nghỉ phép
26/8/2004
fax
gửi GĐ
và BCH công đoàn TCty XDHK
giải trình về việc gửi Cty XDHK k wa VPĐD, lý do
để GĐ cty k duyệt vô lý
vb số 159/XDHK-TCCB ngày 31/8/2004
21/05/2006 thông báo
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 28/5/2006 có mặt ở VP làm việc
số 24/VPĐD-TB
nếu k sẽ báo cty xử lý
04/06/2006 Giấy UQ
GĐ cty XDHK uỷ quyền cho ông Kim, PP.TCCB
Văn bản UQ
chủ trì, phối hợp BCH
CĐ xử lý kỷ luật
số
131/XDHK-từ 4/6/2006
Trang 704/06/2006
đơn
đề nghị
gửi GĐ
và BCH công đoàn Cty XDHK
văn bản fax
mẹ mất, xin ứng tiền vé máy bay
VPĐD ứng 2tr
Sổ khám chữa bệnh bà Tuấn (mẹ vợ) 13/4;
17/4/2006
việc người thân bị bệnh
là có thật
Sổ khám chữa bệnh bà Tuấn (mẹ vợ) 4/5;21/5/2006
NĐ 33/CP-2003
Sổ khám chữa bệnh bà Tuấn (mẹ vợ)
từ 19/6;
31/7/2006
Sổ khám chữa bệnh bà Tuấn (mẹ vợ) ngày
26/10/2006 tiếp tục
chăm sóc
vé máy bay?
Giấy ra viện (vào
Trang 8mẹ vợ mổ xong
25/6/2007-6/7/2007)
Phiếu báo phát
EMS
Phiếu báo
đã phát bưu điện
đã chuyển phát thư lúc 18g40 ngày 3/7/2006
số 70.7440964
Bà Lan ký nhận-Phát tại TP.HCM
04/07/2006 Giấy mời
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 11/7/2006 có mặt ở VP lập
BB tự ý bỏ việc
số 36/VPĐD
11/07/2006
lập
BB tự
ý bỏ việc
Các NV
Ô Thắng k
có mặt theo Giấy mời
người làm chứng
10g ngày 11/7/2006
NQuy lao động; quyền hạn GĐ Cty XDHK
Trang 912/07/2006 thông báo
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 14h ngày
12/7/2006 có mặt ở VP lập
BB tự ý bỏ việc
lần 2 số 39/VPĐD nếu k phải báo lý do
12/07/2006
Đơn xin nghỉ phép
Ô Ái, con
bà Tuấn,
mẹ vợ ô Thắng
vbản
nghỉ phép từ 17/7 đến hết phép
bllđ 2002
NQuy lao động
gửi BGĐ
XN XDHK
về quê tại Nam Định
NĐ 41/CP;
NĐ33
14/07/2006 thông báo
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 8h ngày 16/7/2006 có mặt ở VP lập
BB tự ý bỏ việc
lần 3 số 41/VPĐD nếu k phải
báo lý do
Trang 10lập
BB tự
ý bỏ việc
Chánh VP+CĐ
CS Cty+
Chủ tịch
CĐ bộ phận
BB
Ô Thắng k
có mặt 3 lần theo giấy báo, k báo lại cũng k có
lý do
người làm chứng
10g ngày
16/07/2006
BB xử
lý vi phạm
kỷ luật lao động
Chánh VP+CĐ
CS Cty+
Chủ tịch
CĐ bộ phận
BB xử lý
thống nhất
sa thải vì vi phạm điều
85, BLLĐ và điều 26 Nội quy lao động
Bllđ và nội quy Cty
người làm chứng
xử lý vắng mặt đương sự
11g ngày 16/7/2006
02/08/2006 BB
họp đơn
vị, xử
lý vi phạm
kỷ luật
Chánh VP+ Chủ tịch CĐ
bộ phận
BB họp đơn vị
tbáo sa thải
vì vi phạm điều 85, BLLĐ và điều 26 Nội quy lao động
Bllđ và nội quy Cty
người làm chứng
Trang 11lao động
có mặt đương sự
6/7 phiếu đồng ý, ô Thắng k bỏ phiếu
các nhân sự làm cùng đều xác nhận ô Thắng ý thức kém,
vô kỷ luật
03/08/2006
Qđ
Sa thải
Cty xăng dầu Hàng không
văn bản, ký tên đóng dấu
sa thải vì vi phạm, từ 6/8/2006:
bllđ 2002
NQuy lao động;
quyền hạn
GĐ Cty XDHK
QĐ 847 QĐ/TCCB-LĐ của Bộ trưởng
bộ GTVT ngày 9/6/1999
NQLđ ngày 18/4/2006 được thừa nhận ngày 10/5/2006 bởi
QĐ 959/LĐTBXH của Sở
LĐTBXH HN (thiếu trong hồ
sơ, cần thu thập)
ngày 18/10/2006
có vb sô 82/ XDHK-TCCB gửi
Sở LĐTBXH
Hn để đăng
ký lại NQLĐ
ký ngày 1/10/2006 nhưng chưa thấy QĐ
Trang 12thừa nhận của Sở
(Gđ đại diện ký)
số 182/XDHK-TCCB
- điều 85, BLLĐ
- điều 26, nội quy lao động
đ 11,
NĐ 41/CP;
NĐ33
BB ngày 16/7/2006
TƯLĐTT ngày 29/3/2005 được thừa nhận ngày 10/5/2006 bởi
QĐ 1503/LĐTBXH của Sở
LĐTBXH HN
03/08/2006
thanh toán chấm dứt hợp đồng
Cty xăng dầu Hàng không
văn bản, ký tên đóng dấu
thanh toán trợ cấp thôi việc từ 2/1975 đến 6/8/2006
bllđ 2002
(P.TCCB
ký và đóng dấu)
số 183/XDHK-TCCB
- k1, điều 42, BLLĐ
- hợp đồng lao động đã ký
NĐ 41/CP;
NĐ33
26/08/2006 Giấy
mời
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 9/8/2006 có mặt ở VP
Trang 13nhận thanh toán:
- trợ cấp thôi việc, lương
và ăn trưa quý 1/2006, quý 2/2006
09/08/2006 Giấy mời
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 13/8/2006 có mặt ở VP nhận thanh toán:
- trợ cấp thôi việc, lương
và ăn trưa quý 1/2006, quý 2/2006
11/08/2006 Giấy mời
chánh vp gửi ô Thắng
vb do Chánh VP
ký đóng dấu
yêu cầu ô Thắng 16/8/2006 có mặt ở VP nhận thanh toán:
lần 3 số 48/VPĐD - trợ cấp thôi
việc, lương
Trang 14và ăn trưa quý 1/2006, quý 2/2006
03/03/2007 Khởi kiện
Ô Thắng gửi Toà quận TB
Đơn khởi kiện
- yêu cầu huỷ quyết định sa thải
số 182
- yêu cầu Cty XDHK nhận vào làm việc
- yêu cầu bồi thường thu nhập từ 1/2006 đến ngày nhận làm việc lại
09/03/2007
Xác minh
lý lịch
CAP, Chi
bộ và chính quyền địa phương
công văn xác minh
bố mẹ đẻ a
Ái (thông gia
ô Thắng) đã chuyển vào Nam từ 2004
người làm chứng
Ô Thắng nghỉ k có lý
do chính đáng
(Nam Định)
Chỉ ra sửa chữa nhà khoảng
các thông tin
ô Thắng đưa ra về
Trang 15tháng 5,6/2005; k
có ai ra giúp đỡ
giúp thăm gđ
vợ là sai thực tế
11/04/2007
bản
tự khai
Ô Thắng gửi Toà quận TB
van bản
nói đã có ý kiến của TGĐ Cty XDHK "đồng
ý về nguyên tắc"
người làm chứng
2 thông báo
39 và 41 ra cùng ngày 12/7/2006
2 thông báo
đề 12/7 và 14/7
Ô Thắng có nghĩa vụ chứng minh chưa nhận
tiền trang phục 2006;
thưởng t13/2006 nếu có; thanh toán phép;
ăn trưa quý 2,3,4; lương
bổ sung 6 tháng của năm 2006 và cho đến khi nhận lại việc
các khoản chi cho nhân viên khác
Ô Thắng có nghĩa vụ chứng minh,
có thể nhờ Toà thu thập
Trang 16mới nhận tạm ứng lương đến t4/2006
2 thông báo
đề 12/7 và 14/7
Ô Thắng có nghĩa vụ chứng minh
25/04/2007
Hoà giải k thành
TAND Q.Tân Bình và các bên liên quan
BB hoà giải
k thành
thoả thuận k thành
chi tiết các khoản nhận
và chưa nhận
BB hoà giải k thành
Các bên tham gia ký tên
10/05/2007
QĐ Xét xử
TAND
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ông Trần Ngọc Thắng làm việc trong ngành Hàng không từ năm 1984 đến năm 1991 chuyển sang Công ty Xăng
dầu Hàng Không (XDHK) Ngày 01/7/1999, giữa ông và Công ty XDHK có ký hợp đồng lao động không xác định
thời hạn
Đến tháng 4/2001, ông làm đơn xin nghỉ 1/2 phép năm 2001 và tiếp tục xin nghỉ không hưởng lương vì lý do chăm
sóc mẹ bị bệnh Việc xin nghỉ phép năm cũng như nghỉ không hưởng lương, ông có làm đơn gởi Văn phòng Công
ty phía Nam nơi ông đang làm việc cũng như cho Tổng Công ty ngoài Bắc Ông Thắng cho rằng việc ông nghỉ là
có lý do chính đáng nên mặc dù Công ty không chấp thuận, ông vẫn tự ý nghỉ việc từ ngày 7/5/2001 đến ngày
20/7/2001
Khi tiến hành họp xử lý kỷ luật ông Thắng, Công ty đã gửi GIẤY MỜI lần 1 với nội dung “đúng 8 giờ ngày
11/7/2001 có mặt để lập biên bản về việc tự ý bỏ việc” Ông Thắng không đến Công ty tiếp tục gởi văn bản
Trang 17THÔNG BÁO với nội dung “đúng 14 giờ ngày 12/7/2001 phải có mặt để lập biên bản về việc tự ý bỏ việc” Ông Thắng cũng không đến Công ty lại gởi tiếp THÔNG BÁO lần 3 với nội dung như vậy và còn nhắc rất cụ thể: “Yêu cầu ông Thắng (đương sự) có mặt đúng giờ tại địa điểm trên, nếu không đến được hoặc thay đổi thời gian nói trên thì phải có lý do và báo cáo” Song, ông Thắng vẫn không đến và cũng không nói rõ lý do gì cả Sau ba lần mời và thông báo, Công ty mới lập Biên bản vào lúc 10 giờ ngày 16/7/2001 xác định rõ: “Cả ba lần thông báo ông Thắng đều không có mặt theo giấy báo mà ông Thắng đã nhận được, nhưng ông Thắng không báo lại lý do vắng mặt của ông Thắng” Vì vậy, Giám đốc Công ty XDHK đã ra Quyết định số 182/XDHK-TCCB ngày 3/8/2001 quyết định
kỷ luật ông Trần Ngọc Thắng với hình thức sa thải
Ông Thắng đã có đơn khởi kiện Công ty XDHK tại TAND quận Tân Bình với yêu cầu hủy Quyết định số 182 nói trên và khôi phục quyền lợi cho ông
QUÁ TRÌNH XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN
Sau khi thụ lý đơn kiện của ông Thắng, TAND quận Tân Bình đã tiến hành điều tra, lấy lời khai, thu thập chứng
cứ, tiến hành hòa giải theo đúng quy định của Pháp lệnh TTGQCVALĐ và đưa ra xét xử công khai Bản án số 01/ LĐST ngày 27/12/2001 của TAND quận Tân Bình đã nhận định: Việc ông Thắng tự nghỉ liên tục từ 7/5/2001 – 20/7/2001 là vi phạm kỷ luật lao động… Qua ba lần thông báo đến lập biên bản tự ý bỏ việc ông Thắng đều không
có mặt, mặc dù ông Thắng đã nhận được các thông báo này…
Phía Công ty XDHK căn cứ vào Điều 85 BLLĐ, Điều 11 Chương II Nghị định 41/CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ, đã thông báo hợp lệ ba lần có lập biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động với thành phần đầy đủ do pháp luật quy định Phía Công ty XDHK đã làm đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật để thi hành hình thức kỷ luật “sa thải” Việc xử lý kỷ luật của Công ty XDHK là có cơ sở và đúng pháp luật Từ nhận định đó, Bản án sơ thẩm đã quyết định bác đơn khởi kiện của ông Trần Ngọc Thắng Ông Thắng kháng cáo trong hạn luật định
Bản án phúc thẩm số 46/LĐPT ngày 22/3/2002 của TAND TP HCM nhận định: “Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai xác nhận của ông Trần Ngọc Thắng và của đại diện Công ty XDHK Việt Nam thì ông Trần
Trang 18Ngọc Thắng đã tự ý bỏ việc từ ngày 07/5/2001 đến ngày 20/7/2001 không được sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền”
Về lý do nghỉ việc của ông Thắng, bản án phúc thẩm nhận định: “Xét theo lời khai của ông Thắng ngày 21/2/2002 tại TAND TP HCM thì cha mẹ ông Thắng có 05 người con, trong đó có hai người ở Hàm Tân, Bình Thuận và 01 người con Út ở chung với cha mẹ tại Hàm Tân, Bình Thuận Còn cha mẹ vợ ông Thắng cũng có 05 người con, trong đó có 02 người con ở nước ngoài, còn 03 người con trong đó có vợ ông Thắng sống ở TP HCM Như vậy, việc chăm sóc cha mẹ không phải chỉ có một mình vợ ông Thắng nên không thể chấp nhận việc ông Thắng phải nghỉ để chăm sóc cha mẹ vợ là bất khả kháng
Theo Điều 79 BLLĐ thì người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương nên ông Thắng nghỉ không được sự chấp thuận của Công ty là có lỗi Do đó, có cơ sở để xác định việc ông Thắng
tự ý bỏ việc từ ngày 07/5/2001 – 20/7/2001 là vi phạm Điều 79; điểm c, khoản 1 Điều 85 BLLĐ… Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Trần Ngọc Thắng thừa nhận việc ông Thắng tự ý nghỉ việc khi chưa được sự chấp thuận của cấp
có thẩm quyền của Công ty là cũng có lỗi nhưng cho rằng lý do ông Thắng nghỉ là chính đáng và chưa đến mức xử
lý kỷ luật sa thải là không thể chấp nhận được”
Tuy nhiên, bản án phúc thẩm đã cho rằng, phía Công ty XDHK đã không làm đúng thủ tục xử lý kỷ luật lao động
vì cả ba lần mời ông Thắng chỉ là để “lập biên bản tự ý bỏ việc” chứ không phải mời “để xét xử lý kỷ luật lao động”
Vì sai sót đó nên bản án đã quyết định “chấp nhận đơn kháng cáo của ông Thắng, xử hủy bản án sơ thẩm số 01 và giao toàn bộ hồ sơ vụ án về TAND quận Tân Bình để điều tra xét xử lại theo trình tự sơ thẩm theo hướng đã nhận định trên”
Bản án sơ thẩm (lần 2) số 01/LĐST ngày 10/01/2003 của TAND quận Tân Bình cũng nhận định: “Việc chăm sóc cha mẹ không phải có một mình vợ chồng ông Thắng nên không thể chấp nhận việc ông Thắng phải nghỉ để chăm sóc cha mẹ vợ là bất khả kháng và theo Điều 79 BLLĐ, việc ông Thắng nghỉ không có sự chấp thuận của Công ty
Trang 19là có lỗi Do đó, có cơ sở xác định việc ông Thắng tự ý bỏ việc từ ngày 07/5/2001 đến ngày 20/7/2001 là vi phạm Điều 79, điểm c khoản 1 Điều 85 BLLĐ và khoản 26.40 Điều 26 Nội quy Công ty XDHK Việt Nam”
Về thủ tục, bản án cho rằng cả ba lần Công ty mời ông Thắng đến để “lập biên bản tự ý bỏ việc” chứ không phải mời “để xét xử lý kỷ luật lao động” là không đúng thủ tục quy định tại theo Điều 87 và Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính phủ
Từ nhận định đó, bản án sơ thẩm quyết định hủy Quyết định số 182/XDHK-TCCB ngày 03/08/2001 của Công ty XDHK về việc xử lý kỷ luật hình thức sa thải đối với ông Trần Ngọc Thắng; Buộc Công ty XDHK phải nhận ông Thắng trở lại làm việc ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và buộc Công ty có trách nhiệm thanh toán cho ông Thắng các khoản tiền thuộc quyền lợi của ông
Công ty XDHK lại tiếp tục kháng cáo chờ xét xử phúc thẩm lần 2
Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức “sa thải” trước hết phải căn cứ vào mức độ lỗi của người vi phạm Đây là điều kiện về nội dung Tiếp theo là điều kiện về thủ tục: việc xử lý phải bảo đảm đúng thủ tục để bảo đảm quyền tự bảo chữa của người vi phạm, tức là họ có quyền có mặt trong buổi họp xét kỷ luật với tư cách đương sự Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo căn cứ cho việc xét xử lý
kỷ luật được chặt chẽ, khách quan và công minh Song, có thể nói, điều kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định hình thức kỷ luật thế nào vẫn phải là vấn đề lỗi của người vi phạm
Trong vụ án trên, nếu lấy điều kiện thủ tục làm yếu tố quyết định để đánh giá tính hợp pháp và công bằng của quyết định sa thải thì một nghịch lý sẽ xảy ra: Người sử dụng lao động, do sơ suất nào đó về mặt thủ tục sẽ phải nhận lại người lao động mà sự vi phạm của họ đã khiến bản thân họ xứng đáng bị sa thải Lấy gì đảm bảo sau khi được nhận lại, người vi phạm sẽ trở nên tốt hơn, tôn trọng người sử dụng lao động hơn khi chính mối quan hệ giữa
họ đã bị rạn nứt qua quá trình tố tụng tại tòa án?
Đây là một vấn đề cần nghiên cứu để có giải pháp có hiệu quả hơn trong việc giải quyết các tranh chấp lao động Nên chăng có thể cho phép Tòa án khi gặp phải các trường hợp này, có quyền hủy quyết định sa thải vi phạm thủ