1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12

143 656 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA TOÁN ====== VŨ THỊ PHƯƠNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHỦ ĐỀ NGUYÊN HÀM VÀ TÍCH PHÂN CHO HỌC SINH LỚP 12 KHÓA LUẬN TỐT

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA TOÁN

======

VŨ THỊ PHƯƠNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHỦ ĐỀ

NGUYÊN HÀM VÀ TÍCH PHÂN

CHO HỌC SINH LỚP 12

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Toán

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA TOÁN

======

VŨ THỊ PHƯƠNG

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHỦ ĐỀ

NGUYÊN HÀM VÀ TÍCH PHÂN

CHO HỌC SINH LỚP 12

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Toán

Người hướng dẫn khoa học

ThS ĐÀO THỊ HOA

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Toán trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, những người đã tận tình giúp đỡ và chỉ

bảo cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Ths Đào Thị Hoa, người đã tận

tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận này

Và cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm, động viên, giúp đỡ, đóng góp ý kiến, giới thiệu tài liệu giúp tôi hoàn thành khóa luận

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng trong quá trình tiến hành làm khóa luận, song do năng lực của bản thân còn hạn chế nên khóa luận vẫn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của bản thân với sự

hướng dẫn của Ths Đào Thị Hoa Kết quả khóa luận không trùng khớp với

các công trình nghiên cứu khác, nếu sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Sinh viên

Vũ Thị Phương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Bài tập toán học 5

1.1.1 Khái niệm bài tập toán học 5

1.1.2 Vai trò của bài tập toán học trong quá trình dạy học 5

1.1.3 Phân loại bài tập toán học 7

1.1.4 Phương pháp giải một bài tập toán học 8

1.2 Trắc nghiệm khách quan 9

1.2.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 9

1.2.1.1 Nguồn gốc 9

1.2.1.2 Khái niệm trắc nghiệm 10

1.2.1.3 Trắc nghiệm tự luận (Essay test) 11

1.2.2 Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan 11

1.2.2.1 Ưu, nhược điểm 11

1.2.2.2 So sánh tự luận và trắc nghiệm khách quan 13

1.2.3 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan thông dụng 17

1.2.3.1 Dạng câu hỏi “đúng – sai” (Yes/No questions) 17

1.2.3.2 Dạng câu hỏi có nhiều lựa chọn (multiple choice questions) 17

1.2.3.3 Dạng câu hỏi ghép đôi (matching items) 19

1.2.3.4 Dạng câu hỏi điền khuyết (Supply items) 20

1.2.5 Quy tắc xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan 22

1.2.5.1 Tiêu chuẩn của trắc nghiệm khách quan 22

1.2.5.2 Quy tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 23

1.2.5.3 Những điều cần lưu ý khi soạn một bài trắc nghiệm 24

1.2.6 Các bước cơ bản xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan 25

1.2.6.1 Nắm đề cương môn học, phần học, chương học 25

Trang 6

1.2.6.2 Xác định mục tiêu cần đo lường, đánh giá 25

1.2.6.3 Xây dựng kế hoạch trắc nghiệm 26

1.2.6.4 Soạn thảo bài tập trắc nghiệm 26

1.2.6.5 Tự kiểm tra lại các bài tập trắc nghiệm 26

1.2.6.6 Hoàn thành bài tập trắc nghiệm 26

1.3 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề phương pháp tọa độ trong không gian trong dạy học ở phổ thông 27

1.3.1 Tình hình sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học hiện nay 27

1.3.2 Sự cần thiết xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học 29

1.3.3 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN CHỦ ĐỀ NGUYÊN HÀM VÀ TÍCH PHÂN CHO HỌC SINH LỚP 12 34

2.1 Nguyên hàm và tích phân 34

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 34

2.1.2 Mục tiêu chương trình 36

2.1.2.1 Về kiến thức 36

2.1.2.2 Về kỹ năng 36

2.1.2.3 Tư duy, thái độ 37

2.1.3 Nội dung và triển khai của chương 37

2.1.4.1 Nguyên hàm 38

2.1.4.2 Tích phân 41

2.1.4.3 Ứng dụng tích phân 44

Trang 7

2.2 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề Phương pháp

tọa độ trong không gian cho học sinh lớp 12 46

2.2.1 Kế hoạch xây dựng 46

2.2.2 Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan 47

2.4 Kiểm nghiệm hệ thống bài tập trắc nghiệm 78

2.4.1 Mục đích kiểm nghiệm 78

2.4.2 Nội dung kiểm nghiệm 78

2.4.2.2 Thời gian tiến hành kiểm nghiệm Error! Bookmark not defined 2.4.2 Nội dung kiểm nghiệm Error! Bookmark not defined 2.4.3 Phương pháp kiểm nghiệm 79

2.4.4 Kết quả kiểm nghiệm 79

Kết luận chương 2 82

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Năm 2010, Bộ đã ban hành hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra, trong đó

có hướng dẫn biên soạn đề trắc nghiệm khách quan cho các môn học, kể cả môn toán [1] Từ đó đến nay, giáo viên các trường phổ thông ra đề kiểm tra đã kết hợp hình thức thi tự luận và trắc nghiệm khách quan Theo lộ trình thay đổi hợp lí qua các năm, Bộ Giáo dục và đào tạo tin tưởng, việc tổ chức thi trắc nghiệm môn toán trong kì thi THPT quốc gia 2017 là hoàn toàn khả thi và đúng đắn

Trên thực tế, trắc nghiệm không hoàn toàn thay thế tự luận Song với những ưu điểm của mình, trắc nghiệm khách quan chắc chắn sẽ đóng vai trò to lớn trong công cuộc đổi mới dạy và học cũng như kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh trong môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung

Trong những chủ đề của kỳ thi THPT Quốc gia năm 2017 em đặc biệt quan tâm đến nội dung “Nguyên hàm và tích phân” với con số 14% tổng số câu hỏi trong đề thi [2] Ngẫm câu nói của nhà văn Lỗ Tấn: “Trên thế gian này làm gì có đường người ta đi mãi thì thành đường thôi” và em đã bắt đầu hành trình tìm con đường là cầu nối giữa trắc nghiệm và chủ đề đề này Cũng vì tình yêu với nguyên hàm và tích phân từ lúc em còn theo học dưới mái trường trung học phổ thông với một chăn trở: “Liệu trắc nghiệm có đưa được các bài toán dưới hình thức thi tự luận trước đây để kiểm tra kiến thức của học sinh được hay không? Nếu có ta phải làm như thế nào và nếu không thì ta phải ra đề như thế nào và bài toán nguyên hàm, tích phân trắc nghiệm khác có ưu điểm gì

và cần khắc phục nhược điểm gì?”

Mặt khác, nguyên hàm và tích phân được đề cập trong phần kiến thức cuối cùng của chương trình Giải tích lớp 12 nên có thể không được học sinh chú ý, trọng tâm và dễ bị sao nhãng Chủ đề này là chủ đề khá quan trọng

Trang 9

không chỉ trong chương trình toán ở phổ thông mà còn xuyên suốt trong các nội dung nghiên cứu toán học sau này, hơn nữa việc đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (các bài toán) còn khá ít và chưa phát huy được khả năng

tư duy logic cho người học vì các em học sinh thường có xu hướng sử dụng máy tính hay các tư duy máy móc để mò ra đáp Như một ngọn lửa thôi thúc,

em tự nhận thấy mình cần tìm một hướng xây dựng hệ thống bài tập trắc nhiệm

để làm hành trang vào nghề cho bản thân nói riêng và góp phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới hình thức kiểm tra trắc nghiệm nói chung góp phần nâng cao chất lượng dạy, học cũng như kiểm tra đánh giá và giữ được vẻ đẹp của

toán học thuần túy Vì vậy em quyết định chọn đề tài“Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên và tích phân cho học sinh lớp 12”cho khóa luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12 để hỗ trợ cho việc dạy, học và kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh khi học chủ đề này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề: “Nguyên hàm và tích phân”, trong chương trình giải tích lớp 12 nâng cao

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về bài tập trắc nghiệm khách quan

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân trong dạy học ở phổ thông

- Nghiên cứu nội dung nguyên hàm và tích phân trong chương trình giải tích lớp 12 nâng cao

- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm tích phân cho học sinh lớp 12 cung cấp hướng dẫn và đáp án

Trang 10

- Kiểm định chất lượng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan đã được xây dựng và việc sử dụng nó trong dạy học bằng kiểm nghiệm sự phạm

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, nhà nước về chương trình giáo dục và đạo tạo

- Nghiên cứu sách giáo khoa và sách tham khảo, tạp trí toán học và tuổi trẻ và khóa luận… Có liên quan đến trắc nghiệm khách quan, kiểm tra đánh giá, phương pháp dạy học môn toán, chủ đề nguyên hàm và tích phân

5.2 Phương pháp quan sát và điều tra

Tìm hiểu thái độ học tập của học sinh, tìm hiểu đánh giá của giáo viên, học sinh về tác dụng của hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong việc dạy học môn toán cũng như tính khả thi của việc sự dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan vào dạy học Giải tích lớp 12

5.3 Phương pháp kiểm nghiệm sư phạm

Kiểm nghiệm chất lượng của hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan và tính khả thi của những gợi ý cơ bản được trình bày trong khóa luận

6 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được một hệ thông bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân phù hợp với học sinh lớp 12 thì sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống bài tập chủ đề này ở trường phổ thông

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung chính của khóa luận bao gồm 2 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Trang 11

Chương 2 Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Bài tập toán học

1.1.1 Khái niệm bài tập toán học

Bài toán được hiểu là: “Tất cả những câu hỏi cần giải đáp về một kết quả chưa biết cần tìm bắt đầu từ một số dữ kiện, hoặc về một phương pháp cần khám phá, mà theo phương pháp này sẽ đạt được kết quả đã biết” [9]

Bài toán đặt ra sự cần thiết phải tìm hiểu một cách có ý thức phương tiện thích hợp để đạt tới một mục đích trông thấy rõ ràng nhưng không thể đạt được ngay [3]

Như vậy, bài tập toán học là bài toán trong đó có những yêu cầu đặt ra cho người học để tập vận dụng những điều được học

1.1.2 Vai trò của bài tập toán học trong quá trình dạy học

Bài tập toán học có vai trò quan trọng trong môn Toán Thông qua giải bài tập, học sinh phải thực hiện những hoạt động nhất định bao gồm cả nhận dạng

và thể hiện định nghĩa, định lý, quy tắc hay phương pháp, những hoạt động Toán học phức hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong Toán học, những hoạt động trí tuệ chung và những hoạt động ngôn ngữ Cụ thể, bài tập toán học có vai trò:

a Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo cho học sinh

Khi giải một bài tập, học sinh phải đi từ việc nghiên cứu đề bài đến tìm đáp

án Để làm được điều này học sinh phải trải qua một quá trình quan sát, tổng hợp, phán đoán…

Quá trình giải bài tập không phải bắt đầu từ con số “0” mà phải dựa vào kinh nghiệm thực tiễn, những kiến thức mà học sinh đã tích lũy từ trước Các em phải nhớ, hiểu và vận dụng được những kiến thức và kinh nghiệm đó thì mới giải được bài tập

Trang 13

Như vậy, khi giải một bài tập toán học cả một hệ thống kiến thức liên quan tới bài tập được củng cố qua lại nhiều lần Qua đó, người học hiểu sâu hơn kiến thức, đồng thời giúp cho việc hoàn chỉnh hay bổ sung cho những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lý thuyết và biết vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết những tình huống cụ thể

Ngoài ra, thông qua giải bài tập toán học, học sinh cũng được rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo ở các khâu khác nhau của quá trình giải bài tập, kể cả kĩ năng ứng dụng Toán học vào thực tiễn

b Rèn luyện phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh

Bài tập toán học giúp phát triển năng lực tư duy, giúp học sinh năng động, sáng tạo trong học tập, phát huy khả năng suy luận tích cực, đặc biệt là rèn luyện những thao tác trí tuệ và hình thành những phẩm chất tư duy khoa học Khi giải bài tập, trí tuệ của học sinh phải vận động đi từ những điều kiện đã biết để tìm ra câu trả lời Hoạt động trí tuệ của học sinh rất đa dạng: quan sát, vận dụng trí nhớ, các thao tác tư duy như so sánh, tổng hợp, khái quát, suy luận…cho nên sau mỗi lần giải bài tập thành công, niềm tin và năng lực của học sinh càng được phát triển và củng cố Đó là một trong những cơ sở quan trọng để các em mạnh dạn bước vào con đường sáng tạo

c Rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức Toán học cho học sinh

Một trong những yêu cầu của việc nắm vững kiến thức của bất cứ bộ môn khoa học nào là vận dụng các kiến thức của bộ môn khoa học đó vào giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, tức là giải quyết được các bài toán đặt ra trong lĩnh vực khoa học đó

Hơn nữa, mỗi bài tập toán học là giá mang hoạt động liên hệ với những nội dung Toán học nhất định, là một phương tiện cài đặt nội dung đề hoàn chỉnh hay bổ sung cho tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lý thuyết Chính

vì thế mà thông qua việc giải quyết các bài tập toán học, học sinh sẽ được rèn

Trang 14

luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức Toán học, đồng thời mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú

d Bồi dưỡng, phát triển nhân cách cho học sinh

Điểm cơ bản trong tính cách của con người là mọi hoạt động đều có mục đích rất rõ ràng Khi giải một bài toán ta luôn có định hướng mục đích rõ rệt,

vì vậy việc giải toán sẽ góp phần tích cực vào việc hiểu năng lực hoạt động của con người, rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực, lòng say

mê học tập, niềm tin vào khoa học và sức mạnh của bản thân Niềm tin này có được là do trong quá trình độc lập vận dụng kiến thức, độc lập tìm được đáp

số đã giúp các em có những phương pháp giải quyết đúng đắn các vấn đề đặt

ra, nhất là đối với bài toán khó, các em phải vượt qua rất nhiều khó khăn, phải kiên trì nhẫn nại và nhiều khi phải quyết tâm rất lớn mới giải được

Nói theo cách của G Pôlya là: Khát vọng và quyết tâm giải được một bài toán là nhân tố chủ yếu của mọi quá trình giải toán Do vậy, ta thấy rằng: Hoạt động giải toán chính là nhân tố chủ yếu của quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người

1.1.3 Phân loại bài tập toán học

Dựa theo nhiều cơ sở có thể chia bài tập toán học ra thành nhiều loại

nhỏ:

a Phân loại theo hình thức bài tập:

- Bài toán chứng minh: Là bài toán mà kết luận của nó đã được đưa ra một cách rõ ràng trong đề bài

- Bài toán tìm tòi: Là bài toán trong đó kết luận của nó chưa có sẵn trong đề bài

b Phân loại theo phương pháp giải bài tập:

- Bài tập có angôrit giải: Là bài tập mà phương pháp giải của nó theo một angôrit nào đó hoặc mang tính chất angôrit nào đó

Trang 15

- Bài tập không có angôrit giải: Là bài tập mà phương pháp giải của nó không theo một angôrit nào đó hoặc không mang tính chất angôrit nào đó

c Phân loại theo nội dung bài tập:

- Bài tập số học

- Bài tập đại số

- Bài tập hình học

d Phân loại theo ý nghĩa bài tập:

- Bài tập củng cố kỹ năng: Là bài tập nhằm củng cố trực tiếp ngay sau khi học hoặc một vài kiến thức hay kĩ năng nào đó

- Bài tập phát triển tư duy: Là bài tập nhằm củng cố một hệ thống các kiến thức cũng như kỹ năng nào đó hoặc đòi hỏi phải có một khả năng tư duy phân tích, tống hợp hoặc vận dụng một cách sáng tạo

1.1.4 Phương pháp giải một bài tập toán học

Trong môn Toán ở trường phổ thông có nhiều bài toán chưa có hoặc không có thuật giải và cũng không có một thuật giải tổng quát nào để giải tất

cả các bài toán Chúng ta chỉ có thể thông qua việc dạy học giải một số bài toán cụ thể mà dần dần truyền thụ cho học sinh cách thức, kinh nghiệm trong việc suy nghĩ tìm tòi lời giải cho mỗi bài toán

Dạy học giải bài tập toán học không có nghĩa là giáo viên cung cấp cho học sinh lời giải bài toán Biết lời giải của bài toán không quan trọng bằng làm thế nào để giải được bài toán Việc trang bị cho học sinh những hướng dẫn chung, gợi ý cách suy nghĩ tìm tòi, phát hiện cách giải bài toán là có thể

và cần thiết

Dựa trên những tư tưởng tổng quát cùng với những gợi ý chi tiết của Polya về cách thức giải bài toán đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn dạy học, có thể nêu lên phương pháp chung để giải bài toán như sau:

Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài

Trang 16

 Phát biểu đề bài dưới những dạng thức khác nhau để hiểu nội dung bài toán;

 Phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải chứng minh;

 Có thể dùng công thức, kí hiệu, hình vẽ để hỗ trợ cho việc diễn tả đề bài

 Kiểm tra lời giải bằng cách xem kĩ từng bước thực hiện hoặc đặc biệt hóa kết quả tìm được hoặc đối chiếu kết quả với một số tri thức có liên quan…

 Tìm tòi những cách giải khác, so sánh chúng để chọn cách giải hợp lý nhất

Bước 3: Trình bày lời giải

Từ cách giải đã được phát hiện, sắp xếp các việc phải làm thành một chương trình gồm các bước theo một trình tự thích hợp và thực hiện các bước

đó

Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải

 Nghiên cứu khả năng ứng dụng kết quả của lời giải

 Nghiên cứu giải những bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn đề

1.2 Trắc nghiệm khách quan

1.2.1 Khái niệm trắc nghiệm khách quan

1.2.1.1 Nguồn gốc

Trang 17

Trắc nghiệm xuất hiện từ thế kỉ 19, do một nhà khoa học người Mỹnghĩ ra nhằm thử đánh giá trí thông minh của con người Sau đó, hai nhà tâm lý học người Phápsoạn ra bộ giáo án trắc nghiệm

1.2.1.2 Khái niệm trắc nghiệm

Theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy xét", "chứng thực"

Trong giáo dục học trắc nghiệm là phương pháp đo lường, kiểm chứng nhằm miêu tả những tập hợp bằng chứng và phán đoán về thành tích học tập hay đánh giá mức độ đạt được mục tiêu học tập đã đặt ra

Lí luận về trắc nghiệm có rất nhiều cách hiểu khác nhau trong đó có một số cách hiểu sau:

+ Theo Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”; [4]

+ Theo A.Petropxi (1970) cho rằng: “Trắc nghiệm là bài tập làm trong thời gian ngắn mà việc thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng và chất lượng có thể coi là sự hoàn thiện một số chức năng tâm lý”; [13]

+ Theo Trần Bá Hoành: “Trắc nghiệm là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh (thông minh, trí nhớ, trí tưởng tượng, chú ý…)”; [8]

+ Theo Gronlund (1981), “Trắc nghiệm là một công cụ hay quy trình hệ thống nhằm đo lường mức độ cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể nào đó”; [5]

+ Cho tới nay người ta vẫn hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi

có kèm câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng kí hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời;

Trang 18

Có hai hình thức trắc nghiệm là trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

1.2.1.3 Trắc nghiệm tự luận (Essay test)

c Trắc nghiệm khách quan (Objective test)

Trắc nghiệm khách quan cũng có nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau trong đó có một số cách hiểu sau:

+ Trắc nghiệm khách quan là bài kiểm tra, trong đó nhà sư phạm đưa ra các mệnh đề và có các câu trả lời khác nhau, yêu cầu người học phải chọn đáp án phù hợp;

+ Trắc nghiệm khách quan thường bao gồm nhiều mệnh đề, câu hỏi hay mô hình (tranh, ảnh, sơ đồ) và được trả lời bằng các dấu hiệu đơn giản, hay một

từ, cụm từ, đôi khi là các con số… Trắc nghiệm khách quan mang tính quy ước vì hệ thống đánh giá bằng điểm mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá;

+ Theo Ts Sái Công Hồng thì “Trắc nghiệm khách quan là một phương tiện kiểm tra, đánh giá về kiến thức hoặc để thu thập thông tin”

Tóm lại, dù hiểu theo quan điểm nào thì theo tôi TNKQ vẫn là một phương pháp kiểm tra đánh giá bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan

1.2.2 Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan

1.2.2.1 Ưu, nhược điểm

Trang 19

- Bài trắc nghiệm tốt có thể kiểm tra được khả năng phân tích, suy nghĩ đa dạng, óc phê phán của học sinh Đặc biệt là phát huy được tính tích cực học tập của học sinh

 Khảo sát được số lượng lớn thí sinh

 Kết quả nhanh

 Điểm số đáng tin cậy

 Công bằng, chính xác, vô tư

- Yếu tố may rủi vẫn còn

- Khó kiểm tra, đánh giá bề sâu của kiến thức

- Hạn chế kỹ năng diễn đạt bằng lời hoặc viết, khả năng lập luận, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh Do đó ít góp phần phát triển ngôn ngữ nói và viết Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trắc nghiệm đang được sử dụng phổ biến, mở rộng phạm vi, tác dụng bằng những loại hình thích hợp Cần căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu kiểm tra đánh giá, yêu cầu của từng nội dung dạy học, vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để quyết định trường hợp nào nên sử dụng trắc nghiệm khách quan, trường hợp nào không và trường hợp nào nên phối hợp trắc nghiệm với những phương pháp khác Không thể chấp nhận một câu trả lời tuyệt đối: dùng trắc nghiệm thay thế tất cả các phương pháp khác hoặc không được sử dụng trắc nghiệm trong nhà trường

 Thí sinh có khuynh hướng đoán mò đáp án (Độ may rủi: là xác suất thí sinh đoán mò và làm đúng)

 Không thấy rõ diễn biến tư duy của thí sinh

 Khó soạn đề và tốn công sức

Trang 20

 Theo quan điểm của nhiều người, việc áp dụng thi trắc nghiệm trong kỳ thi tuyển sinh Đại học ở Việt Nam là không thích hợp trong tình hình hiện nay.Về sâu xa, thi trắc nghiệm thực sự có hiệu quả khi cần sàng lọc ở cấp thấp về tri thức

1.2.2.2 So sánh tự luận và trắc nghiệm khách quan

a Giống nhau

- Đều đo lường, đánh giá các kết quả giáo dục của người học

- Đều nhằm mục đích kiểm tra trình độ nhận thức, năng lực tư duy và kỹ năng, kỹ xảo của người học, tạo cho các em hứng thú trong học tập

- Cả hai hình thức vẫn ít nhiều mang tính chủ quan

- Kết quả đánh giá của trắc nghiệm hay tự luận luôn đủ độ tin cậy

b Khác nhau

Bảng 1 So sánh câu hỏi/đề thi

quan

Chấm điểm Thiếu chính xác và thiếu

khách quan hơn

Chính xác và khách quan hơn

Trang 21

Bảng 2 So sánh tổng hợp

Tiêu chuẩn đánh

giá

Trắc nghiệm khách quan

Tự luận

Hình thức

câu hỏi / đề

thi

- Một bộ câu hỏi trong đó

mỗi câu hỏi đều kèm theo các phương án trả lời cho sẵn để học sinh lựa chọn phương án trả lời

- Khó soạn câu hỏi

- Dễ sai về diễn đạt, nội dung câu hỏi thiếu chính xác (vì có nhiều câu hỏi nên khó rà soát)

- Một bộ câu hỏi trong đó mỗi câu hỏi không kèm theo các phương án trả lời mà học sinh phải tự luận để đưa

ra câu trả lời

- Dễ soạn câu hỏi

- Ít bị sai sót về diễn đạt, nội dung rõ rang

- Có nhiều câu hỏi nên khó nhớ, dễ bảo mật

- Tốn ít thời gian làm bài,

đề kiểm tra có thể phủ toàn

bộ chương trình

- Tốn nhiều thời gian cho việc in ấn, nhân đề

- Khó xây dựng đáp án, hướng dẫn chấm, xây dựng đáp án phức tạp

- Khó bảo mật đề thi do có

ít câu hỏi

- Phải dành nhiều thời gian cho học sinh làm bài, khó kiểm tra toàn bộ chương trình

- Không tốn nhiều công sức

in ấn đề

Trang 22

Mức độ phức tạp

khi tổ chức thi,

kiểm tra

- Học sinh khó sử dụng tài liệu, loại trừ tiêu cực trong thi cử

- Học sinh dễ quay cóp sử dụng tài liệu, dễ xảy ra tiêu cực trong thi cử

- Học sinh có thể đoán mò phương án trả lời đúng

- Học sinh phát huy được năng lực sáng tạo khi làm bài

- Học sinh không đoán được câu trả lời đúng

Độ tin cậy

của đề thi

- Độ tin cậy cao hơn

- Có thể đánh giá đầy đủ các mức nhận thức nếu các câu hỏi được soạn kỹ

- Độ tin cậy thấp

- Dễ đánh giá được các mức nhận thức cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá)

Tính giá trị

của đề thi

- Bao quát toàn bộ chương trình nên đánh giá chính xác hơn, có thể có độ

giá trị cao hơn

- Không bao quát toàn bộ chương trình nên độ giá trị

- Chấm điểm thiếu chính xác, phụ thuộc vào ý chủ quan của người chấm

Mức độ

phức tạp khi

- Có nhiều phần mềm để phân tích, đánh giá câu hỏi,

- Khó phân tích, đánh giá câu hỏi

Trang 23

phân tích,

đánh giá

câu hỏi thi

lựa chọn những câu hỏi có chất lượng

 Một bài luận đề có rất ít câu hỏi nhưng thí sinh phải diễn đạt bằng lời lẽ dài dòng, còn một bài trắc nghiệm có rất nhiều câu hỏi nhưng chỉ đòi hỏi trả lời ngắn gọn nhất

 Làm bài luận đề cần nhiều thời gian để suy nghĩ và diễn đạt, còn khi làm trắc nghiệm thời gian đó cần để đọc và suy nghĩ

 Chất lượng bài luận đề phụ thuộc vào kỹ năng người chấm bài, còn chất lượng bài trắc nghiệm phụ thuộc vào kỹ năng người ra đề

 Một đề bài luận đề tương đối dễ soạn nhưng khó chấm điểm, còn trắc nghiệm thì khó soạn nhưng dễ chấm điểm

 Với bài luận đề, thí sinh tự do bộc lộ suy nghĩ cá nhân, người chấm tự

do cho điểm theo xu hướng riêng; bài trắc nghiệm chỉ chứng tỏ kiến thức thông qua tỉ lệ câu trả lời đúng, người ra đề tự bộc lộ kiến thức thông qua việc đặt câu hỏi

 Một bài trắc nghiệm cho phép và đôi khi khuyến khích sự "phỏng đoán" đáp án, nhưng một bài luận đề cho phép sử dụng ngôn từ hoa

mỹ, khó có bằng chứng để "lừa phỉnh" đáp án

Trang 24

Qua việc so sánh trên ta thấy sự khác nhau rõ rệt nhất giữa tự luận và trắc

nghiệm khách quan là ở tính khách quan, công bằng, chính xác Do đó cần phải nắm vững bản chất, ưu nhược điểm của từng phương pháp để có thể sử dụng mỗi phương pháp một cách hiệu quả, đúng lúc, đúng chỗ

1.2.3 Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan thông dụng

1.2.3.1 Dạng câu hỏi “đúng – sai” (Yes/No questions)

Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải là câu hỏi), học sinh đưa ra nhận định và lựa chọn một trong hai phương án trả lời Đúng hoặc Sai

Loại câu hỏi này có 50% xác suất trả lời đúng nên chỉ thích hợp cho việc kiểm tra những kiến thức sự kiện, khái niệm, công thức Chúng thường đòi hỏi trí nhớ, ít kích thích suy nghĩ, khả năng phân loại học sinh rất thấp

 Nhược điểm:

+ Có thể khuyến khích sự đoán mò;

+ Khó dùng để chẩn định yếu điểm của học sinh;

+ Có độ tin cậy thấp;

+ Khoảng lựa chọn quá hạn hẹp

1.2.3.2 Dạng câu hỏi có nhiều lựa chọn (multiple choice questions)

Trang 25

Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất Loại này thường có hai phần: phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu một câu hỏi; phần sau là các phương án để chọn thường được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D hoặc các số 1, 2, 3, 4 Trong các phương án

đã chọn chỉ có duy nhất một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu, còn gọi là câu mồi Do vậy khi các câu lựa chọn được chuẩn bị tốt thì một người không có kiến thức chắc chắn về vấn đề đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu là phương án nhiễu

 Ưu điểm:

+ Có thể đo được khả năng tư duy Giáo viên có thể dùng loại này để đánh giá mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau như: xác định mối tương quan “nhân – quả”, nhận biết các điều sai lầm, ghép các kết quả hay điều quan sát với nhau, nhận biết đặc điểm tương đồng hay dị biệt giữa 2 hay nhiều vật…

+ Độ tin cậy cao hơn Yếu tố đoán mò may rủi giảm đi so với các loại trắc nghiệm khách quan khác khi số phương án lựa chọn tăng lên

+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt rõ ràng khi trả lời các câu hỏi

+ Tính chất giá trị tốt hơn Loại trắc nghiệm này có độ giá trị cao hơn nhờ tính chất có thể dùng đo mức độ tư duy khác nhau

+ Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi Dùng phương pháp phân tích tính chất mỗi câu hỏi, chúng ta có thể xác định câu hỏi nào quá dễ, câu hỏi nào quá khó, câu hỏi nào mơ hồ hay không có giá trị với mục tiêu cần trắc nghiệm

+ Tính chất khách quan khi chấm

 Nhược điểm:

+ Khó soạn câu hỏi Điều khó ở chỗ phải cho được câu trả lời đúng nhất trong lúc các câu, các phương án trả lời khác để chọn cũng phải có vẻ hợp lý Thêm

Trang 26

vào đó các câu hỏi phải đo được các mục tiêu ở mức năng lực nhận thức cao

hơn ở mức nhớ Vì vậy cần yêu cầu cao ở giáo viên khi soạn câu hỏi

+ Thí sinh có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phương án

đúng đã cho, nên họ có thể không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu

+ Các câu trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời để lựa chọn có thể đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách hiệu nghiệm bằng câu hỏi tự suy luận soạn kỹ

1.2.3.3 Dạng câu hỏi ghép đôi (matching items)

Có thể xem đây là một dạng đặc biệt của dạng trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, dạng câu hỏi này thường gồm hai cột thông tin, một cột là những câu hỏi (hay câu dẫn) một cột là những câu trả lời (hay còn gọi là câu lựa chọn), yêu cầu học sinh phải tìm cách ghép các câu trả lời ở cột này với câu hỏi ở cột khác sau cho hợp lý

Trang 27

+ Dễ trả lời thông qua loại trừ

+ Không cho thấy khả năng sử dụng các thông tin ghép đôi

1.2.3.4 Dạng câu hỏi điền khuyết (Supply items)

Còn được gọi là trả lời ngắn (short answer), đây là dạng trắc nghiệm khách quan có câu trả lời tương đối tự do Thường chúng ta nêu ra một mệnh

đề có khuyết một bộ phận, học sinh nghĩ ra nội dung trả lời thích hợp để điền vào chỗ trống, thường là những câu trả lời có nội dung ngắn ngọn hoặc một

+ Dễ soạn hơn các loại trắc nghiệm khác

+ Loại này rất thích hợp cho những vấn đề như tính toán, cân bằng phương trình hóa học, nhận biết các vùng trên bản đồ, giản đồ

+ Giúp học sinh luyện trí nhớ và vận dụng chúng trong giờ học

 Nhược điểm:

+ Người soạn thường trích nguyên văn các câu trả lời từ sách giáo khoa

+ Việc chấm bài mất nhiều thời gian và không khách quan

+ Khi có nhiều chỗ chừa trống trong câu hỏi, người làm sẽ rối trí hơn

1.2.4 Vai trò của trắc nghiệm khách quan

- Trắc nghiệm khách quan được dùng trong kiểm tra, đánh giá đã mang lại hiệu quả cao hơn so với các phương pháp kiểm tra đánh giá khác, cụ thể

+ Kiểm tra được kiến thức trên diện rộng trong khoảng thời gian ngắn, tránh việc học tủ, học lệch của học sinh;

Trang 28

+ Cung cấp cho học sinh kiến thức mới và củng cố kiến thức cơ bản qua bài kiểm tra;

+ Đánh giá chính xác mức độ nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học;

- Hiện nay, với quan điểm dạy học tích cực (lấy người học làm trung tâm) thì trắc nghiệm khách quan được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như + Sử dụng trong khâu bài học mới: Giáo viên có thể cho các em làm câu hỏi trắc nghiệm khách quan, cho học sinh lựa chọn phương án nào là đúng nhất

và phát vấn thêm học sinh tại sao lại chọn phương án đó Học sinh phải tìm tòi tài liệu mới trả lời được Do vậy, giáo viên phải khéo léo dẫn dắt học sinh vào bài mới và đây là biện pháp rất có hiệu quả;

+ Sử dụng trong việc tự học của học sinh: Học sinh được giao những bài tập

về nhà sau mỗi buổi học nhằm tạo cho các em thói quen học bài cũ theo một cách mới không còn thụ động như trước nữa Mặt khác, tạo hứng thú cho các

em trong việc tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức;

+ Sử dụng vào việc lập kế hoạch giảng dạy: Trắc nghiệm khách quan được sử dụng nhằm mục đích kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh sau một năm học, đồng thời giúp nhà trường tìm được những yếu kém trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học;

+ Sử dụng trong khâu ôn tập, củng cố, hoàn thiện và nâng cao: Sau mỗi bài học, mỗi chương đều nên có những bài kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan sẽ giúp học sinh nhớ kiến thức lâu hơn mà không phải học vẹt như trước đây

Như vậy, để đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả thì phải đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá Một trong những phương pháp đạt hiệu quả

là sử dụng trắc nghiệm khách quan.Mặt khác, trắc nghiệm khách quan còn có thể sử dụng ở các khâu trong quá trình dạy học và mang lại hiệu quả cao

Trang 29

1.2.5 Quy tắc xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan

1.2.5.1 Tiêu chuẩn của trắc nghiệm khách quan

- Tiêu chuẩn định lượng:

 Độ phân biệt dương và khá cao D  0,4

 Các phương án nhiễu thu hút được nhiều học sinh

- Tiêu chuẩn định tính

+ Phần câu dẫn phải rõ ràng, ngắn gọn, xúc tích, nội dung phải phù hợp với đối tượng, tránh lời dẫn rườm rà, có tính đánh lừa học sinh;

Trang 30

 Tính tương tự của cấu trúc câu trả lời thống nhất về mặt ngữ pháp;

 Không nên dùng các từ như “luôn luôn”, “có bao giờ”, “chỉ tất cả”… có thể sẽ là gợi ý cho người trả lời

1.2.5.2 Quy tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Phần câu dẫn:

+ Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;

+ Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;

+ Không nên trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;

+ Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;

+ Phải nêu lên được các vấn đề riêng lẻ, trung tâm Mỗi câu hỏi phải được biểu thị một cách độc lập;

+ Phát biểu trong câu dẫn phải đơn giản, chính xác về cú pháp và phải chứa những dữ kiện phù hợp, cần thiết cho lời giải của nó Không nên dùng những câu có tính gợi ý như: luôn luôn, có bao giờ, chỉ tất cả… sẽ làm cho học sinh

có thể đoán mò;

+ Câu dẫn được đưa ra chỉ nên chứa các dữ kiện liên quan đến lời giải;

+ Câu dẫn đưa ra ở dạng câu hỏi trực tiếp hơn là ở dạng phát biểu chưa hoàn thành Vì dạng chưa hoàn thành những phát biểu về mặt ngôn ngữ học sinh sẽ không suy ra phương án lựa chọn tốt nhất;

+ Một câu hỏi đòi hỏi học sinh biểu thị ý kiến của nội dung câu dẫn chứ không phải ý kiến chủ quan của học sinh;

+ Tránh dùng câu hỏi có tính chất đánh lừa học sinh;

Trang 31

- Phần câu trả lởi:

+ Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;

+ Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;

+ Phương án lựa chọn nên đặt ngẫu nhiên, không nên đặt có định ở một vị trí; + Các phương án trả lời phải đặt theo thứ tự logic (1, 2, 3…);

+ Phải xây dựng những câu trả lời có tính chất gây nhiễu để học sinh có tính

tư duy Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến thức;

+ Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của học sinh;

+ Các phương án lựa chọn càng ngắn gọn càng tốt, tránh liên quan đến việc

đo lường khả năng đọc hiểu;

+ Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có phương án nào đúng”

1.2.5.3 Những điều cần lưu ý khi soạn một bài trắc nghiệm

Khi soạn một bài tập trắc nghiệm khách quan cần tránh những điều sau:

+ Xây dựng câu hỏi một cách chủ quan theo ý của người ra câu hỏi, không dựa vào kết cấu của chương trình học Cơ cấu của câu hỏi phải dựa vào tầm quan trọng của từng chương, từng bài;

+ Phần đáp án quá rõ (học sinh không có kiến thức vẫn có thể trả lời được) hoặc quá chung chung (gây tranh cãi);

+ Các câu trả lời loại bỏ nhau;

+ Thiếu căn cứ đối với câu trả lời sai Câu trả lời sai phải hợp lý, nên dùng các từ ngữ quen;

+ Dùng nhiều từ ngữ mang tính tuyệt đối hóa như: “tất cả”, “luôn luôn”,

“không bao giờ”, “hiếm khi”,…hoặc các từ có ý nghĩa mập mờ như: “thường

Trang 32

là”, “tiêu biểu là”, “có lẽ”, … hoặc các đáp án như “ tất cả các câu trên là đúng”, “không câu nào trên đây là đúng”,…

+ Dùng các câu phủ định hai lần;

+ Đưa ra quá nhiều câu trả lời (tối đa là bốn);

+ Hình thức bên ngoài các câu trả lời là khác xa nhau Các câu trả lời dạng lựa chọn nên cùng độ dài và cấu trúc ngữ pháp;

+ Phần đáp án có các nội dung quá sát nhau;

+ Một số câu hỏi gợi ý trả lời cho câu hỏi khác;

+ Lặp lại nội dung trong các câu hỏi khác nhau;

+ Dùng từ địa phương trong các câu hỏi;

+ Dùng từ quá chuyên sâu, phạm vi sử dụng quá hẹp;

+ Câu hỏi mang tính giải thích, dài, nhiều mệnh đề Nên dùng câu ngắn, có kết cấu rõ ràng (chủ ngữ, vị ngữ…);

+ Trích nguyên một câu, một cụm từ có sẵn trong sách giáo khoa hoặc trong phần câu hỏi vào phần đáp án

1.2.6 Các bước cơ bản xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan

Để có một bài tập trắc nghiệm khách quan đảm bảo đo lường tốt các mục tiêu đã xác định, quá trình xây dựng cần tiến hành các bước nhất định, bao gồm:

1.2.6.1 Nắm đề cương môn học, phần học, chương học

Để xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan trước hết cần có sự phân tích nội dung của bài học; phân chia nội dung đó thành các nội dung cụ thể hơn và xác định tầm quan trọng của từng nội dung đó để có sự phân bố phù hợp Người biên soạn cần xác định rõ mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ

mà học sinh cần đạt được sau khi học xong bài học để làm cơ sở cho việc xây dựng các bài tập trắc nghiệm

1.2.6.2 Xác định mục tiêu cần đo lường, đánh giá

Trang 33

Trên cơ sở những mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học, xác định các mục tiêu cần đánh giá Các mục tiêu cần đánh giá không nhất thiết là tất cả các mục tiêu của bài dạy Thông thường, mục tiêu kiến thức có thể dễ dàng đánh giá được qua các bài tập, nhưng qua các bài tập không thể đánh giá hết được các mục tiêu về kĩ năng và thái độ

1.2.6.3 Xây dựng kế hoạch trắc nghiệm

Dựa vào mục tiêu của bài học mà chúng ta có thể đưa ra các dạng trắc nghiệm phù họp với từng mục tiêu của bài và số lượng các bài tập để đảm bảo

đủ các mục tiêu cần đánh giá, phù hợp với trình độ của học sinh Tránh trường hợp thừa hoặc thiếu câu trắc nghiệm cần đo lường đối với mỗi mục tiêu

Bảng 3: Bảng mẫu kế hoạch trắc nghiệm

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Vận dụng

cao

1.2.6.4 Soạn thảo bài tập trắc nghiệm

Các câu trắc nghiệm khi viết phải căn cứ vào bảng kế hoạch đảm bảo bám sát các mục tiêu đã xác định, tránh trường hợp thừa hoặc thiếu câc trắc nghiệm cần đo lường đối với mỗi mục tiêu

1.2.6.5 Tự kiểm tra lại các bài tập trắc nghiệm

Đối chiếu lại các bài tập được xây dựng xem đã đúng và phù hợp với các mục tiêu cần đánh giá chưa

Sau khi đã có đáp án đúng ta đối chiếu lại các bài tập và đáp án xem đã đúng và phù hợp chưa

1.2.6.6 Hoàn thành bài tập trắc nghiệm

Nội dung

kiến thức

Mức độ

Trang 34

Các bài tập trắc nghiệm khi viết xong cần có sự góp ý của các chuyên gia về môn học để hoàn thiện Mục đích góp ý nhằm phát hiện ra những câu không có phương án nào đúng hoặc có nhiều phương án đúng như nhau trong các phương án trả lời, đồng thời phát hiện ra những phương án nhiều chưa hợp lý

Các câu trắc nghiệm trước khi dử dụng để đánh giá kết quả học tập cần được tiến hành “Trắc nghiệm thử” Trắc nghiệm thử là một phép đo kép nhằm dùng bài trắc nghiệm để đo trình độ của các thí sinh, đồng thời thông qua kết quả của các thí sinh để đo chất lượng của các câu trắc nghiệm và bài trắc nghiệm

Dựa vào kết quả của trắc nghiệm thử ta thu được các số liệu thống kê, chúng ta có thể tiến hành phân tích câu trắc nghiệm trên cơ sở thống kê đó Việc phân tích có thể được tính toán đơn giản bằng máy tính cầm tay, cũng có thể nhờ các phần mềm được xây dựng theo các mô hình toán học về đo lường giáo dục Phân tích các chỉ số của các câu trắc nghiệm chúng ta biết được những câu nào chưa đạt yêu cầu cần phải loại bỏ, những câu nào cần phải sửa chữa và những câu tốt có thể giữ lại để đưa vào ngân hàng câu trắc nghiệm để

1904 Alfred Binet, nhà tâm lý học người Pháp trong quá trình nghiên cứu trẻ

em mắc bệnh tâm thần đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh

Trang 35

Năm 1916 Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này sang tiếng Anh Từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet

Theo giáo sư Trần Bá Hoành [8] vào đầu thế kỷ XX, E.Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm khách quan như là phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn số học

và sau đó là một số môn học khác

Trong những năm gần đây, trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị trong giáo dục Hiện nay trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến

Ở Mỹ, vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng phương pháp trắc nghiệm vào quá trình dạy học Năm 1940 đã xuất bản nhiều hệ thống trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập của học sinh Năm 1961 có 2126 mẫu trắc nghiệm chuẩn Đến năm 1963 đã sử dụng máy tính điện tử thăm dò bằng trắc nghiệm trên diện rộng

Ở Anh, thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết định các mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn cho các trường trung học

Ở Nga, trong những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà sư phạm đã sử dụng kinh nghiệm của nước ngoài nhưng thiếu chọn lọc nên bị phê phán Đến năm 1962 đã phục hồi khả năng sử dụng trắc nghiệm trong dạy học

Ở Trung Quốc đã áp dụng trắc nghiệm trong kì thi đại học từ năm

Trang 36

Năm 1993, trường đại học Bách Khoa Hà Nội có cuộc hội thảo khoa học “Kĩ năng test và ứng dụng ở bậc đại học” (4/12/1993) của tác giả Lâm Quang Thiệp, Phan Hữu Tiết, Nghiêm Xuân Nùng

Sau đó, một số tác giả viết sách về trắc nghiệm khách quan như cuốn

“Những cơ sở kiểm tra trắc nghiệm” của Lâm Quang Thiệp hay “Trắc nghiệm

và đo lường thành quả học tập” của Dương Thiệu Tống

Kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào các trường Đại học – Cao đẳng năm

2006, lần đầu tiên hình thức thi trắc nghiệm khách quan được áp dụng với môn Ngoại ngữ PGS.TS Nguyễn Hữu Lân đánh giá đó là “một khâu đột phá, một cuộc cách mạng đầu tiên trong chiến lược cải cách giáo dục nói chung”

Cho đến nay hình thức thi trắc nghiệm áp dụng rộng rãi hơn với các môn Lý, Hóa, Sinh Và trong kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017, trắc nghiệm khách quan chính thức được áp dụng cho môn Toán

Tình hình trên cho thấy, trắc nghiệm khách quan đang được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực khoa học Song cũng cần thấy rằng nó vẫn còn khá mới mẻ trong thực tiễn giáo dục nước ta

1.3.2 Sự cần thiết xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy học

Hiện nay, việc xây dựng hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan chưa đáp ứng được vấn đề thực tiễn, hơn nữa, hệ thống bài tập trắc nghiệm khách

Trang 37

quan trong sách giáo khoa Toán phổ thông còn rất hạn chế Chính vì thế, việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm cho môn toán cần được quan tâm nhiều hơn Mặt khác, việc chuyển sang hình thức làm các bài tập trắc nghiệm

là hết sức cần thiết, nó giúp học sinh được tiếp cận, rèn luyện tư duy và phản

xạ nhanh khi làm một bài trắc nghiệm cũng như có kinh nghiệm để làm các

bài thi, kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm sau này

Trước kia, trắc nghiệm khách quan chỉ được dùng với mục đích kiểm tra đánh giá Ngày nay dựa trên quan điểm lý thuyết về hoạt động hoá người học trắc nghiệm khách quan còn có thể sử dụng trong việc hình thành kiến thức cho học sinh ở các khâu của quá trình dạy học vì kiểm tra kết quả học tập là kiểm tra kết quả của quá trình và kết quả đầu ra, đều có chức năng cung cấp thông tin phản hồi về kết quả dạy học Thông tin phản hồi được tiếp nhận kịp thời, thường xuyên sẽ thuận lợi cho quá trình dạy học Muốn vậy thì tốt nhất

là vừa sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy bài mới (kiểm tra đánh giá quá trình), vừa kiểm tra kết quả học tập tổng hợp (kết quả học tập đầu ra)

1.3.3 Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ

đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12

* Trong sách giáo khoa giải tích 12 hiện hành Bộ giáo dục xuất bản năm 2007 cũng đã xuất hiện các bài tập trắc nghiệm khách quan Cụ thể

- Sách giáo khoa có 8 bài tập (từ bài 60 đến bài 67 trang 178) chiếm 11,2% tổng số bài tạp của toàn chương

- Sách bài tập giải tích 12 có 8 (bài từ bài 3.55 đến bài 3.62 trang 150) chiếm 11% trong tổng số bài tập toàn chương[12]

Như vậy, chúng ta thấy rằng số lượng bài tập trong sách giáo khoa hiện hành còn khá ít, chưa đa dạng và chưa đủ phục vụ cho mục đích dạy và học Dưới đây, chúng ta cùng tiến hành một cuộc điều tra tham dò ý kiến của các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở các trường THPT

Trang 38

* Nội dung phiếu điều tra: xem phụ lục 1

* Kết quả và nhận xét kết quả

Sau khi phát phiếu cho 10 giáo viên giảng dạy môn toán tại trường THPT

Mê Linh Hà Nội, qua thống kê, phân tích các phiếu điều tra ta có kết quả như sau:

- Câu hỏi số 1 có 60% thầy cô chọn đáp án B và 20% chọn đáp án A điều đó cho thấy các thầy cô điều có sự hiểu biết đúng đắn về trắc nghiệm khách quan

- Câu hỏi số 2 có 100% các thầy cô chọn phương án A, điều đó cho thấy các thầy cô rất quan tâm đến trắc nghiệm khách quan và đặc biệt là chuẩn bị hành trang cho các em học sinh lớp 12 bước vào kỳ thi THPT Quốc gia năm 2017

- Câu hỏi số 3 có 90% thầy cô chọn phương án A và 10% chọn phương án B: điều đó cho thấy tầm quan trọng của trắc nghiệm khách quan đã đi vào môn Toán một cách nhanh chóng

- Câu hỏi số 4 có 80% giáo viên chọn phương án A và 20% chọn phương án

B Điều đó cho thấy, đã phần giáo viên chưa có kiến thức nền tảng xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan mà chỉ trên có sở tham khảo các tái liệu từ các giáo viên hay nhóm giáo viên chia sẻ trên mạng

*Kết luận

Như vậy, qua thực trạng trên chúng tôi nhận thấy rằng trắc nghiệm khách quan không phải là tuyệt vời nhất và không thể thay thế được hình thức tự luận, song nó có nhiều ưu điểm phù hợp với xu thế hiện nay Hơn nữa hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm tích phân còn khá

ít, giáo viên còn ít đầu tư thời gian, công sức để tự biên soạn Trong khi đó, kì thi THPT Quốc gia năm 2017 sẽ áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan đối với môn toán Vì vậy để cải thiện tình trạng trên, chúng ta cần phải

Trang 39

xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm chủ đề nguyên hàm tích phân, đồng thời tập dượt nghiên cứu, kiểm tra hệ thống bài tập đã xây dựng được

việc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học là rất quan trọng đặc biệt là chủ đề nguyên hàm và tích phân Do đó, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học mỗi sinh viên cần trang bị cho mình những tri thức, kỹ năng kỹ xảo cần thiết về xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan trong dạy và học

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ở chương 1, chúng tôi đã hệ thống được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan Trong đó, những vấn

đề chúng tôi đặc biệt quan tâm là:

+ Chúng tôi nêu rõ khái niệm bài tập toán học, vai trò của bài tập toán học trong quá trình dạy học, phân loại bài tập toán học và phương pháp giải một bài tập toán học;

+ Hệ thống lý luận về trắc nghiệm khách quan, ưu nhược điểm của trắc nghiệm khách quan, phân tích chỉ ra ưu điểm của trắc nghiệm khách quan so với tự luận và việc sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan là phù hợp với việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá;

+ Quy tắc xây dựng bài tập trắc nghiệm khách quan;

+ Những điều cần lưu ý khi soạn một bài trắc nghiệm, các bước cơ bản xây dựng một bài tập trắc nghiệm khách quan;

+Thực trạng sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân trong dạy học ở phổ thông;

Tất cả những điều trình bày ở trên, chúng tôi vận dụng để xây dựng hệ thống bài tâp trắc nghiệm khách quan chủ để nguyên hàm và tích phân mà nội dung nghiên cứu cụ thể sẽ được trình bày ở chương sau

Ngày đăng: 12/06/2017, 12:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] G. Polya (1975), Giải một bài toán như thế nào?, Bản dịch tiếng việt của Hồ Tường NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán như thế nào
Tác giả: G. Polya
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1975
[5] Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan (1996), Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập
Tác giả: Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[6] Nguyễn Phú Khánh – Huỳnh Đức Kháng, Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Toán lớp 12, Nxb ĐHQG Hà Nội, năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Toán lớp 12
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
[8] Trần Bá Hoành (1996), Đánh giá trong giáo dục, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1996
[13] Viện ngôn ngữ học (2009), Từ điển Tiếng Việt 2009, Nxb Trung tâm Từ điển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt 2009
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Trung tâm Từ điển
Năm: 2009
[1] Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ GDĐT về việc hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra Khác
[2] Đề thi minh họa toán Trung học Phổ thông Quốc gia năm 2017 Khác
[4] Nguyễn Bá Kim (chủ biên) – Đinh Nho Cương – Nguyễn Mạnh Cảnh, Phương pháp dạy học môn Toán Khác
[9] Từ điển Petit Robert (1993), Edition DicoRobert, Canada Khác
[10] Trần Lưu Công – Tổng hợp 500 câu hỏi thi trắc nghiệm môn toán Khác
[11] Trần Phương, Bài giảng trọng tâm ôn luyện môn toán Khác
[12] Trần Sĩ Tùng, Bài tập giải tích lớp 12 (tập 3) Nguyên hàm tích phân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. So sánh câu hỏi/đề thi - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 1. So sánh câu hỏi/đề thi (Trang 20)
Hình thức - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Hình th ức (Trang 21)
Bảng 2. So sánh tổng hợp - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 2. So sánh tổng hợp (Trang 21)
Bảng 3: Bảng mẫu kế hoạch trắc nghiệm - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 3 Bảng mẫu kế hoạch trắc nghiệm (Trang 33)
Bảng 4. Nội dung phân phối chương trình chương III. Nguyên  hàm, tích phân và ứng dụng của tích phân trong hình học, sách giáo khoa - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 4. Nội dung phân phối chương trình chương III. Nguyên hàm, tích phân và ứng dụng của tích phân trong hình học, sách giáo khoa (Trang 44)
2.1.4.1.2. Bảng công thức nguyên hàm cơ bản và mở rộng - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
2.1.4.1.2. Bảng công thức nguyên hàm cơ bản và mở rộng (Trang 45)
Bảng 8. Kế hoạch xây dựng - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 8. Kế hoạch xây dựng (Trang 53)
Hình  thang  cong,  giới  hạn  bởi  đồ  thị  hàm  số y  f x   ,  trục  hoành  và  hai  đường thẳng  x  a x,  b a   b   xung quanh trụcOx - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
nh thang cong, giới hạn bởi đồ thị hàm số y  f x   , trục hoành và hai đường thẳng x  a x,  b a   b  xung quanh trụcOx (Trang 79)
Bảng 9. Kết quả câu hỏi kiểm nghiệm - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 9. Kết quả câu hỏi kiểm nghiệm (Trang 87)
Bảng 10. Tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi trắc nghiệm - Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan chủ đề nguyên hàm và tích phân cho học sinh lớp 12
Bảng 10. Tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi trắc nghiệm (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w