Qua tìm tòi nghiên cứu, nhận thức sâu sắc ý nghĩa vai trò quan trọng của các kĩ năng tự phục vụ đối với sự phát triển của trẻ và dựa trên khả năng tự phục vụ của trẻ tại lớp nên tôi mạnh
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành giáo dục mầm non chăm sóc giáo dục trẻ từ khi cất tiếng khóc chào đời đến 6 tuổi Có thể nói: từ một thực thể tự nhiên bắt đầu bước vào xã hội, dần dần trở thành “người”, trở thành con người xã hội Nhờ quá trình giáo dục giúp trẻ phát triển toàn diện về nhân cách: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm- hành vi
xã hội, thẩm mỹ Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng rất non nớt, rất trong sáng và rất dễ tiếp thu những cái tốt cũng như những cái xấu từ bên ngoài Tuy nhiên, ở lứa tuổi này nếu chúng ta không biết cách uốn nắn và dạy dỗ trẻ không đến nơi thì sẽ gây khó khăn cho các bậc học sau Chính vì vậy mà người lớn chúng ta cần phải rèn luyện cho trẻ những thói quen tốt ngay từ nhỏ
Thật vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế rất nhiều các bậc phụ huynh có ít thời gian để quan tâm và hướng dẫn con cái chính vì vậy trẻ thường hay
ỉ lại và không thể tự lo cho bản thân Trẻ em ngày nay đã thông minh hơn, hoạt bát, lém lĩnh hơn nhiều so với trẻ em ngày xưa Tuy nhiên các cháu lại rất thiếu các kĩ năng sống, thiếu khả năng tự lập và thường hay dựa dẫm vào người lớn Khi gặp khó khăn là chúng thường tìm ngay đến người lớn mà không tự mình tìm cách giải quyết Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, tình cảm của trẻ
Nếu trẻ biết tự phục vụ, trẻ sẽ thấy quý trọng bản thân, nuôi dưỡng những giá trị sống chính là nền tảng cho trẻ sau này và hình thành những kĩ năng sống tích cực trong trẻ Ở mỗi lứa tuổi, trẻ rất cần có những tác động khác nhau đến kĩ năng sống của trẻ
Chính vì vậy, tôi luôn quan tâm đến những biện pháp dạy kĩ năng tự phục vụ cho trẻ đặc biệt ở lứa tuổi tôi đang dạy mẫu giáo 3-4 tuổi Trẻ lớp tôi, ở lứa tuổi này trẻ cũng đã hình thành được một số kỹ năng tự phục vụ nhưng đa số trẻ còn dựa dẫm vào người lớn
Qua tìm tòi nghiên cứu, nhận thức sâu sắc ý nghĩa vai trò quan trọng của các
kĩ năng tự phục vụ đối với sự phát triển của trẻ và dựa trên khả năng tự phục vụ của
trẻ tại lớp nên tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao kỹ năng tự phục vụ nhằm phát huy tính tự lập cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi A trường Mầm non 1.6”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Tính tự lập được hình thành rất sớm và là một biểu hiện tâm lí có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành các phẩm chất nhân cách của trẻ Một số dấu hiệu đáng tin cậy của bắt đầu sự hình thành tính tự lập, đó là nhu cầu tự khẳng định mình xuất hiện Trẻ muốn tự làm một số công việc trong sinh hoạt hằng ngày Giáo dục tính tự lập cho trẻ ngay từ khi còn bé không những tạo ra cho trẻ khả năng tự lập trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành sự tự tin, năng động, sáng tạo, làm cơ sở hình thành các kĩ năng sống sau này
Trang 2Thực tế hiện nay cho thấy, đối với gia đình, chủ yếu là cha mẹ còn có nhiều sai lầm về giáo dục nói chung và giáo dục tính tự lập cho trẻ nói riêng Thứ nhất là nuông chiều con quá mức chỉ biết hưởng thụ sau này trở thành người có tính ích kỉ, vụng về, thiếu tự tin trong cuộc sống Thứ hai là không tin vào khả năng của trẻ, trẻ muốn làm nhưng thấy trẻ làm lóng ngóng, chậm chạp thì tỏ ra khó chịu, nên người lớn thường “sốt ruột” và làm thay trẻ, dẫn đến trẻ có thái độ bướng bỉnh dần dần tạo ra sự ỉ lại, lười biếng mất tự tin ở trẻ
Đối với giáo viên đa số đã nhận thức đầy đủ và có thái độ đúng đắn trong giáo dục tính tự lập cho trẻ lên ba Song về hướng dẫn trẻ hoạt động để hình thành tính tự phục vụ cho trẻ lại rất hạn chế Nguyên nhân là do người giáo viên cho rằng trẻ còn quá nhỏ để rèn tính tự lập, bên cạnh đó điều quan trọng là khi trẻ thực hiện chậm chạp, long ngóng sợ tốn thời gian
Vì vậy để hình thành và phát triển tính tự phục vụ cho trẻ nói chung và trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nói riêng giáo viên mầm non phối kết hợp với cha mẹ trẻ có những biện pháp giáo dục phù hợp nhằm phát huy khả năng tự phục vụ, làm cơ sở cho sự hình thành nhân cách cho trẻ sau này
Tự phục vụ là phương tiện không thể thiếu để giúp trẻ tăng năng lực hội nhập, tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn thử thách.Tự phục vụ chính là chiếc chìa khóa của sự sống còn, sự phát triển và sự thành công của mỗi con người
II THỰC TRẠNG
Là một giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo 3-4 tuổi A, bước đầu tôi có những thuận lợi và khó khăn sau:
1 Thuận lợi
Trường được Phòng Giáo dục Huyện và Ban giám hiệu nhà trường quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ
Giáo viên đều có trình độ trên chuẩn, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề,
có tinh thần học hỏi, luôn trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ
2 Khó khăn:
Lớp có 49 cháu quá đông (chia làm 2 nhóm), khả năng nhận thức của các cháu không đồng đều( Số lượng cháu sinh cuối năm 2013 chiếm 1/3; Số cháu mới
đi học chiếm 1/4) Nhiều cháu khả năng tự phục vụ còn rất yếu, còn rụt rè, lúng túng, nhút nhát Bên cạnh đó lại có những cháu nghe nhưng chưa hiểu được các yêu cầu của cô, thích tự làm theo ý mình
Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử Ví dụ như: khi ăn thì trẻ phải xem Ipad, điện thoại thì trẻ mới chịu ăn
Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không
có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh
Trang 3Đa số phụ huynh là cán bộ công chức chỉ sinh 1-2 con nên thường nuông chiều, bao bọc nên trẻ thường ỷ lại, dựa dẫm vào người lớn
Còn phụ huynh người dân tộc thiểu số lại phó mặt cho giáo viên chăm sóc, giáo dục trẻ
3 Thực trạng về kĩ năng tự phục vụ của trẻ
Đầu năm tôi khảo sát thực tế với các tiêu chí về khả năng tự phục vụ của trẻ, kết quả nhận được như sau:
Bảng 1: Kết quả khảo sát khả năng tự phục vụ của các cháu
Chủ điểm: Bé ngoan (Từ ngày 3/10- 21/10/2016)
Thời gian đầu, tôi thấy khả năng nhận thức của các cháu chưa tốt, khả năng
tự phục vụ còn hạn chế (bảng 1) Có nhiều cháu nói chưa tốt, chưa biết một số thói quen tự phục vụ đơn giản như: Có 44% cháu khát nước, muốn uống nước nhưng không biết cách lấy nước uống, không biết cách cầm ca uống nước như thế nào cho không bị đổ Có một số trẻ khi có nhu cầu đi vệ sinh nhưng lại không biết cởi quần nên bị tè dầm ra quần, không biết cởi quần áo khi bị dơ (68%) Có 56% khi ăn cô phải xúc, 48% cháu không biết mang giày, 60% trẻ ăn xong không biết dẹp chén Tuy nhiên có một số trẻ có kĩ năng tự phục vụ rất tốt nhưng lại thiếu tính chủ động (76%), trẻ luôn đợi chờ người lớn nhắc nhở thì trẻ mới chịu làm
Để có những biện pháp hay, thiết thực nhằm hướng dẫn trẻ kĩ năng tự phục
vụ, đầu tiên tôi sẽ tìm hiểu những nguyên nhân đưa đến việc trẻ chưa có khả năng
tự phục vụ và ý thức tự phục vụ của trẻ chưa tốt:
Nguyên nhân thứ nhất: xuất phát từ phía trẻ, có một số cháu có do khả năng tiếp thu chậm hoặc không chịu tập trung khi cô hướng dẫn Một số cháu thì mới đi học nên chưa có nề nếp, chưa quen môi trường sinh hoạt tại lớp
Tiêu chí khảo sát
Sô lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Khả năng trẻ tự làm mà không
Trang 4Nguyên nhân thứ 2: xuất phát từ giáo viên, do cô không chịu khó, không kiên trì hướng dẫn cho trẻ những kĩ năng tự phục vụ nên cô hay làm giúp trẻ cho đỡ mất thời gian Việc này lâu dần sẽ khiến cho trẻ có tư tưởng ỷ lại, không chịu làm
Nguyên nhân thứ 3: lại xuất phát từ phía phụ huynh, do mỗi gia đình ngày nay thường chỉ có một đến 2 con, tất cả tình cảm cha mẹ dành trọn cho những đứa con yêu qúy của mình Ngoài ra, trẻ luôn được cha mẹ chìu chuộng hết mức, luôn được đáp ứng ngay mọi yêu sách, mọi mong muốn của trẻ, ba mẹ và người lớn trong gia đình làm thay trẻ tất cả mọi việc vì họ sợ con vất vả, sợ qúa sức của con,
sợ con làm không được theo ý mình, sợ mất thời gian Điều này lâu dần hình thành ở trẻ tính ỷ lại, luôn dựa dẫm vào người khác, thiếu kiên nhẫn và lười lao động
Ngoài ra một số phụ huynh là người dân tộc thiểu số thì họ lại không quan tâm đến con cái, họ nghĩ trách nhiệm là của giáo viên nên họ phó mặc cho giáo viên giáo dục trẻ
III BIỆN PHÁP
Qua việc áp dụng sáng kiến này tôi muốn đóng góp một phần nhỏ bé đưa ra một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi nâng cao kĩ năng tự phục vụ nhằm phát huy được tính tự lập cho trẻ
1 Khảo sát khả năng của trẻ
Từ những nhận thức của mình về vấn đề giáo dục tính tự lập cho trẻ mẫu giáo, tôi định hướng được nhiệm vụ của mình trong công việc Và để gặt hái được nhiều kết quả tốt trong quá trình thực hiện nên ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trẻ theo những kĩ năng cấn thiết để giáo dục tính tự lập cho trẻ mà tôi
đã xác định ở trên (bảng 1)
Để theo dõi và đánh giá được kết quả về kỹ năng tự phục vụ mà trẻ đạt được thì sau mỗi chủ điểm tôi đều khảo sát trẻ
Ví dụ: Chủ điểm gia đình: Sau khi thực hiện hết chủ điểm, tôi đã tiến hành khảo sát kỹ năng tự phục vụ của trẻ để xem sự phát triển của trẻ như thế nào
Tiêu chí khảo sát
Sô lượng Tỷ lệ (%) Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 5GV nhắc nhở
Bảng 2: Kết quả khảo sát khả năng tự phục vụ của trẻ ở chủ điểm “Tổ ấm gia đình” thực hiện từ ngày 24/10- 18/11/ 2016)
Quá trình khảo sát như vậy để đánh giá được sự phát triển về kỹ năng của trẻ thông qua họa động học, hoạt động hàng ngày của trẻ tại lớp Như vậy, cứ hết một chủ điểm là tôi lại tiến hành khảo sát, đánh giá trẻ
2 Hướng dẫn và rèn luyện những kĩ năng tự phục vụ cần thiết cho trẻ.
Tôi hướng dẫn các cháu nâng cao các kỹ năng tự phục vụ thông qua giờ hoạt động chung và các hoạt hộng mọi lúc mọi nơi nhằm giúp trẻ phát triển hoàn thiện
và có khả năng thích ứng trong mọi hoàn cảnh thực tế
Việc trẻ biết tự chăm sóc mình là những viên gạch đầu tiên xây dựng tính tự tin, tự lập và ứng phó với những đòi hỏi khác Ví dụ như: Khi trẻ biết cách xếp quần áo thì sau này khi đi học trẻ dễ dàng áp dụng kĩ năng đó vào việc xếp sách vở,
đồ dùng đi học Khi đi làm trẻ sẽ biết sắp xếp công việc tốt hơn
Nếu trẻ không biết mang đôi vớ, giặt bộ quần áo cho chính mình thì trẻ cũng
sẽ không biết làm điều đó cho người khác Dạy cho trẻ khả năng tự chăm sóc mình, ngoài việc tốt cho bản thân trẻ, trẻ tự chăm sóc mình cũng là cách giúp đỡ những người trong gia đình… Trẻ không biết tự chăm sóc mình thì sẽ không cảm nhận được sự vất vả khi làm việc gì, không thông cảm và thấu hiểu thì trẻ sẽ không có sự chia sẻ, gắn bó với những tình cảm mà người thân đã giành cho mình
Kĩ năng tự chăm sóc bản thân như: Tự nhặt đồ chơi, tự cởi và mặc, xếp quần
áo, rửa mặt, tay, đánh răng, tự đi dép, chuẩn bị mũ, áo khoác, khẩu trang khi đi ra ngoài, tự ăn, đội mũa bảo hiểm…
Ví dụ: Giáo viên đang hướng dẫn trẻ xếp quần áo: Đầu tiên chúng mình sẽ lộn áo sang mặt phải, trước khi gấp chúng mình phải rủ quần áo cho phẳng, tiếp theo trải áo ra, lấy tay vuốt áo cho thật phẳng phiu, rồi nhẹ nhàng gấp tay áo bên phải vào trong thân áo, sau đó gấp tiếp tay áo bên trái vào trong thân áo Cầm 2 bên gấu áo gấp lên trên làm sao cho gấu áo bằng với tay áo, cuối cùng gấp đôi thêm một lần nữa.
(Hình ảnh trẻ đang xếp quần áo)
Trang 6Lứa tuổi này trẻ đã ý thức được sự an toàn cho chính bản thân trẻ Hàng ngày trẻ đi tới trường bằng phương tiện xe máy là chủ yếu, chính vì vậy tôi cũng dạy cho trẻ kỹ năng như đội mũ bảo hiểm để trẻ biết cách đội mũ bảo hiểm khi ngồi lên xe máy
( Hình ảnh trẻ đang thực hành đội mũ bảo hiểm)
Trẻ ở độ tuổi này hoàn toàn có thể tự chăm sóc bản thân, chính vì vậy tôi chỉ cần khuyến khích và động viên trẻ trong những buổi học đầu tiên
Ngay từ những ngày đầu tiên đến trường, tôi hướng dẫn trẻ cách tự mặc quần
áo, gấp quần áo, cất quần áo vào đúng nơi quy định Công việc này yêu cầu phải có thời gian và người GV phải kiên nhẫn Nhờ vậy mà sau gần một tháng, trẻ hình thành thói quen tự lập trong việc chăm sóc bản thân
Kĩ năng tự chăm lo vệ sinh cá nhân như: Lau nước trên sàn, lau bụi trên bàn,
gạt nước sau khi đi vệ sinh, đi vệ sinh đúng nơi, bỏ rác đúng nơi quy định
Tôi hướng dẫn trẻ cách vệ sinh cá nhân như: rửa tay, rửa mặt, đánh răng Dạy trẻ cách an toàn khi thực hiện các việc vệ sinh cá nhân Tạo cho trẻ có ý thức
tự giác chăm lo vệ sinh cá nhân thông qua các câu truyện, hoạt động học tập trên lớp
Ví dụ: Giáo viên vừa thực hành và hướng dẫn cho trẻ cách lau mặt đúng cách: cô trải khăn trên lòng bàn tay dùng ngón cái và ngón trỏ lau từng mắt, nhích khăn lau tiếp mũi miệng Gập khăn mỗi mặt lau một bên trán má và lật khăn lau lại cằm cổ Sau đó cô bỏ khăn bẩn vào chậu đựng khăn bẩn.
Trang 7( Trẻ thực hành kỹ năng lau mặt)
Kĩ năng hỗ trợ người khác: Bật tivi, lấy chén ăn cơm, lấy ly uống nước, cất
dép đúng quy định, xách phụ đồ, dọn dẹp bàn ghế sau khi ăn xong Đây cũng là một trong những kỹ năng tự phục vụ cần thiết cho trẻ Bản thân tôi luôn hướng dẫn một cách tận tình cho trẻ để trẻ thực hiện được tốt
( Hình ảnh trẻ đang xếp bàn ghế)
Thói quen biết xếp hàng: Đây là một thói quen mà hầu hết người lớn chúng
ta không để ý khi tham gia vào các hoạt động chung Nhưng hãy cố gắng làm gương và tập cho trẻ có thói quen xếp hàng ngay từ nhỏ để dẩn dần thay đổi được một cách ứng xử kém văn hóa nơi công cộng là sự chen lấn nhau
Trang 8Ở lớp tôi rèn cho trẻ thói quen xếp hàng (không chen ngang, xô đẩy bạn ) khi tham gia vào một hoạt động nào đó như: cùng nhau xếp hàng đi ra sân hoạt động ngoài trời
Khi tổ chức các hoạt động mà trẻ lộn xộn thì hoạt động đó sẽ không diễn ra suôn sẽ được, xếp hàng là cũng thể hiện đuọc tính kỹ luật của trẻ trong một tổ chức, trong nhóm lớp của mình
( Trẻ xếp hàng khi ra hoạt động ngoài trời)
Thói quen bỏ rác vào thùng rác: Ngay tại lớp học, tôi cho đặt thùng rác ở nơi
qui định, để trẻ thấy việc bỏ rác là 1 thói quen trong lớp Khi đi chơi ngoài sân trường, cũng cần bỏ rác và hướng dẫn cho trẻ bỏ rác vào các thùng rác công cộng
để hình thành thói quen này.Thường xuyên nhắc nhở trẻ vứt rác vào đúng nơi quy định Khi trẻ nhìn thấy rác là trẻ tự giác nhặt bỏ vào thùng rác không cần giáo viên nhắc nhở Những hành động của trẻ như vậy cũng thể hiện được ý thức của trẻ đối với vệ sinh môi trường ở nơi công cộng Để có được những hành động, thái độ của trẻ khi nhặc rác như vậy thì bản thân tôi cũng phải làm gương cho trẻ thấy
Trang 9( Trẻ nhặt và bỏ rác đúng nơi quy định) Thói quen biết nói xin lỗi và cám ơn: Ngay từ bé, chúng ta cũng cho trẻ thấy
cách ứng xử như vậy của người lớn và khi giao tiếp với trẻ, chính tôi cũng phải nói xin lỗi và cám ơn trẻ Như thế, trẻ sẽ cảm nhận được một cách tự nhiên các cách ứng xử này
Ví dụ: Giáo viên hướng dẫn trẻ cách chào hỏi:
- Khi gặp người lớn thì chúng ta như thế nào?
+ Cô hướng dẫn cho trẻ cách chào hỏi với mọi người: Khi chào hỏi người lớn thì gương mặt phải hướng về phía người chào, đầu hơi cúi xuống và khoanh tay lại nói “ cháu chào ông ạ”
- Còn khi gặp bạn thì mình chào như thế nào?
+ Chào bạn bè: Giơ bàn tay, ngang tầm mắt, gương mặt vui vẽ và nói “ mình chào bạn”
- Khi mình bị mắc lỗi thì mình sẽ nói lời gì?
+ Nếu bị mắc lỗi thì khoanh tay lại, đầu hơi cúi xuống và nói “ Cháu xin lỗi ông ạ”
- Khi được nhận quà thì mình sẽ nói như thế nào?
+ Nếu khi người khác cho quà, thì vòng tay lại, đầu hơi cúi xuống và nói “ Cháu cảm ơn ông ạ” và nhận quà bằng 2 tay.
Để giúp trẻ hình thành được các kĩ năng trên, tôi từng bước, tùy từng trẻ mà thực hiện:
Đối với trẻ nói chưa thạo, tôi sẽ nói chậm rãi khi hướng dẫn trẻ, dạy trẻ cách truyền đạt thông tin với cô giáo bằng cách ra hiệu khi cần giúp đỡ Song song đó tôi
sẽ đưa các đề tài rèn kĩ năng tự phục vụ vào các hoạt động hàng ngày và tiếp tục rèn các kĩ năng này ở mọi lúc mọi nơi cho đến khi trẻ thuần thục Và tôi sẽ cho trẻ
Trang 10thực hiện mỗi ngày để nó dần trở thành thói quen tốt của trẻ Tận dụng các tình huống cụ thể từ trẻ để rèn kĩ năng cho trẻ, như thế trẻ sẽ nhớ lâu hơn
Tôi thường xuyên động viên, khích lệ cổ vũ trẻ, kịp thời khen trẻ khi cháu làm được và làm tốt những công việc tự phục vụ Nêu gương trước cả lớp những bạn năng nổ, tích cực phụ giúp cô
Tôi nhẹ nhàng và chỉ dẫn tận tình cho trẻ, tạo cho trẻ cảm giác tự tin là mình
có thể làm được và làm tốt Đây cũng là cơ hội để cô và trẻ gần nhau và hiểu nhau hơn
Ngoài việc cổ vũ những cháu năng động tích cực phát huy khả năng, tôi chú
ý đến những cháu chậm tiếp thu chưa tốt, rụt rè Tạo cơ hội để cháu được tự làm
những việc vừa sức, hướng dẫn trẻ mọi lúc mọi nơi: Con cứ làm đi, đừng sợ sai, con làm được đấy, cô không mắng đâu! Khi hướng dẫn trẻ thì giọng nói của tôi
cần nhẹ nhàng, chậm rãi, tạo sự gần gũi Tránh những câu nói mệnh lệnh, cứng
nhắc: Làm nhanh đi, làm cái này nè, làm sai rồi
Khi hướng dẫn trẻ một kĩ năng nào đó, tôi hướng dẫn một cách chậm rãi từng thao tác một Khi trẻ đã nắm được thao tác này thì tôi mới chuyển sang thao tác khác Tôi cho trẻ được thực hiện thường xuyên, liên tục để trở thành kĩ năng, tạo cho trẻ cảm giác phấn khởi là mình cũng giỏi như bạn Ví dụ: Đối với trẻ xúc
ăn chưa thạo Ban đầu tôi chấp nhận việc cơm sẽ rơi vãi ra nhà hoặc trẻ cho cơm vào mũi Hoặc đối với trẻ chưa biết cách uống nước tôi đổ chút ít nước vào trong ly
và cho cháu tự cầm ly uống, trẻ uống như thế nào là tùy trẻ, lâu dần bản thân trẻ sẽ
tự điều chỉnh cho tốt hơn do đã được trải nghiệm nhiều lần và đã có kinh nghiệm ở những lần thất bại trước Để trẻ có được điều này đòi hỏi chúng ta phải chịu cực đôi chút, kiên nhẫn chờ đợi sự tiến bộ từng ngày nơi con trẻ của chúng ta
3 Phân công công việc, duy trì thói quen và cách làm việc.
Trong lớp, tôi phân công công việc cho từng thành viên để bé hiểu rằng mỗi người đều có trách nhiệm với công việc và hình thành thói quen làm việc Khi tổ chức các hoạt động ở lớp có thể phân công công việc cho các bé, cho bé phụ giúp
cô trong giờ ăn: Lấy ghế, lấy khay và khăn ăn, kê bàn, chia chén muỗng,… giúp cô trải chiếu, lấy chăn gối, đệm chuẩn bị giờ ngủ
Tôi phân công theo từng tổ trực nhật, để mỗi thành viên trong tổ của mình biết được trách nhiệm của mình đối với nhóm lớp, không còn tình trạng đùn đẩy, ỷ lại cho các bạn khác trong lớp Khi phân công công việc như vậy các bạn rất hứng thú và vui vẽ thực hiện khi biết công việc của mình phải làm