1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các quy định pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần

12 811 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 31,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những loại công ty đang hoạt động ở nước ta, không thể không nhắc đến số lượng lớn các công ty cổ phần. Đây là một mô hình công ty đối vốn đặc trưng và rất phổ biến. Cổ đông của công ty cổ phần có khá nhiều quyền và một trong những quyền cơ bản đó chính là những người nắm giữ cổ phần của công ty có thể chuyển nhượng một số loại cổ phần mà mình nắm giữ.

Trang 1

MỤC LỤC

A LỜI NÓI ĐẦU 2

B NỘI DUNG 2

I Cổ phần 2

II Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần 3

1 Chuyển nhượng cổ phần phổ thông 3

2 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi 5

3 Một số trường hợp khác trong chuyển nhượng cổ phần 8

III Cách thức chuyển nhượng cổ phần 9

1 Chuyển nhượng cổ phần theo cách thông thường bằng hợp đồng 10

2 Chuyển nhượng cổ phần thông qua giao dịch trên sàn chứng khoán 10

C KẾT LUẬN 11

Tài liệu tham khảo 12

Trang 2

A LỜI NÓI ĐẦU

Pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội cần thiết trong đời sống của chúng ta hiện nay Do đó, có rất nhiều bộ luật, luật, văn bản pháp luật về mọi lĩnh vực trong đời sống đã được soạn thảo nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh đó Đặc biệt, trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa như hiện nay, nhu cầu thành lập doanh nghiệp ngày càng gia tăng, bên cạnh

đó việc tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp cũng là những vấn đề rất quan trọng Một thống kê đã chỉ ra rằng, cả nước ta hiện đang có khoảng 400.000 doanh nghiệp hoạt động – một

số lượng không hề nhỏ Chính vì vậy, Luật Doanh nghiệp với những hệ thống quy tắc, quy định mà Nhà nước đặt ra đối với các doanh nghiệp trong hoạt động của mình ra đời là một nhu cầu thiết yếu Trải qua một quá trình dài xây dựng cũng như hoàn thiện, Luật Doanh nghiệp 2014 đã đáp ứng được phần nào cơ bản những yêu cầu của tình hình hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay

Trong số những loại công ty đang hoạt động ở nước ta, không thể không nhắc đến số lượng lớn các công ty cổ phần Đây là một mô hình công

ty đối vốn đặc trưng và rất phổ biến Cổ đông của công ty cổ phần có khá nhiều quyền và một trong những quyền cơ bản đó chính là những người nắm giữ cổ phần của công ty có thể chuyển nhượng một số loại cổ phần mà mình nắm giữ Để có cái nhìn sâu hơn, đầy đủ hơn về chuyển nhượng cổ phần trong

công ty cổ phần em xin chọn đề tài “Phân tích các quy định pháp luật về chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần” để phân tích, tìm hiểu

B NỘI DUNG

I Cổ phần

Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty, được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Giá trị mỗi cổ phần (mệnh giá cổ phần) do công ty quyết định và ghi vào cổ phiếu

Trang 3

Cổ phần của công ty cổ phần có thể tồn tại dưới hai loại là cổ phần phổ thông và cổ phần ưu đãi

Cổ phần phổ thông: là loại cổ phần bắt buộc phải có trong công ty cổ phần.

Cổ phần ưu đãi: là cổ phần có một số quyền được ưu đãi hơn so với cổ phần

phổ thông Cổ phần ưu đãi chia thành các loại như sau:

- Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phần có số biểu quyết nhiều hơn

so với cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty quy định

- Cổ phần ưu đãi cổ tức: là loại cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn

so với mức cổ tức hàng năm gồm có cổ tức cố định và cổ tức thưởng

- Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần sẽ được công ty hoàn vốn góp bất

cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại

- Cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ti quy định

II Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần.

1 Chuyển nhượng cổ phần phổ thông.

Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông của công ty cổ phần

Cổ đông phổ thông có quyền chuyển nhượng toàn bộ cổ phần phổ thông của mình cho người khác theo điểm d khoản 1 điều 114 quy định quyền

của cổ đông phổ thông: “Tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.”

Khoản 1, điều 126 quy định: “Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.”

Trang 4

Tại khoản 3 điều 119 quy định: “Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập

có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác

và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.”

Như vậy, đối với cổ đông phổ thông (không phải là cổ đông sáng lập) thì họ hoàn toàn có thể chuyển nhượng số cổ phần phổ thông của mình cho bất kì ai vào bất kì thời gian nào mà họ muốn Riêng đối với cổ đông phổ thông đồng thời là cổ đông sáng lập của công ty, trong thời hạn 3 năm đầu kể

từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nếu không có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần trong điều lệ công ty thì họ có thể chuyển nhượng số cổ phần phổ thông cho người là cổ đông sáng lập khác

mà không bị hạn chế Trong trường hợp nếu cổ đông sáng lập muốn chuyển

cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập của công ty thì cần phải thông qua sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông và bản thân người muốn chuyển nhượng không được phép biểu quyết Hết thời hạn 3 năm, việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập không còn bị pháp

luật hạn chế theo quy định của pháp luật tại khoản 4 điều 119: “Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.”

Các hạn chế của quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty

Việc pháp luật quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập là nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của các cổ đông sáng lập còn lại trong trường hợp một hoặc một số cổ đông sáng lập khác có ý định chuyển

Trang 5

nhượng cổ phần của mình cho người khác không phải là cổ đông sáng lập, đề cao ý nghĩa của cổ đông sáng lập – người tham gia “khởi xướng” cho sự ra đời của công ty Mặt khác, điều này cũng nhằm mang đến tính ổn định cho

công ty cổ phần mới thành lập trong khoảng thời gian ba năm đầu Quyền tự

do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông là một trong những quyền quan trọng

và cơ bản nhất của cổ đông, do vậy sau thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cổ đông sáng lập hoàn toàn

có thể tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình

2 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi.

2.1 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết.

Người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết được gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết Tuy vậy chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết

Khoản 2 và khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định:

“2 Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có các quyền sau đây: a) Biểu quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông với số phiếu biểu quyết theo quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Các quyền khác như cổ đông phổ thông, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

3 Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác.”

Như vậy, cổ đông ưu đãi biểu quyết không được phép chuyển nhượng các cổ phần ưu đãi biểu quyết của mình cho bất kì ai vào bất kì thời gian nào Tuy nhiên thì không hẳn các cổ đông ưu đãi biểu quyết không thể chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết của mình cho người khác mà ta có thể chuyển đổi cổ phần ưu đãi biểu quyết thành cổ phần phổ thông và từ đó có thể chuyển nhượng

Trang 6

Theo khoản 3 Điều 113: “Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ

có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.” Như vậy, cổ đông ưu

đãi biểu quyết có thể đợi hết thời hạn 3 năm để số cổ phần ưu đãi biểu quyết của mình chuyển thành cổ phần phổ thông rồi sau đó chuyển nhượng cổ phần phổ thông

Theo khoản 6 Điều 113: “Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông” Dựa vào quy định này, cổ

phần ưu đãi biểu quyết của các cổ đông ưu đãi biểu quyết sẽ được chuyển thành cổ phần phổ thông nếu được thông qua bởi nghị quyết của Đại hội đồng

cổ đông.Và sau khi tất cả các cổ phần ưu đãi biểu quyết được chuyển thành cổ phần phổ thông, ta áp dụng tất cả các nguyên tắc và giải quyết việc chuyển

nhượng như đã trình bày ở phần Đối với việc chuyển nhượng Cổ phần phổ thông.

Việc các nhà làm luật quy định cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác là một quy định rất hợp lý Bởi lẽ, nếu cổ phần ưu đãi biểu quyết được tự do chuyển nhượng

có thể dẫn tới tình trạng một người hoặc 1 số ít người nắm giữ rất nhiều cổ phần ưu đãi biểu quyết, những người này sẽ có rất nhiều quyền biểu quyết đối với các công việc trong công ty, có thể lợi dụng quyền lực đấy để tư lợi cá nhân, ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của công ty

2.2 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức.

Với quy định tại điểm c, khoản 2, điều 117 Luật Doanh Nghiệp 2014 thì việc chuyển nhượng của cổ phần ưu đãi cổ tức giống như cổ phần phổ thông tức là được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần Như vậy, những cổ

Trang 7

đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức có thể tự do chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức trong bất kì thời gian nào cho bất kì ai mà họ muốn nếu trong điều

lệ công ty không có quy định về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần ưu đãi

cổ tức

Có thể nhận thấy sự khác nhau rõ ràng giữa việc chuyển nhượng của cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi biểu quyết Có sự khác nhau trên bởi cổ phần ưu đãi cổ tức chỉ mang giá trị về mặt vật chất, tức là được nhận nhiều cổ tức hơn so với các cổ phần khác, nó không mang tính ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty bởi cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị

và Ban kiểm soát (khoản 3, điều 117 Luật Doanh Nghiệp 2014), trong khi đó,

cổ phần ưu đãi biểu quyết giúp người nắm giữ có quyền quyết định cao hơn

so với những người nắm giữ cùng lượng cổ phần nhưng loại khác, chính quyền quyết định ấy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, nhất là trong giai đoạn đầu đi vào hoạt động

2.3 Chuyển nhượng cổ phần ưu đãi hoàn lại.

Giống như cổ phần cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng được tự do chuyển nhượng trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác

về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần (khoản 2, điều 118, Luật Doanh nghiệp 2014) Như vậy, những cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại có thể

tự do chuyển nhượng cổ phần ưu đãi hoàn lại trong bất kì thời gian nào cho bất kì ai mà họ muốn nếu trong điều lệ công ty không có quy định về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần ưu đãi hoàn lại

Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi tính chất của cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng không khác so với cổ phần ưu đãi cổ tức bởi ngoài việc người sở hữu

sẽ có quyền yêu cầu hoàn lại vốn góp hoặc việc hoàn lại sẽ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại thì cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng giống như cổ đông sở hữu cổ phần

Trang 8

ưu đãi cổ tức đó là không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông,

đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, tức là không mang tính ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty

3 Một số trường hợp khác trong chuyển nhượng cổ phần

Các trường hợp chuyển nhượng cổ phần sau: cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần, cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có một số điểm khác

so với các trường hợp chuyển nhượng cổ phần thông thường như theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014

Đối với ngân hàng thương mại cổ phần:

Khoản 3, điều 36, nghị định 59/2009/ NĐ-CP quy định: “Cổ đông cá nhân, cổ đông pháp nhân có người đại diện vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc trong thời gian đảm nhiệm chức danh và trong thời gian 01 năm, kể từ thời điểm không đảm nhiệm chức danh, được chuyển nhượng cổ phần nhưng phải giữ lại tối thiểu 50% tổng số cổ phần mà mình sở hữu vào thời điểm được Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc được Hội đồng quản trị bổ nhiệm và phải có văn bản báo cáo Ngân hàng Nhà nước trước khi thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần tối thiểu 15 ngày làm việc đối với số cổ phần được phép chuyển nhượng.”

Mặt khác, tại khoản 5, điều 36 nghị định 59/2009/NĐ-CP quy định trong thời gian đang xử lý các hậu quả theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông do trách nhiệm cá nhân, các thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc không được chuyển nhượng cổ phần, trừ trường hợp các thành viên này:

- Là đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức bị sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản theo quy định pháp luật;

- Bị bắt buộc chuyển nhượng cổ phần theo quyết định của Tòa án Đồng thời, phải có sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước nếu có sự chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ

Trang 9

Như vậy, ngoài những quy định trong luật Doanh nghiệp 2014 và trong khi nghị định 59/2009/ NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại vẫn đang có hiệu lực, yêu cầu về điều kiện chuyển nhượng cổ phần đối với các cổ đông trong các ngân hàng thương mại có sự chặt chẽ hơn so với những trường hợp chuyển nhượng cổ phần thông thường khác

Đối với nhà đầu tư nước ngoài:

Theo khoản 5, điều 14, nghị định 01/2014/ NĐ-CP thì nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau

5 năm kể từ khi trở thành là nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam ghi trong văn bản chấp thuận tại Ngân hàng Nhà nước Đồng thời tại khoản 6, điều 14, nghị định 01/2014/ NĐ-CP cũng có quy định nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức sở hữu 10% vốn điều lệ tại một ngân hàng Việt Nam chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 3 năm kể từ khi sở hữu 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Đây chính là những qui định chặt chẽ nhằm bảo vệ nhà đầu tư cũng như giữ vững được sự

ổn định của một hoạt động mang tính hệ thống và có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế như hoạt động ngân hàng Đồng thời, các qui định trên cũng ràng buộc lợi ích của thành viên sáng lập và đại diện pháp luật của ngân hàng với ngân hàng

III Cách thức chuyển nhượng cổ phần

Theo quy định tại 2 điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014: “Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký Trường hợp chuyển

Trang 10

nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.”

Như vậy cổ đông của công ty cổ phần có thể chuyển nhượng cổ phần của mình bằng 1 trong 2 cách, đó là bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên sàn chứng khoán

1 Chuyển nhượng cổ phần theo cách thông thường bằng hợp đồng.

Có thể hiểu đây là một loại giao dịch dân sự mà đối tượng là giấy tờ có giá, cơ sở hình thành đó là sự thỏa thuận từ hai bên Vì thế thủ tục giao dịch cũng do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của Luật dân sự Các hành vi chuyển nhượng khác như tặng – cho, thừa kế cũng thuộc hình thức chuyển nhượng này Yêu cầu đối với trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng là giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại điện của họ ký (khoản 2, điều 126 Luật DN 2014)

2 Chuyển nhượng cổ phần thông qua giao dịch trên sàn chứng khoán.

Khoản 2, điều 126 Luật DN 2014 cũng quy định: “Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.”

Theo đó căn cứ vào Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung năm 2010 thì hiện nay có 2 cách thức để giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó là:

- Mua chứng khoán trực tiếp tại tổ chức phát hành Nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý Những người có nhu cầu có thể mua cổ phần thông qua trung gian: Trung gian ở đây là các nhà đại lý hoặc các nhà bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các ngân hàng thương mại Nếu mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được

Ngày đăng: 11/06/2017, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w