Việt Nam không phải là ngoại lệ.Yêu cầu của pháp luật về hình thức hợp đồng sẽ được trình bày tại Phần III “Yêu cầu đối với việc soạn thảo một hợp đồng để tránh hậu quả vô hiệu phổbiến t
Trang 1KỸ NĂNG CƠ BẢN SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG
Nguyễn Quốc Vinh
Bài viết này gồm 3 phần Phần thứ nhất “Lý do phải soạn thảo hợpđồng” giải thích lý do vì sao hợp đồng phải soạn thảo Phần thứ hai “Kỹ thuậtsoạn thảo” đề cập những nội dung cơ bản cần đưa vào hợp đồng và cách thểhiện nó Phần thứ ba “Yêu cầu đối với việc soạn thảo một hợp đồng để tránhhậu quả vô hiệu phổ biến tại Việt Nam” trình bày các trường hợp mà tòa ánViệt Nam thường tuyên vô hiệu hợp đồng, cách để tránh hậu quả này cũngnhư đưa giải pháp để khôi phục lại thiệt hại từ hậu quả vô hiệu
I LÝ DO VÌ SAO PHẢI SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG
1 Để lưu lại những gì đã cam kết
Nếu thỏa thuận là yếu tố chi phối (không có yếu tố này, hợp đồngkhông được lập) thì hợp đồng phải lập thành văn bản làm gì? Nói cách khác,BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 cho phép rằng hợp đồng có thể đượcgiao kết, bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể, bằng dữ liệu điện tử như email hay
thậm chí nội dung chat thì vì lý gì mà phải soạn hợp đồng giấy trắng mực
đen?
Hợp đồng là giao dịch dân sự phổ biến nhất trong xã hội loài người.Giao dịch đổi chác có từ rất lâu trước khi mà pháp luật về hợp đồng ra đời.Hành vi trao đổi đầu tiên của loài người là trao đổi tù binh giữa các bộ lạc ỞViệt Nam ta, thời Hùng Vương thứ III, Mai An Tiêm cũng “kinh doanh” dịch
vụ hàng đổi hàng (đổi dưa hấu lấy vật dụng khác) Pháp luật hợp đồng ra đời
từ nhu cầu thực tế để bảo đảm một hậu quả chung và công bằng cho các bên.Hợp đồng ra đời trước và pháp luật hợp đồng phục vụ nó chứ không phảingược lại Pháp luật hợp đồng ra đời để công nhận sự tồn tại về mặt pháp lý
(tức là được pháp luật bảo vệ) của hợp đồng Luật La Mã (Corpus Iuris Civilis
của hoàng đế Justinian tại thế kỷ thứ VI trong CN) là bộ luật về hợp đồnghoàn chỉnh đầu tiên của xã hội loài người Các hệ thống pháp luật hợp đồngtrên thế giới hiện nay đều kế thừa, cả điểm hay và điểm dở, các chế định,nguyên tắc về hợp đồng của luật gia La Mã.1
1 Việc pháp luật hợp đồng của các nước theo hệ thống luật lục địa (civil law) như Pháp, Đức, Ý v.v
chịu ảnh hưởng của luật La Mã thì là đương nhiên Tuy vậy, các học giả trong hệ thống thông luật (common law) cũng cho rằng pháp luật hợp đồng của hệ thống này cũng chịu ảnh hưởng từ các học thuyết của luật La Mã Xem James Gordley, The Philosophical Origins of Modern Contract Doctrine
Trang 2Những hình thức trao đổi đơn sơ như mua bán, đổi chác từ thời cổ đạivẫn cứ tiếp tục tồn tại cho đến tận ngày nay Điển hình có thể nhìn thấy là sựhiện diện của các phiên chợ trong mọi thời kỳ, triều đại Giao dịch ở đó khôngnhất thiết phải lập thành văn bản vì nếu làm thế thì chỉ tốn thêm thời gian vàchi phí Ngoài ra, chủ thể của các giao dịch này dù không có kiến thức gì vềpháp luật cũng biết chế tài cho hành vi vi phạm Người mua có thể đổi lại mớrau hỏng hay đòi lại tiền Cách thức xác lập và giải quyết tranh chấp về cáchành vi trao đổi đã trở thành một phần kiến thức của một người bình thườngtrong xã hội dù họ thậm chí không biết chữ.
Tuy nhiên, đời sống xã hội ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp,không chỉ nằm trong phạm vi các giao dịch đổi chác, mua bán cổ sơ Conngười không còn là những cá nhân đơn lẻ hay gia đình đơn lẻ để thực hiện cáchành vi trao đổi đơn giản phục vụ cho nhu cầu sinh tồn nữa Họ có những mốiliên kết khác cho những mục tiêu, mục đích khác Giao dịch trong xã hội ngàycàng trở nên phức tạp, thoát ra khỏi các hành vi mua bán, đổi chác truyềnthống Những giao dịch này chi tiết đến mức nếu không lưu lại thì các bên cóthể không nhớ hết những gì mình đã thoả thuận Không ai có thể nhớ đượctoàn bộ những thoả thuận gia nhập WTO của Việt Nam hay thậm chí cam kết
bảo hành xe máy của nhà sản xuất với chúng ta Vì vậy, lý do thứ nhất để
hợp đồng phải được soạn thảo dưới dạng văn bản là để ghi lại những nội dung đã thoả thuận của các bên.
2 Để thỏa mãn yêu cầu về hình thức của pháp luật hợp đồng
Lý do thứ hai là pháp luật hợp đồng của các nước đều yêu cầu một
số hợp đồng nhất định phải được lập thành văn bản, thậm chí phải được công chứng, phê chuẩn v.v Không có hệ thống pháp luật hợp đồng của quốc
gia nào lại không có yêu cầu về hình thức Việt Nam không phải là ngoại lệ.Yêu cầu của pháp luật về hình thức hợp đồng sẽ được trình bày tại Phần III
“Yêu cầu đối với việc soạn thảo một hợp đồng để tránh hậu quả vô hiệu phổbiến tại Việt Nam” dưới đây
3 Để quản lý công việc tốt hơn
Lý do cuối cùng cho việc soạn thảo một hợp đồng là thông qua việc soạn thảo người soạn thảo có thể quản lý được công việc của mình cũng như sử dụng mẫu hợp đồng đó cho hợp đồng tương tự trong tương lai.
[Nguồn gốc triết học của học thuyết hợp đồng hiện đại], NXB Clarendon, 1999.
Trang 3II KỸ THUẬT SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG
1 Yêu cầu cho việc soạn thảo
1 1 Hợp đồng soạn rõ ràng, ngắn gọn nhưng đầy đủ
Yêu cầu cho việc soạn thảo một hợp đồng là hợp đồng được soạn rõràng, ngắn gọn nhưng đầy đủ chứ không phải là một hợp đồng lươn lẹo hayrối rắm Hợp đồng lươn lẹo chỉ có hiệu lực dưới mắt của vị thẩm phán lươnlẹo chứ mọi hệ thống pháp luật hợp đồng đều có cơ chế can thiệp để vô hiệu
nó.2 Thành công của việc soạn thảo là các quyền lợi của mình được thể hiện
đủ trong các điều khoản của hợp đồng Nói rằng hợp đồng phải được soạn “rõràng, ngắn gọn nhưng đầy đủ” thì dễ nhưng “rõ ràng, ngắn gọn và đầy đủ” cónghĩa như thế nào?3
Rõ ràng
Rõ ràng là yêu cầu hàng đầu đối với một hợp đồng Tức là hợp đồngphải được soạn sao cho có thể hiểu được mục đích của các bên trong hợpđồng
Lưu ý: rõ ràng không có nghĩa là chỉ rõ ràng đối với các bên trong hợpđồng mà mang nghĩa rõ ràng đối với cả bên thứ ba khi đọc hợp đồng Nếukhông thì làm thế nào mà trọng tài hoặc thẩm phán hiểu được hợp đồng muốnnói gì?!
Trong nhiều trường hợp bạn muốn rút ngắn nội dung hợp đồng vì nghĩrằng các bên đã hiểu rồi thì viết cụ thể ra làm gì nữa Suy nghĩ như thế này làsai vì hợp đồng không dừng lại ở việc thỏa thuận mà nó kéo dài cho đến tận
lúc tranh chấp Giả sử như nếu viết rằng: “bên bán đồng ý bán ngôi nhà của
mình cho bên mua” thì sau này việc chứng minh ngôi nhà nào bên bán và bên
mua muốn đề cập là vô cùng khó khăn Một ngôi nhà ở trung tâm Quận HoànKiếm hay căn hộ ở chung cư có tuổi đời 40 năm tuổi ở Kim Liên, cái nào làngôi nhà của bên bán?
Hợp đồng phải bảo đảm rằng quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đãđược thể hiện đầy đủ và kỹ càng Sử dụng ngôn ngữ nhập nhằng, đa nghĩa sẽkhiến việc thực thi hợp đồng bị trì hoãn và có thể dẫn đến tranh chấp
2 Ví dụ thông qua việc diễn giải điều khoản vô hiệu hợp đồng do vi phạm đạo đức xã hội hay nguyên tắc bảo vệ bên ngay tình trong hợp đồng.
3 Lưu ý rằng 03 yêu cầu này không nhất thiết có thể phân biệt rạch ròi mà trong nhiều trường hợp là đan xen với nhau.
Trang 4Ngoài ra, dù BLDS 2005 không quy định nhưng tất cả các bộ luật dân
sự tiên tiến đều áp dụng quy tắc contra proferentem tức là nếu ngôn ngữ của
hợp đồng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì hợp đồng sẽ được giảithích theo nghĩa có lợi cho bên không soạn thảo hợp đồng Như vậy, hậu quảcủa việc soạn thảo hợp đồng với ngôn ngữ không chính xác, gây nhiều cáchhiểu khác nhau thì chính bản thân bên soạn thảo phải gánh hậu quả mà mìnhgây ra
Ngắn gọn
Đầy đủ không có nghĩa là hợp đồng phải viết dài lê thê Việc soạn thảomột hợp đồng dài lê thê sẽ khiến người đọc bị rối trí Soạn thảo một hợp đồngngắn gọn nhưng đầy đủ khiến người đọc nắm bắt được ngay những nội dungchính
Gợi ý: yêu cầu ngắn gọn đối với người soạn hợp đồng là chỉ cần nhớ thể hiện đầy đủ những quyền lợi của mình trong hợp đồng Tất nhiên
phải lưu ý đến các yêu cầu khác để hợp đồng có thể thi hành và có hiệu lựcnhư sẽ đề cập dưới đây
Lưu ý: mặc dù BLDS 2005 và Luật thương mại không yêu cầu nhưngpháp luật hợp đồng các nước như Pháp, Đức, Nhật đều yêu cầu về những yếu
tố cơ bản của một loại hợp đồng để hợp đồng có hiệu lực Ví dụ như hợp đồngmua bán có hiệu lực khi các bên thỏa thuận xong về đối tượng mua bán và giá
cả Nếu không có thỏa thuận về hai yếu tố cơ bản này thì hơp đồng vô hiệu.Trong trường hợp của Việt Nam, nếu hợp đồng thiếu yếu tố cơ bản của loạihợp đồng đó thì hợp đồng có hiệu lực hay không?4 Ví dụ hợp đồng mua bántheo Bộ luật dân sự thiếu thỏa thuận về giá cả thì hợp đồng có được coi là cóhiệu lực hay không? Chắc chắn là không vì giá là một yếu tố cơ bản của hợpđồng mua bán Thiếu yếu tố này không có nguồn nào khác để bổ sung hay giải
4 Lưu ý rằng BLDS 1995 và Luật thương mại 2000 đều có quy định rằng hợp đồng phải có các nội dung chính dù không quy định hậu quả của việc thiếu hụt nội dung chính này Tuy nhiên, nội dung chính theo BLDS 1995 và Luật thương mại 2000 khác với yếu tố cơ bản của BLDS Pháp, Đức hay Nhật ở chỗ nếu nội dung chính của hợp đồng là rất nhiều thì yếu tố cơ bản chỉ bao gồm một hoặc hai yếu tố là đặc trưng của loại hợp đồng đó BLDS 2005 và Luật thương mại 2005 đã bỏ đi quy định về nội dung chính.
Trang 5thích vào ý chí của các bên hợp đồng Vì vậy mà hợp đồng được coi như chưathành lập và như thế không thể thi hành.5
Vì vậy, khi soạn thảo bạn phải bảo đảm rằng ít nhất những nội dungsau đã được đưa vào hợp đồng:
1 Nhân thân các bên
2 Giá cả và cách thức thanh toán
3 Đối tượng của hợp đồng (vật bán, dịch vụ v.v.)
1 2 Hãy cố gắng là người soạn thảo hợp đồng
Nếu bạn là người soạn thảo hợp đồng thì cơ hội soạn thảo sẽ cho bạnmột vị trí cực kỳ ưu thế trong quá trình đàm phán cũng như trong giai đoạnthực hiện hoặc khi xảy ra tranh chấp trong hợp đồng Cụ thể, với tư cách làbên soạn thảo, bạn sẽ có những lợi ích sau:
1 Chủ động đưa ra nội dung hợp đồng Bạn có quyền quyết địnhnhững nội dung nào nên đưa vào hợp đồng, nội dung nào không Vìvậy chủ động được nội dung đàm phán;
2 Giới hạn được đáng kể những nội dung của bên đối tác đưa ra Tấtnhiên là bên đối tác có quyền đưa ra nội dung mới hay yêu cầu bổsung hoặc bỏ đi nội dung nào đó nhưng thông thường vì họ trước hếtphải tập trung vào việc phân tích và hồi đáp các nội dung mà bạnđưa ra mà quên đi mất yêu cầu của họ;
3 Xây dựng hợp đồng với những điều khoản có lợi nhất cho phía củabạn;
4 Tránh được nỗi bực mình khi đọc dự thảo hợp đồng với những điềukhoản của bên đối tác đưa ra Nhiều khi việc đọc và phản hồi lại nộidung các điều khoản của dự thảo hợp đồng lập bởi bên đối tác cònmất thời gian hơn việc soạn thảo từ đầu
Ví dụ: chúng ta hãy thử xem vị trí ưu thế của bên soạn thảo đã được thểhiện như thế nào trong Hợp đồng mua bán điện mà chúng ta giao kết với công
ty điện lực Trong hợp đồng này có nhiều quy định rất bất lợi cho bên không
soạn thảo (hộ gia đình v.v.) Ví dụ như quy định: “Nếu công tơ chạy sai
(nhanh hoặc chậm), bên bán điện phải sửa chữa lại và phải trả chi phí kiểm định và sửa chữa công tơ.”6 Ở đây bên soạn thảo (bên cung cấp điện) đã lờ đithực tế là công tơ điện chạy nhanh thì rõ ràng là người sử dụng đã phải thanhtoán vượt quá số tiền mà đáng lẽ ra họ phải trả Hay như quy định tại khoản 9Điều 6 của Hợp đồng:
5 Lưu ý rằng Luật thương mại có điều khoản về căn cứ để xác định giá trong trường hợp các bên không có thỏa thuận (Điều 52)
6 Hợp đồng trích dẫn Điều 36 của Nghị định 45/2001/NĐ-CP ngày 02/08/2001 về hoạt động điện lực
và sử dụng điện.
Trang 69 Bồi thường thiệt hại cho Bên mua điện trong các trường hợp:
a) Nếu Bên bán điện gây sự cố chủ quan trên lưới điện trực tiếp dẫn đến làm hư hỏng thiết bị của Bên mua điện thì Bên bán điện bồi thường thiệt hại trực tiếp này bằng giá trị bù đắp lại phần hư hỏng của thiết
bị trên cơ sở thỏa thuận với Bên mua điện.
b) Nếu Bên bán điện áp giá điện cao hơn giá quy định thì bên Bán điện bồi thường thiệt hại cho Bên mua điện bằng khoản tiền chênh lệch giá trong thời gian áp giá sai.
c) Nếu Bên bán điện ghi sai chỉ số điện kế dẫn đến thu tiền điện nhiều hơn thực tế sử dụng của Bên mua điện thì Bên bán điện hoàn trả số tiền điện thu thừa cho Bên mua điện.
Nhìn vào khoản 9 Điều 6 Hợp đồng mua bán điện sinh hoạt này thìchúng ta thấy nhà cung cấp (Bên bán điện) chỉ bồi thường thiệt hại trong 03trường hợp họ nêu ra Họ đã lờ đi các trường hợp phổ biến hơn mà người tiêudùng muốn họ phải bồi thường là cung cấp điện không ổn định, cắt điệnkhông thông báo, sử dụng điện kế giả v.v
Lưu ý: về lý thuyết thì có thể buộc Bên bán điện bồi thường thiệt hạitrên cơ sở bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, yêu cầu bồi thườngtheo căn cứ này thì khó hơn vì bên mua phải chứng minh được lỗi của Bênbán điện (bên cạnh các yếu tố khác như đó phải là quyền, lợi ích được phápluật bảo vệ, có thiệt hại xảy ra và có quan hệ nhân quả giữa hành vi của Bênbán điện và thiệt hại của Bên mua) Việc Bên mua (đa phần là các hộ gia đình)chứng minh rằng Bên bán điện có lỗi là điều không hề dễ dàng gì Họ khôngthể biết được trong cái mớ bòng bong về sản xuất, vận hành, tải điện của nhàmáy (Bên bán điện) thì lỗi của Bên bán là ở đâu
1 3 Tham khảo các mẫu hợp đồng
Cách tốt nhất khi bắt đầu soạn thảo hợp đồng là tham khảo các mẫuhợp đồng sẵn có Nhiều mẫu hợp đồng có các điều khoản rất hay mà bạnkhông nghĩ đến cũng như nó có thể gợi ý cho bạn cách sử dụng thuật ngữ, câuvăn cho thích hợp Tuy nhiên, phải lưu ý rằng việc tham khảo khác với việcdựa vào hoặc ỷ lại vào một mẫu hợp đồng Bởi vì một mẫu hợp đồng mà bạntham khảo phản ánh lợi ích của bên soạn thảo hợp đồng trong hợp đồng đó.Chẳng có người soạn thảo nào mà lại thức đêm ngày để soạn thảo ra hợp đồngbảo vệ quyền lợi của bạn cả Họ đơn giản không quen bạn và không cần quantâm đến quyền lợi của bạn Họ chỉ quan tâm đến quyền lợi của họ trong hợpđồng họ soạn Vì vậy, bạn nên soạn thảo hợp đồng để qua đó phản ánh quyềnlợi của mình
Trang 71 4 Làm cho hợp đồng trông chuyên nghiệp
Hợp đồng không nên đơn thuần chỉ là chữ đen trên nền giấy trắng Bạnnên bổ sung trên nền hợp đồng các họa tiết khiến nó trở nên chuyên nghiệp
Ví dụ như tiêu đề tên công ty tại đầu trang hay lô gô, tiêu đề của nó in chìmtrong trang giấy Một hợp đồng với vẻ bề ngoài chuyên nghiệp sẽ tạo ấn tượngrất tốt cho đối tác dù nội dung hợp đồng hay dở thế nào thì xét sau Đối tác sẽ
có cảm tưởng rằng bạn là người chuyên nghiệp và có kinh nghiệm trong kinhdoanh
Trong một số trường hợp, bạn nên làm cho hợp đồng có vẻ như là hợpđồng là hợp đồng theo mẫu soạn sẵn Tức là nó được soạn ra và áp dụng chođông đảo đối tượng chứ không riêng gì đối tác của vụ này (vì thế mà họ yêntâm)
Tâm lý của người tiêu dùng hay bên mua nói chung thường e ngại rằngmình bị lép vế, bắt bí, ép giá v.v trong hợp đồng Vì vậy, nếu hợp đồngmang dáng vẻ bề ngoài như hợp đồng đã và đang được giao kết với đôngđảo đối tượng thì họ sẽ yên tâm hơn
1 5 Sử dụng phụ lục hợp đồng
Phụ lục hợp đồng là phần bổ sung vào phần hợp đồng chính Tuy vậy,
nó vẫn là một phần không tách rời của hợp đồng chính Phụ lục hợp đồng giữ
ba chức năng chính sau: Thứ nhất, để hợp đồng chính không sa đà vào các nội
dung quá chi tiết Người đọc vì thế vẫn hiểu được mạch chính (các thỏa thuận
chính) của hợp đồng mà không bị rối Thứ hai, giúp liệt kê một cách chi tiết
thỏa thuận hay yêu cầu của một hoặc các bên hợp đồng Ví dụ như phụ lục của
hợp đồng mua bán có thể miêu tả chi tiết yêu cầu đối với hàng hóa Thứ ba,
giúp phân chia hợp đồng thành phần chính và phần phụ Phần chính có thể sửdụng lại với đối tác tương lai Khi đó, yêu cầu của bên đối tác mới chỉ cần liệt
kê vào phụ lục là được
Trong hợp đồng chính cần đề cập đến tổng số phụ lục và số trang củamỗi phụ lục
2 Yêu cầu về nội dung
Về nguyên tắc, các bên có quyền đưa vào bất kỳ thỏa thuận gì tronghợp đồng miễn là thỏa thuận đó không trái với quy định cấm của pháp luậthoặc đạo đức xã hội.7 Vì vậy, hãy làm sao cho quyền lợi của mình được thể
7 Lưu ý rằng BLDS 2005 yêu cầu rằng việc xác lập, thực hiện hay chấm dứt hợp đồng (Điều 10, 377
và 412) không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là không cần thiết nhìn dưới góc độ luật tư Bởi vì việc xâm phạm đến lợi ích của nhà
Trang 8hiện ở mức tối đa trong hợp đồng cũng như dự liệu mọi tình huống có thể dẫn đến tranh chấp để định ra kết cục của tranh chấp đó.
Lưu ý: pháp luật hợp đồng các nước được xây dựng trên tinh thần làcác quy định của pháp luật hợp đồng đóng vai trò bổ sung ý chí cho các bêntrong trường hợp các bên không có thỏa thuận và mang đến một hậu quả pháp
lý mà xã hội cho là công bằng khi có tranh chấp Thỏa thuận luôn luôn đóng
vị trí tối cao trong hợp đồng miễn là thỏa thuận không trái với quy định cấmcủa pháp luật và đạo đức xã hội Các quy định của pháp luật hợp đồng đóngvai trò thứ yếu, tùy nghi, đứng sau thỏa thuận của các bên Các bên có toànquyền sử dụng hoặc không sử dụng các quy định này hoặc thỏa thuận khác đi
Vì vậy mà nó khác với các quy định hành chính, hình sự hoặc các quy địnhcủa luật dân sự về vật quyền vốn mang tính bắt buộc (cưỡng bách) Hành vi viphạm các quy định nói trên sẽ bị trừng phạt theo các biện pháp hành chính,hình sự hoặc khôi phục tình trạng ban đầu và/hoặc bồi thường thiệt hại theobiện pháp dân sự Ngược lại, thỏa thuận của các bên hợp đồng nếu trái với quyđịnh pháp luật về hợp đồng (trừ điều khoản về quy định cấm của pháp luật) thìđược tôn trọng Pháp luật hợp đồng Việt Nam dường như không được xâydựng theo tinh thần này Dường như trong quy định nào nhà làm luật cho phépcác bên được thỏa thuận khác thì sẽ cho vào mệnh đề bổ ngữ “trừ trường hợp
có thỏa thuận khác” hay “… do các bên thỏa thuận.” Các quy định khác (vốncũng là quy định tùy nghi) nhưng không có mệnh đề bổ ngữ này khiến có cảmgiác đây là những quy định bắt buộc (quy định cấm) của luật dân sự, các bênbuộc phải tuân thủ (dù trong đa số các trường hợp nhà làm luật không quyđịnh chế tài của việc vi phạm) mà không được thỏa thuận khác đi
Nội dung của hợp đồng là thỏa thuận về nghĩa vụ phải làm của các bênhợp đồng cũng như việc định ra cách thức giải quyết khi một bên vi phạmnghĩa vụ này Việc thỏa thuận trước khiến cho các bên có thể kiểm soát đượckết cục của tranh chấp nếu xảy ra Khi soạn thảo, một số nội dung hay điềukhoản (thỏa thuận) dưới đây cần được người soạn thảo lưu ý
2 1 Quốc hiệu
Nhiều hợp đồng có phần quốc hiệu “Cộng hòa xã hội ” tại phần đầutiên của hợp đồng Quốc hiệu này có cần không? Câu trả lời là không cần thiết
vì không có quy định nào của pháp luật yêu cầu hợp đồng phải có quốc hiệu
cả Một hợp đồng không có quốc hiệu không mang hậu quả vô hiệu Không có
sự khác biệt giữa hợp đồng có quốc hiệu và hợp đồng không có quốc hiệu Vì
nước hay lợi ích công cộng đã được luật hành chính, luật hình sự điều chỉnh, mà không thuộc lĩnh vực luật tư Nhà nước nếu tham gia vào giao dịch dân sự thì cũng chỉ có địa vị bình đẳng với bên giao dịch khác mà thôi Lợi ích của cá nhân khác thì đã được luật dân sự bảo vệ thông qua các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hoàn trả do hưởng lợi không có căn cứ pháp luật.
Trang 9vậy, việc có hay không đưa quốc hiệu vào vị trí đầu tiên của hợp đồng thuộctoàn quyền của người soạn thảo.
2 2 Các ghi nhớ hay cam kết
Phần ghi nhớ thường nằm trước các thỏa thuận chính của hợp đồnghoặc có thể đặt đan xen vào các điều khoản Lưu ý rằng nội dung ghi nhớkhông bắt buộc phải có đối với một hợp đồng tuy nhiên nó sẽ có ích khi tranhchấp xảy ra Một bên có thể dựa vào một nội dung ghi nhớ trong hợp đồng đểdành lợi thế cho lập luận của mình khi tranh tụng Ví dụ như nếu có ghi nhớrằng bên đối tác là một nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu và có trách nhiệm thìnếu thực tế không phải như thế thì có thể sử dụng ghi nhớ này để bảo vệquyền lợi của mình Hoặc ghi nhớ “căn cứ vào nhu cầu của bên sử dụng vàkhả năng của bên cung cấp” để giúp khẳng định hợp đồng được giao kết hoàntoàn không có tỳ vết gì về lừa dối hay cưỡng bức
Một số ghi nhớ cơ bản:
1 Mục đích của các bên trong hợp đồng?
2 Căn cứ nào để các bên tiến hành giao kết hợp đồng (căn cứ vào khả năng và nhu cầu của mỗi bên v.v.)?
3 Có bên nào tuyên bố rằng mình có kinh nghiệm lâu năm, là tổ chức hàng đầu hay có chuyên môn cao trong lĩnh vực giao kết hay không?
Ví dụ trong hợp đồng liên doanh thường có điều khoản tuyên bố và bảođảm chung (general representations and warranties) như sau:
Mỗi bên hợp đồng tuyên bố và bảo đảm rằng:
1 Bên đó có năng lực để tham gia, thực hiện Hợp đồng, mọi giao
dịch và thỏa thuận phát sinh từ Hợp đồng và có năng lực để đã
hoặc sẽ thực hiện đúng đắn các hành vi cần thiết khác cho phép
nó tham gia, thực hiện Hợp đồng, mọi giao dịch và thỏa thuận
phát sinh từ Hợp đồng;
2 Bên đó sẽ không vi phạm bất cứ thỏa thuận hoặc giao dịch nào
khác khi tham gia hoặc thực hiện Hợp đồng và Hợp đồng này
khi được ký sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu lực và bắt
buộc đối với bên đó theo các điều khoản của Hợp đồng; và
3 Bên đó có khả năng để góp Vốn pháp định theo cách thức và
dưới hình thức được quy định tại Hợp đồng này
Lưu ý: Hợp đồng của chúng ta thường có phần căn cứ trong đó có ghicăn cứ vào Bộ luật dân sự, Luật thương mại và trước đây là Pháp lệnh HĐ
Trang 10kinh tế và Nghị định 17-HĐBT (quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh HĐKT).Căn cứ này có cần thiết không? Câu trả lời là không vì như trên đã nói phápluật hợp đồng được xây dựng nên để bổ sung ý chí cho các bên và mang lạimột kết cục được cho là công bằng nhất khi xảy ra tranh chấp Hợp đồng củacác bên là điều kiện tiên quyết để xây dựng pháp luật về hợp đồng chứ khôngphải pháp luật hợp đồng là điều kiện tiên quyết để hợp đồng được xác lập
2 3 Điều khoản định nghĩa các thuật ngữ dùng riêng cho hợp đồng trong các hợp đồng phức tạp
Điều khoản định nghĩa giúp xây dựng riêng thuật ngữ dùng trong hợpđồng khác với cách hiểu thông thường của thuật ngữ đó, qua đó mở rộng thêmquyền hay nghĩa vụ của các bên hoặc để rút gọn hoặc tránh lặp lại một tập hợp
từ khiến người đọc bị rối
Ví dụ: trong một hợp đồng, tổn thất được định nghĩa như sau:
“Tổn thất bao gồm mọi trách nhiệm dân sự, tiền bồi thường, án phí,phí dàn xếp tranh chấp và các chi phí hợp lý khác (bao gồm cả thù lao
luật sư, chi phí giám định, chi phí đi lại và ăn ở).”
Như định nghĩa trên đây thì bằng việc định nghĩa tổn thất, người soạnthảo đã đạt được hai mục đích: thứ nhất, không phải liệt kê lại mọi khoản chiphí trong hoàn cảnh cần thiết Thứ hai, giới hạn hay mở rộng phạm vi của chiphí
2 4 Điều khoản về tên của hợp đồng
Để thuận tiện cho việc áp dụng các quy định của pháp luật về hợpđồng, đối với một số hợp đồng phức tạp, bạn có thể cân nhắc xem có nên đưađiều khoản về tên hợp đồng vào hay không? Điều khoản này tuyên bố rằng têncủa hợp đồng không có nghĩa là hợp đồng mang bản chất như vậy (và vì vậykhông chỉ được diễn giải và áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến loạihợp đồng đó) Điều khoản này giúp mở rộng việc áp dụng các quy định phápluật của loại hợp đồng khác để giải thích hợp đồng khi quy định của pháp luậtđối với hợp đồng đặc thù đó bị thiếu
Ví dụ: thậm chí các bên lấy tên hợp đồng là hợp đồng mua bán nhưng
có thể đưa điều khoản về tên của hợp đồng như sau:
“Tên của hợp đồng chỉ sử dụng cho mục đích tham khảo Nó không cónghĩa rằng hợp đồng mang bản chất như vậy cũng như không ảnhhưởng đến việc giải thích Hợp đồng và Phụ lục của nó.”
Trang 112.5 Điều khoản miêu tả đối tượng hợp đồng
Đối tượng (vật, tài sản, việc phải làm) của hợp đồng phải được miêu tảchính xác Ngoại trừ vật hay tài sản đó là cùng loại, khi đối tượng hợp đồng là,
ví dụ, vị trí căn nhà, ô tô đời X, Y, Z, mầu sơn v.v thì cần phải ghi chính xácvào hợp đồng nếu không hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu do không được xácđịnh cụ thể hoặc do bị nhầm lẫn
2 6 Điều khoản thanh toán
Nên ghi nhớ rằng điều khoản thanh toán là rất quan trọng Nó có thểkhiến cho hợp đồng bị coi là chưa giao kết như đã nói tại Điểm 1 1 trên Cácbên không nên để cho đến khi hợp đồng đã giao kết mới thỏa thuận Điềukhoản thanh toán nên có những nội dung sau:
1 Giá trị hợp đồng (giá thanh toán);
2 Khi nào thanh toán;
3 Phương thức thanh toán;
4 Ai thanh toán phần thuế phải nộp và ai chịu các chi phí có thể phát sinh khác;
5 Hậu quả hay chế tài của việc thanh toán chậm hoặc không thanh toán
Lưu ý rằng BLDS 2005 và Luật thương mại có những quy định về thờiđiểm thanh toán, phương thức thanh toán, chế tài đối với hành vi vi phạm vàthậm chí cả cách thức xác định giá (BLDS 2005 không có quy định này) Tuynhiên, các điều khoản thanh toán đó là quy định của pháp luật chứ không phảithỏa thuận của các bên Nó không phản ánh lợi ích tốt nhất của các bên Ngoài
ra, vì pháp luật hợp đồng không quy định rằng bên nào phải chịu chi phí phátsinh nên trong một số hợp đồng, ví dụ như sáp nhập công ty, các bên đã quênkhông thỏa thuận về ai sẽ phải bồi thường do việc chấm dứt lao động trướcthời hạn với một số lao động dôi dư Vì thế mà tranh chấp đã xảy ra
2 7 Điều khoản về điều kiện sửa đổi hợp đồng
Dù BLDS 2005 không yêu cầu việc sửa đổi các điều khoản hợp đồngphải lập thành văn bản nhưng một khi hợp đồng đã quyết định nên hoặc phảilập thành văn bản thì bạn cần có một điều khoản trong hợp đồng yêu cầu rằngviệc sửa đổi hợp đồng (bổ sung, sửa đổi hoặc bỏ đi câu chữ, thỏa thuận nào
đó) cũng phải được lập thành văn bản Điều khoản yêu cầu việc sửa đổi hợp
đồng phải lập thành văn bản chính là bảo vệ bạn khỏi phiền phức một lúc nào đó sau này bởi vì bên đối tác cứ nhất định cho rằng bạn đã nói với họ (hoặc trực tiếp hoặc qua điện thoại v.v.) cho phép họ sửa đổi hợp đồng.
Trang 122 8 Điều khoản về giữ bí mật thông tin
Trong thời đại thông tin là tiền bạc thì thông tin nhiều khi có giá trị hơn
cả tài sản hữu hình của bên giao kết hợp đồng Vì vậy mà rất nhiều hợp đồng
có thỏa thuận về việc các bên phải giữ bí mật thông tin trong suốt quá trìnhthực hiện hợp đồng, sau khi hợp đồng đã hoàn thành và thậm chí kể cả khihợp đồng bị đổ vỡ (không được giao kết hoặc bị chấm dứt, hủy bỏ) Căn cứvào từng loại giao dịch mà điều khoản giữ bí mật thông tin có thể rất sơ lược
như: “Mỗi bên tham gia Hợp đồng này có nghĩa vụ giữ bí mật mọi thông tin
mà mình được bên kia cung cấp và thông tin này không được tiết lộ cho bất
cứ bên thứ ba nào nếu không được sự đồng ý trước bằng văn bản của bên kia.” Nó cũng có thể rất tiên tiến và chi tiết như:
“a Mỗi bên hợp đồng (sau đây gọi là “Bên nhận”) phải giữ bí mật mộtcách nghiêm ngặt thông tin được tiết lộ bằng văn bản, bằng lời, hìnhảnh hoặc bằng phương tiện khác bởi bên kia (sau đây gọi là “Bên tiếtlộ”) hoặc bằng cách khác làm cho Bên nhận biết được thông tin màBên tiết lộ xem là thuộc sở hữu của mình hoặc là thông tin mật (sauđây gọi chung là “Thông tin mật”) Không có hạn chế đối với tính kháiquát của quy định vừa nêu, mọi thông tin đặc quyền về kinh doanh,hoạt động, nhà cung cấp, sản phẩm, sản xuất sản phẩm, mua bán, tiếpthị hoặc phân phối, bí mật thương mại và sở hữu trí tuệ phải được Bêntiếp nhận coi là Thông tin mật Bất kỳ dữ liệu hoặc thông tin khác liênquan đến hoặc có được từ thử nghiệm của Sản phẩm phải được cả haibên coi là Thông tin mật Bên tiết lộ phải có nỗ lực hợp lý dưới khíacạnh thương mại để chỉ định tài liệu Thông tin mật nào tiết lộ cho bênkia là Thông tin mật bằng cách đánh dấu rõ đó là “mật.” Việc quênđánh dấu không có nghĩa Điều khoản về giữ bí mật thông tin nàykhông được áp dụng “Thông tin mật” không gồm các thông tin:
(i) đã hoặc đang trở nên phổ biến cho công chúng;
(ii) đã được bên Tiếp nhận có được một cách hợp pháp trên cơ sởkhông phải là thông tin mật từ Bên thứ ba, người không có nghĩa
vụ giữ bí mật hoặc không được tiết lộ đối với Bên tiết lộ;
(iii) có thể được Bên tiếp nhận chứng minh rằng thông tin đó đã đượctriển khai độc lập bởi hoặc dành cho Bên tiếp nhận;
(iv) được Bên tiếp nhận chứng minh rằng mình đã có nó trước khibên kia tiết lộ và thông tin này đã không lấy, trực tiếp hoặc giántiếp, từ bên kia cùng với nghĩa vụ về giữ bí mật
b Bên tiếp nhận phải sử dụng Thông tin mật chỉ cho các mục đích củaHợp đồng này và không được tiết lộ hoặc phát tán bất kỳ Thông tinmật nào cho bất kỳ bên thứ ba nào tại thời điểm nào mà trước đókhông được Bên tiết lộ chấp thuận bằng văn bản trừ trường hợp việctiết lộ cho giám đốc, quan chức, nhân viên, kế toán viên, luật sư, cố
Trang 13vấn, đại diện và đại lý – những người mà nghĩa vụ của họ buộc họphải tiếp cận đến Thông tin mật đó – với điều kiện là giám đốc, quanchức, nhân viên, kế toán viên, luật sư, cố vấn, đại lý và đại diện đượcyêu cầu phải sử dụng Thông tin mật chỉ cho các mục đích của Hợpđồng này và duy trì tình trạng mật của Thông tin mật đó ở mức nhưthể họ là các bên hợp đồng.
c Nghĩa vụ giữ bí mật và không tiết lộ nói trên không áp dụng đối vớicác thông tin được luật hoặc quy chế yêu cầu tiết lộ; với điều kiện là(i) Bên tiếp nhận thông báo cho Bên tiết lộ trong một thời gian hợp lýtrước về việc tiết lộ; (ii) Bên tiếp nhận có nỗ lực hợp lý từ chối việctiết lộ Thông tin mật.”8
2 9 Điều khoản về sự kiện bất khả kháng
Hợp đồng nên có thỏa thuận về sự kiện bất khả kháng trong đó địnhnghĩa thế nào là bất khả kháng, nghĩa vụ của bên không thực hiện hợp đồng dobất khả kháng và hậu quả từ sự kiện bất khả kháng Điều khoản này là cầnthiết bởi sự kiện bất khả kháng là nằm ngoài phạm vi kiểm soát, tiên đoán củacác bên Do đó, nếu nó có xảy ra thì cần có một hậu quả chung đã được cácbên thống nhất trước để áp dụng Như thế có thể giúp tránh việc lúng túngtrong xử lý hoặc bất đồng nếu sự kiện bất khả kháng xảy ra mà các bên không
có thỏa thuận trước Hiện nay, sự kiện bất khả kháng không còn nằm trongphạm vi truyền thống là thiên tai, chiến tranh hay cấm vận nữa mà còn mởrộng sang các sự kiện khác như đình công, nổi loạn, bạo động, phá hoại haythậm chí quy định của nhà nước v.v
Ví dụ về một điều khoản về bất khả kháng:
“Mỗi bên không chịu trách nhiệm cho các tổn thất, thiệt hại, chậm trễthực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng phát sinh trực tiếp hoặc giántiếp từ những nguyên nhân vượt quá khả năng kiểm soát hợp lý củabên đó bao gồm, nhưng không giới hạn đối với, luật, quy định, việcthực hiện hoặc không thực hiện của cơ quan nhà nước, chiến tranh,bạo loạn, nổi dậy, điều kiện thời tiết không bình thường, hỏa hoạn, bãolụt, động đất hoặc những thiên tai tương tự, đình công trong vùng hoặctrên khắp quốc gia v.v
Trong trường hợp này, bên bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng sẽthông báo cho bên kia trong thời hạn [số ngày hợp lý do hai bên thỏathuận] ngày sau khi xảy ra sự kiện này Nếu việc thực hiện Hợp đồngnày bị cản trở bởi những lý do đề cập ở trên trong thời hạn liên tục [sốngày do hai bên thỏa thuận] ngày hoặc một khoảng thời gian lâu hơn
8 Đây là điều khoản về giữ bí mật thông tin trong hợp đồng của công ty Google ký với đối tác.
Trang 14thì bất kỳ bên nào cũng có quyền chấm dứt Hợp đồng này bằng cáchthông báo bằng văn bản cho bên kia.”
Lưu ý: BLDS 2005 có quy định về sự kiện bất khả kháng và hậu quảcủa nó Khoản 2 Điều 302 quy định rằng: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụkhông thể thực hiện được nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phảichịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật cóquy định khác.”
Nhìn vào quy định trên chúng ta có thể thấy những thiếu sót sau:
1 BLDS không có định nghĩa thế nào là sự kiện bất khả kháng
2 BLDS quy định rằng khi sự kiện bất khả kháng xảy ra thì bên cónghĩa vụ được miễn trách nhiệm (không phải giao vật, bồi thườngthiệt hại) thế nhưng trách nhiệm của bên đối tác trong trường hợpnày còn tồn tại không?
3 Trong trường hợp bất khả kháng thì một hoặc các bên có quyềnchấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng không?
4 Sự kiện bất khả kháng có áp dụng đối với nghĩa vụ thanh toán tiềnhay không?
2 10 Điều khoản về điều kiện hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng
Khác với các hệ thống pháp luật hợp đồng khác, pháp luật hợp đồngViệt Nam không quy định về một hậu quả chung đối với vi phạm hợp đồngdẫn đến việc một bên muốn hủy bỏ hay chấm dứt hợp đồng
Điều 425 và 426 BLDS 2005 quy định rằng hợp đồng chỉ bị huỷ bỏ hayđơn phương chấm dứt nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.Trong 13 loại hợp đồng điển hình, nhà làm luật quy định những trường hợpnào thì một bên có quyền hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng dân sự và dừng lại ở đây Quy định như thế này dẫn đến một hậu quả
nghiêm trọng là một hợp đồng có thể sẽ không bao giờ có thể chấm dứt nếu nó nằm ngoài 13 loại hợp đồng điển hình quy định tại BLDS và đồng thời các bên đã quên không thoả thuận điều kiện để chấm dứt hợp đồng.
Như vậy, hợp đồng nằm ngoài 13 loại hợp đồng điển hình hay hợp đồng đamục đích về lý thuyết là không thể huỷ bỏ hay chấm dứt một khi đã giao kếtnếu các bên không có thoả thuận về điều kiện huỷ bỏ hay chấm dứt nó
Luật thương mại có cách tiếp cận khác, tiến bộ hơn Điều 310, 311, 312
và 414 quy định rằng một bên có quyền đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng nếubên kia hoặc vi phạm thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hoặc hủy bỏ hoặcbên kia vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Điểm tiến bộ của Luật thương mại
Trang 15(khác với BLDS 2005) ở đây là tất cả các hợp đồng thương mại đều có thể
được chấm dứt Tuy nhiên, nó vẫn còn một khuyết điểm là bởi vì vẫn phân
biệt rạch ròi giữa giải pháp đình chỉ và hủy bỏ nên khi một bên muốn chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bên kia vi phạm thì phải chọn giải
pháp nào: đình chỉ hay hủy bỏ? Bên này có quyền lựa chọn hay không và
lựa chọn này có được tòa án chấp thuận hay không? Ngoài ra nếu việc lựa chọn là không khả thi hay mang lại hậu quả không công bằng cho bên kia (vì hậu quả của đình chỉ và hủy bỏ là hoàn toàn khác nhau) thì giải quyết thế nào?
Lưu ý: luật hợp đồng Nhật Bản hoặc Bộ quy tắc UNIDROIT 2004 cócách tiếp cận khác Họ quy định rằng khi một bên vi phạm thỏa thuận là điềukiện chấm dứt (hủy bỏ) hợp đồng hoặc pháp luật hợp đồng cho phép như vậythì hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng là hợp đồng trở về vị trí chưa giaokết, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Giải pháp này giống như giảipháp hủy bỏ hợp đồng theo BLDS và Luật thương mại Việt Nam Tuy nhiên,luật hợp đồng các nước quy định thêm là nếu bản chất của hợp đồng khôngcho phép các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (đối với hợp đồng laođộng hay hợp đồng mua bán dài kỳ v.v.) thì không áp dụng hậu quả đưa hợpđồng trở về vị trí chưa giao kết mà áp dụng hậu quả chỉ hoàn trả lại cho nhaunhững gì đã nhận từ thời điểm tuyên bố chấm dứt hợp đồng Như vậy, hậu quảđưa hợp đồng về vị trí ban đầu là hậu quả chung, áp dụng đầu tiên cho mọitrường hợp chấm dứt hợp đồng Hậu quả hoàn trả hợp đồng về vị trí của thờiđiểm chấm dứt là hậu quả đặc biệt, được áp dụng khi bản chất hợp đồngkhông cho phép hoàn trả lại vị trí ban đầu Hậu quả chấm dứt hợp đồng là mộtthể thống nhất gồm hậu quả chung và hậu quả đặc biệt
Vì vậy, căn cứ vào bản chất của hợp đồng mà người soạn thảo hợp đồng cần đưa vào hợp đồng những điều kiện được coi là vi phạm có thể chấm dứt (hủy bỏ) hợp đồng và hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng.
Ví dụ về điều khoản về điều kiện chấm dứt và hậu quả của việcchấm dứt trong hợp đồng thuê nhà:
Điều X:
Ngoài các nghĩa vụ được ghi tại các điều khoản khác của Hợp đồng thuê,Bên cho thuê có nghĩa vụ:
x 1 Thanh toán tiền thuê nhà đầy đủ, đúng hạn
x 2 Sử dụng Nhà cho thuê đúng mục đích, không vi phạm các quy địnhcủa pháp luật
x 3 Không được đổi hoặc cho thuê lại một phần hoặc toàn bộ Nhà chothuê
x 4 Giữ gìn, bảo quản Nhà cho thuê trong thời hạn thuê
Trang 16x 5 Sửa chữa hư hỏng do mình gây ra cho tài sản Nhà cho thuê trong thờihạn thuê.
x 6 Không tự ý cải tạo tình trạng, kết cấu của Nhà cho thuê mà khôngđược sự chấp thuận của Bên cho thuê
x 7 Bảo đảm giữ gìn vệ sinh môi trường, mức độ ồn mà pháp luật vàhàng xóm cho phép, duy trì nếp sống văn minh, có văn hóa, tôn trọng hàng xómcủa Nhà cho thuê
x 8 Bảo đảm người đại diện, nhân viên hoặc khách của mình cũng tuânthủ các nghĩa vụ của Bên thuê ghi trong Hợp đồng thuê
Điều Y:
y 1 Khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng do vi phạmnghĩa vụ nêu tại Điều X trên, Bên cho thuê sẽ gửi thông báo bằng văn bản choBên thuê về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng vì lý do Bên thuê vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng Bên thuê có nghĩa vụ trả lại nhà và hoàn tất các nghĩa vụ khác quyđịnh tại Hợp đồng thuê trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ thời điểm nhận đượcthông báo của Bên cho thuê
y 2 Hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng là hợp đồng chấmdứt sự tồn tại kể từ thời điểm Bên thuê nhận được thông báo về việc đơn phươngchấm dứt hợp đồng trước thời hạn của Bên cho thuê Cụ thể:
a) Bên Thuê phải trả lại Nhà cho thuê trong thời hạn …và phù hợp vớiphương thức trả lại nhà nói tại Điều Z trên;
b) Bên Thuê phải thanh toán nốt số tiền thuê còn thiếu nếu hành vi viphạm là không thanh toán tiền thuê nhà Trong trường hợp đã thanh toán tiền thuênhà, Bên cho thuê phải trả lại khoản tiền thuê còn lại sau khi trừ đi số ngày đãthực thuê;
c) Bên thuê không được nhận lại khoản tiền đặt cọc
2 11 Điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng
Luật thương mại 2005 vẫn đi vào lối cũ của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
1989 khi nó phân chia hợp đồng thương mại và dân sự trên tiêu chí mục đích
sinh lợi hay không sinh lợi Như vậy, có thể nhìn thấy rằng sẽ lặp lại sự rắc
rối về tòa án nào (tòa dân sự hay thương mại) sẽ thụ lý vụ án khi không thể xác định mục đích của hợp đồng (đối với một bên hợp đồng là sinh lợi một bên không hoặc thậm chí với một bên thì nửa là sinh lợi, nửa tiêu dùng)
Luật thương mại 2005 quy định rằng hợp đồng không vì mục đích sinhlợi của một bên cá nhân, tổ chức với bên kia là thương nhân thì có thể lựachọn luật thương mại để áp dụng nếu việc áp dụng là có lợi hơn cho cá nhân,
tổ chức đó Vậy nếu cá nhân, tổ chức không lựa chọn Luật thương mại là
luật áp dụng thì có thể hiểu là BLDS sẽ đương nhiên được áp dụng hay không? Nếu BLDS không được áp dụng thì các tranh chấp thương mại liên quan đề nghị, chấp nhận đề nghị, thời điểm được coi là giao kết, vô