1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

khoá luận tốt nghiệp THỰC TRẠNG TRẺ THỪA CÂN BÉO PHÌ Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

43 10K 90

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 126,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, ở Việt Nam, tỉ lệ trẻ em bị thừa cân béo phì đang có xu hướng gia tăng .Năm 2011, Báo cáo tình hình Dinh dưỡng Quốc Gia ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn quốc, tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì là 5,6%, gấp hơn 6 lần so với năm 2000. Ngoài ra, theo như nghiên cứu của các bác sĩ ở trung tâm dinh dưỡng TP.HCM và trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch về tình trạng béo phì của 198 trẻ thuộc 2 trường mầm non, một ở Phú Nhuận( thuộc nội thành), một ở Bình Khánh ( thuộc ngoại thành) thì kết quả cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì là đáng báo động. Cụ thể, đối với trường mầm non nội thành, có hơn 47% trẻ em bị thừa cân béo phì, trong đó có 20% trường hợp bị béo phì. Trường ngoại thành cũng có 22,2% trẻ thừa cân béo phì và lượng trẻ béo phì chiếm phân nửa 4. Trong những năm gần đây, thừa cân béo phì ở trẻ mầm non đang rất được quan tâm. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu là: Trần Thị Phúc Nguyệt(2002), Tìm hiểu thừa cân béo phì ở trẻ 46 tuổi thuộc nội thành Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y học. Bùi Thị Thiết(2012), Bước đầu tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng béo phì của trẻ mẫu giáo 36 tuổi, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Giáo dục Mầm non, Trường ĐHSP Hà Nội Mặc dù vậy, nhưng việc thực hiện các biện pháp phòng vẫn chưa thực sự hiệu quả và vẫn là vấn đề gây nhức nhối cho các nhà nghiên cứu Từ những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Thực trạng trẻ thừa cân béo phì ở Trường mầm non Hoạ Mi( Cầu Giấy, Hà Nội) và Trường mầm non Yên Lợi (Ý Yên, Nam Định) ”.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG TRẺ THỪA CÂN- BÉO PHÌ Ở MỘT SỐ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

8 Kế hoạch nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1 Trên thế giới

1.2 Ở Việt Nam

2 Đặc điểm tâm-sinh lý của trẻ béo phì 2.1 Đặc điểm sinh lí của trẻ béo phì 2.2 Đặc điểm tâm lí của trẻ béo phì 3 Dinh dưỡng của trẻ 5-6 tuổi

3.1 Khái niệm về dinh dưỡng

3.2 Dinh dưỡng hợp lý

3.3 Vai trò của dinh dưỡng đối với sự phát triển của cơ thể trẻ em

3.4 Dinh dưỡng cho trẻ 5-6 tuổi

4 Thừa cân- béo phì ở trẻ em

4.1 Khái niệm thừa cân- béo phì

4.2 Phương pháp xác định và đánh giá thừa cân- béo phì

4.3 Tác hại của thừa cân- béo phì

4.4 Nguyên nhân thừa cân- béo phì của trẻ em

4.5 Biện pháp phòng thừa cân- béo phì

Kết luận chương I CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BÉO PHÌ CỦA TRẺ 5-6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON HOA HỒNG (CẦU GIẤY, HÀ NỘI) VÀ TRƯỜNG MẦM NON YÊN LỢI ( Ý YÊN, NAM ĐỊNH)………

Trang 5

1 Thực trạng thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi qua điều tra trẻ ở trường mầm non HOA HỒNG (Cầu Giấy, Hà Nội) và trường mầm non Yên Lợi ( Ý Yên, Nam Định)

1.1 Vài nét về đối tượng điều tra

1.2 Mục đích điều tra

1.3 Nội dung điều tra

1.4 Cách tiến hành

1.5 Kết quả điều tra

2 Thực trạng thừa cân- béo phì của trẻ qua điều tra phụ huynh

2.1 Vài nét về đối tượng điều tra 2.2 Mục đích điều tra 2.3 Nội dung điều tra 2.4 Cách tiến hành 2.5 Kết quả điều tra 3 Thực trạng thừa cân- béo phì của trẻ qua điều tra giáo viên

3.1 Vài nét về đối tượng điều tra 3.2 Mục đích điều tra 3.3 Nội dung điều tra 3.4 Cách tiến hành 3.5 Kết quả điều tra 4 Đề xuất một số biện pháp phòng thừa cân- béo phì 4.1 Cơ sở để đề xuất một số biện pháp phòng thừa cân- béo phì 4.2 Đề xuất một số biện pháp phòng thừa cân- béo phì cho trẻ 5-6 tuổi Kết luận chương II PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận chung

2 Kiến nghị sư phạm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

nhắc đến “thời điểm vàng” của sự tăng trưởng và phát triển Đó là giai đoạn quan trọng, làm nền tảng cho sự phát triển của trẻ sau này cả về thể chất và tinh thần.Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống con người được cải

thiện,cũng như sự xuất hiện của nhiều phương tiện kỹ thuật đã dẫn đến lối sống lười vận động Đây là những nguyên nhân chính gây ra bệnh tật cho con người, đặc biệt là trẻ em.Một trong những căn bệnh nguy hiểm mà các nhà nghiên cứu đãlên tiếng đó là thừa cân- béo phì Béo phì được WHO( Tổ chức y tế thế giới) coi

là một thách thức của thiên nhiên kỉ mới và là một trong tứ chứng nan y của loài người( HIV, ung thư, béo phì, ma túy) Béo phì là mối đe dọa đến sức khỏe, tuổi thọ cũng như tăng nguy cơ đối với các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, bệnh vạch mành, tiểu đường, viêm xương khớp, sỏi mật, gan nhiễm mỡ, và một số bệnhung thư Béo phì ở trẻ em còn làm ngừng tăng trưởng sớm, dễ dẫn tới những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng, học kém

Theo số liệu được công bố năm 2008 của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) thì tỉ

lệ người mắc bệnh thừa cân- béo phì đang ngày càng gia tăng, cụ thể là 200 triệu người bị thừa cân- béo phì năm 1995, 300 triệu người vào năm 2000, 400 triệu người năm 2005 và con số này đã lên tới 500 triệu người năm 2008 Không

những thế, trên thế giới có khoảng 14 tỷ người lớn từ 20 tuổi trở lên bị thừa cân- béo phì, trong đó có 500 triệu là béo phì ( 200 triệu ở nam giới và 300 triệu ở nữ giới) Năm 2005, có 20 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân- béo phì( tăng lên 40 triệu theo số liệu năm 2011) [5]

Hiện nay, ở Việt Nam, tỉ lệ trẻ em bị thừa cân- béo phì đang có xu hướng gia tăng Năm 2011, Báo cáo tình hình Dinh dưỡng Quốc Gia ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn quốc, tỷ lệ trẻ thừa cân- béo phì là 5,6%, gấp hơn 6 lần so với năm 2000 Ngoài ra, theo như nghiên cứu của các bác sĩ ở trung tâm dinh dưỡng TP.HCM và trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch về tình trạng béo phì của 198 trẻ thuộc

2 trường mầm non, một ở Phú Nhuận( thuộc nội thành), một ở Bình Khánh

( thuộc ngoại thành) thì kết quả cho thấy tỉ lệ thừa cân- béo phì là đáng báo động

Cụ thể, đối với trường mầm non nội thành, có hơn 47% trẻ em bị thừa cân- béo phì, trong đó có 20% trường hợp bị béo phì Trường ngoại thành cũng có 22,2% trẻ thừa cân- béo phì và lượng trẻ béo phì chiếm phân nửa [4]

Trong những năm gần đây, thừa cân- béo phì ở trẻ mầm non đang rất được quan tâm Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, tiêu biểu là:

Trần Thị Phúc Nguyệt(2002), Tìm hiểu thừa cân- béo phì ở trẻ 4-6 tuổi thuộc nộithành Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Y học

Trang 8

Bùi Thị Thiết(2012), Bước đầu tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quanđến tình trạng béo phì của trẻ mẫu giáo 3-6 tuổi, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Giáodục Mầm non, Trường ĐHSP Hà Nội

Mặc dù vậy, nhưng việc thực hiện các biện pháp phòng vẫn chưa thực sự hiệu quả

và vẫn là vấn đề gây nhức nhối cho các nhà nghiên cứu

Từ những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “ Thực trạng trẻ thừacân- béo phì ở Trường mầm non Hoạ Mi( Cầu Giấy, Hà Nội) và Trường mầm nonYên Lợi (Ý Yên, Nam Định) ”

II.Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi

ở trường mầm non HOA HỒNG (Cầu Giấy, Hà Nội) và trường mầm non Yên Lợi (Ý Yên, Nam Định) để từ đó tìm ra một số nguyên nhân thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi và góp phần đề xuất biện pháp phòng

III.Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.Khách thể nghiên cứu

Trẻ 5-6 tuổi

2.Đối tượng nghiên cứu

Trẻ 5-6 tuổi bị thừa cân- béo phì

IV.Giả thuyết khoa học

Nếu có một số biện pháp phòng thừa cân- béo phì hợp lý cho trẻ 5-6 tuổi thì

sẽ giảm tỉ lệ mắc bệnh của trẻ hiện nay

V.Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lý luận

2 Điều tra thực trạng thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi

3 Tìm nguyên nhân thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi để đề xuất một số biện pháp phòng bệnh cho trẻ

Trang 9

VI.Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp chính:

1.Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đọc, phân tích và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu đểxây dựng cơ sở lí luận

2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.2.Phương pháp đàm thoại, trò chuyện

-Mục đích: thu thập thêm thông tin về thực trạng thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi.-cách tiến hành: Trao đổi, trò chuyện với trẻ, phụ huynh và giáo viên bằng hệ thống câu hỏi, ghi chép lại thông tin và xử lí thông tin thu được nhằm đánh giá thực trạng và một số nguyên nhân gây ra thừa cân- béo phì ở trẻ 5-6 tuổi

2.3.Phương pháp nhân trắc học

Dùng các thông số về chiều cao và cân nặng để đánh giá trẻ thừa cân- béo phì

: sử dụng phương pháp cân đo để xác định trẻ bị béo phì Nếu trẻ có chiều cao đạt

mức ở chuẩn bình thường mà cân nặng vượt mức bình thường 25% thì trẻ có nguy

cơ bị béo phì Nếu cân nặng vượt mức bình thường 50% chắc chắn trẻ bị béo phì

Cụ thể:

+Đo chiều cao:

-Dụng cụ: thước gôc với độ chia tối thiểu là 0,1cm

-Thao tác: trẻ bỏ dép, đứng quay lưng vào thước, dưới thước đo, mắt nhìn thẳng sao cho vai, mông, gót cùng chạm vào mặt phẳng có thước Người đo kéo ê ke nhẹ

Trang 10

theo phương thẳng đứng, khi chạm sát đỉnh đầu đối tượng thì đọc kết quả và ghi theo cm với một số thập phân.

+Đo cân nặng:

-Dụng cụ: cân đồng hồ với độ chính xác là 100g

-Vị trí đặt cân: nơi bằng phẳng, thuận tiện để cân

-Chỉnh cân: chỉnh cân về số 0 trước khi cân, kiểm tra độ nhạy của cân Thường xuyên kiểm tra độ chính xác của cân sau 10 lượt cân

-Kỹ thuật cân: đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ giầy dép, mũ nón và các vật nặng khác trên người Trẻ ngồi giữa cân, không cử động Người cân trẻ ngồi đối diện chính giữa mặt cân, khi cân thăng bằng đọc kết quả theo đơn vị kg với một số thập phân

+Cách tính tuổi: cách tính tuổi theo WHO đã được tích hợp trong WHO Anthro v3.2.2 tính từ ngày, tháng, năm sinh đến ngày , tháng, năm tiến hành cân đo Trẻ 3tuổi: 24 tháng 1 ngày đến 36 tháng 0 ngày; trẻ 4 tuổi: 36 tháng 1 ngày đến 48 tháng

0 ngày; trẻ 5 tuổi: 48 tháng 1 ngày đến 60 tháng 0 ngày; trẻ 6 tuổi: 60 tháng 1 ngàyđến 72 tháng 0 ngày

2.4.Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket

- Mục đích: trưng cầu ý kiến của giáo viên và phụ huynh để tìm hiểu thực trạng

thừa cân- béo phì ở trẻ 5-6 tuổi

-Cách tiến hành:

+Lập phiếu điều tra với những câu hỏi liên quan đến thực trạng dinh dưỡng của trẻ.+Phát phiếu trưng cầu ý kiến cho phụ huynh và giáo viên trả lời, sau đó thu lại phiếu Bên cạnh đó, trò chuyện trao đổi thêm với phụ huynh, giáo viên về đặc điểmtrẻ bị bệnh, nguyên nhân, biện pháp mà gia đình đã áp dụng cho trẻ khắc phục tình trạng thừa cân, béo phì

2.5.Phương pháp thống kê toán học

-Xử lí kết quả nghiên cứu, số liệu thu thập được bằng phần mềm WHO-Anthro

2005, SPSS11.5, và phần mềm Microsoft Excel 2003 Sauk hi nhập các kích thước

Trang 11

về chiều cao, cân nặng, giới tính, ngày sinh, ngày đo, phần mềm sẽ cho phép đánh giá được tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong nghiên cứu.

2.6 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

Sau khi có kết quả nghiên cứu sẽ tổng kết lại và đưa ra kiến nghị sư phạm

VII.Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 200 trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non HOA HỒNG ( Cầu Giấy, Hà Nội) và trường mầm non YênLợi (Ý Yên, Nam Định)

VIII.Kế hoạch nghiên cứu

Từ tháng 9/2016 đến tháng 10/2016: Xây dựng đề cương chi tiết

Từ tháng 11/2016 đến tháng 12/2016: Nghiên cứu xây dựng phần cơ sở lý luận của đề tài

Từ tháng 1/2017 đến tháng 3/2017: Điều tra thực trạng thừa cân- béo phì của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non non HOA HỒNG ( Cầu Giấy, Hà Nội) và trường mầm non Yên Lợi (Ý Yên, Nam Định)

Tháng 4/2017: Thu thập, xử lí số liệu, phân tích để hoàn thành đề tài nghiên cứu

Tháng 5/2017: Bảo vệ khóa luận

PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Trang 12

Trong gẩn 30 năm trở lại đây, số trẻ em Mỹ mắc bệnh béo phì tăng gấp đôi Vàcon số vẫn không ngừng tăng: theo số liệu thống kê từ NHANES , bộ phận điều trasức khỏe quốc gia và kiểm nghiệm dinh dưỡng Hoa Kỳ thì trong khoảng từ năm1980-2008, tỉ lệ trẻ em 2-5 tuổi mắc bệnh béo phì tăng từ 5,4%-10,4% [12].

1.1 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thừa cân- béo phì gia tăng là vấn đề sức khỏe cộng đồng mớicần được quan tâm.Vấn đề là các bậc cha mẹ cho trẻ ăn uống và cung cấp mộtlượng dinh dưỡng quá dư thừa dẫn đến tình trạng hiện nay số trẻ em bị béo phì ởthành thị tăng tăng lên một cách nhanh chóng Theo điều tra về tình trạng dinhdưỡng ở bà mẹ và trẻ em năm 2000 do Bộ Y tế, UNICEF và tổng cục thống kêtiến hành thì tỷ lệ trẻ mầm non bị thừa cân và béo phì trên toàn quốc là 4,8%, tănghơn 6,2 lần so với 9 năm trước, trong đó chủ yếu là trẻ thành thị [13]

Tại thành phố HCM, theo Trung tâm dinh dưỡng, tỉ lệ thừa cân và béo phì từ6-12 tuổi là 12%, tại Nha Trang theo điều tra của viện Pasteur 4,3 % trẻ thừa cân.Tại Đà Nẵng năm 2009, thành phố đã báo động tình trạng thừa cân béo phì của trẻdưới 5 tuổi là 8,8%, sau hơn một năm đưa ra chương trình phòng chống béo phìthì tỷ lệ trẻ dưới năm tuổi có thừa cân béo phì vẫn tiếp tục tăng lên đến 11,5%[12]

Trang 13

Từ năm 2000, đã có rất nhiều công trình, các khóa luận nghiên cứu thừa béo phì Một trong số đó là:

Bùi Thị Thiết(2012), Bước đầu tìm hiểu thực trạng và một số yếu tố liên quanđến tình trạng béo phì của trẻ 3-6 tuổi [1]

Ngô Thị Minh Ngọc, nghiên cứu ảnh hưởng của thừa cân- béo phì lên một sốchỉ tiêu sinh học và khả năng học tập của học sinh Trung học Phổ thông Hà Nội [1] Trần Thị Phúc Nguyệt, Tìm hiểu tình hình thừa cân- béo phì ở trẻ 4-6 tuổithuộc nội thành Hà Nội [12]

Đào Thị Yến Phi, Tổng quan về thừa cân- béo phì[1]

Nguyễn Thị Thùy Ninh, Nguyễn Thị Phương, Tìm hiểu tỉ lệ béo phì ở trẻ emlứa tuổi mầm non 24-60 tháng và một số yếu tố liên quan [9]

Đặng Hồng Hạnh(2010), Bước đầu tìm hiểu thực trạng béo phì của trẻ 5-6tuổi ở trường mầm non Trung Tự quận Đống Đa và trường mầm non Hoa Senquận Kim Mã- Hà Nội [2]

2 Đặc điểm tâm- sinh lý của trẻ béo phì

2.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ béo phì

Trẻ thích ăn đồ ngọt, ăn nhiều, ăn vặt, và ăn những thức ăn giàu chất béo

Do có thói quen ăn nhiều vào buổi tối, sau khi ăn đi nằm luôn không hoạt động, vìvậy, khẩu phần ăn có nhiều chất béo lâu ngày tích tụ lại gây ra béo phì

Trẻ thường ngại vận động, thích ngồi một chỗ, xem tivi, có tính ỷ lại.Tâm

lý, thói quen ít vận động làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ vì trẻ ít vận động làm tăngtích lũy mỡ, hạn chế sự phát triển của cơ bắp Nhiều nghiên cứu của các nhà khoahọc cho thấy xem tivi nhiều là một trong những yếu tố quan trọng làm tăng nguy

cơ gây béo phì

Trẻ thường bị các bạn cùng lớp trêu chọc, bắt nạt dẫn đến việc trẻ có tâm límặc cảm, thiếu tự tin về bản thân chúng Sự mặc cảm, thiếu tự tin này kéo dài sẽkhiến trẻ thu mình, thiếu tự tin, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài Điều này sẽ ảnhhưởng không tốt tới quá trình và kết quả học tập của trẻ cũng như ảnh hưởng tớiquá trình giao tiếp của trẻ sau này Ngay từ khi còn nhỏ trẻ đã phải chịu nhiều thiệt

Trang 14

thòi do trẻ chậm chạp, vụng về hơn nên khó hòa nhập với các bạn cùng trang lứa.Béo phì làm cho cuộc sống của trẻ không được thoải mái so với trẻ bình thường,hạn chế khả năng thích ứng với môi trường xung quanh

2.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ béo phì

Khả năng vận động: trẻ béo phì trước tiên ảnh hưởng đến khả năng vậnđộng của chúng Các khớp xương phải chịu sức nặng của cơ thể nên dễ bị tổnthương Trẻ mất nhiều thời gian và sức lực hơn để làm một công việc hoặc thựchiện một động tác, bài tập nào đó do trọng lượng cơ thể quá nặng nề trẻ sẽ khókhăn trong việc vận động đi lại cũng như tham gia các hoạt động thể thao ởtrường

Hệ hô hấp: trẻ béo phì thường có giấc ngủ không bình thường, trẻ hay khóthở đường hô hấp trên, đặc biệt khi ngủ khó thở kèm theo ngáy to

Hệ tim mạch: trẻ béo phì có nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch cao nhưtăng huyết áp, nguy cơ thừa lipit và mắc các bệnh về đường máu cũng cao hơn

Hệ thần kinh: chất xám của trẻ béo phì thấp hơn những trẻ có thể trọngbình thường Thị giác, thính giác, khả năng tiếp nhận, khả năng nắm bắt yếu điểmcủa trẻ béo phì không tốt bằng trẻ bình thường, khả năng tính toán trong học tập,mức độ tư duy, nhạy bén thấp khả năng chịu nóng của trẻ kém, trẻ nhanh mệt mỏikhi vận động nhất là về mùa hè do lớp ,ỡ dày đã trở thành như một hệ thống cáchnhiệt trẻ béo phì thường có cảm giác mệt mỏi chung toàn thân hay nhức đầu, têbuốt ở hai chân

3 Dinh dưỡng cho trẻ 5-6 tuổi

3.1 Khái niệm về dinh dưỡng

Dinh dưỡng là quá trình phức hợp bao gồm việc đưa vào cơ thể những thức

ăn cần thiết qua quá trình tiêu hóa và hấp thụ để bù đắp hao phí năng lượng trongquá trình sống của cơ thể, tạo ra sự đổi mới các tế bào và mô cũng như điều tiếtcác chức năng khác của cơ thể [6]

3.2 Dinh dưỡng hợp lí

Dinh dưỡng hợp lí là phải cung cấp đầy đủ năng lượng theo nhu cầu của cơthể Đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng theo nhu cầu của cơ thể Cácchất dinh dưỡng phải theo tỉ lệ cân đối và thích hợp.[6]

Trang 15

Ăn uống là một trong những nhu cầu cơ bản của con người Trẻ em cần dinhdưỡng để phát triển trí lực và thể lực Tuy nhiên, nếu thiếu hoặc thừa các chất dinhdưỡng đều có thể gây bệnh và ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe của trẻ Chính vìvậy, cần phải xây dựng một chế độ dinh dưỡng hợp lí cho trẻ

Chế độ dinh dưỡng hợp lí là chế độ đảm bảo sự cân đối về mặt số lượngcũng như là về mặt chất lượng các chất dinh dưỡng Đủ về số lượng theo nhu cầudinh dưỡng của từng độ tuổi, theo giới tính và theo tính chất lao động Cân đối vềchất lượng là cân đối giữa các chất dinh dưỡng: protein, lipit, gluxit, vitamin, vàchất khoáng, giữa thức ăn nguồn gốc thực vật và động vật, cụ thể:

Các yêu cầu về dinh dưỡng cân đối:

a, Cân đối về năng lượng:

Có 3 chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể là protein, lipit, gluxit.Trong đó, nguyên tắc cân đối giữa các chất sinh năng lượng là:

Năng lượng do protein cung cấp: 12- 15%

Năng lượng do lipit cung cấp: 20-25%

Năng lượng do gluxit cung cấp: 60-65%

Theo đó, tổng số năng lượng trong một ngày của trẻ em Việt Nam 4-6 tuổi là1600kcal/ngày (theo đề nghị của Viện Dinh Dưỡng, 1996)

b, Cân đối về protein:

Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng của cơ thể Nó là nguyên liệu đểtạo nên tế bào, có vai trò điều hòa các quá trình chuyển hóa của cơ thể đồng thời

là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể và tham gia vào cân bằng năng lượng.Đặc biệt, protein còn là chất kích thích ngon miệng, điều này giúp trẻ dễ dàng tiếpnhận các thức ăn hơn

Nếu thiếu protein, trẻ có thể bị chậm lớn, thậm chí xuất hiện bệnh phù Đặcbiệt, thiếu protein ở phụ nữ có thai và cho con bú sẽ ảnh hưởng tới cả mẹ và con,

mẹ có cơ thể nhỏ bé, đẻ con thiếu cân; ở người mẹ cho con bú làm giảm sự bài tiếtsữa của người mẹ Ngược lại, nếu thừa protein, cơ thể sẽ tích lũy nitơ và trong quátrình chuyển hóa protein, ngoài axit amin còn có các sản phẩm chuyển hóa trunggian như ure, uric- những chất ảnh hưởng không tốt tới gan, thận Như vậy, cầncung cấp đầy đủ nhu cầu về protein cho cơ thể trẻ Nhu cầu của trẻ em theo đềnghị của Viện Dinh Dưỡng năm 1997, khẩu phần protein tính theo gam/ngày đốivới trẻ 4-6 tuổi là 36g/ngày

Ngoài tương quan với tổng số năng lượng như đã nói ở trên, trong thànhphần protein cần có đủ các axit amin cần thiết với tỷ lệ cân đối, thích hợp Do các

Trang 16

protein nguồn gốc động vật và thực vật khác nhau về chất lượng nên người ta haydùng tỉ lệ % giữa protein nguồn gốc động vật và tổng số protein để đánh giá mặtcân đối này Lượng protein động vật đối với người trưởng thành vào khoảng 25-30% tổng số protein là thích hợp, còn đối với trẻ em, tỉ lệ này cao hơn, chiếmkhoảng 50%

c, Cân đối về lipit:

Lipit là một trong ba chất sinh năng lượng cho cơ thể Thêm vào đó, lipit còn

là dung môi cho các vitamin tan trong mỡ cũng như là chất béo gây hương vịthơm ngon cho bữa ăn Ngoài ra, trong thành phần của lipit có axit béo chưa no cótác dụng đề phòng nhồi máu cơ tim, làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu và

hạ thấp tính thấm của chúng,

Nếu thiếu lipit , cơ thể sẽ bị thiếu hụt về năng lượng và các vitamin A, D, gâyrối loạn chuyển hóa Ngược lại, thừa lipit có thể gây ra béo phì- là nguyên nhâncủa các bệnh: nhồi máu cơ tim, cao huyết áp, xơ vữa động mạch Như vậy, cầncung cấp đầy đủ nhu cầu về lipit cho cơ thể trẻ Nhu cầu lipit của trẻ em tính theogam/ngày là 2g/100kcal Như vậy, để đảm bảo sự cân đối của lipit cần chú ý:

Tỉ lệ năng lượng do protein cung cấp so với tổng số năng lượng

Phối hợp chất béo động vật và chất béo thực vật (50% chất béo động vật và50% chất béo thực vật)

d, Cân đối về gluxit:

Gluxit là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng của cơ thể, nó có mặt trongthành phần các tế bào, tổ chức và tham gia vào quá trình tạo hình Ngoài ra,chuyển hóa gluxit liên quan chặt chẽ với protein và lipit Cụ thể, khi cơ thể khôngđược cung cấp đầy đủ gluxit thì cơ thể sẽ phân hủy thành lipit dự trữ để sinh nănglượng, còn nếu ăn quá nhiều gluxit thì năng lượng gluxit thừa sẽ dễ dàng chuyểnthành lượng lipit dự trữ dưới da, dưới màng bụng Trẻ ăn quá nhiều gluxit cũng cóthể gây béo phì Chính vì vậy, cần cung cấp đầy đủ nhu cầu về cần cung cấp đầy

đủ nhu cầu về gluxit cho cơ thể trẻ

Các loại gluxit bao gồm: ngũ cốc, hoa quả, bánh, kẹo ngọt và đường kính Các loại thức ăn này cũng cần phải cân đối Tỷ lệ đường kính trong khẩu phần củatrẻ em không nên quá 10% tổng số năng lượng trong ngày Gluxit trong một bữanên chiếm khoảng từ 60-65% khẩu phần

e, Cân đối về vitamin:

Vitamin có vai trò rất lớn đối với cơ thể Nó giúp cho quá trình đồng hóa, sửdụng các chất dinh dưỡng và có tác dụng tăng cường sức đề kháng của cơ thể đốivới bệnh tật Thiếu Vitamin là nguyên nhân của nhiều rối loạn chuyển hóa quan

Trang 17

trọng và làm giảm sức đề kháng của cơ thể dẫn đến các bệnh thiếu vitamin Nhưvậy, cần cung cấp đầy đủ các vitamin tan trong mỡ như A, D ,E, K với cácvitamin tan trong nước như B, C,PP, cho trẻ đồng thời xem xét nhu cầu từngvitamin trong mối tương quan chung với các thành phần của khẩu phần.

g, Cân đối về chất khoáng:

Các chất khoáng đảm bảo các chức năng quan trọng trong cơ thể: chuyển hóacác chất, tổ chức xương, tạo áp suất thẩm thấu trong dịch nội và ngoại bào, điềuhòa pH của máu và tham gia vào chức phận của một số tuyến nội tiết Đối với trẻ

em, cơ thể đang tăng trưởng nên nhu cầu chất khoáng cao hơn người trưởngthành Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ chất khoáng cho trẻ em, trong đó các thức ănthực vật là thức ăn gây kiềm, các thức ăn có nguồn gốc động vật là thức ăn gâytoan Như vậy, chế độ ăn hợp lí nên có ưu thế kiềm

h, Cân đối về nước:

Nước có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể Nó chiếm tới 60-70% trọnglượng cơ thể và đảm bảo nhiều chức năng quan trọng: nước là dung môi của hầuhết các chất chuyển hóa và là dung môi hòa tan các chất dinh dưỡng của tế bào,đặc biệt, nước rất cần thiết cho quá trình bài tiết các chất bã ra khỏi cơ thể và giúpcho việc điều hòa thân nhiệt Đối với trẻ em, nhu cầu nước cao gấp 3-4 lần so vớingười trưởng thành Nên cung cấp đầy đủ nhu cầu về nước cho trẻ Đối với trẻ 4-6tuổi là 2lit/ngày và nên cho trẻ uống nước đun sôi để nguội, nước lá mát, nước quảhay nước luộc rau cho trẻ để ngoài tác dụng giải khát còn cung cấp thêm chất dinhdưỡng cho trẻ [6]

3.3 Tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sự phát triển của cơ thể

Con người là một thực thể sống, nhưng sự sống của con người không thể tồntại được nếu con người không có dinh dưỡng thường xuyên Ở trẻ em, trong độtuổi cơ thể đang phát triển mạnh, nhu cầu dinh dưỡng rất lớn Nếu thiếu ăn, trẻ em

sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các bệnh về dinh dưỡng như suy dinhdưỡng protein- năng lượng, các bệnh do thiếu vi chất dinh dưỡng( đần độn do thiếuiot, khô mắt do thiếu vitamin A ) Ngược lại, nếu thừa dinh dưỡng có thể dẫn tớibệnh béo phì ở trẻ Muốn khỏe mạnh, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ và hợp lí, đảmbảo khẩu phần ăn cân đối về mặt số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng chotrẻ

3.4 Dinh dưỡng của trẻ 5-6 tuổi.

Trang 18

3.4.1 Các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ 5-6 tuổi

Có hơn 60 chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển trí thông minh của trẻ

ở lứa tuổi này, bao gồm 6 loại: protein, gluxit, lipit, chất khoáng và nước

a, Protein

Trẻ em cần nhiều lượng protein để phát triển Trẻ em lứa tuổi 5-6 cần mộtlượng protein từ 30-36g/ngày Trong đó, protein từ thịt, cá, trứng , sữa, các loại đỗphải chiếm 50-60%

Bảng 1.1 tỉ lệ protein có trong một số loại thức ăn [6]

Tên thức ăn Protein(%) Tên thức ăn Protein(%)Thịt bò 18-20 Ếch, nhái 17,2-20,4Thịt lợn 17-19 Chim sẻ 22,1

Trang 19

Trứng gà, vịt 11-14 Sữa đậu nành 1,6Thịt vịt loại I 53,0 Vừng 46,4 Sữa bò tươi 4-4,4 Cám gạo 27,7Sữa bột toàn phần 26 Cám ngô 21,5

c, Gluxit

Trẻ 5-6 tuổi, mỗi ngày cần 150g gluxit Gluxit có nhiều trong các thực phẩm cónguồn gốc thực vật: gạo, mì, ngô, khoai, các loại củ Đây là nguồn cung cấp nănglượng chủ yếu cho cơ thể

Bảng 1.3 các lương thực, thực phẩm giàu gluxit [6]

Tên thực phẩm Gluxit(%) Tên thực phẩm Gluxit(%)Đường kính 99,3 Mật ong 81,3

Bánh bích quy 76,6 Kẹo sữa mềm 83

Vitamin tan trong mỡ:

Vitamin A(có trong gan, trứng, sữa, dầu gan cá,đu đủ, cà rốt, gấc…) cần cho

sự tăng trưởng, bảo vệ da, niêm mạc, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chốngcác bệnh viêm nhiễm khuẩn, bảo vệ mắt, chống quáng gà và các bệnh khô mắt Trẻ

từ 3-6 tuổi cần 400mg vitamin A mỗi ngày

Vitamin D ( có trong sữa mẹ, sữa bò, trứng, gan của các loại động vật…)giúp

cơ thể hấp thu canxi và chống bệnh còi xương Trẻ em cần khoảng 100mg/ngày Vitamin E ( có nhiều trong mầm hạt, trứng, dầu, đậu tương, đậu ngô, mầm lúamì,lạc, thịt bò, đậu xanh…) cần cho sự oxi hóa và khả năng sinh sản của cơ thể.Trẻ 1-6 tuổi cần 10UI/ngày

Vitamin K ( có trong thực phẩm có nguồn gốc động vật và thực vật) có tácdụng chống chảy máu, tạo nên chất đông máu là prothrombin đồng thời cũng được

Trang 20

sử dụng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn huyết, loét dạ dày, thương hàn Nhucầu về vitamin K không lớn, tuy nhiên, nếu thiếu ở trẻ sẽ ảnh hưởng không tốt tớisức khỏe của trẻ

e, Vitamin tan trong nước:

Vitamin B1( có nhều trong gan, thận, tim, não, cám gạo, vỏ hạt đậu, enzimbia) có vai trò quan trọng trong chuyển hóa các chất dinh dưỡng, đồng thời giúp cơthể phát triển bình thường, ăn ngon miệng Theo đề nghị của Viện Dinhdưỡng(1996), trẻ 4-6 tuổi cần 1,1mg/ngày

Vitamin B2( có nhiều trong cám gạo, nấm enzim, thịt, đậu đỗ, cà chua vàtrong các phủ tạng: tim, gan, thận) có vai trò cần thiết trong quá trình chuyển hóacác chất dinh dưỡng và có vai trò chủ yếu trong các phản ứng oxi hóa của tế bào.Nhu cầu về vitamin B2 của trẻ 4-6 tuổi là 1,1mg/ngày

Vitamin PP(có trong men, cám gạo,mầm lúa mì và thực phẩm động vật, trừtrứng và sữa) có vai trò quan trọng trong chuyển hóa gluxit và hô hấp của tế bào.Trẻ 4-6 tuổi cần 12,1mg vitamin PP mỗi ngày

Vitamin C rất quan trọng với trẻ, đặc biệt nó làm tăng sức đề kháng của cơ thể,nhất là với bệnh nhiễm trùng Nhu cầu vitamin C của trẻ 4-6 tuổi cần là 45mg/ngày[6]

f, Các Chất Khoáng

+ Các nguyên tố đa lượng:

Canxi ( có nhiều trong sữa, các loại tôm, cua, cá,,,) có chức năng tạo xương,cần thiết cho các phản ứng gây đông máu đồng thời điều hòa pH của máu Canxingăn ngừa tình trạng nhiễm toan của cơ thể và cần thiết cho hoạt động bình thườngcảu hệ thần kinh Theo Viện Dinh dưỡng(1996), trẻ từ 6 tháng đến 9 tuổi cần500mg/ngày

Photpho ( có nhiều trong phomat, đậu, lòng đỏ trứng gà, thịt, cá) cùng vớicanxi tham gia cấu tạo xương và răng, giữ vài trò quan trọng trong chuyển hóa của

cơ thể Theo Viện Dinh dưỡng (1996), trẻ từ 6 tháng đến 6 tuổi cần 500mg/ngày

Trang 21

Kali( có nhiều trong gan và cơ) có vai trò quan trọng trong điều hòa pH nộibào, tạo áp suất thẩm thấu của bào tương, cần thiết cho quá trình phân giải glucozo

và chuyển hóa protein Đặc biệt K có ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống thầnkinh và cơ Một người trưởng thành cần 2-4g kali/ngày

Natri ( có nhiều trong muối ăn, nước mắm, cá khô, gạo tẻ) có vai trò điều hòa

áp suất thẩm thấu và pH của máu Một người trưởng thành cần 4-6g natri/ngày

+ Các nguyên tố vi lượng:

Sắt( có nhiều trong tim, gan, thận, đậu đỗ, các loại rau có màu xanh thẫm,,,)rất cần cho sự tạo máu để phòng chống thiếu máu Theo đề nghị cảu Viện Dinhdưỡng (1996), trẻ 4-6 tuổi cần 7mg sắt mỗi ngày

Iot( có nhiều trong tôm, cua, cá, nước mắm, muối ăn, trứng và sữa,…):Làthành phần cấu tạo và đảm bảo chức năng của hoocmon tuyến giáp trạng, tham giađẩm bảo sự phát triển trưởng thành của cơ thể và điều hòa tiêu thụ nhiệt lượng.Thiếu iot dễ gây bướu cổ, cơ thể phát triển kém, gây bệnh lùn, chân tay ngắn, tinhthần chậm phát triển, gây đần độn Nhu cầu của trẻ dưới 12 tuổi là 1,21mg/ngày[6]

g, Nước

Tất cả mọi hoạt động sinh lí của cơ thể đều cần nước

Nhu cầu về nước ở trẻ em lứa tuổi này là : 2lít/ngày Nên uống nước đun sôi

để nguội, nước quả, nước rau luộc, không dùng các loại nước ngọt có ga [6]

3 Thừa cân- béo phì ở trẻ em

3.1 Khái niệm thừa cân- béo phì

WHO ( Tổ chức Y tế thế giới) định nghĩa: Béo phì là tình trạng tích mỡ quámức và không bình thường tại một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởngtới sức khỏe Béo phì là tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng

Theo PGS.TS Tạ Văn Bình: Béo phì là trạng thái thừa mỡ của cơ thể Theoông thừa cân- béo phì là những rối loạn dinh dưỡng thường gặp nhất ở các quốcgia, đặc biệt là các nước tăng phát triển, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô

Ngày đăng: 11/06/2017, 19:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w